Lửa và nước
Nguyễn Bùi Vợi
Cùng một ngày, tôi nhận được hai tập thơ bạn bè gửi biếu: đó là tập Phía sau quầng sáng mặt trời của Nguyễn Thị Thu Nguyệt ở Thái Bình và tập Phía nào cũng gió của Tô Hoàn ở Bắc Giang. Cả hai tập tôi đều đọc liền được một mạch nhưng hai người có cách viết khác nhau, “chống” nhau như lửa và nước. Ngày hôm ấy, tôi mừng cho bạn viết được và mừng cho tôi thẩm được.
Trước tập thơ này, bạn đọc chưa biết Nguyễn Thị Thu Nguyệt là ai mà chỉ mang máng nhớ có một người tên na ná thế này công tác ở Hội Văn nghệ Thái Bình lúc thì viết truyện, lúc thì làm thơ - thơ và truyện vẫn đáng viết ngoài mình nên làm gì đã có được nét riêng không lẫn. Còn lần này sau một chấn thương tình cảm, một ngọn gió thổi qua một gia đình hai vợ chồng, hai đứa con gái đã lớn đã đẩy chị đi về phía quyết liệt, rạch ròi.
Bài thơ đầu tập: Lục bát cho người như một lời tuyên bố:
Mừng người đã có được người
Dẫu là một chút cuối trời mong manh
Duyên ai, thôi đã không thành
Xin đừng nửa chín nửa xanh… xin đừng.
Là con người sòng phẳng, chị không thích cái kiểu nửa chín nửa xanh của ai đó!
Xin bạn đọc chớ tò mò tìm trong cái nỗi nọ niềm kia ấy, chị đúng hay sai? Trong tình yêu, không ai lấy lý để phân định đúng sai mà mỗi người cần lắng nghe nhịp đập của trái tim mình, xem còn yêu hay không yêu nữa? Nhân vật trữ tình trong thơ chị đã nói “không” khi hết bài thơ mở đầu sách bằng hai câu chua chát:
Người vui bước mới người đi
Để ta về với ta khi cuối chiều
Bắt đầu một cuộc dấn thân dũng cảm là bắt đầu những nỗi khổ cực từ một chiều mưa ngâu bến vắng sông sâu trời về tối ở bến đò Thái Hạc, tiếng gọi đò của người đàn bà như một lời nghẹn nấc: Sao không chuyến cuối/ Sao không đò ơi/ Sao không chuyến cuối? Đò ơi…! Còn em…! đến nỗi nhớ chua chát, buồn đau về mối lương duyên ba mươi năm của mình:
Vai người đàn bà chợt rung lên
Ba mươi năm
Chị vừa quăng xuống sông xuống bể
Quãng đời chị đã gánh trên đôi vai gầy
trong khi người đàn ông bình thản đếm dấu giầy/ những bước chân di di ba mươi năm có lẻ”. Phần chị thì chị đã bộc lộ, đúng với lòng mình nhưng hai câu thơ đánh giá đối tượng kia có thể là chưa thoả đáng vì khi đã không còn tình nữa thì chỉ còn thù đấy thôi như dân gian vẫn nói. Đó là nhìn về phía đời còn về phía thơ, sự bi phẫn đã đem đến cho chị hai câu thơ rất gợi, bộc lộ tính cách của mình một cách đầy đủ.
Với một cái tâm thế lúc nào cũng mất thăng bằng như thế, thơ trở thành cứu cánh của người đàn bà quyết liệt này. Nguyễn Du thêm một lần đúng khi viết một câu thơ đầy ắp chân - lí - tâm - trạng Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Nhìn trăng mà Nguyễn Thị Thu Nguyệt thấy Tả tơi đổ bóng sông Như Nguyệt/ Trăng xé mình phơi trước màu đêm/ Người xuôi Vạn Lý thuyền lơ lững/ Bỏ ngỏ mái chèo trăng nhẹ tênh. Hình như có sự nhập hồn của người đàn bà có tên là Nguyệt với trăng cũng là Nguyệt mà lại ở ngay sông Như Nguyệt để chị viết những câu thơ đau đớn này. Những cụm từ Tả tơi đổ bóng, Trăng xé mình phơi nghe thật bạo!
Đó là chị. Nhưng còn cái bóng thường trực ám ảnh chị thì:
Vớt được vầng trăng trên đỉnh núi
Cuội cười ngơ ngẩn ngọn cây đa
Phơi suốt mùa đông trăng chưa nỏ
Mới rạng ngày lên đã chợt già
(Phơi trăng)
Những câu thơ như được viết trong những phút giây thảng thốt nên nó chống chuếnh đến bất ngờ. Tập thơ đã dẫn người đọc theo hành trình của chị. Chị đã đặt chân đến nhiều nơi: Bản Hon, chợ Rã (Bắc Kạn), chợ Mèo Vạc (Hà Giang), lên tận đỉnh Sình Hồ (Hà Giang) rồi lại vô biển Cửa Lò, ra Đồ Sơn, vòng về động Bi Ký Phong Nha, Quảng Bình, tút một mạch lên tận Bản Giốc (Cao Bằng) biên giới… Đi không phải là một sự chạy trốn mà là một sự dấn thân, một sự bám víu, một niềm cứu rỗi… Đau khổ nhưng chị vẫn rất yêu người, yêu đời và thiên nhiên lúc này như một bà mẹ hiền an ủi, nâng đỡ tâm hồn chị. Cái Bản Hon đây rồi, sương chiều giăng/ Cha đi chăn bò chưa về/ Em Ngoan chăn bò chưa về/ Sương núi ướt đẫm vai… và cảnh gia đình ấm cúng của những người dân tộc khi họ chăm sóc nhau, khi họ chu đáo với khách càng làm cho nỗi cô đơn trong chị thêm tê tái. Trên dặm đường gập ghềnh của mình, chị thương nhớ hai thân đến nghẹn ngào:
Em ơi bản Hon ấm hơn bởi có em có cha và linh hồn của mẹ/ Chị dẫu đi chân trời góc bể/ Chẳng quên được ngày về Bản Hon.
Đến hai bài Bên ngoài cuộc sống và Có thể em không đến tâm thế người thơ có vẻ như đã dần dần thăng bằng lại, nghĩ đi rồi cũng có nghĩ lại, không một chiều như trước tuy vẫn giữ nguyên sự mạnh mẽ của tâm hồn mình.
Được sống là mình dù chỉ phút giây thôi
Chẳng nuối tiếc và không hề ân hận
(Bên ngoài cuộc sống)
Nhưng đến những bài viết về con cuối tập thì đã sóng êm biển lặng, Nguyễn Thị Thu Nguyệt cũng như hàng trăm hàng nghìn bà mẹ khác chỉ muốn xoè đôi cánh ấp ủ cho con, mong con hạnh phúc. Chị nói với con gái nỗi đau một cách điềm tĩnh.
Nào ta bắt đầu lại con
Ngày mới sẽ chỉ còn các con và mẹ
(Bắt đầu)
Nhưng cái nghiệp thơ nó oái oăm thế: Khi tâm thế thăng bằng ổn định thì không có thơ, người thơ có cố tình viết thì nó cũng chỉ cho sản phẩm loại nhì, loại ba mà thôi! Nếu nói thật thẳng thắn: Ba bài viết về con là ba bài nhạt nhất trong tập - dù chị rất yêu con! (Mẹ nào mà mẹ chẳng yêu con!)
Nguyễn Thị Thu Nguyệt đã có một bước đột phá thơ đúng hướng theo nghĩa “viết gì cũng là viết về mình đấy thôi!”. Khả năng tự biểu hiện trong thơ cao chừng nào thì càng có nhiều độc giả chừng ấy.
Cái khó với chị là sau tập thơ này, chị không thể cứ gậm nhấm nỗi buồn đau của mình mà làm ngơ trước những nỗi đau, niềm vui của cuộc đời rộng lớn.
Lửa nóng nhưng cũng có thể chóng tàn nếu không có lớp tro nóng thời gian bao phủ.
*
Nếu Phía sau quầng sáng mặt trời của Nguyễn Thị Thu Nguyệt là lửa thì tập Phía nào cũng gió của Tô Hoàn là nước. Tôi chưa gặp anh lần nào chỉ nghe nói anh là sĩ quan quân đội về nghỉ hưu ở Bắc Giang. Tôi đã đọc những bài thơ lẻ của anh như Đêm mưa, Nơi bạn hy sinh, Đừng nói lúc giao thừa, có cảm tình với cách viết giản dị, giàu tình cảm và suy tư của anh. Điều đó càng thấy rõ trong tập thơ Phía nào cũng gió Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2004.
Với người thơ nửa đời mặc áo lính này những điều anh viết ra đều đã được cảm nhận, kiểm chứng, ám ảnh, không viết ra không chịu được. Đó là túp nhà của mẹ, đêm mưa là dột, mẹ thì yếu đau còn con nhờ cậy được thì lại đi đánh giặc suốt đời nên:
Bao nhiêu hạt thẳng, hạt xiên
Cứ nhằm vào mẹ những đêm trắng trời
Con đi đánh giặc suốt đời
Vẫn không che nổi một nơi mẹ nằm
(Đêm mưa)
Tô Hoàn đã trở về với cuộc sống đời thường nhưng chiến tranh vẫn là nỗi ám ảnh khôn nguôi:
Người lính ấy có một thời để nhớ
Cùng bạn bè hát chót đỉnh Trường Sơn
Chung cơn sốt rung rừng bom toạ độ
Trận đói dài xiêu vẹo cả hoàng hôn.
Người lính ấy có một thời để nhớ
Tuổi hai mươi vuốt mắt bạn binh nhì
Giá ngày ấy có chừng vài lon gạo
Nhúm muối hầm chắc bạn chửa ra đi
(Với xa xăm)
Những câu thơ giữ được sự quân bình cần thiết trong tâm thế, không hào hùng quá mà cũng không đau đớn quá. Thời gian đã lắng lại, đã điều chỉnh, bỏ đi những buồn vui nhất thời, chỉ còn lại những gì là tinh chất. Nếu đúng “Thơ là người” thì Tô Hoàn thuộc típ người điềm tĩnh, ôn hoà, hiền hậu và không phải không khôn ngoan. Giữa cuộc đời lắm mưu mánh dối lừa, không khôn ngoan làm sao tồn tại được? Nhưng đã là người của thơ thì cũng nên khôn ngoan vừa thôi như anh đã… “viết cho mình”:
Với nghề khác, càng khôn ngoan càng tốt
Với người thơ, khôn ngoan quá xin đừng
Khôn ngoan quá suốt đời che chắn hết
Chẳng phía nào còn gió để rưng rưng.
Giữa cuộc đời đầy phong ba bão táp này, tạng tâm hồn Tô Hoàn nghiêng về những sắc màu, gam màu dịu êm, những tình cảm nhẹ nhàng, thấm thía. Anh không chịu được những gam màu chói gắt hoặc đen - trắng chống nhau. Anh nhẹ nhàng: Suốt tháng suốt năm/ Ta luôn nói đến tiền/ Đêm nay giao thừa/ Xin đừng nói nữa/ Tiền thì lạnh/ Nhà ta cần ấm lửa/ Lửa bập bùng/ Từ mỗi cánh hoa.
Có thể coi là một sự từng trải minh triết. Viết khéo thơ lục bát và viết quen thể thơ bảy chữ, mỗi khổ 4 dòng, thỉnh thoảng Tô Hoàn cũng có làm thơ theo thể tự do:
Con đừng trách cha dại khờ
Khi cha trở về
Gia tài chỉ có mỗi chiếc ba lô màu đất
…
Con ơi
Nếu không có chiếc ba lô màu đất này
Con làm gì được góp mặt với nhân gian.
Thì ra chiếc ba lô nhiều lần đã đỡ đạn cho người lính. Bài tứ tuyệt Tam Đảo thật chặt chẽ mà thật dễ thương:
Lên Tam Đảo gần trời không rát mặt
Núi thì nghiêng mây gió chẳng vòng vèo
Lần xuống thác ơn ngọn nguồn trong vắt
Vịn tay rừng thương cây đứng cheo leo.
Có thể nhận diện thơ Tô Hoàn không va đập ào ạt, mạnh mẽ mà là những giọt nước rỉ mát từ khe đá có khi thấm lạnh đến buốt gan.
Loại thơ này, kiểu viết này đòi hỏi thời gian ấp ủ ý tưởng lâu, nung nấu ý, tứ cho thật chín mới viết được. Người đọc cũng phải đọc kỹ, ngẫm nghĩ mới thấy thấm thía.
Dĩ nhiên lối thơ này sẽ hạn chế việc tiếp cận hiện thực đời sống xô bồ của tác giả, không có khả năng “phục vụ kịp thời” nhưng nếu biết đào sâu vào cái mạch đời không cạn ấy thì Tô Hoàn còn có nhiều điều để viết, còn viết được lâu, tất nhiên là phải dè chừng sự ước lệ, mòn sáo.
Lửa có sức mạnh của lửa. Nước có sức bào xói của nước. Đó là diện mạo hai tập thơ Phía sau quầng sáng mặt trời của Nguyễn Thị Thu Nguyệt và tập thơ Phía nào cũng gió của Tô Hoàn tôi nhận trong một ngày và đọc trong một ngày…
Hà Nội, 10-10-2004
(Báo Văn nghệ)
Nguyễn Bùi Vợi
Cùng một ngày, tôi nhận được hai tập thơ bạn bè gửi biếu: đó là tập Phía sau quầng sáng mặt trời của Nguyễn Thị Thu Nguyệt ở Thái Bình và tập Phía nào cũng gió của Tô Hoàn ở Bắc Giang. Cả hai tập tôi đều đọc liền được một mạch nhưng hai người có cách viết khác nhau, “chống” nhau như lửa và nước. Ngày hôm ấy, tôi mừng cho bạn viết được và mừng cho tôi thẩm được.
Trước tập thơ này, bạn đọc chưa biết Nguyễn Thị Thu Nguyệt là ai mà chỉ mang máng nhớ có một người tên na ná thế này công tác ở Hội Văn nghệ Thái Bình lúc thì viết truyện, lúc thì làm thơ - thơ và truyện vẫn đáng viết ngoài mình nên làm gì đã có được nét riêng không lẫn. Còn lần này sau một chấn thương tình cảm, một ngọn gió thổi qua một gia đình hai vợ chồng, hai đứa con gái đã lớn đã đẩy chị đi về phía quyết liệt, rạch ròi.
Bài thơ đầu tập: Lục bát cho người như một lời tuyên bố:
Mừng người đã có được người
Dẫu là một chút cuối trời mong manh
Duyên ai, thôi đã không thành
Xin đừng nửa chín nửa xanh… xin đừng.
Là con người sòng phẳng, chị không thích cái kiểu nửa chín nửa xanh của ai đó!
Xin bạn đọc chớ tò mò tìm trong cái nỗi nọ niềm kia ấy, chị đúng hay sai? Trong tình yêu, không ai lấy lý để phân định đúng sai mà mỗi người cần lắng nghe nhịp đập của trái tim mình, xem còn yêu hay không yêu nữa? Nhân vật trữ tình trong thơ chị đã nói “không” khi hết bài thơ mở đầu sách bằng hai câu chua chát:
Người vui bước mới người đi
Để ta về với ta khi cuối chiều
Bắt đầu một cuộc dấn thân dũng cảm là bắt đầu những nỗi khổ cực từ một chiều mưa ngâu bến vắng sông sâu trời về tối ở bến đò Thái Hạc, tiếng gọi đò của người đàn bà như một lời nghẹn nấc: Sao không chuyến cuối/ Sao không đò ơi/ Sao không chuyến cuối? Đò ơi…! Còn em…! đến nỗi nhớ chua chát, buồn đau về mối lương duyên ba mươi năm của mình:
Vai người đàn bà chợt rung lên
Ba mươi năm
Chị vừa quăng xuống sông xuống bể
Quãng đời chị đã gánh trên đôi vai gầy
trong khi người đàn ông bình thản đếm dấu giầy/ những bước chân di di ba mươi năm có lẻ”. Phần chị thì chị đã bộc lộ, đúng với lòng mình nhưng hai câu thơ đánh giá đối tượng kia có thể là chưa thoả đáng vì khi đã không còn tình nữa thì chỉ còn thù đấy thôi như dân gian vẫn nói. Đó là nhìn về phía đời còn về phía thơ, sự bi phẫn đã đem đến cho chị hai câu thơ rất gợi, bộc lộ tính cách của mình một cách đầy đủ.
Với một cái tâm thế lúc nào cũng mất thăng bằng như thế, thơ trở thành cứu cánh của người đàn bà quyết liệt này. Nguyễn Du thêm một lần đúng khi viết một câu thơ đầy ắp chân - lí - tâm - trạng Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Nhìn trăng mà Nguyễn Thị Thu Nguyệt thấy Tả tơi đổ bóng sông Như Nguyệt/ Trăng xé mình phơi trước màu đêm/ Người xuôi Vạn Lý thuyền lơ lững/ Bỏ ngỏ mái chèo trăng nhẹ tênh. Hình như có sự nhập hồn của người đàn bà có tên là Nguyệt với trăng cũng là Nguyệt mà lại ở ngay sông Như Nguyệt để chị viết những câu thơ đau đớn này. Những cụm từ Tả tơi đổ bóng, Trăng xé mình phơi nghe thật bạo!
Đó là chị. Nhưng còn cái bóng thường trực ám ảnh chị thì:
Vớt được vầng trăng trên đỉnh núi
Cuội cười ngơ ngẩn ngọn cây đa
Phơi suốt mùa đông trăng chưa nỏ
Mới rạng ngày lên đã chợt già
(Phơi trăng)
Những câu thơ như được viết trong những phút giây thảng thốt nên nó chống chuếnh đến bất ngờ. Tập thơ đã dẫn người đọc theo hành trình của chị. Chị đã đặt chân đến nhiều nơi: Bản Hon, chợ Rã (Bắc Kạn), chợ Mèo Vạc (Hà Giang), lên tận đỉnh Sình Hồ (Hà Giang) rồi lại vô biển Cửa Lò, ra Đồ Sơn, vòng về động Bi Ký Phong Nha, Quảng Bình, tút một mạch lên tận Bản Giốc (Cao Bằng) biên giới… Đi không phải là một sự chạy trốn mà là một sự dấn thân, một sự bám víu, một niềm cứu rỗi… Đau khổ nhưng chị vẫn rất yêu người, yêu đời và thiên nhiên lúc này như một bà mẹ hiền an ủi, nâng đỡ tâm hồn chị. Cái Bản Hon đây rồi, sương chiều giăng/ Cha đi chăn bò chưa về/ Em Ngoan chăn bò chưa về/ Sương núi ướt đẫm vai… và cảnh gia đình ấm cúng của những người dân tộc khi họ chăm sóc nhau, khi họ chu đáo với khách càng làm cho nỗi cô đơn trong chị thêm tê tái. Trên dặm đường gập ghềnh của mình, chị thương nhớ hai thân đến nghẹn ngào:
Em ơi bản Hon ấm hơn bởi có em có cha và linh hồn của mẹ/ Chị dẫu đi chân trời góc bể/ Chẳng quên được ngày về Bản Hon.
Đến hai bài Bên ngoài cuộc sống và Có thể em không đến tâm thế người thơ có vẻ như đã dần dần thăng bằng lại, nghĩ đi rồi cũng có nghĩ lại, không một chiều như trước tuy vẫn giữ nguyên sự mạnh mẽ của tâm hồn mình.
Được sống là mình dù chỉ phút giây thôi
Chẳng nuối tiếc và không hề ân hận
(Bên ngoài cuộc sống)
Nhưng đến những bài viết về con cuối tập thì đã sóng êm biển lặng, Nguyễn Thị Thu Nguyệt cũng như hàng trăm hàng nghìn bà mẹ khác chỉ muốn xoè đôi cánh ấp ủ cho con, mong con hạnh phúc. Chị nói với con gái nỗi đau một cách điềm tĩnh.
Nào ta bắt đầu lại con
Ngày mới sẽ chỉ còn các con và mẹ
(Bắt đầu)
Nhưng cái nghiệp thơ nó oái oăm thế: Khi tâm thế thăng bằng ổn định thì không có thơ, người thơ có cố tình viết thì nó cũng chỉ cho sản phẩm loại nhì, loại ba mà thôi! Nếu nói thật thẳng thắn: Ba bài viết về con là ba bài nhạt nhất trong tập - dù chị rất yêu con! (Mẹ nào mà mẹ chẳng yêu con!)
Nguyễn Thị Thu Nguyệt đã có một bước đột phá thơ đúng hướng theo nghĩa “viết gì cũng là viết về mình đấy thôi!”. Khả năng tự biểu hiện trong thơ cao chừng nào thì càng có nhiều độc giả chừng ấy.
Cái khó với chị là sau tập thơ này, chị không thể cứ gậm nhấm nỗi buồn đau của mình mà làm ngơ trước những nỗi đau, niềm vui của cuộc đời rộng lớn.
Lửa nóng nhưng cũng có thể chóng tàn nếu không có lớp tro nóng thời gian bao phủ.
*
Nếu Phía sau quầng sáng mặt trời của Nguyễn Thị Thu Nguyệt là lửa thì tập Phía nào cũng gió của Tô Hoàn là nước. Tôi chưa gặp anh lần nào chỉ nghe nói anh là sĩ quan quân đội về nghỉ hưu ở Bắc Giang. Tôi đã đọc những bài thơ lẻ của anh như Đêm mưa, Nơi bạn hy sinh, Đừng nói lúc giao thừa, có cảm tình với cách viết giản dị, giàu tình cảm và suy tư của anh. Điều đó càng thấy rõ trong tập thơ Phía nào cũng gió Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2004.
Với người thơ nửa đời mặc áo lính này những điều anh viết ra đều đã được cảm nhận, kiểm chứng, ám ảnh, không viết ra không chịu được. Đó là túp nhà của mẹ, đêm mưa là dột, mẹ thì yếu đau còn con nhờ cậy được thì lại đi đánh giặc suốt đời nên:
Bao nhiêu hạt thẳng, hạt xiên
Cứ nhằm vào mẹ những đêm trắng trời
Con đi đánh giặc suốt đời
Vẫn không che nổi một nơi mẹ nằm
(Đêm mưa)
Tô Hoàn đã trở về với cuộc sống đời thường nhưng chiến tranh vẫn là nỗi ám ảnh khôn nguôi:
Người lính ấy có một thời để nhớ
Cùng bạn bè hát chót đỉnh Trường Sơn
Chung cơn sốt rung rừng bom toạ độ
Trận đói dài xiêu vẹo cả hoàng hôn.
Người lính ấy có một thời để nhớ
Tuổi hai mươi vuốt mắt bạn binh nhì
Giá ngày ấy có chừng vài lon gạo
Nhúm muối hầm chắc bạn chửa ra đi
(Với xa xăm)
Những câu thơ giữ được sự quân bình cần thiết trong tâm thế, không hào hùng quá mà cũng không đau đớn quá. Thời gian đã lắng lại, đã điều chỉnh, bỏ đi những buồn vui nhất thời, chỉ còn lại những gì là tinh chất. Nếu đúng “Thơ là người” thì Tô Hoàn thuộc típ người điềm tĩnh, ôn hoà, hiền hậu và không phải không khôn ngoan. Giữa cuộc đời lắm mưu mánh dối lừa, không khôn ngoan làm sao tồn tại được? Nhưng đã là người của thơ thì cũng nên khôn ngoan vừa thôi như anh đã… “viết cho mình”:
Với nghề khác, càng khôn ngoan càng tốt
Với người thơ, khôn ngoan quá xin đừng
Khôn ngoan quá suốt đời che chắn hết
Chẳng phía nào còn gió để rưng rưng.
Giữa cuộc đời đầy phong ba bão táp này, tạng tâm hồn Tô Hoàn nghiêng về những sắc màu, gam màu dịu êm, những tình cảm nhẹ nhàng, thấm thía. Anh không chịu được những gam màu chói gắt hoặc đen - trắng chống nhau. Anh nhẹ nhàng: Suốt tháng suốt năm/ Ta luôn nói đến tiền/ Đêm nay giao thừa/ Xin đừng nói nữa/ Tiền thì lạnh/ Nhà ta cần ấm lửa/ Lửa bập bùng/ Từ mỗi cánh hoa.
Có thể coi là một sự từng trải minh triết. Viết khéo thơ lục bát và viết quen thể thơ bảy chữ, mỗi khổ 4 dòng, thỉnh thoảng Tô Hoàn cũng có làm thơ theo thể tự do:
Con đừng trách cha dại khờ
Khi cha trở về
Gia tài chỉ có mỗi chiếc ba lô màu đất
…
Con ơi
Nếu không có chiếc ba lô màu đất này
Con làm gì được góp mặt với nhân gian.
Thì ra chiếc ba lô nhiều lần đã đỡ đạn cho người lính. Bài tứ tuyệt Tam Đảo thật chặt chẽ mà thật dễ thương:
Lên Tam Đảo gần trời không rát mặt
Núi thì nghiêng mây gió chẳng vòng vèo
Lần xuống thác ơn ngọn nguồn trong vắt
Vịn tay rừng thương cây đứng cheo leo.
Có thể nhận diện thơ Tô Hoàn không va đập ào ạt, mạnh mẽ mà là những giọt nước rỉ mát từ khe đá có khi thấm lạnh đến buốt gan.
Loại thơ này, kiểu viết này đòi hỏi thời gian ấp ủ ý tưởng lâu, nung nấu ý, tứ cho thật chín mới viết được. Người đọc cũng phải đọc kỹ, ngẫm nghĩ mới thấy thấm thía.
Dĩ nhiên lối thơ này sẽ hạn chế việc tiếp cận hiện thực đời sống xô bồ của tác giả, không có khả năng “phục vụ kịp thời” nhưng nếu biết đào sâu vào cái mạch đời không cạn ấy thì Tô Hoàn còn có nhiều điều để viết, còn viết được lâu, tất nhiên là phải dè chừng sự ước lệ, mòn sáo.
Lửa có sức mạnh của lửa. Nước có sức bào xói của nước. Đó là diện mạo hai tập thơ Phía sau quầng sáng mặt trời của Nguyễn Thị Thu Nguyệt và tập thơ Phía nào cũng gió của Tô Hoàn tôi nhận trong một ngày và đọc trong một ngày…
Hà Nội, 10-10-2004
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,