Làm một con người thật khó!
Nguyễn Hoàng Sơn
(Đọc Xuyên Cẩm, tiểu thuyết của Dương Kỳ Anh, NXB Hội Nhà văn 2004).
Cầm cuốn tiểu thuyết đầu tay có nhiều màu sắc tự thuật của người bạn đồng tuế, đồng nghiệp và cũng là cấp trên trực tiếp của mình, nhà thơ quen biết Dương Kỳ Anh, ý nghĩ đầu tiên chợt đến với tôi là: Hoá ra lứa chúng tôi cũng từng trải, cũng sống nhiều, biết nhiều đáo để, đâu phải là hời hợt rong chơi ở cõi đời này! Có một dạo, những người tự coi mình có trách nhiệm săn sóc công việc của nhà văn thường hối thúc họ phải đi, phải “thâm nhập thực tế”, làm giàu thêm “vốn sống”, xem đó như bí quyết để có “tác phẩm lớn”. Sự hối thúc này xuất phát từ thiện ý và không phải là không cần thiết. Nhà văn không từng trải, không lăn vào cuộc sống mà chỉ quanh quẩn trong các sa-lông văn chương thì lấy gì để viết, để nói với người đọc đông đảo đang trằn lưng làm lụng vì miếng cơm manh áo và một cơ may vươn lên trong xã hội ngày càng hối hả, quay cuồng này? Nhưng “thực tế” không phải là tất cả với nghề văn và nhà văn ta cũng không đến nỗi thiếu “vốn sống” như những người sốt ruột muốn trông thấy “tác phẩm lớn” vẫn chê trách. Với lớp nhà văn như tôi và Dương Kỳ Anh, mỗi giai đoạn, mỗi năm sống, thậm chí mỗi ngày sống đều đầy ắp thách thức và ấn tượng, đủ dùng cho thơ, cho truyện ngắn và cho tiểu thuyết nữa, tất nhiên là nếu anh biết khai thác và có thêm một chút, một tí ti thôi cũng được, cái của... trời cho, là tài năng! Chúng tôi sinh ra trong kháng chiến chống Pháp, bập bẹ đã biết thế nào là “tản cư”, “đào hầm”. Những chuyện đấu tố, truy bức rồi sửa sai... đã kịp để lại dấu ấn nặng nề trong kí ức. Lớn lên một chút nữa là trường học với cả cái hay và cái dở, là hợp tác hoá ở nông thôn, cải tạo tư sản ở thành thị, là đấu tranh tư tưởng trong văn học nghệ thuật, là sổ gạo, hộ khẩu, tem phiếu... Mọi thứ đều còn dang dở, còn chưa đủ độ ổn định thì máy bay Mỹ đã kéo đến với bom la-ze, rốc-két, chất độc hoá học... Những ai may mắn đi hết được mười năm bom đạn lại gặp ngay hai cuộc chiến tranh biên giới vài năm sau và sa vào cơn lốc giá - lương - tiền dở khóc dở cười. Rồi thì khoán hộ ở nông thôn. Vỡ hụi ở thành phố. Xuất khẩu lao động. Rồi bức tường Berlin tan vỡ. Liên Xô cáo chung. Liên doanh. Mở cửa. Cổ phần hoá. Doanh nghiệp tư nhân. Trang trại. Tham nhũng. Mãi dâm. Ma tuý. HIV. Suy dinh dưỡng ở trẻ em nông thôn. Bệnh gút, bệnh béo phì bùng nổ ở thành phố... Ngỡ như chúng tôi đã sống mấy cuộc đời, mấy kiếp chứ không phải chỉ mấy mươi năm. Buồn, vui, hi vọng, tuyệt vọng, hăm hở, yếm thế, hư vô... Cả ngàn cảnh đời, cả ngàn tâm trạng. Tuổi này mà viết tiểu thuyết là phải lắm. Viết như một sự tri ân cuộc đời, một cách “trả nợ đời” như Dương Kỳ Anh có lần đã tâm sự với tôi.
Tiểu thuyết Xuyên Cẩm mở đầu bằng một cảnh đầy ấn tượng, rất thực mà lại mang ý nghĩa ẩn dụ: Cảnh những con chim én sợ lạnh chúi vào hiên nhà rồi bị người ta bắt giết, làm thịt! Con chim tượng trưng cho mùa xuân bị đối xử như vậy, báo hiệu một cơn tao loạn của đất trời và kiếp người “Bà tôi từ nhà trên bước xuống, đứng bên bếp lửa, nhìn chú Trình một lúc bảo: “Răng chú cháu mi lại bắt mấy con én vào trú mưa, tội chết”. Rồi bà đi ra, nhìn đàn én bay sà vào nhà, bâu kín dưới mái hiên. Bà lắc đầu: “Chim sa cá nhảy, không biết tội nợ chi đây”. Đã tròn nửa thế kỉ nhưng sự kiện từng gây chấn động nông thôn miền Bắc Việt Nam giữa những năm năm mươi thế kỉ trước vẫn không bị lãng quên trong văn học. Vũ Bão, Kim Lân, Hữu Mai, Hà Minh Tuân, Ngô Ngọc Bội, Lê Minh Khuê, Tô Hoài... và bây giờ thêm Dương Kỳ Anh. Không cay cú, không oán hận, qua cái nhìn của nhân vật chính, cậu Bính, một chú bé 9 tuổi sớm khôn, tác giả chỉ kể lại những điều dường như chính anh đã trải qua 50 năm trước? Con người của công chúng hôm nay, nhà báo, nhà văn thành đạt Dương Kỳ Anh không ngờ lại biết một tuổi thơ thật vất vả, “Buổi trưa và buổi tối, tôi dắt hai đứa em đi ăn xin. Hôm đầu tiên, tôi đến nhà chú Trình... Vừa nhìn thấy anh em tôi, thằng Đình con chú Trình đóng chặt cửa. Nó xua con chó khoang vốn rất dữ ra đuổi... Con chó lao ra ngõ nhưng rồi nhận ra người quen, nó vẫy đuôi rối rít. Tôi xoa đầu nó và thấy... nước mắt nó ứa ra. Hai đứa em tôi cũng khóc thút thít. Nước mắt lưng tròng, tôi ngồi thụp xuống lấy cái nón mê che mặt. Tôi không muốn hai đứa em thấy mình mềm yếu”. Còn đây là cảnh cậu Bính đưa ma người mẹ cùng hai đứa em xấu số sau cơn vượt cạn khốn khó, “Không một tiếng khóc tiễn đưa. Tất cả đều câm lặng. Con chim cú trung thành với thần chết cứ bay sàn sạt trên đầu chúng tôi và kêu lên những tiếng hãi hùng. Hai bàn chân mẹ tôi thò ra ngoài chiếu như hai bàn tay chới với đớn đau, cố níu lại những giây phút ngắn ngủi của trần gian... Đàn đom đóm nhào lộn rồi cuộn lại như ngọn đuốc sáng rực. Tôi kinh hãi nhìn hai bàn chân mẹ tôi phát sáng lập loè”. Cơn biến loạn rõ ràng vượt quá tầm hiểu biết của một đầu óc còn non nớt. Cậu Bính không hiểu vì sao những con người hiền lành, chân chất, đời đời kiếp kiếp chung sống cùng một làng, đôi khi còn cùng một nhà, một dòng máu nữa kia, bỗng trở nên hung dữ và tàn ác, đặt điều, nghi kị, sỉ nhục, hãm hại lẫn nhau? Đối với cậu, con khoang, con mực, con đom đóm, con trâu bạc... lúc này còn tự do, “ân nghĩa hơn con người”. Nhưng cậu vẫn le lói lòng tin là nhờ vẫn còn những người nhân hậu, thuỷ chung, “Trong số những người làm công cho gia đình tôi, có nhiều người tốt bụng. Họ vẫn thường ném cho chúng tôi khi thì bọc gạo, khi vài củ khoai... Đến bữa ăn, nhà cu Suê thường cho cơm vào mấy cái bát tô, một ít thịt, cá để ngoài hiên. Họ làm như thể cho chó ăn, nhưng khi thấy anh em chúng tôi, thằng con cu Suê đằng hắng chửi vài tiếng làm ám hiệu. Tôi nhìn trước nhìn sau - khi không thấy ai bèn men theo bờ tường nhặt vội mấy bát cơm cho vào cái nồi đất đặt trong bị rồi dắt em chạy”. Sự đời thật trớ trêu. Trong khi mụ Bèng xấu xí, dốt nát và độc ác như một hung thần thì con trai mụ lại là người che chở cho anh em Bính, che chở trong im lặng! Ngay với người đàn bà quái gở ấy, dường như cái nhìn của nhà văn cũng nghiêng về kinh sợ, xót thương nhiều hơn là căm giận? Đây là nhân vật thực và ấn tượng, một đóng góp của Dương Kỳ Anh. Thật ra thì mụ Bèng cũng chỉ là nạn nhân, một nạn nhân khốn khổ nhất của thời cuộc, của sự tăm tối. Cái cảnh mụ ngồi ghế xử án chính ông anh chồng mình là một tình huống thật bi hài, rất xi-nê-ma (không riêng gì cảnh ấy, nhìn chung tiểu thuyết Xuyên Cẩm khá giàu chất điện ảnh, tôi mong các nhà làm phim để mắt đến). “Mụ Bèng nói như hét vào loa: “Tôi nhân danh... Nhân danh chi hè?” Mụ quay sang hỏi Tuần Hoa... “Bay ơi, đôi chó lẹo căng”- mụ Bèng kêu lên. Có một đôi chó đen đấu đít vào nhau. Đôi chó làm cái việc đồi truỵ kia sao lại xuất hiện ngay trước khán đài. Mọi người cười ồ... Hai anh trai làng cầm đòn xóc chạy vào. Họ luồn cái đòn xóc... rồi khiêng lên vai. Đôi chó làm tình bỗng gặp tai hoạ. Con đực đau đớn kêu ăng ẳng. Con cái nước mắt rụa ràn. Đám đông lại lào rào. Người ta cười nói, la hét. Mụ Bèng như quên đi vai trò của chính mình. Mụ cười hi hi. Trông mụ có vẻ khoái chá, cái khoái chá vô tư của người dân quê mộc mạc”. ở mụ Bèng, mọi hành vi gần như còn thuần tuý là bản năng. Sử dụng những người như mụ thật “được việc” nhưng cũng dễ dàng biến thành tai hoạ. Vich-to Huy- gô từng nói về loại người kiểu Giave: Quyền lực trong tay kẻ đê tiện thì thật đáng sợ! “Khi mụ Bèng hét vào loa “Tử hình”, đám đông đương ồn ào đột nhiên lặng phắc. Mọi người đang tham dự vào một trò hề vui bỗng nhận ra điều nghiêm trọng. Mạng người đâu phải chuyện đùa. Chị Châu gần như ngất xỉu. Vất vả lắm tôi mới đỡ chị đứng dậy được. Anh Biểu bạch tạng ngơ ngác hỏi: “Tử hình là chi?”. Tôi chưa kịp trả lời, cu Suê đã hét vào tai anh: “Tử hình là người ta giết bố mi!”. Đã có lúc cả việc sống chết của một con người cũng biến thành “chuyện như đùa” vậy đấy. Một câu hỏi đặt ra: Nhắc lại những chuyện ấy làm gì nhỉ, dù sao thì cũng nửa thế kỉ rồi? Thực ra nhắc lại quá khứ không phải vì quá khứ mà chính là vì hiện tại và tương lai. Con người vốn mải vui, mau quên, chuyện vấp hai lần vào một mô đất không phải chưa từng diễn ra. Thế cho nên nhà văn Trung Quốc Ba Kim, tuổi gần tròn trăm, phải sống thường trực trong bệnh viện mà vẫn cặm cụi viết bằng xong bộ Tuỳ tưởng lục, muốn “dựng một bảo tàng về “cách mạng văn hoá” để làm gương cho hậu thế. Quốc vương Campuchia Nôrôđôm Xihanúc viết hồi kí, gay gắt kết tội đám trí thức Khơme Đỏ, những Pônpôt, Khiêu Xamphon, Iêng Xary... hầu hết đều du học tại Pháp, có học vấn cao nhưng lại là thủ phạm đích thực của những “Cánh đồng chết” trên một xứ sở Phật giáo hiền hoà...
Nghe nói ban đầu Dương Kỳ Anh đặt tên cho cuốn sách là Chuyện làng Cẩm? Cái tên ấy hơi thật thà nhưng khá chính xác. Nhà văn chỉ viết chuyện làng Cẩm, theo bước chân người làng Cẩm dù dòng đời đưa đẩy họ sang Nga, sang Mỹ, vào Sài Gòn, ra Vũng Tàu... Thời gian của tiểu thuyết trải dài từ những năm hoà bình lập lại trên miền Bắc đến thời mở cửa bây giờ. Làng Cẩm đi từ tiếng kẻng chói tai đến tiếng nhạc karaoke nhẽo nhớt. Với số trang, số chữ không nhiều cho một thời đoạn dài như vậy nên rất nhiều chuyện, nhiều nhân vật tác giả chỉ kịp nhắc qua, lướt qua, chưa kịp “săn sóc” đến nơi đến chốn. Những lúc ấy là con người kí giả lấn át con người nhà văn? Chỉ ở những trường đoạn tác giả chủ động giảm tốc độ, “quay chậm”, nhân vật mới hiện lên rõ nét. Trường đoạn về ông bố “cậu Bính” gặp gỡ với o Hoè rồi tái giá khá ấn tượng. Cái cách hợp tác xã quản lí thuyền rồi quản lí cả biển đúng là cười ra nước mắt, vậy mà bao nhiêu năm người ta vẫn đinh ninh rằng đó là phương thức duy nhất đúng đắn vì lợi ích của chính người dân. Cả trong lĩnh vực tình cảm cũng vậy. Ông cu Bính goá vợ nhiều năm, sống ép xác với tâm nguyện ở vậy “gà trống nuôi con” đến mức “nhiều khi trở nên vô cảm... xa cách với phụ nữ, với những tình cảm giới tính thông thường”. Chính o Hoè goá bụa, đeo đẳng nỗi uất ức vì đôi gò má cao trời sinh của mình đã đánh thức cái phần tưởng như là tội lỗi nhưng lại chính là phần người đích thực trong ông. Tác giả tỏ ra tinh tế khi lí giải mối quan hệ này “Đôi khi nghĩ đến Hoè, ông tự hỏi, tình cảm của mình đối với cô sẽ ra sao? Đừng nói chuyện tình yêu phù phiếm ở tuổi ông, ở vào hoàn cảnh của hai người hiện nay! Trong thâm tâm, ông cảm nhận được ở cô một sự cuốn hút không hẳn đơn thuần là tình thương. Ông cảm nhận ở cô, ở một người đàn bà, những cảm giác mà người đàn ông cần. Chính cảm giác đó đã thức tỉnh ông, chính ông, một người đàn ông, vẫn tràn trề sức lực ở tuổi ngũ tuần”. Đoạn hai người tình tự trong đêm, trên bờ mương, giữa cánh đồng là một trong những đoạn “có văn” nhất của cuốn tiểu thuyết? “Hai người ngồi xuống bờ mương. Ông choàng tay lên đôi vai nóng rực của Hoè. Đôi ngỗng trời trên cao bỗng kêu lên một tiếng. Mặt đất li ri những âm thanh hỗn tạp. Có lẽ thứ rượu cam nhiều cồn đã làm ông ngà ngà. Cũng có thể ông đã quên đi tất cả. Quên đi mình là ai. Mình đang ở đâu. Mình đang làm gì thế này! Ông chẳng làm gì cả. Ông đang làm một con người. Một con người bình thường nhất.” Đúng lúc ấy thì những ánh đèn pin vô duyên, hỗn xược, trắng trợn xuất hiện! Giọng văn như đùa đùa mà thật đắng đót. Làm một con người, dù là con người bình thường đâu có dễ? Những ông Kiên, ông từ Bang, chị Châu xinh đẹp, ông Bèng lành như đất, anh Biểu bạch tạng, thầy Hưng si tình... chắc chẳng có mơ ước gì cao xa ngoài được làm một “con người bình thường” mà cũng đâu có được? “Không ai muốn tự làm khổ mình cả... Người ta tự làm khổ mình là do hoàn cảnh... Con người tạo ra hoàn cảnh nhưng chính hoàn cảnh lại trói buộc con người... Phá bỏ hoàn cảnh đòi hỏi phải có sự hi sinh. Người ta sợ hi sinh. Sợ hãi vốn là bản tính của con người. Người ta sợ đói, sợ khổ, sợ nghèo, sợ đau đớn, sợ bệnh tật, sợ cấp trên, sợ mất chức, sợ mất việc, sợ bị chê cười...”. Những lời tự thú vừa kiêu hãnh, vừa chua chát trên dường như là châm ngôn sống của cậu Bính, “nhân vật mang tư tưởng” được nhà văn chăm chút kĩ lưỡng, có lẽ là quá kĩ lưỡng? Có một chữ nhẫn chi phối mọi hành xử của cậu, chữ nhẫn khiến cậu thường là “trôi theo dòng đời”, nương theo hoàn cảnh, rất ít khi có ý nghĩ dám lội ngược dòng, chẳng hạn trong mối quan hệ giữa cậu và cô Natasa bên Nga? Về một mặt nào đó, cậu Bính khiến người ta liên tưởng đến Tuần Hoa, họ cũng là hai nhân vật thành đạt nhất dù mục đích và con đường đi rất khác nhau? Châm ngôn sống có mùi vị Lão Tử ấy là khôn ngoan, hợp lí hay là tuỳ thời, là đáng noi theo hay đáng lên án, phải chăng đó là dư ba của cuốn tiểu thuyết mà nhà văn muốn dành cho bạn đọc tự vấn?
Xuyên Cẩm, dù còn những khiếm khuyết của một tiểu thuyết đầu tay, vẫn là cuốn sách hấp dẫn, dễ đọc. Tác giả tránh được hai điều mà người viết tiểu thuyết ở ta thường mắc phải, đó là tính luận đề và cái khung xã hội học vướng víu, bỏ thì thương, vương thì tội. Anh chăm chú đuổi theo câu chuyện, đuổi theo nhân vật mà quên luôn việc sắp xếp họ theo những định đề cứng nhắc, chỉ có cái vỏ bề ngoài là đúng. ở những tình huống, những nhân vật mà cảm hứng sự thật thắng thế, anh có những trang viết sống động, những chân dung ám ảnh. Một làng quê miền Trung với thiên nhiên trữ tình và khắc nghiệt, với những số phận tầm thường mà bi tráng đã hiển hiện qua những dòng chữ đôi khi còn vội vàng, chưa đủ độ gọt rũa. Hi vọng khi được chuyển qua một ngôn ngữ khác, ngôn ngữ điện ảnh chẳng hạn, những khiếm khuyết sẽ được khắc phục để tác phẩm có được độ vang vọng cao hơn trong những tâm hồn đồng điệu.
(Báo Văn nghệ)
Nguyễn Hoàng Sơn
(Đọc Xuyên Cẩm, tiểu thuyết của Dương Kỳ Anh, NXB Hội Nhà văn 2004).
Cầm cuốn tiểu thuyết đầu tay có nhiều màu sắc tự thuật của người bạn đồng tuế, đồng nghiệp và cũng là cấp trên trực tiếp của mình, nhà thơ quen biết Dương Kỳ Anh, ý nghĩ đầu tiên chợt đến với tôi là: Hoá ra lứa chúng tôi cũng từng trải, cũng sống nhiều, biết nhiều đáo để, đâu phải là hời hợt rong chơi ở cõi đời này! Có một dạo, những người tự coi mình có trách nhiệm săn sóc công việc của nhà văn thường hối thúc họ phải đi, phải “thâm nhập thực tế”, làm giàu thêm “vốn sống”, xem đó như bí quyết để có “tác phẩm lớn”. Sự hối thúc này xuất phát từ thiện ý và không phải là không cần thiết. Nhà văn không từng trải, không lăn vào cuộc sống mà chỉ quanh quẩn trong các sa-lông văn chương thì lấy gì để viết, để nói với người đọc đông đảo đang trằn lưng làm lụng vì miếng cơm manh áo và một cơ may vươn lên trong xã hội ngày càng hối hả, quay cuồng này? Nhưng “thực tế” không phải là tất cả với nghề văn và nhà văn ta cũng không đến nỗi thiếu “vốn sống” như những người sốt ruột muốn trông thấy “tác phẩm lớn” vẫn chê trách. Với lớp nhà văn như tôi và Dương Kỳ Anh, mỗi giai đoạn, mỗi năm sống, thậm chí mỗi ngày sống đều đầy ắp thách thức và ấn tượng, đủ dùng cho thơ, cho truyện ngắn và cho tiểu thuyết nữa, tất nhiên là nếu anh biết khai thác và có thêm một chút, một tí ti thôi cũng được, cái của... trời cho, là tài năng! Chúng tôi sinh ra trong kháng chiến chống Pháp, bập bẹ đã biết thế nào là “tản cư”, “đào hầm”. Những chuyện đấu tố, truy bức rồi sửa sai... đã kịp để lại dấu ấn nặng nề trong kí ức. Lớn lên một chút nữa là trường học với cả cái hay và cái dở, là hợp tác hoá ở nông thôn, cải tạo tư sản ở thành thị, là đấu tranh tư tưởng trong văn học nghệ thuật, là sổ gạo, hộ khẩu, tem phiếu... Mọi thứ đều còn dang dở, còn chưa đủ độ ổn định thì máy bay Mỹ đã kéo đến với bom la-ze, rốc-két, chất độc hoá học... Những ai may mắn đi hết được mười năm bom đạn lại gặp ngay hai cuộc chiến tranh biên giới vài năm sau và sa vào cơn lốc giá - lương - tiền dở khóc dở cười. Rồi thì khoán hộ ở nông thôn. Vỡ hụi ở thành phố. Xuất khẩu lao động. Rồi bức tường Berlin tan vỡ. Liên Xô cáo chung. Liên doanh. Mở cửa. Cổ phần hoá. Doanh nghiệp tư nhân. Trang trại. Tham nhũng. Mãi dâm. Ma tuý. HIV. Suy dinh dưỡng ở trẻ em nông thôn. Bệnh gút, bệnh béo phì bùng nổ ở thành phố... Ngỡ như chúng tôi đã sống mấy cuộc đời, mấy kiếp chứ không phải chỉ mấy mươi năm. Buồn, vui, hi vọng, tuyệt vọng, hăm hở, yếm thế, hư vô... Cả ngàn cảnh đời, cả ngàn tâm trạng. Tuổi này mà viết tiểu thuyết là phải lắm. Viết như một sự tri ân cuộc đời, một cách “trả nợ đời” như Dương Kỳ Anh có lần đã tâm sự với tôi.
Tiểu thuyết Xuyên Cẩm mở đầu bằng một cảnh đầy ấn tượng, rất thực mà lại mang ý nghĩa ẩn dụ: Cảnh những con chim én sợ lạnh chúi vào hiên nhà rồi bị người ta bắt giết, làm thịt! Con chim tượng trưng cho mùa xuân bị đối xử như vậy, báo hiệu một cơn tao loạn của đất trời và kiếp người “Bà tôi từ nhà trên bước xuống, đứng bên bếp lửa, nhìn chú Trình một lúc bảo: “Răng chú cháu mi lại bắt mấy con én vào trú mưa, tội chết”. Rồi bà đi ra, nhìn đàn én bay sà vào nhà, bâu kín dưới mái hiên. Bà lắc đầu: “Chim sa cá nhảy, không biết tội nợ chi đây”. Đã tròn nửa thế kỉ nhưng sự kiện từng gây chấn động nông thôn miền Bắc Việt Nam giữa những năm năm mươi thế kỉ trước vẫn không bị lãng quên trong văn học. Vũ Bão, Kim Lân, Hữu Mai, Hà Minh Tuân, Ngô Ngọc Bội, Lê Minh Khuê, Tô Hoài... và bây giờ thêm Dương Kỳ Anh. Không cay cú, không oán hận, qua cái nhìn của nhân vật chính, cậu Bính, một chú bé 9 tuổi sớm khôn, tác giả chỉ kể lại những điều dường như chính anh đã trải qua 50 năm trước? Con người của công chúng hôm nay, nhà báo, nhà văn thành đạt Dương Kỳ Anh không ngờ lại biết một tuổi thơ thật vất vả, “Buổi trưa và buổi tối, tôi dắt hai đứa em đi ăn xin. Hôm đầu tiên, tôi đến nhà chú Trình... Vừa nhìn thấy anh em tôi, thằng Đình con chú Trình đóng chặt cửa. Nó xua con chó khoang vốn rất dữ ra đuổi... Con chó lao ra ngõ nhưng rồi nhận ra người quen, nó vẫy đuôi rối rít. Tôi xoa đầu nó và thấy... nước mắt nó ứa ra. Hai đứa em tôi cũng khóc thút thít. Nước mắt lưng tròng, tôi ngồi thụp xuống lấy cái nón mê che mặt. Tôi không muốn hai đứa em thấy mình mềm yếu”. Còn đây là cảnh cậu Bính đưa ma người mẹ cùng hai đứa em xấu số sau cơn vượt cạn khốn khó, “Không một tiếng khóc tiễn đưa. Tất cả đều câm lặng. Con chim cú trung thành với thần chết cứ bay sàn sạt trên đầu chúng tôi và kêu lên những tiếng hãi hùng. Hai bàn chân mẹ tôi thò ra ngoài chiếu như hai bàn tay chới với đớn đau, cố níu lại những giây phút ngắn ngủi của trần gian... Đàn đom đóm nhào lộn rồi cuộn lại như ngọn đuốc sáng rực. Tôi kinh hãi nhìn hai bàn chân mẹ tôi phát sáng lập loè”. Cơn biến loạn rõ ràng vượt quá tầm hiểu biết của một đầu óc còn non nớt. Cậu Bính không hiểu vì sao những con người hiền lành, chân chất, đời đời kiếp kiếp chung sống cùng một làng, đôi khi còn cùng một nhà, một dòng máu nữa kia, bỗng trở nên hung dữ và tàn ác, đặt điều, nghi kị, sỉ nhục, hãm hại lẫn nhau? Đối với cậu, con khoang, con mực, con đom đóm, con trâu bạc... lúc này còn tự do, “ân nghĩa hơn con người”. Nhưng cậu vẫn le lói lòng tin là nhờ vẫn còn những người nhân hậu, thuỷ chung, “Trong số những người làm công cho gia đình tôi, có nhiều người tốt bụng. Họ vẫn thường ném cho chúng tôi khi thì bọc gạo, khi vài củ khoai... Đến bữa ăn, nhà cu Suê thường cho cơm vào mấy cái bát tô, một ít thịt, cá để ngoài hiên. Họ làm như thể cho chó ăn, nhưng khi thấy anh em chúng tôi, thằng con cu Suê đằng hắng chửi vài tiếng làm ám hiệu. Tôi nhìn trước nhìn sau - khi không thấy ai bèn men theo bờ tường nhặt vội mấy bát cơm cho vào cái nồi đất đặt trong bị rồi dắt em chạy”. Sự đời thật trớ trêu. Trong khi mụ Bèng xấu xí, dốt nát và độc ác như một hung thần thì con trai mụ lại là người che chở cho anh em Bính, che chở trong im lặng! Ngay với người đàn bà quái gở ấy, dường như cái nhìn của nhà văn cũng nghiêng về kinh sợ, xót thương nhiều hơn là căm giận? Đây là nhân vật thực và ấn tượng, một đóng góp của Dương Kỳ Anh. Thật ra thì mụ Bèng cũng chỉ là nạn nhân, một nạn nhân khốn khổ nhất của thời cuộc, của sự tăm tối. Cái cảnh mụ ngồi ghế xử án chính ông anh chồng mình là một tình huống thật bi hài, rất xi-nê-ma (không riêng gì cảnh ấy, nhìn chung tiểu thuyết Xuyên Cẩm khá giàu chất điện ảnh, tôi mong các nhà làm phim để mắt đến). “Mụ Bèng nói như hét vào loa: “Tôi nhân danh... Nhân danh chi hè?” Mụ quay sang hỏi Tuần Hoa... “Bay ơi, đôi chó lẹo căng”- mụ Bèng kêu lên. Có một đôi chó đen đấu đít vào nhau. Đôi chó làm cái việc đồi truỵ kia sao lại xuất hiện ngay trước khán đài. Mọi người cười ồ... Hai anh trai làng cầm đòn xóc chạy vào. Họ luồn cái đòn xóc... rồi khiêng lên vai. Đôi chó làm tình bỗng gặp tai hoạ. Con đực đau đớn kêu ăng ẳng. Con cái nước mắt rụa ràn. Đám đông lại lào rào. Người ta cười nói, la hét. Mụ Bèng như quên đi vai trò của chính mình. Mụ cười hi hi. Trông mụ có vẻ khoái chá, cái khoái chá vô tư của người dân quê mộc mạc”. ở mụ Bèng, mọi hành vi gần như còn thuần tuý là bản năng. Sử dụng những người như mụ thật “được việc” nhưng cũng dễ dàng biến thành tai hoạ. Vich-to Huy- gô từng nói về loại người kiểu Giave: Quyền lực trong tay kẻ đê tiện thì thật đáng sợ! “Khi mụ Bèng hét vào loa “Tử hình”, đám đông đương ồn ào đột nhiên lặng phắc. Mọi người đang tham dự vào một trò hề vui bỗng nhận ra điều nghiêm trọng. Mạng người đâu phải chuyện đùa. Chị Châu gần như ngất xỉu. Vất vả lắm tôi mới đỡ chị đứng dậy được. Anh Biểu bạch tạng ngơ ngác hỏi: “Tử hình là chi?”. Tôi chưa kịp trả lời, cu Suê đã hét vào tai anh: “Tử hình là người ta giết bố mi!”. Đã có lúc cả việc sống chết của một con người cũng biến thành “chuyện như đùa” vậy đấy. Một câu hỏi đặt ra: Nhắc lại những chuyện ấy làm gì nhỉ, dù sao thì cũng nửa thế kỉ rồi? Thực ra nhắc lại quá khứ không phải vì quá khứ mà chính là vì hiện tại và tương lai. Con người vốn mải vui, mau quên, chuyện vấp hai lần vào một mô đất không phải chưa từng diễn ra. Thế cho nên nhà văn Trung Quốc Ba Kim, tuổi gần tròn trăm, phải sống thường trực trong bệnh viện mà vẫn cặm cụi viết bằng xong bộ Tuỳ tưởng lục, muốn “dựng một bảo tàng về “cách mạng văn hoá” để làm gương cho hậu thế. Quốc vương Campuchia Nôrôđôm Xihanúc viết hồi kí, gay gắt kết tội đám trí thức Khơme Đỏ, những Pônpôt, Khiêu Xamphon, Iêng Xary... hầu hết đều du học tại Pháp, có học vấn cao nhưng lại là thủ phạm đích thực của những “Cánh đồng chết” trên một xứ sở Phật giáo hiền hoà...
Nghe nói ban đầu Dương Kỳ Anh đặt tên cho cuốn sách là Chuyện làng Cẩm? Cái tên ấy hơi thật thà nhưng khá chính xác. Nhà văn chỉ viết chuyện làng Cẩm, theo bước chân người làng Cẩm dù dòng đời đưa đẩy họ sang Nga, sang Mỹ, vào Sài Gòn, ra Vũng Tàu... Thời gian của tiểu thuyết trải dài từ những năm hoà bình lập lại trên miền Bắc đến thời mở cửa bây giờ. Làng Cẩm đi từ tiếng kẻng chói tai đến tiếng nhạc karaoke nhẽo nhớt. Với số trang, số chữ không nhiều cho một thời đoạn dài như vậy nên rất nhiều chuyện, nhiều nhân vật tác giả chỉ kịp nhắc qua, lướt qua, chưa kịp “săn sóc” đến nơi đến chốn. Những lúc ấy là con người kí giả lấn át con người nhà văn? Chỉ ở những trường đoạn tác giả chủ động giảm tốc độ, “quay chậm”, nhân vật mới hiện lên rõ nét. Trường đoạn về ông bố “cậu Bính” gặp gỡ với o Hoè rồi tái giá khá ấn tượng. Cái cách hợp tác xã quản lí thuyền rồi quản lí cả biển đúng là cười ra nước mắt, vậy mà bao nhiêu năm người ta vẫn đinh ninh rằng đó là phương thức duy nhất đúng đắn vì lợi ích của chính người dân. Cả trong lĩnh vực tình cảm cũng vậy. Ông cu Bính goá vợ nhiều năm, sống ép xác với tâm nguyện ở vậy “gà trống nuôi con” đến mức “nhiều khi trở nên vô cảm... xa cách với phụ nữ, với những tình cảm giới tính thông thường”. Chính o Hoè goá bụa, đeo đẳng nỗi uất ức vì đôi gò má cao trời sinh của mình đã đánh thức cái phần tưởng như là tội lỗi nhưng lại chính là phần người đích thực trong ông. Tác giả tỏ ra tinh tế khi lí giải mối quan hệ này “Đôi khi nghĩ đến Hoè, ông tự hỏi, tình cảm của mình đối với cô sẽ ra sao? Đừng nói chuyện tình yêu phù phiếm ở tuổi ông, ở vào hoàn cảnh của hai người hiện nay! Trong thâm tâm, ông cảm nhận được ở cô một sự cuốn hút không hẳn đơn thuần là tình thương. Ông cảm nhận ở cô, ở một người đàn bà, những cảm giác mà người đàn ông cần. Chính cảm giác đó đã thức tỉnh ông, chính ông, một người đàn ông, vẫn tràn trề sức lực ở tuổi ngũ tuần”. Đoạn hai người tình tự trong đêm, trên bờ mương, giữa cánh đồng là một trong những đoạn “có văn” nhất của cuốn tiểu thuyết? “Hai người ngồi xuống bờ mương. Ông choàng tay lên đôi vai nóng rực của Hoè. Đôi ngỗng trời trên cao bỗng kêu lên một tiếng. Mặt đất li ri những âm thanh hỗn tạp. Có lẽ thứ rượu cam nhiều cồn đã làm ông ngà ngà. Cũng có thể ông đã quên đi tất cả. Quên đi mình là ai. Mình đang ở đâu. Mình đang làm gì thế này! Ông chẳng làm gì cả. Ông đang làm một con người. Một con người bình thường nhất.” Đúng lúc ấy thì những ánh đèn pin vô duyên, hỗn xược, trắng trợn xuất hiện! Giọng văn như đùa đùa mà thật đắng đót. Làm một con người, dù là con người bình thường đâu có dễ? Những ông Kiên, ông từ Bang, chị Châu xinh đẹp, ông Bèng lành như đất, anh Biểu bạch tạng, thầy Hưng si tình... chắc chẳng có mơ ước gì cao xa ngoài được làm một “con người bình thường” mà cũng đâu có được? “Không ai muốn tự làm khổ mình cả... Người ta tự làm khổ mình là do hoàn cảnh... Con người tạo ra hoàn cảnh nhưng chính hoàn cảnh lại trói buộc con người... Phá bỏ hoàn cảnh đòi hỏi phải có sự hi sinh. Người ta sợ hi sinh. Sợ hãi vốn là bản tính của con người. Người ta sợ đói, sợ khổ, sợ nghèo, sợ đau đớn, sợ bệnh tật, sợ cấp trên, sợ mất chức, sợ mất việc, sợ bị chê cười...”. Những lời tự thú vừa kiêu hãnh, vừa chua chát trên dường như là châm ngôn sống của cậu Bính, “nhân vật mang tư tưởng” được nhà văn chăm chút kĩ lưỡng, có lẽ là quá kĩ lưỡng? Có một chữ nhẫn chi phối mọi hành xử của cậu, chữ nhẫn khiến cậu thường là “trôi theo dòng đời”, nương theo hoàn cảnh, rất ít khi có ý nghĩ dám lội ngược dòng, chẳng hạn trong mối quan hệ giữa cậu và cô Natasa bên Nga? Về một mặt nào đó, cậu Bính khiến người ta liên tưởng đến Tuần Hoa, họ cũng là hai nhân vật thành đạt nhất dù mục đích và con đường đi rất khác nhau? Châm ngôn sống có mùi vị Lão Tử ấy là khôn ngoan, hợp lí hay là tuỳ thời, là đáng noi theo hay đáng lên án, phải chăng đó là dư ba của cuốn tiểu thuyết mà nhà văn muốn dành cho bạn đọc tự vấn?
Xuyên Cẩm, dù còn những khiếm khuyết của một tiểu thuyết đầu tay, vẫn là cuốn sách hấp dẫn, dễ đọc. Tác giả tránh được hai điều mà người viết tiểu thuyết ở ta thường mắc phải, đó là tính luận đề và cái khung xã hội học vướng víu, bỏ thì thương, vương thì tội. Anh chăm chú đuổi theo câu chuyện, đuổi theo nhân vật mà quên luôn việc sắp xếp họ theo những định đề cứng nhắc, chỉ có cái vỏ bề ngoài là đúng. ở những tình huống, những nhân vật mà cảm hứng sự thật thắng thế, anh có những trang viết sống động, những chân dung ám ảnh. Một làng quê miền Trung với thiên nhiên trữ tình và khắc nghiệt, với những số phận tầm thường mà bi tráng đã hiển hiện qua những dòng chữ đôi khi còn vội vàng, chưa đủ độ gọt rũa. Hi vọng khi được chuyển qua một ngôn ngữ khác, ngôn ngữ điện ảnh chẳng hạn, những khiếm khuyết sẽ được khắc phục để tác phẩm có được độ vang vọng cao hơn trong những tâm hồn đồng điệu.
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,