Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm
Quan Thế Âm tiếng Phạn là “Avalokitesvara” dịch sang tiếng Hán là Quan Thế Âm hay Quán Tự Tại …Danh hiệu Quan Thế Âm, nghĩa là quan sát tiếng kêu than của chúng sanh trong thế gian để độ cho họ thoát khổ.
Theo Kinh Bi Hoa thì ở vào đời quá khứ có đức Phật ra đời hiệu là Bảo Tạng Như Lai. Thời đó có vua Chuyển Luân Thanh Vương là Vô Chánh Niệm. Vua có quan đại thần là Bảo Hải, phụ thân của đức Bảo Tạng khi chưa xuất gia đối trước Đức Phật Bảo Tạng phát ra 48 đại nguyện. Đức Bảo Tạng thụ ký cho Vua (khi đó đã là Pháp Tạng Tỳ Kheo) sau này thành Phật hiệu là A Di Đà ở thế giới Cực Lạc.
Vua Chuyển Luân có rất nhiều con. Con cả là Thái Tử Bất Tuấn cũng do ngài Bảo Hải khuyến tu. Thái Tử cũng đi xuất gia theo cha và đối trước Đức Bảo Tạng Như Lai phát ra bảo nguyện đại bi thương xót, cứu độ tất cả các loài chúng sanh bị khổ não. Đức Bảo Tạng thụ ký cho Thái Tử thành Bồ Tát hiệu là Quan Thế Âm, còn Bảo Haỉ là tiền thân của Đức Thích Ca Mầu Ni.Đức Bảo Tạng thụ ký cho Thái Tử rằng: “Vì lòng đại bi Ông muốn quán niệm cho tất cả chúng sanh được cùng về cõi an lạc (cực lạc). Vậy từ nay đặt tên cho Ông là Quan Thê Âm….
Bồ Tát Quan Thế Âm là hiện thân của Từ Bi, Ngài phát đại nguyện thực hiện từ bi cùng tận trong đời vị lai, nếu chúng sinh còn đau khổ. Vì chỉ có từ bi mới giải trừ đau khổ, cũng như chỉ có trí tuệ mới diệt được ngu si. Do đó, Bồ Tát Quan Thế Âm thiết lập tâm đại từ, đại bi mà thực hiện đại thệ nguyện độ sanh của Ngài.
TỪ là đem niềm vui đến cho kẻ khác. Chữ Từ như người ta thường nói: Từ thiện, từ ái, từ mẫu, từ tâm. Từ tâm đối với ác tâm, sân tâm, ích kỷ tâm….BI là cách thức hành động để cứu khổ.Từ là lòng yêu thương, Bi là ra tay giải quyết và dấn thân nỗ lực làm việc để cứu giúp thực tế. Tóm lại Tu Bi: Thương yêu chúng sinh, mang lại cho họ niềm an lạc vui sướng gọi là Từ (maritrya, maitri). Đồng cảm nỗi khổ và thương xót chúng sinh, trừ bỏ nỗi khổ cho họ gọi là Bi.
Quán Thế Âm khi xưa đã thành Phật hiệu là “Chánh Pháp Minh Như Lai”. Ngài thị hiện làm Bồ Tát vì muốn đảm đương công tác cứu khổ ban vui cho chúng sanh. Đức Bồ Tát quán thấy Phật và chúng sanh đồng chung một bản thể, đồng chung một giác tánh duy nhất, nhưng Phật đã giác ngộ mà chúng sanh thì còn mê.
Do đó, Đức Quan Thế Âm tức là một vị Phật tương lai kế thừa Đức Phật A Di Đà, thì ngài cùng với ngài Đại Thế Chí (kiếp xưa là em ngài, con thứ vua Chuyển Luân cũng cùng Ngài đồng thời được Đức Bảo Tạng thụ ký) giúp việc giáo hoá độ sanh cho Đức Phật A Di Đà và 2 Ngài cũng ứng thân xuống Ta Bà trợ giáo cho Đức Thích Ca Mâu Ni.
Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, chư vị Bồ tát cùng trình bày sở học của mình. Ngài bạch với Đức Thế Tôn rằng:
“Con nhớ cách đây vô số hằng hà sa kiếp về trước có Đức Phật ra đời hiệu là Quan Thế Âm, từ Đức Phật kia dạy con, do nghe, nghĩ và tu mà vào Tam Ma Đề”. Pháp tu của ngài là vượt bậc hơn cả, quán sát tự tánh, độ tận chúng sinh. Quán sát nơi tâm mình, hễ có một ý niệm nào phát sinh là tự biết, tự dẹp trừ.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là kinh tán thán công đức của mười phương chư Phật và thọ ký cho chư vị Bồ tát. Tôi xin lược giảng như sau:
Ngài Vô Tận Ý Bồ Tát hỏi Phật: Vì sao vị bồ tát này có tên là Quán Thế Âm? Đức Phật nói: Nếu có chúng sinh nào đang chịu khổ sở, nghe danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm, tha thiết xưng niệm, Bồ tát này quán sát tiếng phát âm đó, người kia liền được giải thoát.
"Nếu có người trì niệm danh hiệu Bồ tát Quán thế âm, giá như lâm vào lửa lớn, lửa chẳng đốt đặng vì nhờ oai thần Bồ tát này che chở vậy; hoặc bị dòng nước cuốn trôi, xưng danh hiệu ngài liền gặp chỗ cạn."
"Nếu có trăm ngàn muôn ức chúng sanh ra khơi tìm các vật báu: trân châu, vàng bạc, lưu ly,xa cừ, san hô, hổ phách, chơi vơi ngoài biển cả; giả sử gió dữ thổi bạt ghe thuyền, lênh đênh trôi dạt, tấp vào nước quỷ La sát; trong đoàn lâm nạn, nếu được một người biết xưng niệm danh hiệu Bồ tát Quán thế âm, trọn đoàn thảy đều giải thoát nạn quỷ La sát. Vì nhân duyên kia nên gọi là Quán thế âm."
Khi bị hiểm nguy, dù lớn hay bé, nếu ta đọc tên ngài một cách thành khẩn, tha thiết liền qua khỏi. Người nào trì niệm danh hiệu ngài chẳng may vào trong nước sôi lửa bỏng cũng được che trở mà thoát. Trong hoàn cảnh có nhiều người cũng lâm vào nguy hiểm, nếu có người niệm danh hiệu ngài thì cả đoàn liền được giải thoát.
Giải thích thêm một chút chỗ này; nếu người không hiểu sẽ nói: “à, vậy ta cứ niệm danh hiệu Quán Thế Âm rồi nhảy vào lửa, chắc không chết đâu”. Người này là thiếu hiểu biết, kinh nói trong hoàn cảnh do bên ngoài đưa đến, không tính trước được, có ai đó bị rơi vào tình cảnh đó, tha thiết 1 lòng niệm danh hiệu ngài liền được giải thoát. Ở đây về logic, Phật nói ban đầu là số ít(nếu có chúng sinh nào), đến đoạn sau Phật nói số nhiều(nếu có trăm ngàn vạn ức chúng sinh) để làm sáng tỏ rằng sự oai thần của Bồ tát Quán Thế Âm là rất lớn, không hạn lượng. Người nào trì niệm danh hiệu ngài không những người đó được giải thoát(biệt nghiệp) mà còn cả những người chung hoạn nạn(cộng nghiệp) nữa.
Tôi có một ông bác, xưa tham gia kháng chiến chống Mỹ. Nhà vốn thờ Phật, khi đi bà mẹ dặn con phải niệm Quan Thế Âm bồ tát cũng như chú Đại bi. Ông bác nghe theo. Trong chiến tranh, sự sống còn chỉ là gang tấc. Vào trong hoàn cảnh này ông mới biết được tha lực của Bồ tát Quán Thế Âm như thế nào. Hai trận tuyến cách nhau một quãng đường, lúc đó trời nằng, nhiều người nói chạy vào lùm cây kia mát hơn để trú. Ông bác tôi nói thôi cứ ở nằm ngoài này có ít cây địch đỡ chú ý. Có một số nóng quá không chịu được chạy vào lùm cây. Vào được một lúc thì địch lã pháo từ xa. Dầm một cái, mấy người khi nãy chết hết. Còn nhiều trường hợp tương tự như vậy.
Có người trèo núi chẳng may trượt chân rơi xuống vực, ngay khi đang rơi, hình ảnh cái chết đã hiện ra trong đầu. Người này nhớ đến Bồ tát Quán Thế Âm liền cầu ngài cứu trong may rủi. Chẳng may giữa chừng rơi có một cây to mọc ở khe chìa cành ra. Người này rơi vào bám được cành cây rồi thoát chết.
Dân đánh cá xa bờ, trong miền trung có đền thờ Cá Ông, chẳng qua cũng là sự thị hiện của Quán Thế Âm bồ tát để cứu độ dân mà thôi. Trên buồng lái bao giờ cũng có hình ảnh Bồ tát Quán Thế Âm.Những ví dụ trên để nói về sự oai thần của Bồ tát là có thực.
Ở đây có danh từ Hán là Trì niệm. Trì niệm nghĩa là thường xuyên niệm. Nếu chúng ta niệm một tiếng rồi, vài ngày sau mới niệm như vậy không gọi là trì niệm được.
Nếu lại có người, sắp phải bị hại vì nạn gậy đao, xưng danh hiệu Bồ tát Quán thế âm, dao gậy người cầm liền gãy từng đoạn mà đặng giải thoát.
Nếu trong tam thiên đại thiên quốc độ, quỷ Dạ xoa cùng quỷ La sát, đoàn lũ kéo về, muốn gây não hại, nghe xưng danh hiệu Bồ tát Quán thế âm, các quỷ kia không còn dùng được mắt dữ ngó người huống là gieo hại.
Lại giả sử có người, hoặc có tội hoặc không tội, gông cùm xiềng xích trói buộc vào thân, niệm danh hiệu Bồ tát Quán thế âm gông xiềng thảy đều hư rã, liền đặng giải thoát.
Nếu trong tam thiên đại thiên quốc độ, giặc cướp hoành hành, đầy đồng chật lộ, có người thương chủ dẫn đoàn con buôn mang nhiều của báu vượt qua đường hiểm, bị cướp chận đường; trong đoàn lâm nạn nếu được một người cất tiếng hô to: "Này các thiện nam tử, chớ nên kinh hãi, xin hãy nhứt tâm xưng danh Quán thế âm, Bồ tát này hay đem pháp lực vô úy ban cho chúng sanh, ai mà kêu cầu sẽ đặng thoát nạn"., đoàn buôn nghe lời đồng loạt xưng danh "Nam mô Quán thế âm Bồ tát", nhờ xưng danh hiệu ấy, đều đặng giải thoát.
Này Vô Tận Ý! Đại Bồ tát Quán thế âm có sức oai thần cao vời như thế.
Tương tự như trên, nếu người lâm vào nạn binh đao, có người vì oán thù đem dao đến hại người mà người này niệm danh hiệu Quan Thế Âm thì ngươi đó được giải thoát. Rồi quỷ dữ muốn hại người, đạo tặc muốn giết người, nếu ai đó lâm vào cảnh này mà niệm danh hiệu ngài liền được giải thoát. Nếu ai đó chưa tin tôi sẽ giải thích như sau:
Khi mình có lòng tin đã là có một sức mạnh phi thường rồi, tin vào sức mạnh của Bồ tát Quán Thế Âm và niệm danh hiệu ngài lại càng củng cố lòng tin hơn nữa. Trong những lúc nguy cấp, ta tưởng chừng như sự sống và cái chết gần kề. Có người sẽ nhắm mắt lại và niệm danh hiệu. Các cụ có câu: “đành nhắm mắt đưa chân”. Vậy mà trong mình khởi lòng tin tha thiết vào sự sống còn thêm tha lực của Bồ tát giống như xe ô tô bị xa lầy, vài người lớn trên xe cố gắng đùn nó ra khỏi vũng lầy bổng lúc đó là giờ tan học, mọi người nhờ chúng đẩy xe. Dù rằng một em học sinh cấp 1 thôi, chẳng thấm là bao, nhưng cả một lớp học 50 người tụm lại thì sức mạnh đó không phải là nhỏ đâu.
Ở đây, đức Phật nói thêm nếu người có tội cũng như không có tội mà bị gông cùm xiềng xích. Mọi người ắt sẽ hiểu nhầm rằng; người vô tội thì được thả là đúng rồi, người có tội mà được thả là vô lý. Trong lòng từ bi không có hạn lượng của chư Phật và Bồ tát thì không có sự phân biệt này. Lòng từ bi ở đây như lòng thương con của mẹ vậy. Nếu đứa con ngoan thì mẹ thương thật nhiều nhưng nếu đẻ ra đứa con hư đốn, vô đạo thì tình thương của người mẹ không phải vì thế mà mất đi. Các cụ có câu: “Hổ dữ không ăn thịt con”. Một người là máu thịt của mình, do chính mình đẻ ra thì không có ai đang tâm mà ghét bỏ, giết hại. Có một ai đó do con ngỗ nghịch mắng con: “mày đi đi cho khuất mắt, tao từ mày”. Nói trong cơn nóng giận thì thế thôi nhưng sao mà từ được con. Một lúc nào đó lại nghĩ lại, con mình nó dại lại càng phải thương. Vậy người có tội chẳng qua do nghiệp lực, thiếu hiểu biết mà gây lên tội, như một vết bẩn khi được cho vào bể nước lớn giặt thì làm gì còn bẩn nữa. Giải thoát ở đây không hẳn là được thả ra, mà giải thoát phải hiểu theo nghĩa giải thoát về mặt thể chất và tâm hồn. Ví như một người giết người bị kết án tù chung thân chẳng hạn. Khi đã biết mình sai, quay đầu lại sám hối như người con ngỗ ngược quay về với mẹ. Người đó chịu cảnh tù đầy, tù đầy là về thể xác, nhưng trong lòng người đã biết sám hối thì người đó sẽ phục thiện. Tu dưỡng đạo đức cho tốt, chẳng mấy chốc nhà nước ân xá không những được về trước hạn mà khi ra khỏi nhà tù lại làm những việc có ích cho đời.
Nếu có chúng sanh nào nhiều lòng dâm dục, thường cung kính niệm Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, liền được ly dục.
Nếu người nhiều giận hờn, thường cung kính niệm Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, liền được lìa lòng giận.
Nếu người nhiều ngu si, thường cung kính niệm Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, liền được lìa ngu si.
Vô-Tận-Ý! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát có những sức oai thần lớn, nhiều lợi ích như thế, cho nên chúng sanh thường phải một lòng tưởng nhớ.
Nếu có người nữ, giả sử muốn cầu con trai, lễ lạy cúng dường Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, liền sanh con trai phúc đức trí huệ; giả sử muốn cầu con gái, bèn sanh con gái có tướng xinh đẹp, trước đã trồng gốc phước đức, mọi người đều kính mến.
Vô-Tận-Ý! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát có sức thần như thế.
Sau khi nói về những nạn khổ bên ngoài thân, đến đây Phật nói những khổ nạn trong thân. Đối với những chúng sinh bị khổ ải trong thân mình thì sao?
Người nào nhiều dâm dục dẫn đến hại mình và hại cho người, thường cung kính niệm Quán Thế Âm thì sẽ hết dâm dục. Dâm dục là một trong những tội lỗi. Hại mình là sao? Nếu như dâm dục nhiều thì ảnh hưởng về thể xác, người gầy, da xấu v.v…tinh thần mệt mỏi. Hại người là hành vi dâm dục làm phá hoại thuần phong mỹ tục, phá hoại gia đình người khác, gây khổ đau cho người khác. Dâm dục ở đây là do đâu? Do 6 tên giặc: mắt nhìn thấy cho là thân hình kia đẹp đẽ, tai nghe thấy họ nói lời hay, ong bướm thì yêu thích, mũi ngừi thấy mùi hương, nước hoa thì cho là thơm dịu, thân chạm phải mềm cho là mềm mại v.v.. từ đó ý nghĩ trong đầu tác động rằng mình muốn được ân ái, rồi các việc tội lỗi khác kéo theo để làm sao chiếm đoạt được người ta. Người nhiều dâm dục này khi có ý nghĩ đó liền niệm Phật, niệm Quán Thế Âm bồ tát một lòng thì trong ý nghĩ đã xóa đi được cái ý niệm dâm dục. Dần dần người đó chế ngự và không còn ý niệm về dâm dục, trừ được cái nhân tội lỗi.
Tương tự như vậy, người nhiều giận hờn, người nhiều ngu si khi ý niệm khởi nên gặp ngay ý niệm quay đầu quy y Quán Thế Âm thì những thứ đó không thể nào phát khởi được.
Bí quyết cầu tự đây, cha mẹ và con cái vốn là do nhân duyên. Đứa con do tinh cha, huyết mẹ và thần thức của đứa trẻ hợp với hoàn cảnh mà tạo thành. Niệm Quán Thế Âm Bồ tát để sàng lọc cái mầm mống xấu, niệm phật để khởi từ tâm cho đứa bé ngay từ khi trong bụng mẹ do đó dù con trai, con gái sinh ra đều phúc đức trí tuệ. Các đôi vợ chồng hiếm muộn, muốn cầu con trai, con gái tùy theo nên đến trước bồ tát Quán Thế Âm lễ lạy, cúng dàng rồi niệm danh hiệu ngài thì sự may mắn sẽ đến.
Tôi có quen rất nhiều người phụ nữ, họ kể như sau: Có người thường niệm danh hiệu Quán Thế Âm bồ tát đến khi có thai nằm mơ thấy Bồ tát bế đứa bé trao cho mình. Hoặc có người nằm mơ thấy đứa bé mặt mũi sáng sủa gọi mình bằng mẹ rồi đi theo mình. Lại có người hói sao con chị mặt trông đáng yêu đến thế. Người đó nói khi mang thai chồng tôi không cho tôi nhìn những hình tượng ghê sợ mà tôi thường xuyên mở ảnh Bồ tát Quán Thế Âm ra ngắm.
Có người lại kể khi đến cơn đau đẻ tôi vẫn niệm danh hiệu ngài nên khi đẻ dường như chẳng đau đớn gì. Từ tâm thức người mẹ truyền cho thai nhi sự từ tâm. Đứa trẻ sinh ra mặt mày sáng sủa, hiền từ không ngỗ ngược.
Nếu có chúng sanh cung kính lễ lạy Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, thì phước đức chẳng luống mất. Cho nên chúng sanh đều phải thọ trì danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.
Vô Tận Ý! Nếu có người thọ trì danh tự của sáu mươi hai ức hằng-hà-sa Bồ-Tát lại trọn đời cúng dường đồ ăn uống y phục, giường nằm, thuốc thang. Ý ông nghĩ sao? Công đức của người thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhơn đó có nhiều chăng?
Vô-Tận-Ý thưa: "Bạch Thế-Tôn! Rất nhiều".Phật nói: "Nếu lại có người thọ trì danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, nhẫn đến một thời lễ lạy cúng dường, thì phước của hai người đó bằng nhau không khác, trong trăm nghìn ức kiếp không thể cùng tận.
Vô-Tận-Ý! Thọ trì danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát được vô lượng vô biên phước đức lợi ích như thế."
Từ những lợi ích như vậy, đức Phật nói nếu có ai thường niệm danh hiệu ngài, cũng như lễ bái cúng dường ngài thì phúc đức không thể cùng tận.
Ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát bạch Phật rằng: "Thế-Tôn! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát dạo đi trong cõi Ta-bà như thế nào? Sức phương tiện đó như thế nào?"
Phật bảo Vô-Tận-Ý Bồ-Tát: "Thiện-nam-tử! Nếu có chúng sanh trong quốc độ nào đáng dùng thân Phật được độ thoát thời Quán-Thế-Âm Bồ-Tát liền hiện thân Phật vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Duyên-giác đượcc độ thoát, liền hiện thân Duyên-giác mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Thanh-văn được độ thoát, liền hiện thân Thanh-văn mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Phạm-vương được độ thoát, liền hiện thân Phạm-vương mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Đế-Thích được độ thoát, liền hiện thân Đế-Thích mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Tự-tại-thiên được độ thoát, liền hiện thân Tự-tại-thiên mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Đại-tự-tại-thiên được độ thoát, liền hiện thân Đại-tự-tại-thiên mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Thiên-đại-tướng-quân được độ thoát, liền hiện thân Thiên-đại-tướng-quân mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Tỳ-sa-môn được độ thoát, liền hiện thân Tỳ-sa-môn mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Tiểu-vương được độ thoát, liền hiện thân Tiểu-vương mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Trưởng-giả được độ thoát, liền hiện thân Trưởng-giả mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Cư-sĩ được độ thoát, liền hiện thân Cư-sĩ mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Tể-quan được độ thoát, liền hiện thân Tể-quan mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Bà-la-môn được độ thoát, liền hiện thân Bà-la-môn mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-ba-di được độ thoát, liền hiện thân Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-ba-di mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân phụ nữ của Trưởng-giả, Cư-Sĩ, Tể-quan, Bà-la-môn được độ thoát, liền hiện thân phụ nữ mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân đồng-nam, đồng-nữ được độ thoát, liền hiện thân đồng-nam, đồng-nữ mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân trời, rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, nhơn cùng phi nhơn được độ thoát, liền đều hiện ra mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Chấp-Kim-Cang thần được độ thoát, liền hiện thân Chấp-Kim-Cang thần mà vì đó nói pháp.
Vô-Tận-Ý! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát đó thành tựu công đức như thế, dùng các thân hình, dạo đi trong các cõi nước để độ thoát chúng sanh, cho nên các ông phải một lòng cúng dường Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.
Quán-Thế-Âm đại Bồ-Tát đó ở trong chỗ nạn gấp sợ sệt hay ban sự vô-úy, cho nên cõi Ta-bà này đều gọi Ngài là vị "Thí-vô-úy".
Đến đây, đức Phật nói sự linh ứng của Bồ tát Quán Thế Âm. Bồ tát Quán Thế Âm quan sát, lắng nghe tiếng kêu khổ của chúng sinh rồi tùy theo mà hóa hiện độ thoát chúng sinh. Nói như thế này để thấy; trên là nói các thứ lớp, danh từ tuy có khác nhau nhưng tóm gọn lại ngài sẵn sàng ứng hóa ra thân hình cho phù hợp với hoàn cảnh mà cứu độ.
Có người gặp việc cấp bách đi qua con sông rộng, tối đến phà người ta nghỉ. Lúc đó, trong đầu khởi ý niệm, lạy trời Phật cứu giúp con, giờ con không biết làm thế nào để qua sông. Nhân lúc này liền niệm Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát. Chẳng ai ngờ có một ông lão đánh cá đêm với chiếc thuyền nan từ đâu đi tới rồi chờ người đó qua sông. Trên thuyền, mọi người cùng trò chuyện abc. Phải biết rằng đây là sức phương tiện Bồ tát Quán Thế Âm mà có vậy.
Có một sư cụ bà chuyên tu niệm Phật, cầu được ngài thị hiện. Một ngày kia có một người đàn ông ở nơi xa đến chùa hỏi thăm cụ. Hỏi cụ tu pháp môn gì? Rồi có chỉ cho cách tu mà cụ thấy rất đúng. Sư cụ này nhận ra người này không phải người thường. Lời dạy như của bậc cao tăng tu hành. Đến chiều người này chào cụ rồi đi. Cụ hỏi thầy đi đâu? Vị này chẳng nói chẳng rằng rồi đi thẳng. Không ai biết thông tin gì khác. Phải nên biết đây là hóa thân ngài Quán Thế Âm thị hiện vậy.
Đến đây, chắc có người mong gặp bồ tát Quán Thế Âm thị hiện nhưng không phải dễ. Phải niệm Phật chí thành ắt sẽ gặp.
Do có sức uy thần lớn như vậy nên ngài được gọi là bậc Thí Vô Úy. Người hay mang sự an ổn đến cho chúng sinh, an ổn cả về thể xác và tâm hồn.
Lại nói thêm, tín ngưỡng thờ Quán Thế Âm được rất nhiều người theo. Người làm nghề gì cũng có thể thờ. Người làm nghề y thờ ngài cầu ngài gia hộ cho những bệnh nhân được chữa chạy kịp thời, khỏe mạnh. Người buôn bán cầu ngài gia hộ cho buôn bán thuận buồm xuôi gió. Đặc biệt, Bồ tát Quán Thế Âm có sức uy thần như vậy nên quỷ ma đều quy phục ngài. Nơi ngã ba đường hay xảy ra tai nạn, có người mua một hình tượng ngài đem đến thờ. Những oan hồn nơi đó được ngài giáo hóa siêu sinh không còn làm những việc ác làm chết người. Nơi nào có sự hiện hữu của ngài là nơi đó có sự bình an. Hình tượng ngài với nghìn mắt nghin tay để nói không nơi nào ngài không soi tỏ, không nơi nào ngài không với tới.
Nếu ai đó đọc đến đây rồi, nên khởi lòng tin chân thật rồi niệm Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát đế nhận được sự gia hộ của ngài.
Quan Thế Âm tiếng Phạn là “Avalokitesvara” dịch sang tiếng Hán là Quan Thế Âm hay Quán Tự Tại …Danh hiệu Quan Thế Âm, nghĩa là quan sát tiếng kêu than của chúng sanh trong thế gian để độ cho họ thoát khổ.
Theo Kinh Bi Hoa thì ở vào đời quá khứ có đức Phật ra đời hiệu là Bảo Tạng Như Lai. Thời đó có vua Chuyển Luân Thanh Vương là Vô Chánh Niệm. Vua có quan đại thần là Bảo Hải, phụ thân của đức Bảo Tạng khi chưa xuất gia đối trước Đức Phật Bảo Tạng phát ra 48 đại nguyện. Đức Bảo Tạng thụ ký cho Vua (khi đó đã là Pháp Tạng Tỳ Kheo) sau này thành Phật hiệu là A Di Đà ở thế giới Cực Lạc.
Vua Chuyển Luân có rất nhiều con. Con cả là Thái Tử Bất Tuấn cũng do ngài Bảo Hải khuyến tu. Thái Tử cũng đi xuất gia theo cha và đối trước Đức Bảo Tạng Như Lai phát ra bảo nguyện đại bi thương xót, cứu độ tất cả các loài chúng sanh bị khổ não. Đức Bảo Tạng thụ ký cho Thái Tử thành Bồ Tát hiệu là Quan Thế Âm, còn Bảo Haỉ là tiền thân của Đức Thích Ca Mầu Ni.Đức Bảo Tạng thụ ký cho Thái Tử rằng: “Vì lòng đại bi Ông muốn quán niệm cho tất cả chúng sanh được cùng về cõi an lạc (cực lạc). Vậy từ nay đặt tên cho Ông là Quan Thê Âm….
Bồ Tát Quan Thế Âm là hiện thân của Từ Bi, Ngài phát đại nguyện thực hiện từ bi cùng tận trong đời vị lai, nếu chúng sinh còn đau khổ. Vì chỉ có từ bi mới giải trừ đau khổ, cũng như chỉ có trí tuệ mới diệt được ngu si. Do đó, Bồ Tát Quan Thế Âm thiết lập tâm đại từ, đại bi mà thực hiện đại thệ nguyện độ sanh của Ngài.
TỪ là đem niềm vui đến cho kẻ khác. Chữ Từ như người ta thường nói: Từ thiện, từ ái, từ mẫu, từ tâm. Từ tâm đối với ác tâm, sân tâm, ích kỷ tâm….BI là cách thức hành động để cứu khổ.Từ là lòng yêu thương, Bi là ra tay giải quyết và dấn thân nỗ lực làm việc để cứu giúp thực tế. Tóm lại Tu Bi: Thương yêu chúng sinh, mang lại cho họ niềm an lạc vui sướng gọi là Từ (maritrya, maitri). Đồng cảm nỗi khổ và thương xót chúng sinh, trừ bỏ nỗi khổ cho họ gọi là Bi.
Quán Thế Âm khi xưa đã thành Phật hiệu là “Chánh Pháp Minh Như Lai”. Ngài thị hiện làm Bồ Tát vì muốn đảm đương công tác cứu khổ ban vui cho chúng sanh. Đức Bồ Tát quán thấy Phật và chúng sanh đồng chung một bản thể, đồng chung một giác tánh duy nhất, nhưng Phật đã giác ngộ mà chúng sanh thì còn mê.
Do đó, Đức Quan Thế Âm tức là một vị Phật tương lai kế thừa Đức Phật A Di Đà, thì ngài cùng với ngài Đại Thế Chí (kiếp xưa là em ngài, con thứ vua Chuyển Luân cũng cùng Ngài đồng thời được Đức Bảo Tạng thụ ký) giúp việc giáo hoá độ sanh cho Đức Phật A Di Đà và 2 Ngài cũng ứng thân xuống Ta Bà trợ giáo cho Đức Thích Ca Mâu Ni.
Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, chư vị Bồ tát cùng trình bày sở học của mình. Ngài bạch với Đức Thế Tôn rằng:
“Con nhớ cách đây vô số hằng hà sa kiếp về trước có Đức Phật ra đời hiệu là Quan Thế Âm, từ Đức Phật kia dạy con, do nghe, nghĩ và tu mà vào Tam Ma Đề”. Pháp tu của ngài là vượt bậc hơn cả, quán sát tự tánh, độ tận chúng sinh. Quán sát nơi tâm mình, hễ có một ý niệm nào phát sinh là tự biết, tự dẹp trừ.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là kinh tán thán công đức của mười phương chư Phật và thọ ký cho chư vị Bồ tát. Tôi xin lược giảng như sau:
Ngài Vô Tận Ý Bồ Tát hỏi Phật: Vì sao vị bồ tát này có tên là Quán Thế Âm? Đức Phật nói: Nếu có chúng sinh nào đang chịu khổ sở, nghe danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm, tha thiết xưng niệm, Bồ tát này quán sát tiếng phát âm đó, người kia liền được giải thoát.
"Nếu có người trì niệm danh hiệu Bồ tát Quán thế âm, giá như lâm vào lửa lớn, lửa chẳng đốt đặng vì nhờ oai thần Bồ tát này che chở vậy; hoặc bị dòng nước cuốn trôi, xưng danh hiệu ngài liền gặp chỗ cạn."
"Nếu có trăm ngàn muôn ức chúng sanh ra khơi tìm các vật báu: trân châu, vàng bạc, lưu ly,xa cừ, san hô, hổ phách, chơi vơi ngoài biển cả; giả sử gió dữ thổi bạt ghe thuyền, lênh đênh trôi dạt, tấp vào nước quỷ La sát; trong đoàn lâm nạn, nếu được một người biết xưng niệm danh hiệu Bồ tát Quán thế âm, trọn đoàn thảy đều giải thoát nạn quỷ La sát. Vì nhân duyên kia nên gọi là Quán thế âm."
Khi bị hiểm nguy, dù lớn hay bé, nếu ta đọc tên ngài một cách thành khẩn, tha thiết liền qua khỏi. Người nào trì niệm danh hiệu ngài chẳng may vào trong nước sôi lửa bỏng cũng được che trở mà thoát. Trong hoàn cảnh có nhiều người cũng lâm vào nguy hiểm, nếu có người niệm danh hiệu ngài thì cả đoàn liền được giải thoát.
Giải thích thêm một chút chỗ này; nếu người không hiểu sẽ nói: “à, vậy ta cứ niệm danh hiệu Quán Thế Âm rồi nhảy vào lửa, chắc không chết đâu”. Người này là thiếu hiểu biết, kinh nói trong hoàn cảnh do bên ngoài đưa đến, không tính trước được, có ai đó bị rơi vào tình cảnh đó, tha thiết 1 lòng niệm danh hiệu ngài liền được giải thoát. Ở đây về logic, Phật nói ban đầu là số ít(nếu có chúng sinh nào), đến đoạn sau Phật nói số nhiều(nếu có trăm ngàn vạn ức chúng sinh) để làm sáng tỏ rằng sự oai thần của Bồ tát Quán Thế Âm là rất lớn, không hạn lượng. Người nào trì niệm danh hiệu ngài không những người đó được giải thoát(biệt nghiệp) mà còn cả những người chung hoạn nạn(cộng nghiệp) nữa.
Tôi có một ông bác, xưa tham gia kháng chiến chống Mỹ. Nhà vốn thờ Phật, khi đi bà mẹ dặn con phải niệm Quan Thế Âm bồ tát cũng như chú Đại bi. Ông bác nghe theo. Trong chiến tranh, sự sống còn chỉ là gang tấc. Vào trong hoàn cảnh này ông mới biết được tha lực của Bồ tát Quán Thế Âm như thế nào. Hai trận tuyến cách nhau một quãng đường, lúc đó trời nằng, nhiều người nói chạy vào lùm cây kia mát hơn để trú. Ông bác tôi nói thôi cứ ở nằm ngoài này có ít cây địch đỡ chú ý. Có một số nóng quá không chịu được chạy vào lùm cây. Vào được một lúc thì địch lã pháo từ xa. Dầm một cái, mấy người khi nãy chết hết. Còn nhiều trường hợp tương tự như vậy.
Có người trèo núi chẳng may trượt chân rơi xuống vực, ngay khi đang rơi, hình ảnh cái chết đã hiện ra trong đầu. Người này nhớ đến Bồ tát Quán Thế Âm liền cầu ngài cứu trong may rủi. Chẳng may giữa chừng rơi có một cây to mọc ở khe chìa cành ra. Người này rơi vào bám được cành cây rồi thoát chết.
Dân đánh cá xa bờ, trong miền trung có đền thờ Cá Ông, chẳng qua cũng là sự thị hiện của Quán Thế Âm bồ tát để cứu độ dân mà thôi. Trên buồng lái bao giờ cũng có hình ảnh Bồ tát Quán Thế Âm.Những ví dụ trên để nói về sự oai thần của Bồ tát là có thực.
Ở đây có danh từ Hán là Trì niệm. Trì niệm nghĩa là thường xuyên niệm. Nếu chúng ta niệm một tiếng rồi, vài ngày sau mới niệm như vậy không gọi là trì niệm được.
Nếu lại có người, sắp phải bị hại vì nạn gậy đao, xưng danh hiệu Bồ tát Quán thế âm, dao gậy người cầm liền gãy từng đoạn mà đặng giải thoát.
Nếu trong tam thiên đại thiên quốc độ, quỷ Dạ xoa cùng quỷ La sát, đoàn lũ kéo về, muốn gây não hại, nghe xưng danh hiệu Bồ tát Quán thế âm, các quỷ kia không còn dùng được mắt dữ ngó người huống là gieo hại.
Lại giả sử có người, hoặc có tội hoặc không tội, gông cùm xiềng xích trói buộc vào thân, niệm danh hiệu Bồ tát Quán thế âm gông xiềng thảy đều hư rã, liền đặng giải thoát.
Nếu trong tam thiên đại thiên quốc độ, giặc cướp hoành hành, đầy đồng chật lộ, có người thương chủ dẫn đoàn con buôn mang nhiều của báu vượt qua đường hiểm, bị cướp chận đường; trong đoàn lâm nạn nếu được một người cất tiếng hô to: "Này các thiện nam tử, chớ nên kinh hãi, xin hãy nhứt tâm xưng danh Quán thế âm, Bồ tát này hay đem pháp lực vô úy ban cho chúng sanh, ai mà kêu cầu sẽ đặng thoát nạn"., đoàn buôn nghe lời đồng loạt xưng danh "Nam mô Quán thế âm Bồ tát", nhờ xưng danh hiệu ấy, đều đặng giải thoát.
Này Vô Tận Ý! Đại Bồ tát Quán thế âm có sức oai thần cao vời như thế.
Tương tự như trên, nếu người lâm vào nạn binh đao, có người vì oán thù đem dao đến hại người mà người này niệm danh hiệu Quan Thế Âm thì ngươi đó được giải thoát. Rồi quỷ dữ muốn hại người, đạo tặc muốn giết người, nếu ai đó lâm vào cảnh này mà niệm danh hiệu ngài liền được giải thoát. Nếu ai đó chưa tin tôi sẽ giải thích như sau:
Khi mình có lòng tin đã là có một sức mạnh phi thường rồi, tin vào sức mạnh của Bồ tát Quán Thế Âm và niệm danh hiệu ngài lại càng củng cố lòng tin hơn nữa. Trong những lúc nguy cấp, ta tưởng chừng như sự sống và cái chết gần kề. Có người sẽ nhắm mắt lại và niệm danh hiệu. Các cụ có câu: “đành nhắm mắt đưa chân”. Vậy mà trong mình khởi lòng tin tha thiết vào sự sống còn thêm tha lực của Bồ tát giống như xe ô tô bị xa lầy, vài người lớn trên xe cố gắng đùn nó ra khỏi vũng lầy bổng lúc đó là giờ tan học, mọi người nhờ chúng đẩy xe. Dù rằng một em học sinh cấp 1 thôi, chẳng thấm là bao, nhưng cả một lớp học 50 người tụm lại thì sức mạnh đó không phải là nhỏ đâu.
Ở đây, đức Phật nói thêm nếu người có tội cũng như không có tội mà bị gông cùm xiềng xích. Mọi người ắt sẽ hiểu nhầm rằng; người vô tội thì được thả là đúng rồi, người có tội mà được thả là vô lý. Trong lòng từ bi không có hạn lượng của chư Phật và Bồ tát thì không có sự phân biệt này. Lòng từ bi ở đây như lòng thương con của mẹ vậy. Nếu đứa con ngoan thì mẹ thương thật nhiều nhưng nếu đẻ ra đứa con hư đốn, vô đạo thì tình thương của người mẹ không phải vì thế mà mất đi. Các cụ có câu: “Hổ dữ không ăn thịt con”. Một người là máu thịt của mình, do chính mình đẻ ra thì không có ai đang tâm mà ghét bỏ, giết hại. Có một ai đó do con ngỗ nghịch mắng con: “mày đi đi cho khuất mắt, tao từ mày”. Nói trong cơn nóng giận thì thế thôi nhưng sao mà từ được con. Một lúc nào đó lại nghĩ lại, con mình nó dại lại càng phải thương. Vậy người có tội chẳng qua do nghiệp lực, thiếu hiểu biết mà gây lên tội, như một vết bẩn khi được cho vào bể nước lớn giặt thì làm gì còn bẩn nữa. Giải thoát ở đây không hẳn là được thả ra, mà giải thoát phải hiểu theo nghĩa giải thoát về mặt thể chất và tâm hồn. Ví như một người giết người bị kết án tù chung thân chẳng hạn. Khi đã biết mình sai, quay đầu lại sám hối như người con ngỗ ngược quay về với mẹ. Người đó chịu cảnh tù đầy, tù đầy là về thể xác, nhưng trong lòng người đã biết sám hối thì người đó sẽ phục thiện. Tu dưỡng đạo đức cho tốt, chẳng mấy chốc nhà nước ân xá không những được về trước hạn mà khi ra khỏi nhà tù lại làm những việc có ích cho đời.
Nếu có chúng sanh nào nhiều lòng dâm dục, thường cung kính niệm Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, liền được ly dục.
Nếu người nhiều giận hờn, thường cung kính niệm Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, liền được lìa lòng giận.
Nếu người nhiều ngu si, thường cung kính niệm Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, liền được lìa ngu si.
Vô-Tận-Ý! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát có những sức oai thần lớn, nhiều lợi ích như thế, cho nên chúng sanh thường phải một lòng tưởng nhớ.
Nếu có người nữ, giả sử muốn cầu con trai, lễ lạy cúng dường Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, liền sanh con trai phúc đức trí huệ; giả sử muốn cầu con gái, bèn sanh con gái có tướng xinh đẹp, trước đã trồng gốc phước đức, mọi người đều kính mến.
Vô-Tận-Ý! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát có sức thần như thế.
Sau khi nói về những nạn khổ bên ngoài thân, đến đây Phật nói những khổ nạn trong thân. Đối với những chúng sinh bị khổ ải trong thân mình thì sao?
Người nào nhiều dâm dục dẫn đến hại mình và hại cho người, thường cung kính niệm Quán Thế Âm thì sẽ hết dâm dục. Dâm dục là một trong những tội lỗi. Hại mình là sao? Nếu như dâm dục nhiều thì ảnh hưởng về thể xác, người gầy, da xấu v.v…tinh thần mệt mỏi. Hại người là hành vi dâm dục làm phá hoại thuần phong mỹ tục, phá hoại gia đình người khác, gây khổ đau cho người khác. Dâm dục ở đây là do đâu? Do 6 tên giặc: mắt nhìn thấy cho là thân hình kia đẹp đẽ, tai nghe thấy họ nói lời hay, ong bướm thì yêu thích, mũi ngừi thấy mùi hương, nước hoa thì cho là thơm dịu, thân chạm phải mềm cho là mềm mại v.v.. từ đó ý nghĩ trong đầu tác động rằng mình muốn được ân ái, rồi các việc tội lỗi khác kéo theo để làm sao chiếm đoạt được người ta. Người nhiều dâm dục này khi có ý nghĩ đó liền niệm Phật, niệm Quán Thế Âm bồ tát một lòng thì trong ý nghĩ đã xóa đi được cái ý niệm dâm dục. Dần dần người đó chế ngự và không còn ý niệm về dâm dục, trừ được cái nhân tội lỗi.
Tương tự như vậy, người nhiều giận hờn, người nhiều ngu si khi ý niệm khởi nên gặp ngay ý niệm quay đầu quy y Quán Thế Âm thì những thứ đó không thể nào phát khởi được.
Bí quyết cầu tự đây, cha mẹ và con cái vốn là do nhân duyên. Đứa con do tinh cha, huyết mẹ và thần thức của đứa trẻ hợp với hoàn cảnh mà tạo thành. Niệm Quán Thế Âm Bồ tát để sàng lọc cái mầm mống xấu, niệm phật để khởi từ tâm cho đứa bé ngay từ khi trong bụng mẹ do đó dù con trai, con gái sinh ra đều phúc đức trí tuệ. Các đôi vợ chồng hiếm muộn, muốn cầu con trai, con gái tùy theo nên đến trước bồ tát Quán Thế Âm lễ lạy, cúng dàng rồi niệm danh hiệu ngài thì sự may mắn sẽ đến.
Tôi có quen rất nhiều người phụ nữ, họ kể như sau: Có người thường niệm danh hiệu Quán Thế Âm bồ tát đến khi có thai nằm mơ thấy Bồ tát bế đứa bé trao cho mình. Hoặc có người nằm mơ thấy đứa bé mặt mũi sáng sủa gọi mình bằng mẹ rồi đi theo mình. Lại có người hói sao con chị mặt trông đáng yêu đến thế. Người đó nói khi mang thai chồng tôi không cho tôi nhìn những hình tượng ghê sợ mà tôi thường xuyên mở ảnh Bồ tát Quán Thế Âm ra ngắm.
Có người lại kể khi đến cơn đau đẻ tôi vẫn niệm danh hiệu ngài nên khi đẻ dường như chẳng đau đớn gì. Từ tâm thức người mẹ truyền cho thai nhi sự từ tâm. Đứa trẻ sinh ra mặt mày sáng sủa, hiền từ không ngỗ ngược.
Nếu có chúng sanh cung kính lễ lạy Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, thì phước đức chẳng luống mất. Cho nên chúng sanh đều phải thọ trì danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.
Vô Tận Ý! Nếu có người thọ trì danh tự của sáu mươi hai ức hằng-hà-sa Bồ-Tát lại trọn đời cúng dường đồ ăn uống y phục, giường nằm, thuốc thang. Ý ông nghĩ sao? Công đức của người thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhơn đó có nhiều chăng?
Vô-Tận-Ý thưa: "Bạch Thế-Tôn! Rất nhiều".Phật nói: "Nếu lại có người thọ trì danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, nhẫn đến một thời lễ lạy cúng dường, thì phước của hai người đó bằng nhau không khác, trong trăm nghìn ức kiếp không thể cùng tận.
Vô-Tận-Ý! Thọ trì danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát được vô lượng vô biên phước đức lợi ích như thế."
Từ những lợi ích như vậy, đức Phật nói nếu có ai thường niệm danh hiệu ngài, cũng như lễ bái cúng dường ngài thì phúc đức không thể cùng tận.
Ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát bạch Phật rằng: "Thế-Tôn! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát dạo đi trong cõi Ta-bà như thế nào? Sức phương tiện đó như thế nào?"
Phật bảo Vô-Tận-Ý Bồ-Tát: "Thiện-nam-tử! Nếu có chúng sanh trong quốc độ nào đáng dùng thân Phật được độ thoát thời Quán-Thế-Âm Bồ-Tát liền hiện thân Phật vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Duyên-giác đượcc độ thoát, liền hiện thân Duyên-giác mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Thanh-văn được độ thoát, liền hiện thân Thanh-văn mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Phạm-vương được độ thoát, liền hiện thân Phạm-vương mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Đế-Thích được độ thoát, liền hiện thân Đế-Thích mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Tự-tại-thiên được độ thoát, liền hiện thân Tự-tại-thiên mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Đại-tự-tại-thiên được độ thoát, liền hiện thân Đại-tự-tại-thiên mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Thiên-đại-tướng-quân được độ thoát, liền hiện thân Thiên-đại-tướng-quân mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Tỳ-sa-môn được độ thoát, liền hiện thân Tỳ-sa-môn mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Tiểu-vương được độ thoát, liền hiện thân Tiểu-vương mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Trưởng-giả được độ thoát, liền hiện thân Trưởng-giả mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Cư-sĩ được độ thoát, liền hiện thân Cư-sĩ mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Tể-quan được độ thoát, liền hiện thân Tể-quan mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Bà-la-môn được độ thoát, liền hiện thân Bà-la-môn mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-ba-di được độ thoát, liền hiện thân Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-ba-di mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân phụ nữ của Trưởng-giả, Cư-Sĩ, Tể-quan, Bà-la-môn được độ thoát, liền hiện thân phụ nữ mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân đồng-nam, đồng-nữ được độ thoát, liền hiện thân đồng-nam, đồng-nữ mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân trời, rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, nhơn cùng phi nhơn được độ thoát, liền đều hiện ra mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Chấp-Kim-Cang thần được độ thoát, liền hiện thân Chấp-Kim-Cang thần mà vì đó nói pháp.
Vô-Tận-Ý! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát đó thành tựu công đức như thế, dùng các thân hình, dạo đi trong các cõi nước để độ thoát chúng sanh, cho nên các ông phải một lòng cúng dường Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.
Quán-Thế-Âm đại Bồ-Tát đó ở trong chỗ nạn gấp sợ sệt hay ban sự vô-úy, cho nên cõi Ta-bà này đều gọi Ngài là vị "Thí-vô-úy".
Đến đây, đức Phật nói sự linh ứng của Bồ tát Quán Thế Âm. Bồ tát Quán Thế Âm quan sát, lắng nghe tiếng kêu khổ của chúng sinh rồi tùy theo mà hóa hiện độ thoát chúng sinh. Nói như thế này để thấy; trên là nói các thứ lớp, danh từ tuy có khác nhau nhưng tóm gọn lại ngài sẵn sàng ứng hóa ra thân hình cho phù hợp với hoàn cảnh mà cứu độ.
Có người gặp việc cấp bách đi qua con sông rộng, tối đến phà người ta nghỉ. Lúc đó, trong đầu khởi ý niệm, lạy trời Phật cứu giúp con, giờ con không biết làm thế nào để qua sông. Nhân lúc này liền niệm Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát. Chẳng ai ngờ có một ông lão đánh cá đêm với chiếc thuyền nan từ đâu đi tới rồi chờ người đó qua sông. Trên thuyền, mọi người cùng trò chuyện abc. Phải biết rằng đây là sức phương tiện Bồ tát Quán Thế Âm mà có vậy.
Có một sư cụ bà chuyên tu niệm Phật, cầu được ngài thị hiện. Một ngày kia có một người đàn ông ở nơi xa đến chùa hỏi thăm cụ. Hỏi cụ tu pháp môn gì? Rồi có chỉ cho cách tu mà cụ thấy rất đúng. Sư cụ này nhận ra người này không phải người thường. Lời dạy như của bậc cao tăng tu hành. Đến chiều người này chào cụ rồi đi. Cụ hỏi thầy đi đâu? Vị này chẳng nói chẳng rằng rồi đi thẳng. Không ai biết thông tin gì khác. Phải nên biết đây là hóa thân ngài Quán Thế Âm thị hiện vậy.
Đến đây, chắc có người mong gặp bồ tát Quán Thế Âm thị hiện nhưng không phải dễ. Phải niệm Phật chí thành ắt sẽ gặp.
Do có sức uy thần lớn như vậy nên ngài được gọi là bậc Thí Vô Úy. Người hay mang sự an ổn đến cho chúng sinh, an ổn cả về thể xác và tâm hồn.
Lại nói thêm, tín ngưỡng thờ Quán Thế Âm được rất nhiều người theo. Người làm nghề gì cũng có thể thờ. Người làm nghề y thờ ngài cầu ngài gia hộ cho những bệnh nhân được chữa chạy kịp thời, khỏe mạnh. Người buôn bán cầu ngài gia hộ cho buôn bán thuận buồm xuôi gió. Đặc biệt, Bồ tát Quán Thế Âm có sức uy thần như vậy nên quỷ ma đều quy phục ngài. Nơi ngã ba đường hay xảy ra tai nạn, có người mua một hình tượng ngài đem đến thờ. Những oan hồn nơi đó được ngài giáo hóa siêu sinh không còn làm những việc ác làm chết người. Nơi nào có sự hiện hữu của ngài là nơi đó có sự bình an. Hình tượng ngài với nghìn mắt nghin tay để nói không nơi nào ngài không soi tỏ, không nơi nào ngài không với tới.
Nếu ai đó đọc đến đây rồi, nên khởi lòng tin chân thật rồi niệm Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát đế nhận được sự gia hộ của ngài.
******************
Nhắn ai rong ruổi ham chơi
Trăm năm có được làm người khó thay !!!
http://my.opera.com/daohanh
Nhắn ai rong ruổi ham chơi
Trăm năm có được làm người khó thay !!!
http://my.opera.com/daohanh