Cán cờ tre - một tráng ca về Điện Biên Phủ
Trịnh Thanh Sơn
Đọc Cán cờ tre - tiểu thuyết của Trịnh Đình Khôi, Nxb Văn học - 2004
Đúng vào dịp nhân dân cả nước ta đang náo nức và rầm rộ kỷ niệm 50 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (1954-2004), Nhà xuất bản Văn học cho ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết Cán cờ tre của nhà văn Trịnh Đình Khôi, một tác giả văn xuôi từng quen thuộc với bạn đọc trong cả nước. Đây là cuốn tiểu thuyết thứ ba, và là cuốn sách thứ 20 trong sự nghiệp sáng tác của Trịnh Đình Khôi.
Với tên sách thật giản dị, Cán cờ tre, nhà văn Trịnh Đình Khôi đã dành trọn vẹn 540 trang sách để mô tả và lý giải vì sao và nhờ đâu mà dân tộc ta, Đảng ta, quân đội ta có được chiến công lừng lẫy chấn động địa cầu này. Cán cờ tre thực sự là một cuốn tiểu thuyết hoành tráng, là một bản anh hùng ca về chiến thắng Điện Biên Phủ, một Điện Biên Phủ huy hoàng, thấm đẫm máu và nước mắt!
Vậy Cán cờ tre nói gì cùng bạn đọc? Nội dung cuốn tiểu thuyết tập trung mô tả cuộc chiến đấu anh dũng, ngoan cường của những chiến sỹ trong một trung đội mũi nhọn của một đại đội chủ công trên chiến trường Điện Biên Phủ từ trước và sau ngày chiến thắng. Thông qua những nhân vật điển hình, những hoàn cảnh điển hình, tác giả tiểu thuyết đã vẽ bức chân dung thật hoành tráng, vừa rộng lớn vừa sâu thẳm, về một trận chiến quyết liệt giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa tài năng và sức mạnh, giữa can đảm và hèn nhát, giữa nhân tính và phi nhân tính, giữa lòng khát khao thống trị của chế độ thực dân cũ. Có thể nhận định rằng Cán cờ tre của Trịnh Đình Khôi là một tiểu thuyết nghiêm túc, một thứ văn học nghiêm túc, không xu thời, không nhượng bộ, dũng cảm và thành thực, tỉnh táo và đắm say. Đọc qua từng trang, theo dõi từng số phận nhân vật, ta thấy tác giả đã vắt cạn mình mà viết. Thao thức từng chữ, từng trang! Khác với Người người lớp lớp của Trần Dần, Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai, Cán cờ tre với độ lùi thời gian là nửa thế kỷ, trận Điện Biên Phủ hiện lên trong nhận thức và tâm thức của nhà văn có phần sáng tỏ hơn, bao quát hơn và thấu thị hơn. Với bút pháp dựng truyện và kể chuyện xen kẽ một cách rất linh hoạt, bằng thi pháp của tiểu thuyết hiện đại, bằng lối dựng “mờ chồng” thời gian và không gian, quá khứ và hiện tại Cán cờ tre có sức cuốn hút người đọc từ đầu đến cuối. Những nhân vật trong tiểu thuyết, dù chính hay phụ, dù nam hay nữ, dù ta hay địch... qua những trang viết của Trịnh Đình Khôi, đều hiện lên bằng xương bằng thịt. Cuộc đời và số phận của những nhân vật chính được nhà văn khắc họa bằng những chi tiết sắc mạnh như vạc bằng rìu, tạo ra những chân dung và tính cách sống động, đọc xong không quên được. Qua những nhân vật chính, phụ, cả ta lẫn địch, đều thấy số phận hàng nghìn, hàng vạn người sau đó. Một trung đội trưởng Kha và Lụa - cô dân công người yêu của anh, một y tá Mai và Jăng, một hàng binh Pháp, một đoàn trưởng Vũ và Thuần con gái ông, một tướng Đờ Cát và Rôza Hồng, thư ký và người tình của y, một ông già trưởng bản Ten và một ông giáo làng, bố Kha, một tiểu đoàn trưởng Quảng đầy thử thách, những tính cách rất tiêu biểu đậm đặc mà khi đọc xong các nhân vật còn đọng mãi trong tâm tư người đọc. Những con người đầy chất anh hùng nhân văn và rất lão thực. Một không khí xã hội, một hoàn cảnh xã hội giàu bản sắc văn hóa của làng quê Việt Nam. Đó là những trang văn tạo nên không khí hồn quê xứ Việt đậm đà ý thức dân tộc. Tất cả đan quyện vào nhau bằng những mảng màu sáng tối, những đường nét sắc mạnh và ánh sáng lúc dịu dàng, khi chói gắt, tạo nên một bức phù điêu tạc vào năm tháng, về một Điện Biên, một hậu Điện Biên và cuộc kháng chiến của toàn dân tộc, để giành độc lập, tự do. Trục chính của tiểu thuyết là những người chiến sỹ là trung đội mũi nhọn của trung đội trưởng Kha và đồng đội của anh, mà biểu tượng là cái gậy bằng tre hóa thành cán cờ trên cao điểm, qua đó ngợi ca cuộc chiến tranh nhân dân, quân đội nhân dân anh hùng.
Trung đội trưởng Trần Đình Kha được tác giả khắc hoạ rõ nét với tình cảm yêu thương và cảm phục không hề giấu giếm. Những hành động dũng cảm, anh hùng trên chiến trường mà sự sống và cái chết chỉ cách nhau bằng sợi tóc, những day dứt, khổ đau vì thiệt thòi và oan khuất, tình yêu say đắm và trung trinh với Lụa, cô gái cùng quê và là dân công tải đạn chiến trường, lòng yêu thương đồng đội và sự vị tha trước những kẻ cơ hội hèn nhát... Tất cả đều được ngòi bút dư lực và uyển chuyển của Trịnh Đình Khôi mô tả một cách sâu sắc, đầy thuyết phục, đầy cảm thông. Có thể nói, nhân vật Trần Đình Kha là một nhân vật điển hình cho tầng lớp tri thức thanh niên đi theo cách mạng, có lý tưởng trong sáng và đầy tự giác, có phẩm chất của con người nhân bản và nhân văn, có dằn vặt và mâu thuẫn, có niềm tin và sự hoài nghi, có hiện thực lãng mạn, đầy hùng ca và bi kịch. Kha đã vượt qua hai lần cái chết và đã vượt qua chính mình bằng văn hóa. Với nhân vật trung tâm này, Trịnh Đình Khôi đưa ra một luận đề quan trọng và chứng minh rằng, con người chỉ có thể phân cấp với con người là nhờ những tầng văn hóa. Cảnh báo này của nhà văn không đưa ra như một bài nghị luận mà thấm đẫm trong từng chi tiết, từng cảnh ngộ, từng nhân vật đau xót và ngời sáng!
Xoay quanh nhân vật trung tâm, cái mắt bão là Kha, còn quần tụ bao nhiêu nhân vật khác. Mỗi người một cảnh ngộ, một tâm tính, một nỗi thăng trầm, một số phận, khi trực tiếp đối diện với cuộc chiến tranh khốc liệt một chiến trường khốc liệt, nơi mà phẩm giá từng con người và số phận một dân tộc được đưa lên bàn cân, định giá hơn thua đôi khi chỉ bằng phân tấc.
Những đoàn trưởng Vũ, y tá Mai, chính ủy Hữu Thịnh, ông già trưởng bản Ten, Lụa vợ Kha, Jăng tù binh, tướng Đờ Cát và các cộng sự của ông ta, Rôza Hồng - cô gái lai Việt - Pháp, thư ký và người tình của Đờ Cát, các chiến sỹ trong trung đội của Kha, những đồng đội thân thiết như Hùng, Hồi, Kháng, Phú, Nhàn, Chú, chàng cần vụ Lấn của đoàn trưởng Vũ và cô Thuần, con gái ông đều thể hiện rõ phẩm chất và nhân cách cá nhân rất rõ nét. Bên cạnh đó là Hạ và Đề, những kẻ vô học, thoạt đầu, leo lên bằng lý lịch thể hiện bản chất vừa thô lậu, vừa đớn hèn... Bao nhân vật có tên và không tên khác, được nhà văn đưa lên một “cây đèn kéo quân”, cho lộ nguyên hình sáng tối, thật giả, chân nguỵ, thiện, ác!
Mối tình ngang trái giữa y tá Mai với Jăng, một tù binh Pháp đã được nhà văn để công khắc hoạ khá công phu.
Việc Mai lấy Bình - một đồng đội đã yêu Mai hết lòng và việc Bình tự nguyện nuôi dưỡng, chăm sóc cho bé Lê, con gái của Mai và Jăng là một hành vi đầy cao thượng, phù hợp với bản chất nhân ái cao cả của người Việt. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm giữa Mai và Jăng, tình cảm và ứng xử của Mai với Jăng là rất con người, rất hợp lý, rất mức độ mà tôi nghĩ cả nhân vật lẫn tác giả đều phải gồng mình lên mới thực hiện được.
Còn Lụa nữa, Lụa thì sao? Nhân vật nữ này đã được tác giả dành cho một tình yêu đặc biệt, một sự tôn vinh phẩm cách và trở thành biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam, chung thuỷ đảm đang. Trong các cuộc chiến tranh người lính và những người phụ nữ đằng sau họ như người mẹ người vợ, người yêu và những người hy sinh nhiều nhất. Tác giả Trịnh Đình Khôi tuyên ngôn rõ ràng điều này. Anh muốn khẳng định chính họ đã tạo nên chân dung của đất nước.
Với tư cách một nhà tiểu thuyết, lại nhờ có độ lùi thời gian 50 năm, nhà văn Trịnh Đình Khôi có được những may mắn hơn các thế hệ nhà văn đàn anh đi trước. ở tiểu thuyết Cán cờ tre tư liệu lịch sử chính xác và dồi dào chỉ là một phần, phần quan trọng hơn là một phương pháp tư tưởng mới, tự do và dân chủ hơn. Cuộc quyết đấu lịch sử ở chiến trường Điện Biên Phủ đã được nhìn và thể hiện ở một góc độ hoàn toàn mới, hoàn toàn khác, trong đó có ta, có địch, có mặt trận, có hậu phương, có trong nước và ngoài nước, có súng đạn và có ngoại giao. Cuốn tiểu thuyết sẽ thiếu vắng một phần hấp dẫn quan trọng nếu như tác giả không khắc họa nhân vật tướng Đờ Cát, cái linh hồn của trận Điện Biên ở phía đối diện. Trong tiểu thuyết Cán cờ tre tướng Đờ Cát và cô gái lai Rôza Hồng đã được nhà văn tả như những nhân vật chính, những mảng màu quan trọng mà nếu thiếu nó, bức tranh hoành tráng về một trận Điện Biên Phủ chấn động địa cầu sẽ khó hoàn chỉnh được. Trong “vở kịch kinh hoàng” 56 ngày đêm diễn ra ở Điện Biên Phủ, nhân vật Đờ Cát từ Đại tá đã lên Thiếu tướng, từ ngông nghênh ngang ngạnh và đầy tự tin với chiếc mũ đỏ đã trở thành một kẻ bại trận cúi đầu dưới lá cờ trắng. Những biến chuyển và phát triển tâm lý của Đờ Cát, đã được nhà văn mô tả trong sự hư cấu và sức tưởng tượng phong phú, đầy táo bạo và thuyết phục. Nhân vật Đờ Cát đã bước vào tiểu thuyết một cách sống động, con người đó là một anh hùng mã thượng hơn là một chiến tướng dày dạn lửa đạn. Chiếc lon mà ông ta có cũng rất số phận và khá đặc biệt: Vui vẻ hơn nó trở thành đồ chơi cho các chiến sỹ Việt Minh dưới giao thông hào trong khi bản thân ngài thiếu tướng phải đeo một cái lon giả bằng sắt tây do tuỳ tùng tự tạo. Cùng với những trang viết rất hay về sinh hoạt của bộ đội ở chiến trường vừa tự nhiên vừa vui vẻ, còn chứng tỏ khả năng hóm hỉnh hài hước của một ngòi bút tiểu thuyết. Người đọc bấy lâu yêu mến những truyện ngắn đầy chất nhân văn và thẩm mỹ cũng như những trang lý luận sắc sảo giàu tính triết luận qua những tác phẩm đã in và được giải thưởng của Trịnh Đình Khôi nay lại được thưởng thức tài năng của một cây bút qua thể loại tiểu thuyết mà đây là cuốn tiểu thuyết thứ ba.
Trở lại tác phẩm có thể nói những bình luận ngoại đề của tác giả khá nhuần nhuyễn sâu sắc khi vận dụng những tư tưởng triết học đông tây vào sự kiện cụ thể. Ví dụ khi khảo sát tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ tướng Nava có cảm thấy thiếu sót và băn khoăn không? Hẳn là có. Nhưng ông ta đã không tự thắng nổi mình trong những lời tung hô, tâng bốc. Tác giả tiểu thuyết thật sắc sảo và thâm trầm khi lý giải việc Nava đã chịu thua tướng Giáp hai lần, chỉ vì một lẽ ông ta đã “không thắng nổi mình”. Thắng mình mới khó. Tác giả viết người phương đông nói: “Tự thắng giả hùng”. Nava không học và chắc không đọc được câu đó. Người tự thắng mình mới là anh hùng. Nava không có cái anh hùng ấy, trong khi tướng Giáp nhận ra không thể “đánh nhanh, thắng nhanh” được, ông đã xin ý kiến của thượng cấp, đã đánh vật với mình trong cuộc đấu tranh, đảo lộn kế hoạch sang “đánh chắc, tiến chắc” (trang 473).
Sự hấp dẫn của tiểu thuyết Cán cờ tre ngoài chi tiết và sự kiện ăm ắp, ngoài tính cách nhân vật độc đáo và điển hình, còn nhờ vào những suy luận và suy tưởng ngoại đề đầy biện chứng. Tầm của một cuốn sách về mặt văn hóa và triết học, trữ lượng của những tư tưởng văn hóa cũng như mỹ học của tác phẩm là khá cao. Hơn thế nó được thấm đẫm trong chi tiết và ngôn ngữ văn bản. Với tiểu thuyết Cán cờ tre Trịnh Đình Khôi đã chứng minh rằng việc thắng thua ở chiến trường Điện Biên Phủ 50 năm trước là một cuộc chiến tranh và sự thắng thua của hai nền văn hóa. Không ai có thể áp đặt thống trị nền văn hóa của dân tộc mình lên một dân tộc khác. Bài học của Điện Biên Phủ nửa thế kỷ trước đã cảnh tỉnh cho những thế lực và những mưu đồ của bao kẻ quá tự tin vào sức mạnh vật chất, sức mạnh vũ khí, nhưng xem ra, sang đến thế kỷ XXI này, họ vẫn u mê, vẫn chưa tỉnh ngộ. Tác giả báo động cho những biến đổi làm mất văn hóa là vô cùng tai hại cho một dân tộc. Những trang viết về bà mẹ tự mình hỏa thiêu những sản phẩm văn hóa, hàng binh Jăng sưu tầm văn hóa, ông già trưởng bản Ten say mê văn hóa của dân tộc mình là những trang văn đầy tính biểu tượng và có ý nghĩa văn hóa cao khó có được ở những cuốn sách khác. Có những con người như Kha, Lụa, bố Kha, ông già trưởng bản, tiểu đoàn trưởng Quảng, Rôza Hồng, đoàn trưởng Vũ, chính ủy Thịnh và đồng đội của Kha là sản phẩm của một nền văn hóa bền vững cốt cách mới có thể chiến thắng. Nhưng nền văn hóa được biểu tượng bằng cái cán cờ tre ấy cũng có thể là cái cán gáo tai hại trong tay người sử dụng. Cái ý nghĩa thật thâm hậu của hình tượng.
Cán cờ tre là một cuốn tiểu thuyết với đặc thù thể loại, nó có quyền hư cấu và tưởng tượng. Vì vậy, trong tiểu thuyết, có những chi tiết, những ngày tháng, những địa danh, những tên người chưa phù hợp, chưa hoàn toàn đúng với nguyên mẫu, với chính sử, cũng là điều dễ hiểu và dễ chấp nhận. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, trong cuốn tiểu thuyết rất hoành tráng và công phu này, còn có trang viết vội, còn chi tiết “tự nhiên” gây phân vân. Dù sao cũng phải coi đây là tác phẩm lấy sự hư cấu làm chính yếu không phải là tiểu thuyết tư liệu chuyên sâu thông tấn.
Mong rằng, trong những lần tái bản tiếp theo, tác giả sửa chữa những thiếu sót, những hạt sạn không đáng có.
Để kết thúc bài viết nhỏ về cuốn tiểu thuyết lớn của Trịnh Đình Khôi, tôi xin trích câu cuối cùng của cuốn sách khi nói về chiếc cán cờ tre cụ thể: “Hồng lặng lẽ nhìn Kha bằng ánh nhìn đầy vẻ kính trọng và quay sang Jăng:
- Kha nói đúng đấy! Cái ý nghĩa của sự vật đôi khi nó lại nằm ở chính chỗ không có ý nghĩa?”
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
★
★
★
★
★
0