📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Giới thiệu tác phẩm

60 trả lời, 1.794 lượt xem — Trang 2 / 3
Thu Bồn - Thơ và trường ca

Tuyển chọn và giới thiệu: Ngô Thế Oanh

Nhà xuất bản Đà Nẵng - 2003

Tiếc là tuyển tập chỉ được ấn hành sau khi nhà thơ đã qua đời. Nhà thơ đã không kịp nhìn thấy sách. Nhưng trên căn bản, nhà xuất bản và người tuyển chọn đã dựa vào những gì mà nhà thơ Thu Bồn tâm đắc nhất thuở sinh thời. Những bài thơ trữ tình cô đọng được tác giả tự chọn lọc và cả mười bản trường ca được viết trong bốn mươi năm sáng tạo hết mình trong tuyển tập này có thể xem là phần cống hiến lớn nhất của nhà thơ Thu Bồn cho thơ, cho văn học cách mạng, văn học chống Mỹ. Chúng ta biết, Thu Bồn còn viết nhiều thể loại khác - truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận phê bình, chân dung văn học - mới đây tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc của ông đã được tái bản. Nhưng thơ trữ tình và nhất là trường ca mới thật là sở trường của Thu Bồn. Chính trong lĩnh vực thơ và trường ca, Thu Bồn là một trong những người mở đường với “tài năng vạm vỡ, sinh lực tràn đầy, một người triệt để trong ý nghĩ và hành động, một người luôn luôn phát quang để vượt lên phía trước”, như nhận xét của nhà thơ Hữu Thỉnh. Hay như một nhận xét khác của nhà thơ Thanh Thảo: “Thu Bồn là một giọng thơ riêng, quyết liệt, hào sảng, ngây thơ, dữ dội. Nó có đủ những phẩm chất tưởng chừng đối nghịch, những đối cực của một thi pháp trường ca truyền thống, cộng với cá tính nghệ thuật riêng của Thu Bồn”.

Phần phụ lục sách còn in lại tiểu luận Trường ca, một kiến trúc tổng hợp thơ ca rất đặc sắc của tác giả Bài ca chim Chơrao và hai lời bạt của Bằng Việt và Thanh Thảo, làm rõ nét hơn chân dung nhà văn hàng đầu của văn học chiến tranh nhân dân và quân đội cách mạng, một trong những nhà thơ trữ tình được hàng triệu người yêu thơ luôn nhớ và tìm đọc.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Đào Tấn - thơ và từ

Biên khảo: Vũ Ngọc Liễn

Nhà xuất bản Sân Khấu, Hà Nội 2003

Chúng ta biết Thơ và Từ Đào Tấn đã từng được Nhà xuất bản Văn học ấn hành lần đầu năm 1987. Sách do nhà nghiên cứu văn học và sân khấu Vũ Ngọc Liễn chủ biên. Nhưng trong lần xuất bản đầu tiên vẫn còn nhiều tài liệu chưa được sưu tầm và công bố đầy đủ. Lần này sau hơn mười lăm năm tiếp tục nghiên cứu, biên khảo, tác giả cổ điển Đào Tấn được Nhà xuất bản Sân khấu giới thiệu trong một quy mô toàn diện gồm ba tập (Tập I: Thơ và Từ, tập II: Tuồng hát Bội, Tập III: Đào Tấn qua thư tịch). Có thể xem như là Đào tấn toàn tập.

Riêng tập I, Thơ và Từ in lần này có tất cả 204 bài (141 bài thơ chữ Hán, 60 bài từ chữ Hán, và 3 bài thơ Nôm). So với lần xuất bản đầu - bản của Nhà xuất bản Văn học - lần này bổ sung thêm được 94 bài thơ và từ lâu nay chưa từng được công bố.

Ngoài phần phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ, chú giải tỉ mỉ, khoa học, sách còn in nguyên dạng chữ Hán vốn có từ các nguồn tài liệu sưu tầm được, theo như nhà biên khảo Vũ Ngọc Liễn là có thể xem như một chứng chỉ văn bản học.

Trong bài nghiên cứu về Đào Tấn rút từ bộ các nhà thơ cổ điển Việt Nam của nhà thơ Xuân Diệu được chọn in ở đầu sách có viết: “Đó là con người lấy hiệu Mộng Mai. Trước đó có Cao Bá Quát Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Suốt đời cúi đầu trước hoa mai) thì sau, có một Cao Bá Quát thứ hai, là tâm hồn Đào Tấn, Ưng hữu mai hoa tác mộng hồn (Ước được hoa mai hoá mộng hồn)”.

Xuân Diệu còn viết: “Từ của Đào Tấn báo hiệu chủ nghĩa lãng mạn. Đào Tấn làm từ như là ghi nhật ký tâm hồn. Đây là một người với tất cả nhân tình.

Đào Tấn là người đã viết những câu thơ mênh mông xa rộng, cánh bằng vạn dặm, là báo hiệu của chủ nghĩa lãng mạn trong thơ ca Việt Nam”.

Đào Tấn - Thơ và Từ giúp ta hiểu hơn, tự hào hơn về những gì quý giá vô cùng của văn học cổ điển chúng ta. Đồng thời, những người hôm nay cũng có thể tìm thấy ở Đào Tấn, như tất cả những nhà cổ điển lớn, những mối gắn kết với hiện đại.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Lê Minh Quốc - Đoàn Tuấn và nỗi nhớ đất bên ngoài Tổ quốc

Trịnh Thanh Sơn

Tập thơ Đất bên ngoài Tổ quốc (Nxb Văn học ấn hành) là tập thơ in chung của hai người lính, hai người đồng đội từng chiến đấu bên nhau, đó là Đoàn Tuấn và Lê Minh Quốc. Một chàng trai mười tám tuổi người Hà Nội và một chàng trai mười tám tuổi người Quảng Nam gặp nhau và thân nhau trong chiến hào lửa đạn vì có chung một tình yêu, một nỗi đam mê văn chương. Sống sót sau cuộc chiến, họ cùng được vào Đại học và bây giờ, đều đã trưởng thành: một trở thành nhà thơ, một trở thành nhà biên kịch điện ảnh.

Đoàn Tuấn kể rằng: “Dạo đó (12-1978), đơn vị tôi, tiểu đoàn 8, trung đoàn 29, sư đoàn 307 đang phải đánh nhau với Pôn Pốt dọc biên giới Việt Nam - Cămpuchia, thuộc địa phận tỉnh Gia Lai - Kon Tum. Đến đầu mùa mưa 1981, khoảng tháng 6, tiểu đoàn tôi được lệnh chuyển lên khu vực An-lung-viêng để chặn đường vận chuyển lương thực, đạn dược của địch từ Thái Lan về. Những ngày đó thật ác liệt. Ngày nào cũng đánh nhau, ngày nào cũng có người bị thương hoặc hy sinh. Đơn vị rỗng đi trông thấy. Sư đoàn quyết định làm một nghĩa trang ở ngay giữa tiểu đoàn tôi. Tôi được giao nhiệm vụ giữ di vật tử sĩ và tổ chức chôn cất các liệt sĩ thật chu đáo…

Và tôi hiểu vì sao tập thơ in chung của hai nhà thơ trẻ lại mang tên Đất bên ngoài Tổ quốc.

Trước hết xin nói về phần thơ của Đoàn Tuấn trong tập thơ này. Ba mươi bài thơ là ba mươi nét chạm khắc như được vạc bằng rìu, khắc hoạ bao nhiêu gương mặt đồng đội, bao nhiêu cái tên thân thiết, bao nhiêu trường hợp hy sinh. Đó là những chàng trai tuổi mười tám, đôi mươi, ở khắp miền Tổ quốc, vì nghĩa lớn đang xả thân nơi khói lửa mịt mù và ngã xuống trên mảnh đất bên ngoài Tổ quốc:

Tuổi 18

trắng trong

như bạn tôi

An “bột”

chết

trong tiếng nổ

ngày hôm sau

mãi mãi

lặng im!

(Tuổi 18)

Người lính trẻ hiểu rằng “với một chiếc ba lô/ chúng con có ngôi nhà/ Hòm thư là biển số/ Sáng hai mùa nắng mưa…”. Để rồi:

Không có gương mặt nào

Đầy chịu đựng khổ đau

Như là gương mặt mẹ

Không có địa chỉ nào

Làm mẹ luôn lo lắng

Địa chỉ hòm thư con!

(Mẹ và Hòm thư con)

Âm hưởng chủ đạo của Đất bên ngoài Tổ quốc của Đoàn Tuấn là một âm hưởng bi hùng. Thơ anh viết như ký sự, thật đến từng tên người, tên đất mà vẫn tràn đầy cảm xúc xót đau, nhiều lúc làm người đọc phải dừng lại, lặng đi trong thương cảm: “Đất mang tên Nhật Minh/ Mang tên Hoàng An, mang tên Dương Công Hạm/ Cămpuchia ơi đồng đội tôi ngã xuống/ Chẳng mộ bia ghi lại tuổi tên!”.

Rồi đây nữa:

Dù mùa mưa hay mùa khô

Chỗ đất ấy đào lên đều toé lửa

Mỗi lần đặt đồng đội tôi xuống đó

Chiếc quan tài nặng trĩu trái tim tôi

Tôi nhói lòng chịu mũi kim đau buốt

Tiếng viên đất đầu tiên rơi xuống nắp quan tài…

(Đất bên ngoài Tổ quốc)

Có lẽ đây là bài thơ hay nhất, xúc động nhất và mang nhiều ý nghĩa nhất về sự hy sinh của đồng đội mà Đoàn Tuấn đã góp vào dòng thơ chiến trận của thơ Việt Nam hiện đại. Nếu không có thực tế cuộc chiến, nếu không có một nỗi xúc động và xót đau nặng trĩu như đá đè trên ngực, khó có thể viết được những dòng thơ bi tráng như thế này:

Chiều chôn bạn trong nghĩa trang quen thuộc

Đêm về hầm còn lại mỗi mình tôi

Tôi mới thấy xót xa thương bạn

Nằm bên ngoài Tổ quốc dưới mưa rơi



Tôi không thể sống thiếu người đã mất

Tôi sống bằng cái chết của bạn tôi

Tổ quốc nặng sâu hơn bởi tình yêu mảnh đất

Đất bên ngoài Tổ quốc Việt Nam ơi!

(Đất bên ngoài Tổ quốc)

Thú thật, đã nhiều lần tôi rưng rưng khi đọc bài thơ trên của Đoàn Tuấn. Và tôi nghĩ chỉ cần một bài thơ ấy thôi, Đoàn Tuấn đã xứng đáng là một nghệ sĩ - chiến sĩ đích thực rồi! Nếu bạn đọc còn nghi ngờ điều đó, tôi xin trích thêm một đoạn cuối cùng của bài thơ trên:

Có nhiều lúc tự nhiên tôi không hiểu

Mình đang ở đây hay đã trở về

Đồng đội ơi lúc nào tôi cũng nhớ

Đất bên ngoài Tổ quốc, cả trong mơ



Trong trái tim hôm nay tôi đang sống

Còn luân hồi một trái đất của tôi…

Ngoài âm hưởng chủ đạo trên, phần thơ của Đoàn Tuấn còn nhiều bài thơ khác, câu thơ khác chứng tỏ tài năng thơ của anh. Chẳng hạn, trong bài thơ Điếu thuốc, anh kể một chuyện rất thực của lính rằng bạn anh, người Bình Định, cùng đứng trong chiến hào trước giờ xuất kích cùng anh, hỏi anh có còn thuốc lá không? Trong túi anh còn một điếu, nhưng anh đã trả lời bạn là không! Sau đó chưa đầy nửa giờ, bạn anh bị thương nặng, phải đi viện. Hối hận quá, anh xé điếu thuốc, vứt ra rừng. Từ đó, không bao giờ Đoàn Tuấn còn hút thuốc lá nữa và không khi nào quên được lần nói dối thê thảm ấy:

Châu ơi! Dù mai sau

Lòng tao còn ân hận

Tao một mình xấu hổ

Suốt bao năm một mình!



Châu ơi! Giờ ở đâu

Mày có về quê cũ?

Châu ơi! Mày tha thứ

Bao giờ tao gặp mày?

(Điếu thuốc)

Trong một bài thơ khác, Đoàn Tuấn viết rằng:

Ngày tôi rời mặt trận

Vừa đặt chân về đến Hà Nội

Dốc hết tiền

Mua một chiếc đồng hồ đeo tay…

Những câu thơ viết tưng tửng như không mà đọc xong thấy xót xa và sâu sắc quá. Thì ra, khi người lính biết chắc mình vẫn còn sống, lúc ấy anh ta mới nghĩ tới thời gian! Nhưng sống sót trở về đâu phải chỉ có mừng vui?

Tôi đã về hậu phương báo tử

Bao bà mẹ hỏi tôi: Xác con mẹ nơi nào?

Tôi trao mẹ vài di vật cũ

Còn sống trở về tôi có lỗi biết bao!



Sư đoàn tôi đã trở về Tổ quốc

Nhưng muôn năm vẫn đóng ở núi rừng

Tôi như thả hồn mình về nước

Cùng Sư đoàn bình yên một giấc chung.

(Kính gửi Sư đoàn 307)

Khép lại phần thơ của Đoàn Tuấn, tôi thấy áy náy vì chưa giới thiệu được phần thơ cũng rất hay của Lê Minh Quốc trong tập thơ in chung này. Vì khuôn khổ bài viết có hạn, mong Lê Minh Quốc thông cảm và xin hẹn anh một dịp khác vậy.

(Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
“Tượng đài sông Hương”- một quyển sách hay

Kim Quyên

Tuyển tập bút ký Tượng đài sông Hương (*) gồm những bài ký hay, trong đó có một số bài đã in trên tạp chí Sông Hương, báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam, tủ sách Nhớ Huế... do nhà văn Trần Hữu Lục tuyển chọn, vừa mới ra mắt đã gây được ấn tượng trong lòng người đọc.

Sách dày 370 trang của 22 tác giả là người Huế đang sống trong nước và nước ngoài, trong đó có những nhà văn tên tuổi của Hội Nhà văn Việt Nam, ngoài ra là những cây bút khác (nhà báo, tiến sĩ, giáo sư, kiến trúc sư, đạo diễn...)

Bằng bút pháp thấm đẫm văn phong xứ Huế, các tác giả đưa ta về với cảnh sắc thiên nhiên mộng mơ của đất kinh thành, về với con sông quê mang tên con gái (có tất cả 5 bài viết về sông Hương qua nhiều lăng kính khác nhau), về với những con người mang trong mình dòng máu văn nhân, hậu duệ của những triều đại đã một thời vang bóng và về với những món ăn đặc sắc của Huế.

Cho đù là người Huế hay người đã biết chút ít về Huế , khi đọc Tượng đài sông Hương sẽ không khỏi thú vị khi được biết thêm nhiều điều, nhiều việc mà có khi chính người địa phương cũng chưa am tường. Những vườn đá Huế của tác giả Lê Hoàng Hải nói về đá, xưa nay ta chỉ biết những vườn trái cây “mướt quá, xanh như ngọc” của Huế hoặc những vườn rau xanh chứ ít nghe nói tới đá. Có lẽ, chỉ có người Huế mới có cách gởi hồn mình vào đá. Một nghệ thuật điêu khắc bằng đá, chắc ít nơi nào có kiểu chơi lạ lùng như thế. Sông Hương nên thơ thì nhiều văn nhân thi sĩ đã nói nhưng sông Hương có những mảnh đời nhọc nhằn lao động với nghề cào hến để có chén cơm hến ngon lành cho du khách, còn bản thân con hến bé nhỏ cũng có nhiều điều mà ta chưa rõ: “... Hàng giờ, một con hến nặng chưa đầy vài gam có thể thanh lọc được hơn cả nửa lít nước sạch. Sông Hương xanh vì trời hay vì sự thanh lọc của vô vàn kiếp hến! Mỗi đời người như tôi có mấy lần được thanh lọc và giá như nhân loại đều vận động trong sự thanh lọc chắc rằng chiến tranh và khổ đau là một câu chuyện mơ hồ...”. Từ chuyện con hến lọc nước cho sông Hương xanh dẫn đến chuyện tự thanh lọc của con người, nhà văn trẻ Văn Cầm Hải đã miêu tả tỉ mỉ mảnh đời của hến và những ngư dân sống quanh vùng sông Hương, khiến ta không khỏi ngậm ngùi khi ăn chén cơm đặc sản.

Tác giả Thái Kim Lan với Nửa chuyến về Tết thật là dở khóc dở cười khiến cho người viết bài này vừa cười vừa chảy nước mắt vì những tình cảm hết sức mâu thuẫn, hết sức nữ tính của một phụ nữ khi đứng trước sự giằng co giữa đi và ở, giữa quê hương và gia đình riêng, đó là tâm tư rất thật của một phụ nữ Huế nặng tình, nặng nghĩa với xứ sở, gia đình.

Có những bài mang đậm chất tuỳ bút như Miền cỏ thơm của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Chỉ là những cây cỏ bình dị nhưng nhà văn đã vẽ nên những cảnh sắc thơ mộng khiến cho người đọc phải giật mình rồi tự hỏi, phải chăng người viết có lòng yêu thiên nhiên thiết tha lắm, có óc quan sát tinh tế lắm mới nhận ra được hết nét đẹp của cỏ. “Nhiều lần thức giấc trong mùi hương rạo rực của ban đêm, tôi chợt phát hiện ra rằng Huế là một thành phố được dành cho cỏ... Mùa Xuân về, mặt đất công viên sáng bừng lên bởi ngàn vạn bông cỏ tím, mỗi bông cỏ lại ngậm trong lòng một hạt sương mai, khiến vào buổi sáng, cỏ ở ven sông Hương lấp lánh như những hạt ngọc...”. Vậy đó! Chỉ là những cây cỏ dại mà nhà văn khiến ta nao nức một điều gì mơ hồ, như là ta muốn đến ngay xứ sở xinh đẹp đầy màu xanh của cỏ để được nằm lên đó như đứa trẻ mà mộng mà mơ. Một Trăm cây ngô đồng của nhà văn trẻ Nguyễn Xuân Hoàng cũng nói về chuyện cỏ cây, một loại cây ra hoa đặc biệt của Huế tô thêm nét đẹp kỳ ảo của xứ sở này, nhưng giờ đây những cây ngô đồng lay lắt, bơ vơ bên mái ngói rêu phong của cấm thành.

Mẹ ca dao của nhà văn Trần Hữu Lục đưa ta về miệt cồn bắp với những câu ca dao thật hữu tình “Sen xa hồ sen khô hồ cạn. Lựu xa đào lựu ngã đào nghiêng/ Em xa anh như bến xa thuyền/ Như Thuý Kiều xa Kim Trọng biết mấy niên cho tái hồi”, “Chim bay về núi về non/ Cá kia về vực ai còn trông ai?”, “Anh đi đàng ấy xa xa/ Để em ôm bóng trăng tà năm canh/ Nước non chung một mối tình/ Nhớ ai ai có nhớ mình hay chăng?”, “Một mình em giữa lòng thuyền/ Dưới nước trên trăng, biết ai trao duyên gởi phận cho bằng thế gian...” Bằng những câu ca dao đậm tình, tác giả Trần Hữu Lục kể về mẹ mình, một người mẹ Huế trong thời chiến tranh ly loạn đã chắt chiu tần tảo nuôi con không chỉ bằng hạt gạo mà bà còn nuôi trong ký ức anh những câu ca dao dân gian truyền khẩu hoặc do bà tự đặt ra để ru con, làm cho tâm hồn anh, câu thơ anh giờ đây thêm nồng thêm đượm tình yêu đất nước, con người.

Rồi một nhà báo Đinh Phong với những bài ký mang tính thời sự: Gặp đồng hương ở Tây Ninh, Về A Lưới, tác giả kể về những nhà báo, những nông dân Huế anh hùng, vẽ lại rất rõ cảnh trao đổi tù binh ở Tây Ninh khiến ta không khỏi bùi ngùi. Đấy là những câu chuyện về con người Huế, tô đậm thêm chất anh hùng ca của họ. Tác giả Đặng Nhật Minh kể về cha mẹ mình với niềm tự hào trong Cha mẹ tôi, những người Huế. Chuyện kể về người cha Bác sĩ Đặng Văn Ngữ - ta thấy thương cảm một con người trí thức sắc sảo không màng danh lợi phú quí, ông đã bỏ tất cả để theo cách mạng, phải chăng đó là cốt cách của những con người đã làm nên một Huế kiêu hùng?

Chuyện về người Huế còn nhiều mà mỗi chuyện gợi cho ta niềm vui, nỗi buồn hay một điều gì đó thâm trầm sâu lắng khiến ta đồng cảm, nghĩ suy. Con yêu bánh nậm của tác giả Trần Kiêm Đoàn hay Người tiên tri tầm cỡ đại đội của nhà văn Phùng Quán là những truyện ký kể lại những chuyện tình thời xa xưa nhưng đầy thi vị, thể hiện được tính cách Huế. Hồn của áo của nhà văn nữ Trần Thuỳ Mai cho ta hiểu thêm tính lãng mạn đáng yêu của những chàng trai đất cố đô. Nhiều chàng tuy chưa có người yêu nhưng vẫn đứng trước cửa trường Đồng Khánh giờ tan học để được ngắm những tà áo dài lạ hoắc lạ huơ mà mơ mà tưởng: “Ông anh tôi chưa có người yêu để mà đón đưa, vậy mà cũng sắp hàng trong những cây si mọc rễ trước đường Lê Lợi...”. Tác giả Nguyễn Văn Dũng miêu tả chiếc xích lô Huế thật độc đáo “... Cũng như tính cách Huế, xích lô Huế vừa phải, chừng mực, không cao quá để dễ bị gió lật, không thấp quá để chẳng thấy lấp lánh dòng sông, không rộng quá để đôi lứa lắc đầu, không hẹp quá để ngại ngùng ai đó...”. Người viết bài này đã từng đi xích lô nhưng chưa bao giờ để ý đến cái cảnh, cái tình của chiếc xích lô đối với thời cuộc, sự mật thiết của nó với con người như thế. Còn nhà văn Nguyễn Phước Vĩnh Quyền thì tiếc nuối nhắc lại sự xuống cấp của các phủ đệ, một thời là nơi cư ngụ của Hoàng gia. Có phủ đệ đã từng là nơi được xem là trụ sở của “Hội Nhà văn Việt Nam” thời bấy giờ.

Người Huế hiện sống bên ngoài sông Hương rất nhiều, dù xa xứ nhưng lòng vẫn đau đáu một nỗi nhớ quê, vẫn giữ giọng nói của mình sao cho rặt Huế, nhẹ nhàng và ngọt lịm như đường phèn: “Đến thăm các gia đình người Huế ở Paris tôi cảm thấy rất dễ chịu. Ngay cả nhà của các bà đầm làm dâu Huế. Nhiều người xa Huế đã ba bốn chục năm, vẫn giữ cái giọng Huế ngọt ngào. Nhà nào cũng có vài hình ảnh Huế như chùa Linh Mụ, cửa Ngọ Môn, cầu Trường Tiền… treo trên tường” trong bút ký Sông Seine vọng tiếng sông Hương của nhà văn Nguyễn Đắc Xuân. Người xa xứ của nhà văn Trần Hữu Lục đã ghi chép sinh động về một số mảnh đời trôi nổi của ngươi xa xứ, báo động về tình cảnh của trẻ con và người già đang sinh sống ở nước ngoài như thế nào.

Tượng đài sông Hương còn giới thiệu đặc sản Huế như Sen hồ Tịnh. Người viết bài này đã từng ăn hột sen của Đồng Tháp Mười, chưa được nếm qua sen hồ Tịnh xem nó bùi, béo thế nào nhưng khi đọc Sen hồ Tịnh, tác giả bày cách nấu chè sen, tác dụng của cây sen trong y dược khiến cho người đọc thêm yêu loài hoa thanh cao đó. Tác giả Nguyễn Hữu Thông thì đằm thắm, ý nhị kể về những món ăn thời trẻ con thật vui nhộn.

Chuyện về Huế còn nhiều, không thể kể hết được. Trang sách cuối cùng khép lại, người đọc còn bồi hồi, man mác bởi những câu chuyện về một miền đất đầy huyền thoại, lãng mạn trữ tình nhưng không kém hào hùng. Với sự chắt lọc kỹ lưỡng của người tuyển chọn, chủ đề không trùng lặp, các tác giả viết đều tay với lối phóng bút tài hoa, sắc sảo cùng với sự quan sát tinh tế và kiến thức uyên bác, Tượng đài sông Hương là quyển sách có giá trị về mặt văn học và đặc biệt là thể loại bút ký, cung cấp cho người đọc nhiều hiểu biết quí giá. Ước mong sao, tập sách này có điều kiện biên dịch ra nhiều ngoại ngữ để cho khách nước ngoài hiểu được đất nước Việt Nam có một vùng đất và con người như thế.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
“Rừng thiêng nước trong”- Một góc nhìn về chiến tranh

Nguyễn Quốc Trung

Thời gian gần đây, nhiều nhà văn viết về chiến tranh băn khoăn, thể hiện cuộc chiến như thế nào trong tác phẩm. Đã qua rồi lối viết thiên về chiến lệ, chỉ miêu tả trận đánh, để sự kiện che khuất nhân vật. Và đã không ít các cuộc hội thảo, các trại viết mở để các nhà văn có điều kiện viết về đề tài này. Cuộc vận động viết về đề tài chiến tranh cách mạng của Bộ Quốc phòng cũng nhằm mục đích có được những tác phẩm thể hiện chân thực, sâu sắc, có giá trị văn học cao. Và đến nay đang đi vào giai đoạn cuối, nhiều tác phẩm được ra đời, trong đó có tiểu thuyết Rừng xanh nước trong của Trần Văn Tuấn, phần nào đáp ứng được mong đợi của đọc giả.

Tiểu thuyết viết về ngành hậu cần, cụ thể là đoàn 33, trong những năm đánh Mỹ. Làm nhiệm vụ cung cấp lương thực, thực phẩm cho các đơn vị, nhưng cán bộ chiến sỹ đoàn này luôn phải giáp mặt với kẻ địch và họ đã chiến đấu như những chiến sỹ bộ binh. Nhiều trận đánh được tác giả mô tả chi tiết đặc sắc, sinh động. Nhà văn muốn qua đó phản ánh một mảng hiện thực về chiến tranh ở miền Đông Nam Bộ. Những nhân vật trong tiểu thuyết này phần nào tiêu biểu cho con người miền Đông. Họ mang tính cách hơn người, ngang tàng và hào hiệp. Nhiều người trước khi đến với cách mạng cũng mang trong mình những mối hận thù. Hai Bé, nhân vật xuyên suốt tác phẩm, người sinh ra và lớn lên ở rừng, thừa tự tố chất nghệ sỹ của ông nội. Mẹ Hai Bé là một phụ nữ đẹp nổi tiếng ở xứ Bình Dương, khiến tên chủ xưởng cưa Hưng Thịnh mê mẩn, và hắn đã bày mưu giết cha Hai Bé, và cướp đoạt người đàn bà ấy. Mối hận thù cứ lớn dần trong con người Hai Bé, khiến anh trầm lặng. Hai Lu xuất thân là phu bốc vác ở chợ Cầu Ông Lãnh, anh đã chém chết tên mật vụ để giải thoát cho một người đàn bà bị hiếp và trên đường chạy trốn, Hai Lu đã gặp cách mạng. Và Ngân, người con gái đẹp, có nụ cười như phát ra ánh sáng, chiến đấu dũng cảm và yêu cũng rất quyết liệt, dám xả thân vì tình yêu, khi lâm nguy, cô đã cứu người yêu khỏi đầu hàng quân địch. Và Hiền, một tên tham sống, sợ chết, đã đầu hàng địch để rồi lãnh nhận kết cục bi thảm. Trong tiểu thuyết này, Trần Văn Tuấn miêu tả tính cách nhân vật ở cấp độ nhân cách, ở tính người, khác với ở những cuốn trước đây của anh thường được nhìn ở dạng luân lý, lối sống.

Tiểu thuyết được thể hiện tốc độ nhanh, nhiều sự kiện, nhất là các trận đánh dồn dập, quyết liệt, độc giả như bị cuốn vào những tình huống gay cấn phức tạp. Tác giả như cho các nhân vật được biểu hiện tính cách qua những cung đoạn, những tình huống đó. Ngay cả với tình yêu, thông thường ở tiểu thuyết viết về chiến tranh, tình yêu nam nữ được thể hiện trong thời gian nhàn rỗi, khung cảnh cũng thơ mộng. Trần Văn Tuấn không thể, anh để cho những đôi lứa gặp nhau, yêu nhau trong các trận đánh, giữa các trận càn của địch như là phép thử của lòng chung thủy. Và trong cảnh khắc nghiệt của bom đạn, có nhân vật thể hiện sự dũng cảm, chân thành, có nhân vật hèn nhát, vụ lợi. Tình yêu cũng được nhìn trên hệ qui chiếu để nhân vật bộc lộ tính cách. Có lẽ, không đâu bộc lộ tính cách người như trong tình yêu. Người thế nào, yêu thế ấy.

Các chương đoạn của tiểu thuyết Rừng thiêng nước trong được ghi bằng những tiêu đề riêng, nó vừa có tính độc lập vừa nằm trong tổng thể chung. Đó là cách thể hiện theo lối cắt lớp của nghệ thuật điện ảnh. Các đoạn mở đầu chương mang đậm chất thơ, khái quát tư tưởng từng đoạn, mang tính trừ tình ngoại đề. Cách thể hiện này khiến tác phẩm bớt rờm rà bởi những đoạn tả cảnh, những lời thoại vô bổ. Văn của tiểu thuyết này rất cuốn, tác giả sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ, và lối nó giàu hình ảnh của người miền Đông. Lời văn hoạt, giàu tiếng cười, làm cho người đọc đỡ căng thẳng khi tiếp thu những chương đoạn tả chiến trận đến ngột ngạt.

Tiểu thuyết nói cho cùng vẫn là nhân vật, trong tiểu thuyết này, nhiều nhân vật được khắc họa thật rõ, tiêu biểu cho một lớp người. Trần Văn Tuấn không miêu tả nhân vật theo khuôn hình sẵn, người tốt, tốt từ đầu đến cuối, kẻ xấu, xấu tệ xấu hại. Nhân vật nào cũng có nhiều tâm trạng, lắm khi phải dằn vặt, giằng xé, đấu tranh với chính mình để giữ phẩm chất người lính. Nhân vật trong tiểu thuyến này khá sinh động, ngay như những nhân vật được tác giả dày công xây dựng, dành cho sự yêu mến nhất cũng có những nét đáng buồn cười, như Hai Lu, có thói quen kỳ cục, khi ra khỏi nhà, bao giờ cũng bước chân phải trước, bước cao, tránh vấp té, đi được một quãng nhất thiết phải dừng lại châm lửa hút thuốc. Cái thói quen mang tính dị đoan này, có tự bao giờ, và không bao giờ sửa được của con người từng tham gia nhiều trận đánh vang dội. Nhiều bạn đọc và nhà văn đã nói với người viết bài này rằng: “Đã lâu lắm, mới được đọc cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh cuốn hút từ đầu đến cuối và có nhiều nhân vật gây ấn tượng như Rừng thiêng nước trong”. Cũng có ý kiến cho rằng, cuốn sách này nên dừng ở chương bảy, chương cuối hình như dôi ra, khiến cho cuốn sách kết cục có hậu, không thật đắc địa.

Trần Văn Tuấn là nhà văn có sức viết khỏe, năm nào anh cũng có sách. Có lẽ anh chỉ đứng sau nhà văn Nguyễn Khắc Phục về độ dày của từng tác phẩm và thể loại. Anh viết nhiều đề tài, nhưng chủ yếu vẫn là đề tài chiến tranh cách mạng và người lính. Rừng thiêng nước trong là tiểu thuyết ra đời đúng vào dịp cả nước ta chuẩn bị kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam, thật đáng mừng.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
“Rừng thiêng nước trong”của Trần Văn Tuấn- cuốn tiểu thuyết gây ấn tượng về đề tài chiến tranh

Tô Hoàng

Mấy năm trở lại đây, tiểu thuyết khai thác đề tài từ cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước vẫn túc tắc ra mắt, giống như nỗi khắc khoải, trăn trở của người cầm bút với khoản nợ không biết khi nào mới trả cho xong. Người viết hoặc vẫn đeo đẳng ước mong phác dựng một bức tranh toàn cảnh, một thiên tráng ca về những điều mắt thấy tai nghe, hoặc muốn “mượn xưa nói nay”. Trên cả hai bình diện ấy vẫn thấy rõ sự đuối hụt của các tác giả về sức khái quát, về độ tinh lọc những gì sống trải, dù đã có quá đủ độ lùi về thời gian. Hậu quả là điều viết ra vừa dài dòng, vừa nặng nề, lại không rút chân khỏi căn bệnh cố hữu: lấy người để minh hoạ việc, lấy chất ký để che lấp chất truyện...

Với sự câu thúc của nghề làm báo, lại cũng như đã ý thức được sự mệt mỏi, ngại ngần khi ngồi trước trang viết của một tác giả đã có tới vài chục tập tiểu thuyết, truyện ngắn trong tay, đọc từng trang, từng trang Rừng thiêng nước trong cảm nhận ngay được Trần Văn Tuấn viết cuốn sách này rất nhanh, viết một hơi một mạch, viết khi thi hứng chợt đến như đang trong cơn nhập đồng.

Khi chọn lựa đích tới là thể tiểu thuyết - mà viết được như những gì như đã viết - nhà văn đã phải vượt qua một loạt trở ngại không dễ dàng gì. Trước hết, Rừng thiêng nước trong không có sự kiện xuyên suốt, không có mâu thuẫn trục để đẩy tới những nút kịch. Thời gian được miêu tả là những tháng địch phản kích ta sau đợt 2 của trận Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968. Địa bàn nơi xảy ra hành động là nơi cửa ngõ Sài Gòn, giữa vùng Tam giác sắt Bình Dương - Củ Chi - Tây Ninh. Đối tượng miêu tả là những người cán bộ, chiến sỹ của một đơn vị hậu cần tại chỗ, đảm trách những công việc cũng rất đỗi bình thường như “móc hàng” (gạo, đường, sữa, thuốc men...) từ các đô thị bị địch chiếm đóng để cung cấp cho các đơn vị chủ lực; vận chuyển thương bệnh binh từ tuyến trước ra tuyến sau, đánh địch, giành dân với địch để giữ được các “chân hàng” đó... Chúng ta đã có sách về Binh đoàn vận tải Trường Sơn, về những đoàn tàu không số, về những đơn vị bảo đảm cầu, phà trong chiến tranh... Còn với chiến công của các đơn vị “hậu cần nhân dân” như thế này - ngay từ thời còn chiến tranh ngòi bút của các nhà báo, nhà văn đều như né tránh với lý do vì chiến tích của họ quá khiêm nhường, nhỏ bé, quá lẩn khuất, lút chìm trong các chiến công khác. Đây cũng nên tính là một cái khó nữa cho thể loại tiểu thuyết. Trong Rừng thiêng nước trong còn không có tuyến nhân vật chính, phụ; không chơi phân tuyến ta - địch. Bản thân đề tài lại yêu cầu phải có rất đông nhân vật, không nhân vật nào được lấp ẩn phía sau lưng nhân vật khác, mỗi nhân vật đều yêu cầu được làm sáng tỏ “lý lịch trích ngang”, “động cơ chiến đấu”... Lại thêm một thách đố nữa với nhà văn...

Kể ra từng ấy khó khăn, thử thách đối với người viết để đi tới khẳng định khâu thành công đầu tiên của Rừng thiêng nước trong là năng lực tổ chức tài liệu. Đành rằng tiểu thuyết có chia làm chương hồi, nhưng chương hồi ở đây không đóng vai trò cái khung của kết cấu, chỉ như để bộc lộ một thi tứ, ấy thế mà cốt truyện không đứt mạch, các mối liên kết của sự kiện và nhân vật với nhau khá khúc triết, rành rõ. Cũng lại thấy được tính kịch của những xung đột càng về những chương cuối càng tăng lên, trở thành một trong những nguyên nhân sức hấp dẫn của cuốn sách. Nói không quá thì chỉ non tay một chút, mọi điều được miêu tả hoặc trở nên lờ mờ, tẻ nhạt, hoặc ngược lại sẽ rối tung, lẫn bết vào nhau, làm mệt sức theo dõi của người đọc.

Một mặt mạnh khác của Rừng thiêng nước trong là tác giả đã tạo được một loạt nhân vật không ai giống ai, mỗi người một hoàn cảnh, một xuất xứ, một kiểu ăn nói, một cung cách hành xử riêng đạt tới độ tính cách hoá từng con người một. Cán bộ phụ trách thì có Hai Lu, Sáu Đặng... Chiến sỹ thừa hành là những Hai Bé, út Tửng, “Một tiếng”, “Tay thép”, “Dũng sáp”... Ngay những nhân vật nữ thì cũng mỗi người một vẻ như Ngân, Năm Hường, chị Tám... Đành rằng tất cả đều là dân miền Đông, mang rõ tính bộc trực, ngang tàng kiểu võ hiệp của người dân vùng đất này như chúng ta đều biết. Đành rằng khi phác dựng tính cách các nhân vật tác giả đã sử dụng khá thành thục phương pháp vẽ tranh quốc hoạ của Trung Quốc với những nét chấm phá, độ đậm nhạt khác nhau... Nói vậy nhưng không thể không đồng ý với nhau, để các nhân vật sống động, không ai trộn lộn với ai, đầy sức thuyết phục như thế nguyên nhân chủ yếu chính là ở chỗ tác giả đã huy động toàn bộ kỷ niệm vào sống ra chết của bản thân với vùng đất này, với những nguyên mẫu có thật của những Hai Lu, Sáu Đặng, út Tửng, “Một tiếng”, “Tay thép”... để phả hơi thở cho từng nhân vật, cho mỗi trang sách. Không có trí tưởng tượng nào, không có bút lực và bút pháp nào để tạo nên được tính hấp dẫn, độ tin cậy, sức khơi gợi niềm thương yêu, rung động với các sự kiện và các nhân vật được miêu tả đến như thế!

Cũng không thể không nhắc tới tính dân dã, mộc mạc mà đậm đà trữ tình in rõ chất Nam Bộ trong cung cách quan sát, trong việc gạn lọc chất liệu để tạo chuyện, dựng nhân vật, trong bản thân cung cách dẫn chuyện, kể chuyện của tác giả Rừng thiêng nước trong. Miêu tả những ngày tháng khốc liệt, trong những hoàn cảnh đầy kịch tính nhưng từng chương, từng đoạn cứ như treo lơ lửng giữa cái bi và cái hài, giữa chất văn xuôi dữ dằn, nghiệt ngã và chất thơ bay bổng, trữ tình. Sự phát triển tính cách của từng nhân vật cũng vậy - chao qua đảo lại giữa âu lo và hy vọng, giữa cái vui cái buồn...

Chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm. Nhà văn đã từng khoác áo lính, hoặc đã trải nghiệm những tháng ngày máu lửa khi đặt bút muốn làm sống lại những điều mắt thấy tai nghe đều trăn trở với câu hỏi viết thế nào cho mới, cho nối được nhịp cầu giữa quá khứ với hiện tại và tới tận mai sau. Thiết nghĩ, với tiểu thuyết Rừng thiêng nước trong, Trần Văn Tuấn cũng đang tìm lời đáp cho câu hỏi đó. Anh cố vươn tới một cách viết thật ngắn gọn, thật giản dị mà đạt tới độ cô đọng, hàm xúc và sức khái quát cao. Anh kể rất thật, rất kỹ về những ngày tháng dữ dội, quyết liệt của những năm tháng chiến tranh; anh không che dấu, khoả lấp những nỗi đau, những mất mát, tổn thất nhưng anh quyết bảo vệ cho bằng được việc phản ánh cân bằng cả hai yếu tố BI và TRáNG của cuộc chiến tranh ấy. Tự trong lương tâm, anh không thích thủ pháp cường điệu, phóng đại để được khen ngợi là “công bằng, khách quan”, để loè bịp, doạ nạt thế hệ đến sau. Với tác giả Rừng thiêng nước trong cảm hứng chủ đạo vẫn là sự ngợi ca khát vọng Độc lập - Tự do của cả dân tộc; chiến tích anh hùng làm rạng rỡ non sông xứ sở; tình thương yêu và nỗi xa xót nhớ tiếc những người đồng đội đồng chí của mình đã ngã xuống vì nghĩa cả, với tấm lòng sáng trong không tính toán, vụ lợi.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Người dưng khác xứ

Thanh Giang

(Về Tập truyện ngắn của Kim Quyên- NXB Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh - 2004)
Khoảng thập niên 80 (thế kỷ trước), có đôi lần tôi về nói chuyện cùng các bạn viết trẻ đi dự trại sáng tác văn học của Đồng bằng sông Cửu Long do Hội Văn nghệ Tiền Giang đăng cai. Sau đó ít lâu, Kim Quyên và Trần Thị Vân Thanh lên tặng tôi mấy quyển tiểu thuyết đầu tay. Kim Quyên viết quyển Nụ hôn đắng, còn Trần Thị Vân Thanh thì viết Người tình. Một bất ngờ rất vui mừng! Mừng cho đội ngũ những cây viết nữ Nam Bộ, thành công đầu tay lại là tiểu thuyết thì thật “dễ nể”. Hai quyển tiểu thuyết tuy chưa toàn thiện song diện mạo cũng sáng sủa lắm.

Sau đó, Vân Thanh tiếp tục cho ra đời Mặt trời trên trang giấy, còn Kim Quyên thì lai rai với những truyện ngắn đăng trên báo hoặc trong các tuyển tập của địa phương. Cho đến khi, có cuộc Hội nghị văn học Đồng bằng sông Cửu Long do Hội Nhà văn Việt Nam kết hợp với Hội Văn học địa phương tổ chức, phải chăng nhờ không khí của những buổi hội thảo đó đã tăng thêm nhiệt tình cho đội ngũ cầm bút nên năm sau (1997) Kim Quyên in tập truyện ngắn Nước rút. Tập truyện ngắn này được nhà văn Sơn Nam đánh giá là “Đỉnh cao của Kim Quyên”, còn cố Nhà văn Mai Văn Tạo thì bình phẩm “Truyện ngắn Kim Quyên bình dị, chân chất, trong sáng, hồn nhiên, giọng điệu từ tốn dịu dàng...”, Nhà văn Dạ Ngân so sánh “Kim Quyên như một bông hoa muộn mà duyên thầm”. Đúng như lời ví von của nhà văn Dạ Ngân, Kim Quyên như đóa hoa lặng lẽ nở, từ từ thơm, “lang thang” rồi cũng tới bến đò. Chị được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam sau mấy tháng về Hội Nhà văn thành phố rồi được bầu đi dự Đại hội Nhà văn Việt Nam khóa VI năm 2000. Từ bấy đến nay, trách nhiệm buộc chị không được “lang thang” nữa. Truyện của chị được viết và đăng thường xuyên hơn. Chị vừa ra mắt tập truyện mới Người dưng khác xứ và một tập viết về ẩm thực Nam Bộ.

Đọc tập truyện, một lần nữa tôi lại mừng. Thông thường, một số cây bút trẻ hay tìm cho mình một kiểu giọng điệu, một kiểu nhân vật. Có thể là giọng dân gian mộc mạc với phương ngữ là lạ, nhân vật thì thường là thân phận hẩm hiu, đầy éo le, đau khổ... Mới xuất hiện có gây ấn tượng cho người đọc, nhưng rồi chuyện nào cũng na ná kiểu như vậy thành ra lối mòn, đành rằng ngoài đời, những thân phận như vậy viết hoài không hết. Tôi mừng là Kim Quyên không lập lại như thế. Truyện của nhà văn hầu hết là chuyện đời thường, nhưng mỗi truyện đều có đề tài và chủ đề tư tưởng khác nhau, gợi cảm, thắm thía.

Truyện Hàng xóm là chuyện vặt vãnh, va chạm hàng ngày trong lối xóm, chỉ là chuyện chó nhà này sang “bỉn” trước cửa nhà kia, nhưng do thói quen hay gây chuyện của những con người lạnh lùng, ích kỷ thành sinh lớn chuyện, rồi chuyện trẻ bụi đời hút chích, đánh lộn nhau “hà rầm”. Trăm thứ bà rằn đều đổ dồn cho tổ trưởng dân phố, tổ trưởng giải quyết không xuể phải thưa tới công an. Chuyện cứ vậy, rề rà, dây dưa vừa buồn cười vừa thấy khó chịu, bức bối thế nào. “Nghiệp văn” thì trăn trở, đau xót hơn, là chuyện một chị có chồng bị nghiện hút, đánh đập vợ đòi tiền, chị ta đến kể khổ, kêu cứu với tổ trưởng thì được tổ trưởng khuyên lơn chung chung, về nhà chị ta nhảy lầu tự tử. Bấy giờ tổ trưởng - là nhà văn - mới thấy mình có lỗi vì chỉ lo chú ý đến trang viết mà quên đi chuyện cấp bách trước mắt. Truyện này gợi tôi nhớ, có lần trò chuyện, Kim Quyên tâm sự: “Bây giờ, một số nhà thơ, nhà văn như ngồi trong tháp ngà mà viết, họ viết đọc không hiểu gì hết”.

“Bông” là tên nhân vật chính của truyện, nói về một cuộc tình duyên muộn mằn, chắt mót lắm mới sanh được đứa con nhưng khi ra đời lại là một quái thai (do chất độc màu da cam). Truyện đầy kịch tính và xúc động. Khu vườn và tiếng chim với lối viết bình dị mà trữ tình. Một cô giáo chuyển nhà về thành phố để lo tương lai cho các con, trước cảnh đô thị phồn hoa càng nhớ cố hương, nhớ da diết khu vườn và tiếng chim, nhớ mà sinh bệnh. Con trai thấy mẹ buồn mua tặng mẹ con chim chìa vôi, nhưng con chim trong lòng không hót vì nhớ bạn. Chạnh nỗi niềm riêng, cô giáo bèn thả con chim về với tự do. Chuyện chỉ có vậy nhưng lối dẫn chuyện giàu chất trữ tình, triết lý sâu xa về cuộc sống của con người trong sự ràng buộc với cộng đồng. Người dưng khác xứ được lấy làm tên tập truyện, nói về một anh chàng đất kinh kỳ trôi dạt tận thung lũng Đồng Tháp rồi nẩy nở tình yêu với cô gái miệt quê. Mối tình đầy éo le, lận đận tưởng đâu tan rã, ai dè cuối cùng lại nên đôi. Truyện viết có duyên, chi tiết sinh động, hấp dẫn. Truyện cuối cùng, tác giả dùng “Nắm tro” khép tập là rất đắc. Đó là tiếng chuông cảnh báo con người khi còn sống trên đời nên có tình có nghĩa với nhau, kẻo trong phút chốc, thân xác chỉ còn là nắm tro thì mọi việc đã muộn màng.

Nét đặc sắc của các truyện Kim Quyên kể là giàu chất suy tưởng, có công phu tìm tòi, chi tiết phong phú, sinh động. Người đọc trăn trở chính là nhờ tứ truyện và chiều sâu tư tưởng. Với bút pháp nồng ấm trữ tình, giàu nữ tính, vận dụng ngôn ngữ Nam Bộ khá chuẩn xác và thú vị, truyện ngắn của Kim Quyên không những gợi cho người đọc trách nhiệm xã hội mà cho cả người cầm bút phải trăn trở vì trách nhiệm nghề nghiệp, làm sao ngòi bút của mình tác động được đến đời sống bên trong của con người. Thiết nghĩ đó là những gì mà cây bút nữ của Đồng bằng Nam Bộ muốn gởi gắm đến bạn đọc./.



(Tạp chí Nhà văn)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Thoáng chốc mà thấm đẫm nỗi đau nhân thế!

Trần Bảo Hưng

Trăm năm thoáng chốc là tiểu thuyết thứ 8 của Vũ Huy Anh, vừa được Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành. Cũng như nhiều tiểu thuyết khác, trong Trăm năm thoáng chốc Vũ Huy Anh vẫn tiếp tục thâm canh vào một vùng quê công giáo ở Ninh Bình - quê hương văn học và cũng là quê hương đích thực của anh. Và Vũ Huy Anh lại chứng tỏ một sự trăn trở, bứt phá trong việc phản ánh hiện thực, trong việc đổi mới bút pháp và phong cách.

Trước hết tác phẩm không vụ vào việc miêu tả, kể chuyện người và việc, mà tác giả chú tâm vào cảm nhận, suy ngẫm về hiện thực, về cuộc sống, do vậy nhân vật của cuốn tiểu thuyết không nhiều (nhân vật chính là cụ Sóng, người sống trọn 100 năm), phạm vi hiện thực phản ánh cũng không rộng (chủ yếu là làng Tâm Đức của xứ đạo Phát Diệm) nhưng lại trải dài trong quãng thời gian một thế kỷ với những cuộc bể dâu, biến thiên dữ dội, làm lay động số phận của bao kiếp người. Với khoảng thời gian dài rộng ấy, tác giả tạo điều kiện cho các nhân vật nếm trải những quăng quật của cuộc đời và từ đó rút ra những quan niệm, những triết lý nhân sinh về sự tồn vong, thiện ác, về lẽ tất yếu sinh, lão, bệnh, tử mà con người phải chấp nhận.

Ông Sóng - nhân vật chính của Trăm năm thoáng chốc sinh ra vào đúng dịp kỷ niệm 10 năm ngày khánh thành Nhà thờ đá Phát Diệm và trút hơi thở cuối cùng vào những giây phút đầu tiên của thế kỷ XXI, có nghĩa là ông đã sống trọn vẹn một thế kỷ. Khi ông vừa nhắm mắt, thì ở nhà bên đứa chắt trai của ông cũng vừa mới ra đời, bàn chân cũng không có ngón như ông. Một số phận mới, một vòng luân hồi mới lại bắt đầu…

ở cái làng Tâm Đức, một vùng quê công giáo sống biệt lập, sơ khai, mộc mạc, nhưng ông Sóng cũng chứng kiến không biết bao cảnh đảo điên, những sự kiện làm tan vỡ bao tổ ấm gia đình, làm băng hoại hoặc huỷ diệt biết bao nhiêu số phận. Những cảnh lên voi xuống chó như gia cảnh nhà Trương Rô chẳng hạn. Bà ngoại Trương Rô vốn là vợ kẻ ăn mày, có con út tên Hoà được thụ phong linh mục nên được gọi là Cố Thống, hưởng vinh hoá phú quý. Đến đời Trương Rô chỉ chuyên làm nghề mổ lợn, khi Pháp nhảy dù xuống Phát Diệm, được giao chỉ huy lực lượng tự vệ công giáo, đến cải cách ruộng đất thì bị bắn chết. Rồi bà Nhất nhà dòng và ông Trương Khánh, Chánh trương xứ đạo vốn một lòng kính Chúa, mộ đạo, một ngày kia vì mê nhau đã bỏ trốn lên Yên Bái để được sống cuộc sống lứa đôi. Sau này chết đi con cháu vẫn không dám chôn chung một chỗ, trải qua bao nhiêu truân chuyên hai nắm xương tàn mới được nằm cạnh nhau như nguyện ước lúc sinh thời.

Rồi gia đình ông Sóng vốn ngoan đạo, lương thiện cũng bị đảo điên bởi những biến động nhiều khi không hiểu nổi, không biết từ đâu ập tới. Khi Pháp nhảy dù Phát Diệm con ông người theo Việt Minh, người theo cha Lê Hữu Từ, người con út bị bắt lính, sau trở thành hàng binh, suýt nữa bị bắn chết trong cải cách ruộng đất. Năm 1954 chỉ tí nữa là ông cũng di cư vào Nam vì nghe nói Chúa đã vô Nam. Chính sự bịn rịn với vùng đất nuôi dưỡng mình đã giữ ông ở lại… Những năm cuối đời ông Sóng vốn cả nghĩ - những suy nghĩ của ông có tính chất tổng kết những điều ông vốn nghe, vốn thấy, nhưng nhiều khi lại ôm trùm cả một quãng dài của lịch sử, do vậy nó có ý nghĩa xã hội lớn và đó cũng chính là điều mà tác giả gửi gắm. Chẳng hạn nói về cải cách ruộng đất và mấy chục năm hợp tác hoá, ông Sóng nghĩ: “… Giá như bớt đấu tố, chủ yếu chỉ có là chia lại ruộng, có phải là hay hơn không. Bởi vì người sống bằng nghề nông mà có ruộng để cày cấy, là hợp lẽ tự nhiên. Cũng như gần đây, sau bao nhiêu năm chung ruộng làm hợp tác xã, người ta lại chia ruộng, đem khoán cho hộ nông dân. Những năm hợp tác ấy, sợ bị phê bình là người chậm tiến, hơn nữa còn là nể con trai cả làm phó chủ nhiệm, ông Sóng không dám công khai nhận xét song trong lòng ông thầm nghĩ, làm chung, tất dựa dẫm vào nhau, không ai chịu bỏ hết công sức” (trang 169-170).

Bao nhiêu chuyện bâng quơ, tưởng là tiểu sử của một con người, một dòng họ, một xứ đạo qua suy ngẫm của ông Sóng những năm tháng cuối đời, thấy bật lên lẽ huyền diệu của trời đất, thấy những cố gắng ngu dại trái lẽ tự nhiên chẳng đi tới đâu: “Thời gian gần đây, nghĩ gần rồi lại nghĩ xa, suy việc hiện nay, ngẫm việc ngày xưa, ông Sóng thấy đời ông và đời bao nhiêu người trong làng cứ như là đi theo một đường vòng tròn, mỏi chân, vã mồ hôi đi một chập, lại quay về chỗ cũ. Như một câu nói cửa miệng: quanh quéo lại về gốc muỗm. ở làng ông cây muỗm còn gọi là cây quéo. Giá như đừng vì một sự xui khiến, dẫn dắt từ đâu đó, bởi ai đó, người ta cứ sống theo lẽ tự nhiên, làm theo lẽ tự nhiên, hẳn cuộc sống của bao nhiêu người đã bớt đi được rất nhiều cực nhọc, buồn khổ và sự no đủ, giàu có đã sớm đến” (Trang 175). Lẽ tự nhiên ở đây chính là quy luật của cuộc sống. Vũ Huy Anh đã khéo tung hứng, lớp lang để rồi những suy ngẫm, triết lý của anh về cuộc đời được hình thành dần, định hình dần như một chân lý khó chối cãi. Và ngay cả khi đã sống theo lẽ tự nhiên, theo quy luật, mọi sự cũng không phải đều tốt đẹp, đều tuân theo ước muốn của mình: “Ngẫm ra, cuộc đời vẫn là cái hay, cái dở đan xen, điều tốt, điều xấu cùng tồn tại, dễ gì con người ta chỉ toàn cái hay, cái tốt” (trang 182). Mới nghe tưởng là một sự trung dung, một quan niệm nửa vời, nhưng thực ra đây là phép biện chứng của cuộc sống.

Điều tâm đắc nhất của tôi khi đọc Trăm năm thoáng chốc của Vũ Huy Anh là từ những điều vụn vặt, bình thường của cuộc sống, qua suy ngẫm và trải nghiệm của mình anh đã đưa đến cho người đọc một cái nhìn bình tĩnh hơn, toàn diện hơn về cuộc đời và từ đó có cách ứng xử khách quan hơn, nhân văn hơn và cũng lạc quan hơn trước những biến thiên, những khúc quanh của lịch sử. Có thể nói đây là cuốn tiểu thuyết giàu chất triết lý nhất của Vũ Huy Anh và những triết lý ấy lại được chưng cất một cách nhuần nhuyễn, hợp lý qua sự miêu tả và phản ánh cuộc sống theo cách riêng của anh.

Có ý kiến cho rằng tiểu thuyết Trăm năm thoáng chốc của Vũ Huy Anh phản ánh bản năng gốc của con người và sự luân hồi. Điều này có trong Trăm năm thoáng chốc nhưng không phải là dòng chảy chính và đích đến của Vũ Huy Anh qua tiểu thuyết này. Những yếu tố tâm linh, bản năng được Vũ Huy Anh miêu tả một cách tự nhiên, như là nó vốn có trong cuộc sống, mà trước kia vì nhiều lẽ người ta cắt xén, bưng bít hoặc xuyên tạc. Có điều Vũ Huy Anh rất vừa độ và chừng mực, chưa bao giờ anh sử dụng chúng một cách thích thú, mà chỉ là phương tiện cần thiết cho việc khắc hoạ tính cách nhân vật và làm sáng tỏ ý tưởng của tác phẩm.

Về mặt bút pháp để thể hiện sự trôi chảy liên tục không đứt đoạn của cuộc sống, không có thế lực nào ngăn cản được, Vũ Huy Anh chủ trương không chia chương, chia đoạn, không xuống dòng. Cả cuốn sách của anh cứ miên man hết chuyện nọ đến chuyện kia, sự kiện nọ đến sự kiện kia như sự bất tận của cuộc sống. Do vậy người đọc dễ bị cuốn hút, tác giả khiến người đọc khó mà buông sách trước khi đến trang cuối cùng (vả lại cuốn sách cũng có độ dài khiêm tốn, chưa đến 200 trang!). Vũ Huy Anh là người kể chuyện có duyên, hóm hỉnh pha chút trào lộng một cách khách quan. Anh làm như là người chứng kiến một cách vô tình, để cho cuộc sống tự xoay vần, để cho những chứng nhân lịch sử tự nói lên cảm nhận về cuộc sống của mình một cách chân thực.

Vũ Huy Anh hiểu biết cặn kẽ cuộc sống của những người theo đạo Thiên chúa ở vùng quê của mình, nên anh dựng người, dựng cảnh hết sức chân thực và sinh động. Những sinh hoạt thường nhật của người tu hành, những lễ trọng của công giáo - kể cả những đám ma, đám cưới của người công giáo… cũng được anh miêu tả tỉ mỉ mà sinh động, mà vẫn hàm chứa một suy nghĩ, trăn trở nào đó của người viết. Những trang viết về vùng đất mới Tâm Đức, sự tụ cư của dân tứ xứ và đời sống hồn nhiên của họ được anh viết thật hào sảng. Rồi những con người sống rất bản năng như Trương Rô, thị Đào… được anh khắc hoạ cũng thật sắc nét, sống động, phong phú đến tận cùng đời sống bản năng nhưng vẫn không thô, không gợi dục. Chỉ tiếc là phần cuối Vũ Huy Anh còn tái tạo khá sơ lược, những suy ngẫm của anh có khi còn lấn át, làm mờ nhạt những nhân vật, những sự kiện mà anh dựng lên rất công phu. Mà đây lại là những năm tháng đương đại, người đọc rất muốn được anh lý giải, cắt nghĩa bằng những hình tượng nghệ thuật sinh động, hàm xúc.



(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Ảo ảnh

Hồ Phương

Năm nay, trong số những sách mà tôi được đọc, tập truyện ngắn của Nguyễn Bảo là một trong những cuốn mà tôi thấy khá hay và có những phát triển mới của tác giả.

Nguyễn Bảo là một nhà văn viết đã lâu năm, bút pháp của anh hồn hậu, chân thực, mang dấu ấn rất đậm chất chiến trường đất Quảng với những con người xứ Quảng. Đó là một trong những chiến trường ác liệt, tàn khốc nhất, nhưng ở đó con người Việt Nam cũng biểu lộ rất đậm tính cách của mình: cực kỳ gan vàng dạ sắt, và hết sức chân chất, trung hậu, nghĩa tình.

Trong ảo ảnh, Nguyễn Bảo không viết trực tiếp về chiến tranh nữa, mà chủ yếu về các nhân vật lính với các vấn đề đời thường hôm nay, truyện chiến tranh chỉ còn là đôi nét hồi tưởng. Tuy nhiên dù chỉ là những hồi tưởng, đọc “vẫn thấy rất Nguyễn Bảo” với tất cả niềm tự hào, khí thế chiến đấu và tình yêu thương rất “lính”, rất Cách mạng…

Tuy nhiên ở đây tôi muốn nói tới những truyện đời thường mà Nguyễn Bảo phản ánh, tái tạo, rung động và suy ngẫm, vẫn với con mắt đầy yêu thương, tình nghĩa quen thuộc cũ, nay đã có cái nhìn mới hơn và bút pháp tinh tế hơn trước. Thật vậy, tôi muốn nói nhiều tới sự tinh tế trong bút pháp của Nguyễn Bảo hôm nay, nó như một chất gì đó làm nồng đậm hơn, sinh động hơn những gì vốn có trong bút pháp của anh.

Nguyễn Bảo đã thể hiện điều này trước hết qua các cấu trúc truyện. Truyện ngắn của Nguyễn Bảo xưa nay đều có truyện, có tình tiết nhiều lúc khá đậm và bất ngờ nữa. Truyện ngắn Nguyễn Bảo không thuộc loại “truyện không có truyện”. Đưa được tất cả những tình tiết trong một không gian và thời gian lắm khi khá rộng vào một truyện ngắn không phải dễ. Vậy mà trong ảo ảnh, Nguyễn Bảo đã xử lý khá thanh thoát, gọn gàng, biết nhấn nhá, biết lướt qua, nên vẫn có cốt cách truyện ngắn chứ không phải truyện vừa (ví dụ các truyện: Bạn trung đoàn, Người cùng sư đoàn, Vàng trắng…) viết về quan hệ bạn bè đồng chí cùng chiến trường xưa, nay gặp lại nhau, cùng làm việc với nhau trong công cuộc xây dựng kinh tế thời bình này. Và nhìn chung các truyện của Nguyễn Bảo thường có cái kết như đột ngột ngưng lại, có khinh như bỏ lửng, khá gợi cảm và kín đáo. Tinh tế cũng là ở chỗ đó. Anh muốn để cho người đọc cảm nhận và suy nghĩ thêm để mình tự hiểu, tự mình thấy… tức là dành cho người đọc thêm một lần sáng tạo. “Nói không cần hết lời” đó là tác phong của những nhà trí giả xưa và cả nay, và cũng là của những con người kín đáo, và duyên dáng… (Như những cái kết trong: ảo ảnh, Đường đang mở, Người cùng sư đoàn, Nàng vọng phu…”

Sự tế nhị, hoặc cũng có thể gọi là tinh tế của Nguyễn Bảo không chỉ trong cấu trúc truyện, mà còn thấy cả trong miêu tả. Khi miêu tả nhân vật anh thường kín đáo để cho ngôn ngữ nhân vật, hành vi nhân vật và các sự việc “tự nói lên” tất cả. Thật vậy, anh không lộ mình ra để công khai cắt nghĩa, giảng giải, hoặc kể lể dài dòng. Anh cũng không nhảy ra giữa các trang sách để mổ xẻ tâm lý nhân vật như một nhà giải phẫu ở bệnh viện, cũng không “triết lý vặt” để răn hoặc dạy đời. Cũng không bao giờ giả bộ khiêm tốn tự xỉ vả mình, chế nhạo mình… mà thực ra là mượn văn chương để quảng cáo cho mình là một nhân vật cao, sáng. Nguyễn Bảo vẫn hồn nhiên, chân thực và trong sáng, cứ tự nhiên như “có thể nào tôi viết thế”. Nhưng thực ra, đọc thì biết anh không tự dễ dàng như vậy. Trong giản dị đã có không ít những nghĩ suy và tìm tòi, mơ ước…

Chất tinh tế mới của Nguyễn Bảo còn ở nơi: có những truyện viết theo phương pháp hiện thực đã quá quen biết (như Người cùng sư đoàn, Vàng trắng…) đã đan xen với những truyện mang tính lãng mạn mới, ẩn hiện, nhiều gợi cảm (ảo ảnh, Nàng vọng phu…) mà trong đó triết lý càng ẩn sâu. Chính vì những sự tinh tế mới này, văn Nguyễn Bảo bây giờ như đậm hơn, có duyên hơn trước.

Tôi hy vọng những tác phẩm tiếp theo của Nguyễn Bảo sẽ còn có những bước phát triển tiếp, đẹp hơn nữa.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Miền quê thao thức của Vũ Thành Chung

Nguyễn Trọng Tạo

Đọc xong tập thơ Miền quê thao thức của Vũ Thành Chung, không hiểu sao tôi cứ nhớ tới lời bàn về thơ của Doãn Văn Đoan bên Trung Quốc thuở xa xưa : “Ngôn ngữ là âm thanh của trái tim. Từ cổ chí kim, chưa thấy ai con tim đã bất thiện mà thơ lại hay được”. Tôi không nghĩ thơ Vũ Thành Chung toàn những bài hay, nhưng tôi dám chắc là anh có một trái tim luôn hướng về điều thiện. Cái đức tính chân thành và đa cảm toả lan trên từng câu chữ đã lây tới người đọc, khiến người đọc cảm động chia sẻ cùng tác giả. ở tuổi tri thiên mệnh, Vũ Thành Chung làm thơ về ông, bà, cha, mẹ, bạn bè, quê quán thật mộc mạc, chân thành, mà đằm sâu chiêm nghiệm. “Có nuôi con mới hiểu lòng cha mẹ”, câu thơ như câu nói bình thường thốt ra từ gan ruột của đứa con tóc đã pha sương. Thơ ấy đúng là “hồn của trái tim” như anh từng tâm niệm. Có lẽ nhờ thế mà thơ anh thường gợi cảm, rưng rưng như có “tiếng sóng - dội từ dòng chữ xanh”.

- Bây giờ ông đã qui tiên

Vầng trăng ông kéo vó lên bầu trời.

- Đến khi tôi biết thương bà

Giật mình. Bà chỉ còn là… cỏ xanh

- Dòng người dài hơn câu nói

Thắm tình làng nghĩa xóm tiễn đưa cha

- Về quê, giờ mẹ không còn

Bếp hồng mẹ vẫn sưởi con ấm lòng…

- Mẹ cha yên nghỉ đỉnh đồi

Bạn quì bên mẹ, lòng tôi khóc thầm.

Và những câu thơ tình yêu tội tội, thương thương:

- Xin em đừng nói lời từ biệt

Bởi anh nghèo cầm lời hẹn mong manh

- Giờ thuyền rách, bến phiêu diêu

Mái chèo chẻ củi trong chiều bếp hun!

- Giữa rừng Trùng Khánh lạc nhau

Trái tim em nấc làm đau tim mình.

Lại có những câu thơ viết cho người mà như viết cho mình :

Bao năm như có như không

Địu con tìm đến quê chồng xa xôi

Đâu ngờ chồng đổi dạ rồi

Chan chan nước mắt ngậm ngùi đường xưa…

Tôi yêu cái tình cảm “yếu mềm” của Vũ Thành Chung, bởi cái “yếu mềm” ấy là yếu mềm của nước, của “lạt mềm buộc chặt”. Lắm lúc câu thơ của anh giống sợi dây tơ vô hình cứ buộc chặt mãi lòng người buồn thương day dứt. Có lúc lại sáng lên những ảnh hình tươi mới, hồn nhiên :

- Dăm túm lạc, mươi túm vừng

Đôi gà Me (mẹ) xách qua rừng gáy ran

- Anh về buộc lại dây lèo

Chở em cùng những điệu chèo sang sông

- Cánh buồm lấy sông làm nhà

Dòng sông với cánh buồm xa hành trình…

Và cũng có lúc, câu thơ Vũ Thành Chung bỗng dí dỏm ngang tàng, cá tính:

- Gặp em bán đọt măng chua

Thương người dầu dãi tôi mua cả gùi.

- Thôi mà ! Mình đã thương nhau

Trời cao dẫu có trên đầu cũng không.

- Dường như trẻ mãi không già

Một lều thơ

Với hai ta

Giữa đời!

Cái người thơ có cá tính ngang tàng, ngất ngưởng ấy đôi khi cũng biết tỏ ra duyên dáng, điệu đàng:

Này em…

Này biển…

Này tôi…

Và chiều!…

Nhưng cuối cùng vẫn là một trái tim giàu trắc ẩn, đa cảm, đa mang, chân thành rớm lệ khi trở về với làng quê không còn luỹ tre xanh của tuổi ấu thơ:

Rặng tre xanh mướt đâu rồi

Gầy meo cơn gió

Trong tôi

Chát lòng!

Những con chữ “gầy meo cơn gió”, “chát lòng” đã làm dội lên “âm thanh của trái tim” nhà thơ, những âm thanh khô chát găm vào hồn người đọc niềm day dứt khôn nguôi.

Đọc Miền quê thao thức, tôi nhận ra chất quê, chất lính ở Vũ Thành Chung thật là bền bỉ, trì kéo. Có cái hay của bản lĩnh trung thành, nhưng cũng có cái dở là dễ rơi vào đơn điệu, sáo nhàm. Ngay cả cái điệu lục bát được anh lấy làm giai điệu chính của tập thơ cũng đã làm khó cho anh, bởi việc làm mới lục bát là việc luôn luôn thậm khó. Những gì Vũ Thành Chung đã làm được cho thơ ở tập thơ này, đấy lại chính là điệu trái tim luôn hướng thiện của anh.

Hà Nội, 4 – 2004

(Phụ bản thơ báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Nguyễn Thị Liên Tâm Từ Đa Đoan đến Tịnh Tâm

Trịnh Thanh Sơn

Tập thơ đầu tay của cô giáo - thạc sĩ văn chương Nguyễn Thị Liên Tâm - có tên là Đa đoan (Nxb Hội Nhà văn - 2004), một cái tên thật gợi, nhất là với thân phận người phụ nữ xưa nay. Đọc hết 36 bài thơ trong tập, tôi hiểu ra rằng, tác giả đâu có “đa đoan”, chị chỉ mượn thơ để chia sẻ những đa đoan của bao thân phận khác, trước hết là với nàng Kiều:

Tố Như xưa đã khóc Kiều

Dòng sông định mệnh phiêu diêu Tiền Đường

Hồn Kiều lảng bảng khói sương

Hình như ở cõi vô thường vẫn đau!

(Dòng sông định mệnh)

Đó là sự cảm thương, sự sẻ chia với nông nỗi đoạn trường của một kiếp hồng nhan, của một “cành thiên hương” bị xã hội cũ dập vùi. Phảng phất đâu đó trong những bài thơ của Liên Tâm ẩn giấu một dự cảm không bình an, một nỗi phấp phỏng mơ hồ mà thường trực: “Ôi! ngày tháng thoi đưa, lòng vời mong ước/ Không là chim Khổng Tước/ Làm sao em giữ được bóng hình em trong đôi mắt anh! (Vần thơ cho anh). Nhiều khi, nỗi buồn ập đến trong tâm trạng vừa thảng thốt vừa ghìm nén của một trái tim đang yêu, hiện hình thành những câu lục bát thấp thoáng hồn vía ca dao:

Người đi mang hết tôi đi

Thẫn thờ như kẻ cuồng si vướng bùa

Người về như lá thay mùa

Mở toang cánh cửa tôi xua muộn phiền

(Nhiệm màu)

Thơ Liên Tâm giản dị và trong sáng, ấm áp và dịu dàng, không ồn ào mà nhiều xao động, có âm vang và dư ba. Trong một bài thơ, chị kể chuyện một người goá phụ của một chiến sĩ đã hy sinh, đứa con của họ bị nhiễm chất độc màu da cam, hai mươi tuổi mà giống như đứa trẻ sơ sinh, ngơ ngác cười mà như khóc. Bài thơ thật giản dị, viết bằng giọng kể mà đọc lên thấy đau nhói trong lòng, càng đau xót hơn khi đó lại là lời ru của chính người mẹ bất hạnh ấy: “Hai mươi năm rồi mẹ đã nuôi con/ trong hình hài con có lời ru mặn chát/ Có nước mắt và lộn cơm/ Có cả một cõi lòng tan nát…

và bài thơ được đẩy tới cao trào:

Con cười như người ta khóc

Con đi như làm xiếc trên dây

… Khiến lòng mẹ đây tan tác

Chỉ vì những mảng màu da cam quái ác

Đã bủa vây, phủ chụp xuống đời con!

(Lời ru buồn của mẹ)

Cả bài thơ, không có một chữ nào, câu nào nói đến chiến tranh mà hậu quả tàn khốc của tội ác xâm lược hiện rõ mồn một. Có cảm giác, phía sau những câu chữ lặng thầm đau xót kia, chứa chất cả một khối thuốc nổ căm hờn, lúc nào cũng có thể bùng phát với sức công phá mãnh liệt. Là một phụ nữ, một người mẹ làm thơ, Liên Tâm hay nói tới những lời ru, bởi vì theo chị, người ta có thể “vịn lời ru mẹ để con thành người”. Cùng với những lời ru xa xót trên kia, còn rất nhiều lời ru khác “thơm như nếp ngự, ngọt như đường cứ thấm vào con…” chẳng hạn:

Ru con mẹ thường hát

“Tiền tài như phấn thổ

Nhân nghĩa tựa thiên kim”

Nghe thao thiết nỗi niềm

… Tiền tài như phấn thổ

Sao cứ mãi đi tìm

Xót xa người dưới mộ

Đâu rồi núi thiên kim!

(Thiên kim và phấn thổ)

Những suy tưởng nhẹ nhàng nhưng sâu sắc phảng phất đâu đó trong từng bài thơ, làm nên sức nặng tư tưởng và chiều sâu tư duy cho cả tập thơ, khiến người đọc đi từ bất ngờ này tới bất ngờ khác. Đây là một chút riêng tư khi nhà thơ nhìn lại chính mình:

Tôi đi tìm lại bóng tôi

Chất ngất một đời hướng thiện

Đau khổ, nhọc nhằn, vinh hiển

Bao phần thắm ở trong tôi?

(Tự cảm)

Đây là một chút hoang mang khi cảm xúc yêu thương tràn ngập trong lòng:

Xuân xanh thoáng chỉ một thời

Mười hai bến đỗ đầy vơi bến nào

Nồng nàn cơn gió hanh hao

Ai xui em buộc tóc vào hồn anh?

(Trăn trở đêm rằm)

Và đây là một tiếng thở dài của nuối tiếc và lỡ dở, một khía cạnh của “đa đoan”, phảng phất sắc màu ca dao, nhẹ mà buồn thấm thía, buồn như những phận hồng nhan ngày nào vậy: “Phận hồng nhan có mong manh/ Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương…” (Kiều) Cảnh cá chậu, chim lồng không phải bây giờ đã dứt:

Chim buồn rũ suốt ngày đông

Tháo cũi sổ lồng chim đã biếng bay

Ba đồng một mớ trầu cay

Biết đâu mà gỡ phận này, cá ơi.

(Một mớ trầu cay)

Cũng như những nhà thơ nữ khác, Liên Tâm viết nhiều về mẹ, về tình yêu và quê hương. Những lúc ấy, lời thơ của chị thật dịu dàng và phóng túng, bồi hồi trong cảm xúc ngập tràn:

“Ngập ngừng tôi bước vội qua cầu, cứ ngỡ thời gian ngừng lại… Chiều nay tôi về thăm quê cũ, dòng Cà Ty ngời sắc xanh quyến rũ. Chậm trời chiều quay quắt giữa hoàng hôn. Tôi đã dặn lòng đừng nổi sóng cồn, rồi tất cả sẽ trở về hư ảo. Nhưng không thể, không thể nào quên tấm lòng thơm thảo, của mẹ nghèo chiu chắt cho con…”

(Ngoảnh lại với dòng sông)

Theo năm tháng đề dưới mỗi bài thơ, ta biết đây là một tập thơ được chọn lọc khá kỹ trong số những bài thơ Liên Tâm đã viết trong vòng 20 năm nay, mà bài thơ đầu chị viết năm 1985. Và bài gần nhất là tháng 3-2004. Nói thế để thấy rằng, càng về sau, thơ Liên Tâm càng vững vàng, tứ thơ sáng rõ, lời thơ chắt lọc, nhịp thơ tung tẩy biến hoá, ý thơ sâu đằm và nhiều liên tưởng xa xôi. Chẳng hạn, bài thơ gần đây nhất, bài Tri âm, được viết ngày 10-3-2004, Liên Tâm quay trở lại với thân phận nàng Kiều, nhưng góc nhìn đã khác, kín đáo hơn và cũng đau đớn hơn:

Người khách mấy trăm năm

Đã tìm Kiều trong đêm ảo nguyệt

… Cành thiên hương tan tác bên thềm

Tủi hờn tình chung muôn kiếp

Cơn gối mây vội vàng thu xếp

Chập chờn giấc mộng xiêm y…

(Tri âm)

Tôi cứ nghĩ, có lẽ vì hai bài thơ viết về nàng Kiều mà Liên Tâm đặt tên cho tập thơ đầu tay của mình là Đa đoan chăng? Có một so sánh mơ hồ nào đó trong niềm cảm thông sâu sắc kia, để cuối tập thơ, cô giáo - nhà thơ viết những dòng Tịnh tâm này:

Tịnh tâm ngồi chiếu Phật

Thanh lặng một vòng đời

Mai kia về với đất

Được bao phần thảnh thơi?

Từ Đa đoan đến Tịnh Tâm âu cũng là biện chứng, trừ phi người thơ thoát khỏi vòng cung số của Nàng Kiều!

(Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Trong nỗi mơ yên tĩnh

INRASARA

(Đọc “Tuyệt đối yên tĩnh”, tập truyện của Trần Đức Tiến, Nxb Hội Nhà văn, 2003)

Cư trú trên lằn ranh giữa mơ và thực, thức và ngủ, quá khứ và hiện tại... các nhân vật của Trần Đức Tiến luôn lấp lửng ở đường biên nhị trùng, thiếu hẳn rạch ròi của biện biệt. Muốn thế này lại thích thế kia, đang ở trong không gian này anh lại ngỡ ngụ cư một vùng đất mơ hồ nào khác, hiện thực đang lồ lộ thế kia ông cứ tơ tưởng đến một thế giới mới lạ u uyên tận trời trăng nào. Do đó, các nhân vật kia cũng ít khi mang rành rẽ họ tên. Họ là những P., M., nó, lão, chàng, bố... mơ hồ và không khu biệt. Họ là họ nhưng cũng là chúng ta. Một chúng ta lõa lồ trong thực tại như thật của hôm nay.

Đó là thứ truyện ngắn trạng thái. Không phải văn xuôi phân tích tâm lí dài dòng rườm rà như ta thường thấy – mà là văn xuôi trạng thái, rất thích hợp với thể loại truyện ngắn. Trần Đức Tiến nắm trúng một vài tâm trạng của nhân vật trong một hoàn cảnh đặc thù, từ đó câu chuyện tự mở phơi.

Sự sợ hãi là có thực, đôi lúc nó mang hình hài và có địa chỉ hẳn hoi: “tôi sợ sự nhạt nhẽo trong những câu chuyện giữa tôi và M., nhất là điều đó lại đến với chúng tôi vào lúc đầu ngày” (Đi bộ và chạy), hoặc cụ thể hơn: “lão sợ về hưu”, nhưng ngay cạnh đó nỗi sợ hãi lại chuyển thành mơ hồ khó nắm bắt: “Sợ một cái chết từ từ, chán ngắt” (Bão đêm).

Sợ hãi mang nhiều hình thù, thoắt biến thoắt hiện mọi nơi mọi lúc, trơn trợt khôn lường. Nó có thể đeo khuôn mặt một tình địch tưởng tượng, hay một con chuột vô tội để anh phải bị ám điên cuồng bởi cái bẫy. Anh cố gắng chinh phục nó, nhưng bất khả. Nó có đó – sát sườn anh và xung quanh anh, dù anh “không biết đích xác nơi cư trú của nó trong căn phòng này” (Tuyệt đối yên tĩnh), nhưng sự có mặt của nó sẵn sàng gây cho anh “khó chịu”, cồn cào. Anh muốn giằng ra khỏi nó, vứt nó ra khỏi anh dẫu phải “bằng một tiếng chửi” bất lực. Có thể anh nghĩ nó là cái gì ngoài anh, nhưng thực tế nó ở trong anh, nó là chính anh: khuấy đảo và đục phá tâm hồn anh. Hằng ngày!

Xao xuyến – angoisse, là một khám phá lớn của triết học thế kỉ XX. Các triết gia hiện sinh cho rằng: “trong sâu thẳm tâm hồn con người chúng ta có nỗi xao xuyến nền tảng, một khoảng trống nơi mà tất cả những hình thái âu lo và bất an tuôn trào (…) Nỗi xao xuyến đó thình lình đến với chúng ta khi chúng ta đang mơ màng, tách lìa thế giới; chúng ta vùng thức giấc giữa đêm tối (…) Thường chúng ta cố tránh né kinh nghiệm này vì nó gây đau đớn và chia xé (…) Phật giáo cho rằng không bao giờ chúng ta có thể sung sướng, trước khi chúng ta chiến thắng được nỗi xao xuyến nền tảng này...” (E. Conze, Tinh hoa và sự phát triển của Đạo Phật).

Chúng ta có một hệ luận: không bao giờ anh đạt đến “tuyệt đối yên tĩnh” khi anh chưa chinh phục được sự sợ hãi kia. (Lạ! Bình yên tuyệt đối, nghỉ ngơi vĩnh cửu, hoàn toàn yên tĩnh... là hạn từ được lặp đi lặp lại nhiều lần trong tập truyện này). Vâng có thể như thế lắm, nhưng ở đây Trần Đức Tiến không là một thiền sư hay triết gia. Anh là nhà văn, anh “giải quyết” vấn đề lớn này kiểu khác, kiểu của nhà văn: đặt các “nhân vật” của mình trong hoàn cảnh đặc thù để mở ra một hướng chuyển đặc thù cho câu chuyện.

Hãy thử xét nhân vật “chàng” trong Tỉnh giấc. Chàng bơi bồng bềnh giữa hư và thực, mơ và ngủ, trong tình yêu mới / cũ và vợ. Chàng mơ mơ hồ hồ trong một cõi rất thực, thực đến não lòng. Đến nỗi “lúc đẩy xe ra cửa, suýt nữa chàng lại vấp phải vợ”! Bên kia là cái đẹp u uyên của cõi mộng: “chàng và cô nhân tình kém chàng mười bảy tuổi rủ nhau ra Hòn Bà”, bên này là bà vợ suốt ngày ngồi nhặt rau, nhắc chàng “qua phường, hỏi xem cái bìa đỏ”, là chuyện thiên nan vạn nan đối với chàng. Chúng ta bị cọ sát đến không còn manh mún giữa thực và mộng, giữa lí tưởng và thực tại. Cuộc sống chỉ thế thôi ư? “...nhặt rau. Nhặt cho bữa trưa. Nhặt cho bữa chiều. Như cả nghìn năm nay người đàn bà này chỉ có việc ngồi lo xa những bữa ăn như vậy: buổi sáng đã chập chờn bóng trưa, còn buổi trưa thì hoàng hôn đã chập chờn đâu đó rồi”.

Phi lí quá! Thế là có những cuộc ngoại tình.

Chúng ta biết truyện ngắn Ngoại tình của A. Camus xuất hiện vào những năm 40, đã làm bật nổi một vấn đề lớn. Không có một chi tiết nào gọi là ngoại tình ở đây cả: người vợ không chịu nổi cảnh bức bối, khô khát đến nghẹt thở trong căn phòng khách sạn với người chồng tẻ ngắt nằm bên cạnh, đã lên sân thượng (hay ban công?) chỉ để thưởng thức không khí trong lành và cái bao la của bầu trời nhiệt đới, trong chốc lát. Thế thôi, nhưng nó đã ám ảnh người đọc kì lạ. Bởi ở bề sâu thẳm tâm hồn chúng ta, nó có thật. Đó là vấn đề muôn thuở của con người, chắc chắn thế! – Một thoát li cuộc sống nhố nhăng tù túng giây lát để chiếm hữu miền cực lạc tạm thời. Như nhân vật P. một ngày kia chợt khám phá rằng “Lâu quá mình không bay”. Và ông thèm bay, dứt khoát phải bay: “Phải thoát ra khỏi vũng bùn hiện tại này. Phải thoát!”(Miền cực lạc). Dẫu lắm lúc nỗi thèm khát đau xé và gần như tuyệt vọng này đã phải trả một giá rất đắt: sinh mạng chúng ta. Nhưng chính nó đã làm đẹp cuộc đời, và làm đẹp văn chương, có lẽ.

Chắc sẽ có khối người muốn bắt bẻ lối vào truyện “Đã nhiều năm trôi qua... cho đến” như ở Miền cực lạc đã cũ quá cũ rồi; hay vụ cho nhân vật mang tên tắt M,. P., rồi thì nhân xưng đại danh từ: chàng, nó, y, lão...; hay đẩy nhân vật vào cõi hư hư thực thực... đã bị trường văn học phi lí phương Tây khai thác ráo rồi; hoặc thậm chí các đoạn văn như: “Một chuỗi những năm tháng dằng dặc đầy những nỗi vất vả và cực nhục. Cố lên, cố lên tí nữa! Văng vẳng bên tai lão lời thúc giục của ai đó. Và lão cố. Lão tiếp nhận mọi sự biến động của xã hội, tham gia các công việc, tranh đấu, giành giật... nhưng tất cả những điều đó cứ như là sự phân công của Thượng đế. Lão bị cuốn theo một cái chương trình sống đã được sắp đặt đâu vào đấy cả. Sống cuộc sống của kẻ khác” (Bão đêm)... không gì khác hơn là phái sinh của văn chương hiện sinh phương Tây (lại phương Tây!).

Nhưng với tôi, khi chúng ta tạm gạt tất cả sang bên, tập truyện Tuyệt đối yên tĩnh của Trần Đức Tiến đã giúp chúng ta tái khám phá chiều sâu, bề ẩn của tâm hồn con người hôm nay, những khía cạnh vi tế mà lâu nay trong những bon chen xô bồ thường nhật chúng ta đã bỏ quên; bên cạnh nhiều đoạn văn đẹp rất đáng để người đọc thưởng lãm.

TP. Hồ Chí Minh, 2004



(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
“Nhận” của Nguyễn Hoa

Trần Bá Giao

Nguyễn Hoa đến với thơ từ lâu...

Sự khẳng định của anh bình dị mà không ồn ào. Anh viết cho thiếu nhi, anh làm thơ về quê hương, đất nước, về Đảng, Bác Hồ kính yêu, về những người lính đã và đang bảo vệ Tổ quốc thân yêu, cứ tự nhiên, bình dị như con người anh vậy. Từ tập thơ Dưới mặt trời (Nxb QĐND - 1981) đến tập thơ Nhận (Nxb Quân đội Nhân dân, 2003) là một chặng đường không dài, nhưng đã in dấu ấn của một nhà thơ khá kỹ tính. Thơ anh giàu xúc cảm nhưng không kém phần sâu sắc. Khác với một số nhà thơ cố làm duyên với cái tôi của mình, qua cái tôi của Nguyễn Hoa, người đọc thấy được những cảm xúc chung của chúng ta. Trong khi một số người dường như e sợ khi nói về cái chung - nói về trách nhiệm công dân trước thời đại thì trái lại, Nguyễn Hoa vẫn tiếp tục có những vần thơ ngợi ca Tổ quốc, ngợi ca Bác Hồ, ngợi ca người chiến sĩ...

Mở đầu tập thơ là bài: Đất Tổ quốc:

Không chỉ có xương thịt

Máu, mồ hôi

Cánh cò, cánh vạc lặn lội

Khói trắng vờn bay mái rạ

Tiếng sáo diều chơi vơi...

Còn hồn bao đời

Người về đất...



Đất

Có mắt

Anh ánh nhìn

Linh

Không chia cắt

Không bán mua

Đất - Tổ quốc

Thơ ca cách mạng, thơ ca thời kỳ kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ có khá nhiều bài thơ ca ngợi Tổ quốc Việt Nam. Chắc hẳn chúng ta đã từng rung động trước những câu thơ đầy suy tưởng, thiết tha, đằm thắm của Nguyễn Đình Thi, của Nguyễn Khoa Điềm khi nói về đất nước, nhưng Nguyễn Hoa muốn nhấn mạnh cái hồn của đất Việt, sự linh thiêng của Đất - Tổ quốc. Bởi vì trong đất ấy Còn hồn bao đời Người về đất...

Trong tập thơ Nhận có chùm bài Nguyễn Hoa viết về Bác Hồ. Anh đã khai thác những chi tiết rất nhỏ trong quá trình Bác đi tìm đường cứu nước cho đến khi Bác qua đời qua các bài thơ: Viên gạch ấy - hay sáng kiến của Người đã thành truyền thuyết, Người đã đi như vậy đến nước Nga, Nhớ Bác... Từ những chi tiết rất nhỏ như viên gạch của Bác đến câu nói: chú vặn đài to lên cho rõ tiếng người, Nguyễn Hoa đi đến một kết luận: Có ai con người - Con người như Bác?

Không chỉ nói về Tổ quốc, về Bác Hồ, Nguyễn Hoa đã dành phần không nhỏ số bài thơ trong tập thơ để nói về những người lính. Nào là những bài thơ về đồng đội của mình năm xưa như bài Tặng nhà thơ trẻ năm áo lính đã xa, ở nghĩa trang liệt sĩ Gio Linh, cho đến các bài thơ về những chiến sĩ Xô viết như Với các anh những người lính Xô viết, đến các cô gái - chiến sĩ trẻ hôm nay, đó là Trên đỉnh đèo Pha Đin, Ghi dọc đường Sáu.

Tôi rất thích những bài thơ Nguyễn Hoa viết về người lính - những đồng đội của anh. Bởi ở những bài thơ ấy, ngòi bút anh dung dị, tự nhiên, và bức chân dung người lính hiện lên thật tươi trẻ, đáng yêu:

Có điều chi xa thật xa

Đang thể mùa xuân nõn nà

Về đây chim sâm cầm quý

Những người lính trẻ bình dị

Ngả nghiêng vai núi đồi xanh

(Hồ Bến Quân)

Sẽ là thiếu xót khi nói về thơ Nguyễn Hoa mà không nói đến những bài thơ giàu cảm xúc, chan chứa tình quê như Hạt lúa vàng, Xuân đang về, Thu đã về, Với lá cỏ...

Sự tinh tế trong rung cảm tâm hồn đã giúp cho Nguyễn Hoa có được những câu thơ thật hay:

Như đang ở trong mơ

tôi không dám nói to

sợ màu non tơ xung quanh biến mất

giữa mùa xuân trong suốt!

(Với lá cỏ)

Gắn bó với quê hương, nhưng thơ của Nguyễn Hoa không gân guốc, không thô mộc, thơ Nguyễn Hoa có cái tạng của anh, một con người hiền hoà. Có cái gì đó duyên thầm trong thơ anh khi anh nói về tình yêu lứa đôi:

Se sẽ gió - Em đến tự bao giờ thon thả

Và mùa thu về cứ thoang thoáng như mơ

Và anh có thể của em - của thơ

Thu đã về - Tháng mười săm sắp chín!

Trong tập thơ Nhận, Nguyễn Hoa có khá nhiều bài thơ nói về mẹ. Gọi là khá nhiều chỉ là tương đối. Tuy nhiên, trong một tập thơ, có tới bốn bài nói về mẹ: Hạt lúa vàng, Nhận, Đất gụi gần, Mẹ, thì đó là một tỷ lệ không nhỏ.

Qua các bài thơ viết về mẹ, Nguyễn Hoa như muốn nói lên tiếng lòng của chúng ta, những người con khi nhớ đến mẹ kính yêu, những người mẹ:

Tóc mẹ bay trắng một khoảng trời

Khoảng trời đời con xa mẹ

áo nâu ngày ấy

Tay mẹ gầy ống có chùng ra...

Con biết bao tháng năm qua

Mẹ gánh trên vai tất cả

Bởi mẹ là Mẹ

(Mẹ)

Thơ của Nguyễn Hoa được viết dưới nhiều thể loại, phần nhiều là những bài thơ tự do. ở những bài thơ tự do ấy, Nguyễn Hoa biết phát huy thế mạnh của thể thơ tự do để bày tỏ những cảm xúc, suy tư của mình. Những cảm xúc, suy tư ấy, tự nhiên mà sâu sắc, bởi anh đã biết lựa chọn những hình ảnh, những ngôn từ đầy ấn tượng. Tôi rất thích những hình ảnh anh sử dụng trong bài Những bài thơ:

Địa chỉ bạn ghi

Tít tắp nơi xa

Mảnh giấy tôi giữ

Luôn trong ví...

Ví cứ xẹp xuống

Mỏng như mảnh giấy

Bạn ghi...

Mỏng đến khi

Trái tim tôi chạm vào

Mảnh giấy run rẩy

Rì rào

Về nỗi khát khao

Những người đi tới biển

Đây là bài thơ Nguyễn Hoa gửi Thanh Thảo, tác giả của tập trường ca Những người đi tới biển.

Trong tập thơ, Nguyễn Hoa có làm hai bài theo thể lục bát, bài Tiếng chim gọi mùa và Như lúa đợi sấm. Đây cũng là hai bài thơ hay. Sự kết hợp giữa những cảm xúc chân thực, bình dị, cùng với cách sử dụng các hình ảnh độc đáo, ấn tượng đã làm cho những câu thơ lục bát của anh thật mới mẻ:

Chiều sương trắng nhẹ mỏng tang

Dáng người thấp thoáng đồng làng ngẩn ngơ

Và kia ngọn gió tự do

Lật lên cái tứ bất ngờ cho thơ...

(Như lúa đợi sấm)

Phê bình thơ, dường như đều cần có những lời khen và cả những tiếng chê. Tập thơ Nhận của Nguyễn Hoa, tôi đã dành khá nhiều lời khen. Có thể người yêu thơ khác sẽ tìm thấy những điều còn khiếm khuyết trong thơ Nguyễn Hoa. Tôi chỉ xin mạo muội có đôi lời về những hạt sạn trong tập thơ Nhận của Nguyễn Hoa. ở một vài bài, anh còn dùng từ chưa được kỹ lắm. Chẳng hạn ở bài Hải đăng đảo Dáu, đầu câu thứ sáu: Thì ấy chiến tranh, nếu thay từ thì bằng từ thời, câu thơ sẽ sáng hơn. Hoặc như ở bài Trên đỉnh đèo Pha Đin, ở câu thơ: Cho các cô gái cười như nắc nẻ, anh thay từ cho bằng từ ơi, câu thơ sẽ được thơ hơn. Bởi ở câu thơ liền trên là một dấu “?”....

Khi viết bài phê bình về tập thơ Nhận của Nguyễn Hoa, tôi đã tự tin khi chọn ở những tập thơ xuất bản gần đây một tập thơ hay để phê bình. Lặng lẽ và khiêm nhường, tự mình biết vượt lên, thơ Nguyễn Hoa đến với tôi thật tự nhiên và sâu lắng.

Xuân 2004

(Phụ bản Thơ– Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Cỏ mặt trời của Nguyễn Thị Ngọc Hà

Vũ Nho

Tôi nhận được tập Cỏ mặt trời trong những ngày Hà Nội đã bắt đầu vào Hạ. Phượng đã đỏ tưng bừng và tiếng ve kêu rộn rã những vòm xanh. Công việc hành chính - sự vụ vẫn ngổn ngang, căng thẳng. Định đọc thử một bài Cúc Biển, bài thơ mở đầu tập rồi thôi. Nhưng đọc xong, có một điều gì đấy khiến phải đọc tập thơ một mạch. Một người phụ nữ khiêm nhường như bông hoa Cúc Biển hoang dại trong cằn cỗi vẫn đầy can đảm và tự tin:

Hãy để em hoang dại

Mãi mãi cùng biển xanh

Thơ hiền lành, thủ thỉ, không bao giờ cao giọng cũng là một biểu hiện khiêm nhường. Từng là giảng viên, nhưng trong cuộc đời, chị mãi mãi là một người đi học:

Học làm vợ, làm mẹ

học nuôi dạy các con mình

học cách đứng vững trước cuộc đời nghiệt ngã

bấm mười đầu ngón chân đi

giữa đường trơn mưa gió

dẫu bần hàn không thể luỵ ai

(Về thăm mẹ)

Là phụ nữ, chị đã từng yêu, từng đợi chờ khắc khoải, từng nếm trải Cái thời nhạt nắng nhàu mưa đợi người. Chỉ nỗi buồn héo úa không tên…

Trong tình riêng cũng như trong đời thường, như mọi người, chị cũng có những nỗi buồn riêng. Nhưng ở tập thơ này chị có một cách ứng xử rất tâm linh, thật đáng trân trọng với những câu thơ kỷ niệm yêu của một thời:

Em gói những mảnh thơ vô tội

Đốt ở nơi giông bão trái mùa

(Phía chẳng còn em)

Viết về bạn gái như thế này là phải hiểu lòng bạn lắm, và cũng giàu nỗi niềm đồng thanh đồng khí lắm:

Tôi nhìn vào mắt bạn

Lỡ chạm phải vùng đau

Giọt sầu như không bến

Cứ tràn về mắt nhau

(Bạn gái)

Với bạn thân đã vậy, với chị, Ngọc Hà có những câu thơ rưng rưng. Không chỉ là tấm lòng của một người em, mà còn là tấm lòng của những người Trót sinh làm phận gái với nhau. Đây là một trong những khổ thơ cảm động nhất viết về người phụ nữ mất mát trong chiến tranh:

Mâm cơm cũ vẫn nguyên một bát

Đũa một đôi, một bóng, một đèn

Nhà tập thể một khoang chín mét

Một gối đơn lạnh chiếc giường đơn

(Một đốm lửa)

Người đọc có thể nhớ tới câu thơ Hữu Thỉnh: “Một mình một mâm cơm. Ngồi bên nào cũng lệch. Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền…”. Nhưng hình ảnh thơ của Ngọc Hà hoàn toàn những con số 1, con số lẻ, cứ sừng sững hiện lên thành khối như một nỗi lẻ loi, đơn chiếc. Một hình tượng ám ảnh.

Đây là cửa thiền, nhưng liệu có đem lại chút bình yên, an ủi cho những kiếp người đau đớn (Đau đớn thay phận đàn bà - Nguyễn Du). Thế nên Ngọc Hà mới cảm nhận:

Lá đa rụng lõm sân chùa

Nghe đau tiếng chổi vãi khua cuối chiều

(Lên chốn Tiên du)

Có thể dẫn ra những câu thơ chị viết về thân phận người phụ nữ thật nao lòng:

Chín mùa cạn nước sông

Cháy chín mùa hoa gạo

Chín năm chị lấy chồng

Nhàu chín mùa dông bão

(Chín mùa hạ)

Con số chín bình thường kia, ngẫu nhiên chăng, cố ý chăng trùng với chín vía của người phụ nữ, nghe cứ rờn rợn như là một cuộc tìm vía gọi hồn, dù người được gọi đang còn sống.

Trong nhiều bài thơ bình thường, Ngọc Hà đã có những câu thơ khác thường, không thể đọc một lần.

Dấu chai sần hằn sâu trên cát

Nỗi nhọc nhằn phơi nắng chói chang

(Cỏ lông chông)

Chong đèn phơi nỗi dãi dầu

Người mua kẻ bán nát nhàu phố khuya

(Chợ đêm)

Phơi nắng chói chang là một sự nhọc nhằn vất vả hiển nhiên, nhưng phơi nỗi dãi dàu dưới ánh đèn khuya thì còn gay gắt dữ dội hơn là phơi nắng.

Là một phụ nữ, lại cũng đã là một người mẹ, nên Ngọc Hà có những vần thơ về mẹ thật đằm sâu. Với mẹ đẻ thân thiết, kính yêu đã là một lẽ thường tình, nhưng với mẹ chồng, chị cũng trân trọng thân thiết như mẹ đẻ. Người ta vẫn chưa quên bài thơ độc đáo của Xuân Quỳnh về mẹ chồng. Thi sĩ đã viết với lòng biết ơn: “Mẹ sinh anh để bây giờ cho em (Mẹ của anh). Nhưng ở thơ Ngọc Hà hình như còn có một nỗi gì hơn thế nữa. Chị ơn mẹ, thương mẹ dù mới là gặp lần đầu bà mẹ lam lũ xứ Nghệ:

… mẹ đẫm dưới mưa

Dầm bùn đi đón dâu vừa về thăm

Rầu lòng muôn nỗi khó khăn

Mừng con mà những nếp nhăn cũng cười

(Quê chồng)

Tiếng khóc mẹ đâu có phân chia mẹ đẻ với mẹ chồng:

Khản lời con gọi bên đường

Mỏi trông cánh hạc ngóng phương mẹ về

(Về Rộ)

Mẹ tôi cánh hạc đã mang về trời

Căn nhà quạnh quẽ đơn côi

(Quê chồng)

Người mẹ quê nghèo ấy đã cùng với những người mẹ không có yếm đào, đồng sâu lọm khọm, nắng cháy lưng, đào hầm dưới tầm đại bác hay vai gầy nhấp nhô giã gạo (*) làm nên hình ảnh người mẹ Việt Nam.

Nguyễn Thị Ngọc Hà không nói nhiều lắm về vai trò thi sĩ, không băn khoăn nhiều về nhà thơ, phận thơ. Nhưng với sự nhạy cảm của trái tim phụ nữ và một tâm hồn rộng mở, chị đã viết khá hay về ba nhà thơ Nguyễn Du, Phùng Quán, Trinh Đường và hai bạn thơ trong hai bài Bạn gái và Cái roi hành xác.

Trước một rừng lục bát muôn hồng ngàn tía mà Nguyễn Du tạo ra, Ngọc Hà vẫn có những câu ghi dấu ấn riêng mình:

Văn bia trầm lạnh bao mùa

Đặt tay con thấy hồn xưa ấm về

Và dường như khi viết về Trinh Đường: “Đắng cay mình lại nhâm nhi với mình” thì Ngọc Hà cũng đã gửi nỗi niềm mình trong đó, cái nỗi niềm … hoà rượu uống chung. Mặc chiều Hà Tây sắp cạn. Ta nhâm nhi đến tận cùng (Gõ cửa vô vi).

Với nhà thơ Phùng Quán, hình ảnh nhà thơ ngồi câu bóng trăng soi là một hình ảnh được vẽ bằng tấm lòng thơ và bàn tay hội hoạ.

Còn có thể nói về những chùa chiền, lễ hội, những heo may, dải yếm mong manh, dấu chân non nớt… Nhưng thôi. Hãy để bạn tự đọc và tự cảm. Còn tôi, xin nói thật gọn thế này: Cỏ mặt trời là một tập thơ hay, dù tác giả còn phải dụng công nhiều để có thể hay hơn nữa.n

Hà Nội 2-6-2004

(*) Thơ Nguyễn Duy: Mẹ ta không có yếm đào. Nón mê thay nón quai thao đội đầu.

Vũ Xuân Hoát: Mẹ qua sức vẫn đồng sâu lọm khọm.

Phạm Công Trứ: Thúng cắp nách nón đội đầu. Mẹ tôi đi chợ môi trầu đỏ tươi.

Tố Hữu: Nhớ người mẹ nắng cháy lưng. Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô

Dương Hương Ly: Mẹ vẫn đào hầm dưới tầm đại bác.

Nguyễn Khoa Điềm: Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối. Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng.

(Phụ bản Thơ – Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Vòng đời vây bủa - cuốn tiểu thuyết để đời của một cây bút trí thức (*)

Vương Trí Nhàn

Số phận đặc biệt của cuốn sách

Tiền Chung Thư. Vòng đời vây bủa (chữ Hán trong nguyên văn: Vi thành)… Có lẽ đối với nhiều bạn đọc Việt Nam hôm nay, kể cả các thày giáo các sinh viên, những người có yêu và tìm hiểu văn học Trung Quốc, cái tên đó chưa gợi ra một ý niệm gì cả.

Thế nhưng chúng ta hãy cùng đọc lại một ít tài liệu đăng tải trên chính báo chí in ở Hà Nội.

Báo Văn hoá số ra 10-6 -2001 dẫn lại nguồn tin của tờ báo tiếng Anh Tuần châu á: Một hội đồng gồm 14 nhà văn và giáo sư hiện sống ở đại lục cũng như Đài Loan, Hồng Kông, Malaysia đã thử tổng kết văn học thế kỷ XX bằng cách chọn ra 100 tác phẩm tiểu thuyết viết bằng Trung văn được xem là hay nhất, được bạn đọc yêu mến nhất. Trong danh sách này có Vòng đời vây bủa.

Còn đây là tin trên báo Văn nghệ số ra 25-10-2003: Mạng Tân lãng (làn sóng mới) mở cuộc bình chọn qua mạng một danh sách những cuốn gây ảnh hưởng nhất đến người Trung Quốc thế kỷ XX. Cuộc bình chọn lần này không chỉ bao gồm tiểu thuyết mà cả sách nghiên cứu khảo luận. Bên cạnh những Gào thét, Nửa đêm, Một nửa đàn ông là đàn bà, Phế đô… thì Vòng đời vây bủa lại có mặt.

Qua các tài liệu Trung văn, in ở Bắc Kinh, Thượng Hải v..v.. người ta được biết thêm: Tác phẩm này thường được đưa vào thành mục riêng trong các bộ từ điển văn học mới xuất bản. Lại cũng thường được miêu tả như một sự kiện quan trọng của cái năm mà nó ra đời. Theo cuốn Trung học sinh trung ngoại văn học danh trứ đạo độc (NXB Hoa Kiều, Bắc Kinh, 2001), Vòng đời vây bủa nằm trong danh sách những cuốn tiểu thuyết kinh điển mà từ sau 1976, Bộ Giáo dục Trung Quốc quy định học sinh bắt buộc phải đọc.

Trong thực tế xuất bản, từ 1980 tới 2003, riêng nhà xuất bản Văn học nhân dân đã in và phát hành 24 lần tổng số bản in lên tới 710.000 bản.

Ngược lại quá khứ: Ra đời 1947, Vòng đời vây bủa được in lại liên tục trong các năm 1948-1949. Chẳng những thế, tác phẩm cũng sớm được giới nghiên cứu ngoài nước chú ý. Trong cuốn A History of modern Chinese Fiction (Lịch sử tiểu thuyết hiện đại Trung Quốc), in ra ở Yale University Press, New Haven 1961 bên Mỹ, Vòng đời vây bủa được tác giả là nhà nghiên cứu gốc Hoa là Hạ Chí Thanh (C.T.Hsia ) đặc biệt ưu ái. Ông cho rằng đây “có lẽ là truyện dài có giá trị nhất trong văn học Trung Hoa hiện đại: truyện hấp dẫn, văn điêu luyện, mỉa mai thú vị, tính cách nhất trí, bố cục chặt chẽ” (Nguyễn Hiến Lê dẫn lại trong Văn học Trung Quốc hiện đại, 1898-1960, S.1969)

Trong sự biến động muôn màu muôn vẻ của đời sống, Vòng đời vây bủa gợi cảm tưởng một giá trị chân chính, có thể do lý do nào đó nhất thời nó bị quên lãng, nhưng về sau lại người ta lại phải nhớ đến nó. Đại khái, so với tình hình bên Việt Nam, thì cũng giống như trường hợp cuốn Số đỏ. Xếp xó một thời và tái sinh rực rỡ. Tức thuộc về những gì người ta phải đọc mãi.

Một cách tồn tại trong văn học

Trong lịch sử văn học Trung Quốc từ sau 1949, một thời gian dài, Tiền Chung Thư (1910-1998) chỉ được biết đến như một nhà nghiên cứu văn thơ cổ. Năm 1962, một bộ Lịch sử văn học Trung Quốc đồ sộ đã được biên soạn và in ra ở Bắc Kinh, sau đó được dịch ra nhiều thứ tiếng trong đó có tiếng Việt (1963). Người chủ biên phần văn học Đường Tống của bộ sách này chính là Tiền Chung Thư.

Kèm bên tên ông, đã có lúc người ta đọc được chức danh: Phó chủ nhiệm Viện khoa học xã hội. Tuy nhiên, với việc đi sâu vào văn học cổ điển, có lẽ cái chính khiến ông tồn tại được là ở phần chuyên môn thuần tuý. Công trình được nhắc nhở nhiều nhất của ông hồi ấy là bộ Tống thi tuyển chú. Một ví dụ cho thấy cách làm của ông: Có một tác giả nổi tiếng là Văn Thiên Tường. Bài thơ Chính khí ca của nhà thơ này, như lời dẫn của Nguyễn Hiến Lê trong Đại cương văn học sử Trung Quốc (in ở Sài Gòn trước 1975 và gần đây đã được tái bản) “tráng liệt như cầu vồng bắc ngang trời”. Nhưng lúc làm tuyển tập nói trên, Tiền Chung Thư không chọn. Ông không tuyên bố, nhưng có thể đoán là đối với ông, văn thơ tồn tại là ở chất lượng nghệ thuật chứ không phải cái phần nội dung hôi hổi kích động lòng người. Mười năm động loạn (Cách mạng văn hoá), đã có lúc người ta hạch ông về việc này. Cũng may, nhờ có công lớn trong việc dịch Thơ từ Mao Trạch Đông ra tiếng Anh, mà ông thoát nạn.

Cho tới trước 1976, nếu chỉ đọc các tài liệu chính thức, thì chắc chắn không ai biết đến con người sáng tác ở Tiền Chung Thư. Chúng tôi không có tài liệu nói rõ nội tình của giới văn học đại lục thời gian ấy, chỉ dự đoán tác phẩm của ông không thuộc “giai điệu chính”, nên người ta lờ đi coi như không có, phần chủ quan thì ông thây kệ, chẳng buồn đòi hỏi. Mà thế cũng phải. Cùng viết với ông hồi trước 1949, có một nhà văn cũng nổi tiếng là Lý Cật Nhân. Ông này có cuốn Tử thuỷ vi lan (Nước đọng sóng nhỏ) viết từ 1937, nay muốn được in lại, liền mang sửa chữa cho hợp thời, rút cục chỉ gây trò cười cho đồng nghiệp. Tiền Chung Thư có quan niệm khác. Thà sống trong im lặng, thà bị lãng quên, chứ không chịu theo thời. Trong đời sống văn học hiếm có người có được một cuốn sách hay như thế, lại dám từ bỏ việc sáng tác như thế. Từ bỏ vinh quang trước mắt bởi biết rằng tác phẩm của mình là thuộc về cái phần vĩnh viễn lâu dài. Đây là cái điều chỉ những người có niềm tin lớn nơi mình mới làm nổi.

Đâu là chỗ không thể thay thế được của Vòng vây cuộc đời ?

Từ các tác phẩm Nửa đêm của Mao Thuẫn, Gia đình của Ba Kim, Tứ thế đồng đường của Lão Xá, đến những tác phẩm mới dịch in mấy chục năm gần đây, Biến đổi ở Lý gia trang, Tam Lý loan của Triệu Thụ Lý, Bài ca tuổi trẻ của Dương Mạt, Đá đỏ của La Quảng Bân, Dương ích Ngôn… người ta có thể đọc ra một nét chung của tiểu thuyết Trung Quốc thế kỷ XX là sự ưu tiên cho các đề tài đấu tranh xã hội. Kinh nghiệm lịch sử của nước Trung Hoa dạy các nhà văn tập trung vào những vấn đề lớn chi phối vận mệnh con người và xã hội.

Đặt trên cái nền chung này, Vòng đời vây bủa hiện ra như một cái gì khác hẳn. Trước câu hỏi thế nào là vấn đề lớn, ông có cách trả lời riêng. Nếu những tác phẩm nói trên chú ý tới cái phần rực rỡ, sôi nổi, những gì nổi lên trên bề mặt ở xã hội và con người, thì Tiền Chung Thư chú ý tới cái phần bình thường mờ xám khuất lấp nhưng lại dai dẳng tồn tại nơi họ. Cuộc đời trong sách của Tiền Chung Thư gợi ra cảm giác vừa vui vừa buồn vừa hài hước vừa bi thảm, mọi thứ dang dở nhoè nhoẹt mà không sao có được đường viền cho rõ rệt. (Nghe tới chỗ này những người hiểu biết văn học Nga hẳn nhớ trường hợp Tchékhov: người ta bảo rằng ông không miêu tả con người lên bắc cực để đánh nhau với gấu, con người trong tác phẩm của ông chỉ ở nhà ăn xúp và cãi nhau với vợ. Nhưng chính vì thế mà Tchékhov được coi là người đổi mới văn xuôi cổ điển Nga). Tuy bối cảnh được miêu tả trong Vòng đời vây bủa là một giai đoạn cực kỳ rối ren trong lịch sử Trung Quốc, song nó chỉ hiện ra như một cái nền với những nét phác hoạ sơ sài. Người ta chỉ mang máng cảm thấy nó qua vài câu giao đãi xa xôi. Còn nổi lên rõ hơn cả là sự trôi nổi bất lực cùng cái chán ngán buông trôi của những con người rất bình thường nếu không nói là có nhiều khía cạnh tầm thường. Họ không có cái cuồng nhiệt muốn lý giải đời sống. Càng không có cái ham hố muốn tính chuyện tác động vào nó nhằm thay đổi nó. Trong cảnh long đong lận đận, Phương Hồng Tiệm với vốn kiến thức học ở phương Tây về cũng không biết nên làm gì. Loanh quanh chỉ thấy anh ta phải đối mặt với những chuyện bình thường. Nhu cầu tình cảm (tình yêu). Hoặc quyết liệt hơn là việc kiếm sống (đi dạy học). Khía cạnh chính trong con người anh ta chính là cái sự thất bại, sự bất lực. Theo như cách nói của cuốn Trung học sinh Trung ngoại danh trứ đạo độc đã nói ở trên, Vòng đời vây bủa không thuộc loại tiểu thuyết phúng thích như Nho lâm ngoại sử, cũng không thuộc loại ngôn tình (đi sâu vào tình yêu), mà phải gọi đây là một thứ tiểu thuyết nhân tình thế thái, nó chủ y?u miêu tả những chỗ yếu và biểu hiện cái hoang lương quạnh quẽ của kiếp nhân sinh. Cần nói thêm là khi miêu tả loại nhân vật như vậy, rõ ràng tác giả không có ý định nêu gương cũng không định đưa nhân vật ra làm mẫu cho mọi người. Ông chỉ ghi nhận anh ta như một con người có thật, hèn kém ư, cao thượng ư, cái gì con người ấy cũng có. Nhưng có lẽ chính vì thế mà cuốn sách và nhân vật trở nên gần gũi với bạn đọc. Phương Hồng Tiệm cũng như các nhân vật khác, bạn của anh ta, người yêu anh ta và vợ anh ta không thuộc riêng về thời nào, mà có tính cách phổ biến, thời nào cũng có.

Một hướng phát triển của tiểu thuyết

Trong hệ thống tiểu thuyết cổ điển của Trung Quốc, nếu những Tam quốc Thuỷ hử tiêu biểu cho loại tiểu thuyết anh hùng thì Kim Bình Mai mở ra một hướng mới là loại tiểu thuyết đời thường. Đến Nho lâm ngoại sử, bản thân cái tên ngoại sử cũng đã xác định một phần nội dung tác phẩm: chữ ngoại sử bao hàm cái ý người viết muốn giao hẹn trước là ở đây không nói những chuyện trong sử sách chính thức đã nói, mà chỉ nói những chuyện lâu nay bị coi là chuyện bên lề, chuyện ngồi lê đôi mách; không muốn đi vào những cái hùng vĩ cao cả mà chỉ nói những chuyện có vẻ tầm thường, vụn vặt, thường khi là chuyện cười dở khóc dở. Thế nhưng ngẫm cho kỹ, giữa hai cái đó thật ra cái nào là chính cái nào là phụ thì rất khó. Bởi chuyện bên lề chuyện lặt vặt nhiều khi lại ám ảnh con người, chi phối họ, làm cho họ sướng vui đau khổ hơn mọi thứ chuyện gọi là chính của cuộc đời. Theo cách nhìn nhận đó, có thể nói loại tiểu thuyết như Kim Bình Mai là một hướng ghi lại lịch sử theo con mắt dân gian. Nó bổ sung cho thứ lịch sử chính thống khô cứng giả tạo một vẻ sinh động tự nhiên. Và ở giai đoạn cuối của văn học trung đại, hướng ghi chép cuộc đời như thế này đã phát triển thành cả một hướng tư duy văn học, nó cũng là điều kiện tự nhiên để Trung Quốc tiếp nhận và làm giàu thêm cho mình những quan niệm tiểu thuyết của phương Tây.

Lý do khiến cho trong các tài liệu nghiên cứu về văn học Trung Quốc hiện đại nhiều người gọi Vòng đời vây bủa là một thứ Nho lâm ngoại sử hiện đại trước tiên là ở nội dung: Cuốn tiểu thuyết độc đáo của Tiền Chung Thư không chỉ nói đến cái ước vọng cao xa mà cả sự hèn yếu của giới trí thức, sự bất lực đáng thương trong cái đời thường mòn mỏi vô nghĩa của họ. Rồi cái nội dung lùng nhùng làng nhàng đó được chuyển vào hình thức: ở đây, đời sống được kể lại không phải bằng cái giọng vổng lên chói tai kiểu những lời kêu gọi hoặc những lời kết án cay nghiệt và chửi bới tùm lum. Mà bao trùm ở đây là một thứ giọng đều đều của một kẻ bình tĩnh chấp nhận mọi chuyện và không thôi hứng thú khi thấy cuộc đời lại kỳ cục đến thế. Điều này rất đúng với các định nghĩa về tiểu thuyết được lưu hành rộng rãi ở phương Tây. (Chẳng hạn, đây là định nghĩa của W. Kayser “Câu chuyện về thế giới nói chung, được kể theo lối cao giọng , được gọi là sử thi. Còn câu chuyện về thế giới riêng tư được kể một cách vui vẻ hồn nhiên, được gọi là tiểu thuyết”). Có điều lạ là đồng thời, trong hình hài của nó, Vòng đời vây bủa lại có dáng dấp của một cuốn tiểu thuyết đặc Trung Quốc. Nặng về kể hơn là tả. Không quá chú trọng tâm lý mà chỉ diễn tả tâm lý qua hành động. Cái hình của truyện cũng không cần phải công phu tạo dựng, đại khái có người là có truyện, kể về người đến đâu, truyện phát triển theo đến đó. Đây là lối viết tiểu thuyết đã thấy từ các bộ truyện cổ điển nay còn tái xuất hiện những cuốn mới nổi trong thế kỷ XX như Rừng thẳm tuyết dày, hoặc gần đây hơn là trường hợp cuốn Phế đô của Giả Bình Ao. Đặt vào cái mạch này, Vòng đời vây bủa là một mắt xích tự nhiên và cũng có thể nói là cần thiết nữa.

Một cảm hứng thống nhất

Nhận xét về nhân vật Phương Hồng Tiệm, giáo trình Văn học hiện đại của Đại học nhân dân Trung Quốc (in ở Bắc Kinh năm 2001 ), bảo rằng anh ta không phải là anh hùng mà cũng không phải là quỷ ác, anh ta chỉ là người bình thường. Sự bình thường nói ở đây đồng nghĩa với đa dạng, nhiều sắc thái.

Vẻ bình thường hiểu theo nghĩa sự thống nhất của những mặt đối lập ấy ở Vòng đời vây bủa còn thấy được lặp lại ở nhiều khía cạnh khác:

- Về triết lý nhân sinh, cuộc đời ở đây là thứ vừa khiến người ta chán ngán vừa không thôi quyến rũ, yêu không được mà ghét cũng không được. Cái nhìn của tác giả vừa lạc quan vừa bi quan.

- Về sắc thái thẩm mỹ, giọng văn trung hoà, ẩn sau những lời miêu tả vô tình là nụ cười ý nhị.

- Trên nét lớn, tác phẩm vừa gợi cảm giác rất tây, vừa Trung Quốc một cách tự nhiên, trộn không lẫn như trên vừa nói.

Điều này cũng thấy rõ trong vận mệnh ngòi bút tác giả.

Tiền Chung Thư vốn có tên tự là Mặc Tồn. Mặc ở đây tức là im hơi lặng tiếng, tồn là còn (như trong chữ tồn tại), có thể bảo mặc tồn là sống trong quên lãng cũng không sai. Nhìn lại cuộc đời tác giả Vòng đời vây bủa, người ta thấy ông đã xếp đặt đời mình đúng như vậy: khiêm cung, lặng lẽ, tưởng như là nhạt nhẽo, tên tuổi không bao giờ thành chuyện thời sự, lại chắc chắn không là cái đích để bàn luận. Song vẫn có thể nói những đỉnh cao chói lọi mà một nhà văn Trung Quốc thế kỷ XX có thể đạt tới thì ông cũng đạt tới. Sách văn học sử hiện đại phải có những chương riêng để viết về ông. Ngày ông qua đời được coi như là một sự kiện. Trong lúc cao hứng, có người còn mệnh danh ông là một thứ đỉnh núi Côn Lôn trong văn hoá. Và có điều chắc là những gì ông viết rồi ra còn được đọc mãi. Nhận rằng ông đã miêu tả rất giỏi cái cảm giác về sự phong bế vô tận mà mọi kiếp nhân sinh phải chịu - tức cũng là nói ông lại đã thoát ra khỏi thứ thiên la địa võng trùng trùng điệp điệp đó để dám là mình, nhởn nhơ là mình. Một cuộc đời như Tiền Chung Thư và một cuốn sách như Vòng đời vây bủa cuối cùng gợi cho người ta cảm tưởng đời sống văn học vốn muôn hình muôn vẻ, nhiều tầng nhiều lớp, luôn luôn người ta có thể nhắc lại câu Kiều ở trong còn lắm điều hay. Mà cái cách tồn tại trong văn học thì chẳng ai giống ai, làm cho người đời phải đọc cố nhiên là khó rồi, làm cho người ta đã định quên đi mà quên không nổi, vẫn phải đọc phải nói tới, lại có phần khó hơn nữa.



(*) Lời giới thiệu viết cho Vòng đời vây bủa, bản dịch của Sơn Lê. Nxb Hội Nhà văn, 2000

(Báo Văn nghệ).
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Đền Hùng- thơ cảm xúc về nguồn

Kim Dũng

Đền Hùng - Thơ (Nxb Hội Nhà văn 2004) là một tập hợp tương đối đầy đủ các tác giả viết về Đền Hùng, gồm thơ chữ Hán, chữ Nôm và quốc ngữ từ những thế kỷ trước đến những năm tháng gần đây - Trong đó, có nhiều nhà thơ mà tên tuổi và tác phẩm đã quá quen thuộc với người yêu thơ hôm nay và kiều bào ở nước ngoài hướng về Đất Tổ.

Các Vua Hùng và lễ hội Đền Hùng, các truyền thuyết về thời Hùng Vương dựng Nước, các tên đất, tên làng ở đây đều khơi gợi nguồn cảm hứng sáng tạo thơ ca của các tác giả xưa nay và đã để lại nhiều bài thơ, câu thơ hay viết về Đất Tổ thiêng liêng, nơi cội nguồn của dân tộc.

Trong khuôn khổ bài viết, xin điểm một số bài thơ của các tác giả thơ đương đại viết về đề tài này.

Từ ngọn núi Hùng, trong những năm chống Mỹ, cứu nước, nhà thơ Nông Quốc Chấn, nhìn bốn phương trời đất với niềm tự hào dân tộc, tin tưởng vào con đường cách mạng đang mở ra rạng rỡ tương lai, lời thơ đầy cảm khái:

Đứng trên ngọn núi Hùng

Nhìn bốn phương trời đất

Bốn nghìn năm sau lưng

Rực rỡ đường trước mặt

(Đường trước mặt)

Trong trường ca: Mặt đường khát vọng, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã suy tư nhiều về Đất Nước, về con cháu Rồng Tiên, về nơi cội nguồn dân tộc với đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", một truyền thống vô cùng quý báu:

Những ai đã khuất

Những ai bây giờ

Yêu nhau và sinh con đẻ cái

Gánh vác phần người trước để lại

Dặn dò con cháu chuyện mai sau

Hàng năm ăn đâu, làm đâu

Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ.

Từ Truyền thuyết về hạt giống - Nhà thơ Hữu Thỉnh lại nghĩ thương Tổ tiên lam làm vất vả, phải chống chọi với thiên nhiên, thú dữ để vượt lên bảo tồn cuộc sống, mở ra nền văn minh châu thổ sông Hồng, khơi nguồn từ cây lúa nước:

Trăm thứ bánh biết làm nên

thơm thảo

Trong mắt vua tôi vơi bớt màu rừng

Người yêu đất mình hơn vì đất sinh ra lúa

Lau sậy lùi xa, khi trâu lội

xuống đồng.

(Truyền thuyết về hạt giống)

Trước sông Hồng, nhà thơ Trần Mạnh Hảo lại băn khoăn tự hỏi: "Vì sao Lạc Long Quân lấy sông Hồng làm đuốc/ Soi nước Văn Lang từng bước Tiên Rồng" và anh chợt hiểu: "Vì sao hạt thóc/ Lại mang hình con mắt mỏi mòn trông". "Hạt thóc mang hình con mắt" là một phát hiện của nhà thơ với cư dân nông nghiệp làm ăn còn lệ thuộc vào thiên nhiên: "Trông trời, trông đất, trông mây" để rồi nhà thơ lại tự ru mình đằm trong dòng lục bát rất tài hoa, sâu lắng đầy thương cảm với những người nông dân khi mùa màng thất bát:

Ngủ đi mà hoá cánh đồng

Mẹ đi mót lúa, lúa không hạt nào

Sông Hồng lụt cả ca dao

Con cò bị bão giạt vào lời ru.

Sau chiến thắng 30-4-1975, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc - các nhà - thơ - áo - lính trở về thăm Đền Hùng - Mộ Tổ với niềm tự hào về dân tộc, về đất nước - Quá khứ chắp cánh cho hiện tại bay lên: "Hai cánh thời gian đập sáng một con đường" (thơ Phạm Tiến Duật).

Sau cuộc chiến trở về, nhà thơ quân đội Phạm Ngọc Cảnh lại muốn nói với bạn bè: "Đêm nay mình ngủ cuối Phong Châu" - Dưới chân núi Hùng để mơ thấy bóng dáng các Vua Hùng đón tấm lòng dân dã, xin đừng lay động giấc mơ anh - Một giấc mơ khát khao của người lính:

Nhưng thôi, đêm nay cho mình được ngủ

Cuối Phong Châu sau cuộc chiến

tranh này

Mai biên giới phía nào gọi tên mình

đến giữ

Cũng xin đừng lay động giấc đêm nay.

Nhà thơ quân đội Nguyễn Đức Mậu, lại như con thuyền ngược dòng truyền thuyết trôi vào trong mơ màng xanh thẳm để tìm lại cội nguồn dân tộc: "Trong Đền Hùng tĩnh lặng khói hương rơi/ Tôi như con thuyền trôi vào xanh thẳm" - Như có gì bâng khuâng, xao xuyến của người lính sau mùa: "áo Trận" trở về, còn có bao điều muốn nói.

Đền Giếng ở khu di tích Đền Hùng cũng là một đề tài được các nhà thơ gửi gắm nhiều tâm sự với hai nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa. Với Bàng Sỹ Nguyên mơ màng ngồi bên giếng Ngọc để nghe lá mùa đi, tiếng vọng của thời gian sâu thẳm: "Bên giếng tôi ngồi nghe lá rụng/ Tự lòng sâu vọng tiếng thời gian" và để thấy hình ảnh: "Công chúa làm nương về chải tóc/ Cười với gương xanh má ửng hồng".

Còn với nhà thơ Nguyễn Đình ảnh Vào thăm Đền Giếng lại nghĩ về sức sống bất diệt, trường tồn của một dân tộc: "Bão giông giặc giã liên miên/ Mà sao nước vẫn trong nguyên đến giờ" và rồi nhà thơ bâng khuâng tự hỏi: "Đứng bên miệng giếng sững sờ/ Ai từng soi để bây giờ là tôi".

Xóm núi "Thậm Thình" là tiếng tượng thanh, tương truyền là nơi dân làng giã gạo để dâng tiến vua bánh chưng, bánh dày những ngày lễ hội, đã vào hồn thơ của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi - Đây là một trong những bài thơ hay viết về Đền Hùng với thể thơ lục bát nhuần nhuyễn, hào hoa, đột khởi, nhịp nhàng, uyển chuyển như những khúc múa dân dã tuyệt đẹp của các thôn nữ như những nàng tiên sa và cũng đầy nghĩa tình nước non:

Trăm cô gái tựa tiên sa

Múa chày đối với chày ba rập rình

Đêm đêm tiếng "Thậm" tiếng "Thình"

Cối gạo đầy cả nghĩa tình

nước non…

(Qua Thậm Thình)

Nhà thơ Bằng Việt - nhớ lại tuổi thơ: "Thức ngủ giữa rất nhiều truyền thuyết/ Trời đất vuông tròn như bánh dày bánh chưng"… qua người bà kể chuyện Lang Liêu, với tấm lòng hiếu thảo, nhân hậu ở đời: "Bà tôi chỉ thích việc đời có hậu/ Suốt đời muốn tôi tin chuyện Lang Liêu" - Và rồi nhà thơ chiêm nghiệm quá nửa đời người mới thấy cái giá phải trả cho truyền thuyết khi nhận ra ý nghĩa của cuộc đời: "Tôi mất nửa đời trả giá cho truyền thuyết/ Miếng bánh còn nguyên ý nghĩa ngày xưa".

(Bánh chưng bánh dày)

Sau "Chín năm là một Điện Biên" - trên đường về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, Bác Hồ vào thăm Đền Hùng - Người nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên phong: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước/ Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước" - Vũ Đình Minh đã "chớp" được tứ thơ này, khắc hoạ hình ảnh anh "Bộ đội Cụ Hồ" rất giản dị: "Bao gạo chéo trên lưng/ Vai áo bạc/ Súng tựa vai/ Mũi lưới nhấp nhô"… ngồi quây quần bên Bác dưới mái đền rêu phong cổ kính mà ấm cúng vô cùng để nghe lời Bác ân cần nhắc nhở: "Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước non này".

"Trước một vùng Đất Tổ" - Nhà thơ Hà Văn Thể lại say sưa tắm mình trong: "Rừng cọ đồi chè", màu xanh trung du "Xanh vào trong mắt" và anh bâng khuâng tự hỏi: "Bóng cây nào mát buổi Bác lên thăm". Và nhà thơ lại thấm thía những lời Bác dạy: "Mỗi tấc đất của cha ông để lại/ Điều suốt đời chúng con chẳng dám quên".

Đến với Đền Hùng, nhà thơ Nguyễn Hưng Hải lại muốn "Trò chuyện với cây chò" - Trước bao người đến cầu may, cầu lộc, hỏi lòng có trong sáng không, trước anh linh các vị Vua Hùng. Có ai biết được: "Ai nhớ, ai không"? Chỉ có cơn mưa là trong sạch mọi tâm tư:

Bọc trứng Âu Cơ vỡ ra trăm tiếng khóc

Khói hương gọi về

Ai nhớ

Ai không

Khát một cơn mưa sau hội

Đền Hùng.

Đền Hùng - Thơ còn nhiều bài thơ của các thế hệ thơ viết về Đất Tổ: Xuân Thuỷ, Chế Lan Viên, Nguyễn Xuân Sanh, Vương Trọng, Hoàng Minh Châu, Ngô Văn Phú, Vũ Quần Phương, Phan Hách, Vân Long, Nguyễn Hoành Sơn, Lâm Quý, Trần Quang Quý, Lâm Thị Mỹ Dạ, Đoàn Thị Lam Luyến, Kim Dũng, Nguyễn Cảnh Tuấn, Đỗ Bích Thuỷ, Trịnh Hoài Đức, Trần Dư, Ngô Kim Đỉnh mỗi người, mỗi tứ làm cho tập thơ phong phú như những bông hoa thơm thảo nhiều hương sắc thành kính dâng lên tưởng nhớ công đức các Vua Hùng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Lãnh tụ thiên tài, cứu tinh của toàn dân tộc.

Các Vua Hùng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mãi mãi là nguồn cảm hứng sáng tạo của các nhà thơ với niềm tự hào của dân tộc. Đó là cảm xúc về nguồn, là tình cảm thiêng liêng của mỗi người dân con cháu Tiên Rồng: "Uống nước nhớ nguồn" - Hằng năm vịn vào câu ca mà về giỗ Tổ như nhà thơ Nguyễn Hoành Sơn vẫn cứ ước ao: "Theo mẹ về nguồn":

Lòng người vẫn cứ ước ao

Hằng năm vẫn vịn ca dao tìm về.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Đoọc va trên núi đá

Phạm Quang Trung

Tập thơ in chung - Lò Ngân Sủn và Pờ Sảo Mìn


Hội Văn học nghệ thuật Lào Cai xuất bản năm 1973

Đó là tên một bài thơ được nhà thơ dân tộc PaDí - Pờ Sảo Mìn viết vào năm 1973. Đoọc va, tiếng địa phương, là hoa - Hoa trên núi đá. Tôi muốn dùng trọn vẹn tên bài thơ để đặt cho bài viết của mình về chính thơ anh - nhà thơ dân tộc thiểu số mà tôi đặc biệt yêu quý. Và xem ra, anh cũng quý mến tôi, như tình cảm anh từng dành cho bao bạn văn trên khắp đất nước đa dân tộc chúng ta. Tháng 10/1998, tôi gặp Pờ Sảo Mìn ở Đà Lạt. Anh chép tặng tôi bài thơ mới viết, chưa thật hoàn thiện, còn phải tiếp tục chỉnh sửa, có tên Con trai người PaDí. Phía trên chữ ký đề tặng là dòng chữ nắn nót: Bạn của nhau. Tôi xem đó là một kỷ vật nghề nghiệp quý giá, không dễ có trong đời. Và, rất ngạc nhiên là dòng chữ vừa quen vừa lạ trên cứ xoáy vào suy nghĩ của tôi, khi tôi nghĩ về anh, về thơ anh, và nói chung về thơ các dân tộc thiểu số nước ta.

Bạn của nhau, chưa ai đề tặng tôi như thế trong hàng trăm, hàng trăm cuốn sách bạn bè. Tôi thấu hiểu dòng tự bạch này của Pờ Sảo Mìn: Lại là một đứa trẻ mồ côi từ nhỏ; từ lúc 7 - 8 tuổi đã phải sống cuộc sống tự lập và tự do hoàn toàn. ít có sự nuông chiều, dạy dỗ của thân nhân... Có lẽ chính vì thế, tôi rất thích, rất yêu bạn bè gần xa và thiết tha yêu cuộc sống vô cùng (Nhà văn Việt Nam Thế kỷ XX, Tập 20, tr. 200). Rồi bằng thơ, anh viết:

Đã yêu là yêu nhiều yêu mãi

Yêu cho hết tận cùng man dại

Suốt cuộc đời không hận thù ghét bỏ với ai

Đi chín phương trời là chín phương bè bạn

Đến mười phương đất là mười phương thương nhớ

Bạn ơi!

Anh mang trái tim tràn ngập yêu thương đi khắp đó đây. Để dâng hiến cho mọi người. Để tạo cảm thông, để cùng sẻ chia bao nỗi buồn vui, được mất ở đời. Bạn bè mọi miền gặp anh, tiếp nhận tình cảm chân tình, bao la ấy, rồi đáp lại cũng bằng tình yêu thương ngập tràn như thế. Tấm lòng của anh tìm được rất nhiều sự đồng điệu. Nhờ vậy, tiếng thơ anh cũng tìm được rất nhiều sự đồng điệu. ở khắp mọi nơi. Không hề có sự cách biệt về tộc người, về địa lý.

Riêng với tôi, việc tìm đến thơ Pờ Sảo Mìn còn do một sự thúc bách khác. Tôi học đại học ở Việt Bắc, ra trường, dạy học ở Tây Bắc suốt 10 năm trời. Những năm tháng đầy gian khó mà chất chồng bao khát khao nghề nghiệp, khao khát văn chương. Việt Bắc và Tây Bắc, giống mà khác nhau lắm đấy! Nghệ thuật, thi ca cũng vậy. Tôi ấp ủ một ao ước phát hiện sự khác biệt về chất thơ của hai miền đất rất đỗi thân thương ngay từ những ngày tháng ấy. Thơ Pờ Sảo Mìn phần nào đáp ứng khát vọng tìm tòi ấy trong tôi. Càng đọc, tôi càng nhận ra rất nhiều đá, rất nhiều hoa đá trong thơ anh. Đó là kết quả tự nhiên của Tình đá: Đá thương cây/ Cây thương đá/ Sinh ra hoa/ Mọc ra quả. Đá ấy, hoa ấy, quả ấy, hóa ra cũng có tên riêng, vì có đời sống rất riêng khi ta trở nên gần gũi, thân quen với chúng. Bao bí ẩn chợt hé lộ. Thì ra, chúng chỉ hé lộ ra trước những con mắt hữu tình. Khi đó thì:

Chẳng thể thiếu đâu cây mọc trên đá
Chẳng thể thiếu đâu hoa mọc rất lạ

Xin cảm ơn Pờ Sảo Mìn đã cho tôi thêm một bằng chứng về sức mạnh của thi ca, của nghệ thuật. Nhờ có chúng mà ta trở nên giàu có, giàu có đến khó ngờ:

Và bỗng dưng ta giàu hơn tất cả
Khi ta nghĩ: "Bầu trời mặt đất... cũng là Ta".

Đọc Pờ Sảo Mìn tôi bắt gặp rất nhiều điều lạ. Lạ nhất tập trung ở nơi con người. ở tầm đứng: Trên đầu anh có/ Một mặt trời đỏ/ Dưới chân em tỏ/ Một bầu trời xanh. Cao, cao lắm, cao vòi vọi. Như huyền thoại:

Cánh tay vung hóa năm vùng gió lộng
Vòng tay ôm gọn đồng cỏ trong lòng

Thật kỳ vĩ, cái sức mạnh của cánh tay con người! Cũng thật kỳ vĩ, cái khoảng rộng của vòng tay con người. Từ tầm đứng đến thế đứng:

Ta đứng lên thì đầu ta chạm trời,

Ta ngồi xuống chân khua tới biển.

Ta xuất hiện như trên trời rơi xuống,

Ta ra đi tựa áng mây bay.

Có cái gì đó nguyên thủy, nguyên sơ. Và cả man dại nữa: Anh xin nhận người man dại trên đời. Nghĩ kỹ ta sẽ thấy không thể nào khác được. Con người trước khi là sản phẩm của xã hội là sản phẩm của tự nhiên. Mà đất, trời ở đây lạ lắm: Lửa mặt trời ném xuống/ Lửa mặt đất hắt lên/ Lửa gặp nhau giữa trời/ Thắp nên vùng hoa lửa / Đỏ rực nền mây trắng. Con người lạ cũng là phải nhẽ: Anh là trái núi/ Lúc buồn lúc vui/ Không có chân chạy/ Không có cánh bay... Thế mà, đã là con người, con người thật sự, lại muốn chạy muốn bay. Vì chính nỗi buồn vui nhân tình kia! Câu thơ thể hiện sức mạnh từ bên trong, được dồn nén, chất chứa. Từ thời gian. Từ mạch nguồn. Từ tiềm ẩn sức sống bao đời tụ lại. Thật khó kìm giữ nổi: Tiếng tim ai đập gấp ồn ào. Dễ hiểu khi tiếng tim ấy biến thành: Nỗi nhớ cháy bùng lên bao ngọn lửa. Biến thành ý nguyện thành thật mà quyết liệt đối với thế hệ đi trước:

Xin đổi cái chết
Mong mẹ hồi sinh

Biến thành mong ước cao vợi mà quyết liệt không kém đối với thế hệ mai sau:

Các con phải vượt lên phía trước
Phía chân trời mở rộng.

Tôi đã đọc nhiều câu thơ, nhiều bài thơ viết về những điều hệ trọng khác nhau của Pờ Sảo Mìn. Giờ, nếu ai có yêu cầu tôi chọn một bài thơ lộ rõ nhất chất thơ anh, nghĩa là chất người anh, thì tôi sẽ không ngần ngại chọn bài Cây hai ngàn lá, và nếu được quyền chọn hai thì xin thêm Con trai người PaDí. Xem ra, cũng rất phù hợp với mong ước của anh: Tôi rất muốn viết được cái gì đó có ích cho mình, có ích cho gia đình và cho cả quê hương, bản làng, nơi mình đã sinh ra và lớn lên (Nhà văn Việt Nam hiện đại, tr. 431)

Cây hai ngàn lá trong lần in đầu có Lời đề từ lấy từ dân ca thật giàu ý nghĩa:

Lá cây rừng hãy cứ vi vu

Chẳng quản bão táp ngại gì mưa

Rất lạ là những lần in sau này, tôi không thấy Lời đề từ ấy nữa. Trong thơ, Lời đề từ như sự khởi nguồn, không, có lẽ còn hơn thế nữa, như điểm tựa của ý tình bài thơ. ở bài thơ này cũng thế! Lời dân ca không đơn thuần là lời dân ca nữa. Nó là sức mạnh tinh thần nguồn cội. Từ đó sinh ra những chàng trai, những cô gái tràn trề sức sống và lung linh vẻ đẹp tài hoa:

Con trai trần trong mặt trời nắng cháy
ép đá xanh thành rượu uống hàng ngày

Con gái đẹp trong sương giá đông sang

Tước vỏ cây thêu áo đẹp năm tháng

Tôi thích vần điệu có phần trúc trắc của những câu thơ. Có gì khác thường. Thể hiện bản tính một dân tộc chỉ có hai ngàn người mà:

Biết gọi gió, gọi mưa, gọi nắng
Chặn suối, ngăn sông, bắt nước ngược dòng

Trong khổ kết, nhà thơ của chúng ta hướng thẳng tới nhân quần rộng lớn để tỏ bày:

Hỡi trần gian!
Dân tôi chỉ có hai ngàn người

Như cái cây hai ngàn chiếc lá

Cạnh rừng già là rừng non trẻ đấy

Lá ơi!

Tự tin, rất tự tin vào sức sống dân tộc. Cũng như cái nhìn sau đây:

Dân tôi chỉ có hai ngàn người
Một cây đứng trong muôn rừng cây đứng

Hòa hợp trong sự thân thiện - cơ sở của mọi yên bình.

Bài Con trai người PaDí phát triển hướng đi của Cây hai ngàn lá theo một mạch khác: tập trung vào con người. Cái tôi có điều kiện xuất hiện trong sự hài hòa đẹp đẽ với cái ta:

Con trai người PaDí
Mẹ sinh ra trên đỉnh đá tai mèo

Uống nước nguồn trong veo.

Con trai người PaDí

Mắt một mí, tóc đen, mũi tẹt, da vàng,

Dáng ngang tàng vẻ quẫy đạp trần gian.

Tôi đặc biệt thích thú từ trần gian trong cả hai bài thơ. Chúng nhấn mạnh đúng cái cần phải nhấn. Đó là sự thừa nhận, mặc nhiên thừa nhận quyền sống, quyền bộc lộ bản tính của mình, của dân tộc mình, giữa đất trời, giữa nhân quần rộng lớn:

Con trai người PaDí
Đã đi là như chạy

Đã chạy như mây bay lửa cháy bừng bừng...

Đã uống không biết say,

Chỉ âm thầm trong quay cuồng bão gió...

Âm thầm, tôi không thấy sự chịu đựng, mà rất rõ sự thách đố, biểu hiện vẻ cứng cỏi không dễ dàng khuất phục. Khổ kết vừa rất thực vừa rất tượng trưng:

Con trai người PaDí
Đã lên yên không bao giờ ngã ngựa.

Đã lên yên trên đường dài thiên lý

Cứ thế phi bay...

Những câu thơ có sức dung chứa lớn, lại có sức chạm khắc vào tâm trí người đọc. Chỉ đọc một lần thôi cũng khó lòng mà quên cho nổi.

Một lần, khi diễn tả cái khó trăm bề của việc làm thơ về núi đá quê hương, Pờ Sảo Mìn chân tình tỏ bày: Thật khó ca khi ca về đá. Thế nhưng, đá cũng như cây mọc trên đá: Muốn hiểu ta đã qua bao chịu đựng/ Thì cây ơi! Ta sẽ hát đời mình. Pờ Sảo Mìn đã lên tiếng hát. Lời thơ anh đã thật sự hóa thành hoa của đá, thứ hoa có hương sắc riêng khiến ta không thể dửng dưng khi ngắm nghía nó. Thật đáng mừng khi được biết Pờ Sảo Mìn không bao giờ tự hài lòng với chính mình, như anh đã từng giãi bày: Phía trước con đường còn rất dài... rất cao... và rất xa... đến là ngút ngát. Biết làm sao! Cố mà dấn bước thôi! (Nhà văn Việt Nam thế kỷ XX, Tập 20, tr. 200). Với một người đã nghĩ được vậy thì chúng ta hoàn toàn có đủ lý do để tin vào những thành công trong chặng đường tiếp theo của thơ anh./.



P . Q . T
(Tạp chí Nhà Văn)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Đọc “Giữa hai chiều quên nhớ” của Bùi Sim Sim

Hoàng Cát

(Tập thơ của Bùi Sim Sim, Nxb Hội Nhà văn, 2003)



Tên tập thơ hơi điệu. Nhưng thơ là thế. Huống chi, đây lại là tập thơ của người phái đẹp, còn khá trẻ - cả về tuổi đời và tuổi nghề.

Có lẽ nhờ thế mà thơ Bùi Sim Sim nhiều trẻ trung và đằm thắm; dù rằng nhìn chung, thơ của chị trong tập này nghiêng về tư duy triết lý nhiều hơn. Đọc Giữa hai chiều quên nhớ, có cảm giác chị đang ở độ chín về thơ, và cả về đời.

Nét đáng quý nổi bật trong tập thơ này là nó giúp cho con người nên biết sống có chiều sâu, biết suy ngẫm trước những gì diễn ra xung quanh mình. Bởi thế, mặc dù thơ chị giàu cảm xúc, nhưng là thứ cảm xúc thông qua sự suy ngẫm, thông qua sự thao thức thường trực của tâm hồn - có thể nói, một tâm hồn khá nhạy cảm và cũng thật đa cảm. Trước sự kiện toà Tháp Đôi của Mỹ bị đánh sập một cách thê thảm ngày 11-9-2001, Bùi Sim Sim có bài Điều vô lý mang tính khái quát: “Nhiều khi ngẫm cứ như vô lý/ Toà Tháp Đôi sừng sững chọc trời/ Niềm kiêu hãnh thoáng thành mây khói/ Còn điều chi không thể trên đời?”. Thật ra, thơ nói về sự vần xoay của Con Tạo, sự biến thiên “bãi bể nương dâu” của cuộc đời, xưa nay là không ít. Điều đáng nói ở đây là thơ Bùi Sim Sim được viết nhuần nhị, tự nhiên, dễ thấm ngay vào tâm hồn người đọc; và nó còn có sức gợi mở cho người đọc những miền suy nghĩ có thể còn xa hơn, nhiều chiều hơn.

Và, dường như viết một cách tự nhiên, nhuần nhị là khả năng nổi trội ở nhà thơ nữ này. Có những sắc diện, những cung bậc tình cảm khá tế vi trong mỗi con người, mà nếu ta vì một lý do nào đó không kịp để ý tới, thì chúng có thể trôi tuột đi một cách vô hình vô ảnh; nhưng với một trái tim thi sĩ khá tinh tế, Bùi Sim Sim đã có thể dễ dàng gọi tên và bày tỏ chúng thành lời thơ sáng tỏ, dễ cảm nhận đối với tất cả mọi người. Có thể nói, chị đã có công phát hiện ra điều lý thú này: “Bỗng dưng có một ngày rất trẻ/ Trái tim ta chưa lạ thế bao giờ/ Những con người như vừa mới bước ra/ Những thiên đường chưa hề đặt chân tới/ Cuộc đời sắc hương bừng tươi mới/ Thế giới chẳng còn nghèo đói, chiến tranh”. Đấy là gì - nếu không phải là hạnh phúc?… Hạnh phúc, nhiều khi chỉ là đơn giản, đơn sơ như thế. ấy vậy mà, vào một lúc khác, một hoàn cảnh khác - đứng giữa mùa đẹp nhất - nữ thi sĩ lại có bài Xuân cảm với những câu thơ đầy nội tâm trầm mặc: “Đất nước bốn ngàn năm ngóng mong/ Thấm bao nước mắt, thấu tầng không/ Chuông chùa đâu vọng yên bình quá/ Đời người ngẫm được mấy thong dong!?”. Có một cái gì đó rộng lớn mà chua xót ở đây, ngay giữa lòng mình, nhưng không dễ một lúc có thể gọi tên nó ra “Đời người ngẫm được mấy thong dong”. Câu thơ dẫu không thật mới, không có tính phát hiện đặc biệt, nhưng vẫn lắng đọng, vẫn sâu sắc.

Như đã nói ở trên, hay nghĩ ngợi, hay suy ngẫm - và là suy ngẫm khá sâu, khá chín - là một đặc điểm rõ nét trong tập thơ Giữa hai chiều quên nhớ của Bùi Sim Sim. Đến nỗi, chị đã viết hẳn một bài mang tên Phép nghĩ. Và, phải thừa nhận rằng, đây là một bài thơ mới mẻ, giàu sức gợi mở - kể cả về hình thức biểu cảm lẫn nội dung nó hàm chứa: “Thiên kỷ qua đi/ vắt ngang trời/ dải Ngân hà/ còn xanh ngắt?// Bốn mùa qua đi/ in dấu cuộc đời/ những buồn vui còn, mất?//// Nhưng khi thơ bỏ đi!?/ Nhưng khi thơ bỏ đi?// Âm vọng tiếng mình/ hiu hắt!”. Vậy là, đối với nữ thi nhân, Thơ là một cái gì đó thật là thiêng liêng!

Hết thảy những buồn vui, những suy tư nghĩ ngợi của Bùi Sim Sim trong tập thơ này, đều được chị viết ra với sự dịu dàng, mềm mỏng thật là hiếm thấy. Có lẽ chỉ ở những trái tim phụ nữ tinh tế mới dễ dàng phát lộ một cách tự nhiên như thế. Những lời thơ vừa mới chín muồi cảm xúc, vừa xót xa thiết tha trước sự chuyển dịch của thời gian biền biệt: “Chiếc lá cuối cùng rồi cũng bỏ thu đi/ Trơ mùa đông với thân bàng gầy guộc/ Nắng chầm chậm dìu ngày lụi bước/ ảo ảnh hồng khép lại trước hoàng hôn”. Sự dịu dàng và mềm mại trong tình cảm và lời thơ, cũng là một sắc thái biểu cảm bao trùm lên toàn bộ tập thơ của nữ tác giả này. Trong bài Vũ điệu đời thường, một bài thơ nói về sự va chạm, hờn giận trong cuộc sống với chồng, vậy mà những lời thơ vẫn dịu ngọt, vẫn nhu mì kỳ lạ: “à ơi con, ngoan nhé ngủ say/ Giấc mơ con gọi xuân về gõ cửa/ Thôi anh ạ! Nén lòng thêm chút nữa/ Con thơ ngây, con bé bỏng nhường này”. Thế thì, ai còn nỡ không nghe tiếng oanh thỏ thẻ nữa chứ?

Rốt lại, Giữa hai chiều quên nhớ của Bùi Sim Sim là một tập thơ dễ thương, không có bài quá yếu như nhiều tập thơ được in ra một cách quá ư dễ dãi gần đây. Nhìn chung, thơ có hồn thật sự; và tác giả cũng đã có nghề đang vào độ chín. Mừng cho chị. Mừng cho Thơ.

Hà Nội,2004

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Bản xô nát hoang dã của Trần Nhuận Minh:Khát vọng về một tình yêu thần thánh

Đặng Văn Sinh

Bản xô nát hoang dã là tập trường ca văn xuôi tản mạn về quy luật được nhận thức dưới nhiều góc độ khác nhau. Đây là thứ thơ “phản thơ” mà công năng của nó là phá vỡ cấu trúc tĩnh tại của mọi hiện tượng, phát hiện những mối tương quan phi lôgic trong bản chất vạn vật, xác lập những cơ chế tiếp nhận, hình thành những khái niệm mới khác hẳn lối xây dựng hình tượng của mỹ học truyền thống. Tập thơ có phổ khá rộng, luận đủ về mọi thứ trên trời dưới biển, từ Đấng Sáng tạo, toàn năng đến con sâu cái kiến, từ những hiện tượng tự nhiên như trăng sao, giông bão, sấm sét đến những biến thái vi diệu nhất trong ý thức, tiềm thức và cả tầng vô thức của con người thông qua cái tôi trữ tình.

Hình tượng quán xuyến toàn bộ tác phẩm là cái tôi trữ tình nhưng đấy là cái tôi luôn biến động, lúc hữu hình, lúc vô ảnh, lúc là hiện thực khách quan, lúc chỉ là giả tưởng. Cái tôi ấy có khi thăng hoa đạt đến “Đạo”, biến thành vô vi, bỏ qua mọi sự ràng buộc, đứng chênh vênh giữa giới hạn của hai bờ sắc - không. Song hành với cái tôi là “Đấng Mê Tơi” - một thứ quyền lực tối cao bí hiểm có quyền năng sáng tạo và chi phối hành vi của vạn vật trong thế giới tự nhiên. Đấng Mê Tơi có khi hiện diện như là chúa tể muôn loài, lúc lại giống như phần vô thức trong mỗi cá thể sinh vật. Phần vô thức này hầu như không lý giải được nhưng lại vô cùng nhạy cảm như là động lực của quá trình sáng tạo nghệ thuật. Nó biến dạng theo những quy luật đặc thù mà chỉ xuất hiện trong những khoảnh khắc nhất định. Quá trình vận hành của lối tư duy này là cùng một lúc cái tôi thâm nhập vào cả hai thế giới vĩ mô, tức vũ trụ và thế giới vi mô, tức tâm hồn con người để tìm ra sự liên hệ hữu cơ giữa những nấc thang giá trị, đồng thời trả lời cho được câu hỏi “Tôi” là ai?

Trật tự thế giới tự nhiên được sắp xếp thành những dãy số huyền bí, là thứ quy luật vừa hợp lý vừa không hợp lý vượt ra ngoài nhận thức lý tính. ở đây, tác giả đưa ra những tiên đề và phản tiên đề. Các cặp “phạm trù” ngược, những hình tượng siêu thẩm mỹ gây ấn tượng nặng nề, bức bối:

“Ta vào chỗ không thành có

Ta vào chỗ có thành không

Này này

Nhìn kỹ cá hoá chim

Lại nhìn kỹ hơn chim hoá cá”

Ta dễ dàng nhận ra, Bản xô nát hoang dã có nhiều đoạn thơ cấu trúc bị đảo ngược thậm chí phi lý như là vũ trụ thủa hồng hoang qua cái nhìn cấu trúc luận của tác giả. Hình như nhà thơ muốn trở lại tình trạng nguyên thuỷ, chẳng cần tư duy lôgic mà đào sâu vào tầng vô thức, tìm bản chất của thế giới tự nhiên bởi khát vọng hoang dã. Vì ở đó, cái tôi nhận chân được sự sống vĩnh cửu là Im Lặng, vứt bỏ mọi khái niệm truyền thống, mọi mối liên hệ tuyến tính, các hệ quy chiếu và những quy ước giáo điều, cứng nhắc. Thế giới hình tượng ở đây là thế giới lưỡng phân, hai mảng sáng tối thường phân tầng và luôn được xem xét trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của triết học cổ đại phương Đông. Từ thuyết âm dương tác giả luận về Quân tử - Tiểu nhân, Thánh hiền - Quỷ sứ, Nhà thơ - Kẻ trộm, Thiện - ác…, tất cả đều mặc nhiên tồn tại trong quỹ đạo của mình và vận hành trong mối quan hệ đa chiều. Khi lên sân thượng ngắm trăng, nhà thơ cảm nhận về ánh trăng trong một không gian thật lung linh, huyền ảo. Những dòng suy nghĩ về trăng đầy vẻ hào hoa, sang trọng chứng tỏ cái đẹp có chức năng điều hoà những mối quan hệ đối nghịch. Thế nhưng, khác với ánh trăng trong Nhà thơ hoa cỏ, ở đây tác giả đột ngột kết luận: “Cái giả dối hào hoa của ánh trăng đâu có bị cái thuần phác của mặt trời xua đuổi”, và, “Cái Màn Đêm phản trắc đầy cạm bẫy, đâu có bị cái ánh Ngày chính trực anh minh ruồng bỏ”.

Vậy bản chất của Bản xô nát hoang dã là gì? Ta tạm coi đó là bản đại hoà tấu, phức hợp, nhiều bè, nhiều chất giọng của thế giới tự nhiên do Đấng Mê Tơi cầm đũa chỉ huy, ở đó con người chỉ là nốt móc kép nhỏ nhoi. Thế giới tự nhiên, muôn loài sống trong môi trường cộng sinh phụ thuộc và chi phối lẫn nhau, trong đó tồn tại cái Thiện và cái ác như là một chân lý khách quan.

ở hầu hết các đoạn thơ, cái lôgic và phi lôgic luôn sóng đôi bên nhau, chốc chốc lại vụt lên những hình tượng đầy ngẫu hứng. Trần Nhuận Minh luôn lật ngược, lộn trái các hiện tượng (cả tự nhiên và xã hội), sau đó cân đong đo đếm định lượng và định tính bằng những nhận xét đầy trí tuệ. Hình tượng con ve sầu phủ định mùa xuân là một ví dụ. Đối với chúng, chỉ có mùa hè, còn “mùa xuân là cái Không Hề Có”. Cũng như không ít người cực đoan, ve sầu chỉ thừa nhận những gì phù hợp với tập tính của loài. Bàn về nghệ thuật, ta có thể gặp những đoạn tác giả suy tôn thi ca là thứ báu vật của thần linh mà con người rình mò lấy trộm được. Vì là sản phẩm của Đấng Mê Tơi nên thơ cũng mang tâm hồn hoang dã (giống nòi hoang dã). Theo ông, người không chủ ý làm thơ mà là ngẫu nhiên hình thành mới là thơ hay, tức là cái phần vô thức nảy sinh ra, dù vậy nó vẫn là thứ ánh xạ mờ nhạt của Đấng Tối Cao. Thơ hay phải tự nhiên như không, nghĩa là đạt đến “độ không tuyệt đối”, tiếp nhận dạng cấu trúc siêu ngôn ngữ, rút từ màu sắc, thanh âm của đất trời và vạn vật:

“Này đây, dòng máu tôi trong suốt

chảy ngoằn ngoèo từ ghềnh đá

suối Côn Sơn hoang lạnh bời bời

Khách khứa hai ngàn núi xanh

Này đây, quả tim tôi treo ở ngoài lồng ngực

số phận chúng sinh làm nó tự binh bong…”

Những chất liệu truyền thống làm nên thơ hầu như bị loại khỏi cuộc chơi. Gió, trăng và mây trắng trở nên vô nghĩa bị đông cứng lại. Cái phi lý được xác lập hình thành nên một dải cấu trúc phi thời gian. Tính hệ thống bị phá vỡ, vì thế trật tự ngữ nghĩa cũng như nội dung thông báo cũng được sắp xếp lại:

“Bây giờ tôi

Tự treo ngược mình

Lên câu thơ đây

Chân tôi giần giật suy nghĩ

Tóc tôi chạm cỏ xanh

nhàu nát như cỏ xanh

Và tôi thấy quê hương tôi

Là ở trên trời…”

Từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, tác giả khẳng định giá trị của thi ca. Thơ của những bậc “chân nhân” có sức tung phá như sấm sét nhưng lại hiền hoà, êm dịu như ánh trăng. Đó là những câu thơ định mệnh, có thể là “quỷ khốc thần sầu”. Viết về ức Trai, nhà thơ ngậm ngùi:

“Cụ đâu biết sớm mai

Cùng với mặt trời lên

Câu thơ phải rơi đầu…”.

Thế giới hoang dã của Trần Nhuận Minh có những câu thơ khoa trương, đầy tính ước lệ, mang âm hưởng anh hùng ca: kỳ vĩ, hoành tráng thậm chí rùng rợn: “Răng đá, miệng cây, quạ rít lưỡi trong chiều âm u, cái lạnh như lưỡi cưa xẻ chéo tầng đá xám”. Cái tôi lúc này có vẻ như quá chật chội với những khái niệm mòn cũ. Nó đòi hỏi phải tìm ra một lời giải mới về sự tồn tại và không tồn tại cho dù cái tôi ấy đã “bò toài trên mặt đất sáu mươi năm”.

Vạn vật phát triển trong một chu trình kín và đều bình đẳng với nhau nếu nhìn dưới con mắt “Đạo”. Đó chính là tư tưởng triết học của thế giới tự nhiên. Hình ảnh Đức Vua bị cầm tù trên ngai vàng bởi chính quyền lực của mình và kẻ Hành Khất được tự do bởi chính sự lang thang đói khát của anh ta là một luận cứ đầy sức thuyết phục. Cũng như vậy cái mỏ chim, con sâu và mũi tên dưới bóng cây phản ánh mọi quá trình sống đều có sự liên hệ phụ thuộc lẫn nhau. Nắm được quy luật ấy, người ta sẽ an nhiên tự tại. Ông Vua và kẻ Hành Khất không thương nhau được bởi họ ở những vị trí khác nhau. Mối liên hệ giữa con sâu, cái mỏ chim và mũi tên chính là biểu hiện cụ thể, sinh động của quy luật sinh tồn. Chúng tồn tại bằng ký ức truyền kiếp. Con người không nên nhân danh quyền chúa tể chiếm hữu tự nhiên, như thế trước sau cũng bị quy luật chối bỏ.

Cái tôi ở đây không ít trường hợp bị tách ra làm hai, một cái tôi sinh vật và một cái tôi nghệ sĩ. Cái tôi sinh vật có khi nhếch nhác, hoang dã, nhưng cái tôi nghệ sĩ khi tìm vào vô thức lại đẻ ra những kiệt tác. Hai cái tôi ấy không phải lúc nào cũng hoà hợp mà đôi khi xung đột với nhau trong mối tương quan phi lý. Cái tôi ở đây hiện diện như một khái niệm lưỡng phân trong triết học hiện sinh hoặc tính đa diện của bản thể luận được sắp đặt qua những hành trình nghệ thuật:

“Tôi gõ vào vách Núi Bài Thơ



Cánh cửa đá đã mở

Và bên trong

Tôi thấy một thiếu nữ dịu dàng



Tôi gõ vào ngực tôi

Tôi ơi, mở cửa ra

Cánh cửa tôi đã mở

Và tôi thấy chả có gì…”

ở đây ta có thể thấy, tìm vào thế giới tự nhiên dễ dàng hơn là đi tìm chính mình. Đó là thứ tìm kiếm nhọc nhằn mà kết quả thường là thất bại.

Luận về quy luật tự nhiên, tác giả còn cụ thể hoá bằng hình ảnh con cò, con ếch, con cua, con kiến, đồng thời làm một cuộc đối thoại với Đấng Mê Tơi. Đây là một cuộc đối thoại mang tính biểu tượng. Đấng Mê Tơi và cái tôi vô thức có lúc nhập vào nhau, chứng tỏ, trong mỗi con người đều tiềm tàng một năng lực thần thánh. Đấng Mê Tơi trả lời không theo trình tự lôgic học mà bằng những khái niệm mơ hồ, tiên nghiệm hoặc tiên đề: “Như thế là như thế hoặc Như thế không phải là như thế”. Tác giả bắt chước Tạo Hoá dùng thứ triết lý dân gian nguyên thuỷ để diễn đạt các quy luật tự nhiên. Xuyên suốt toàn bộ tập thơ là những phạm trù những khái niệm, những mâu thuẫn, sự đối lập, cái sống, cái chết và cảm quan yêu ghét… bằng một thứ ngôn ngữ đa nghĩa, nhiều tầng, khác hẳn một Trần Nhuận Minh thế sự trong Nhà thơ và hoa cỏ.

Liên hệ quy luật vận hành kỳ diệu của thiên nhiên với bản thân cái tôi nghệ sĩ, ông xem đó như là định mệnh, một thứ bí mật di truyền trong bộ nhiễm sắc thể. Hình ảnh con đom đóm “vụt bay ra từ tối sẫm ao bèo” để khẳng định cái tôi ấy dẫu có gan dám “lục vấn” Đấng Mê Tơi nhưng quy mô cũng nhỏ thôi. Một vấn đề luôn được nhắc lại như nỗi ám ảnh là cái tôi tồn tại trong trời đất với tư cách gì? Giá trị tự thân của nó được xác định bằng thứ đại lượng nào? Từ ý tưởng đó, ông làm một cuộc tổng kết cuộc đời. Đó là những trải nghiệm vượt lên trên sự sinh tử, được mất:

“Tôi quẩy trĩu đôi bầu hoang tưởng

bên này hình sắc

và bên kia là không hình sắc

chúng chẳng cân nhau

khấp khểnh đi

bước thấp bước cao

vừa trọn một vòng đời”

Bản xô nát hoang dã gần như từ bỏ thi pháp truyền thống, phát triển hành động theo trình tự tư duy phi lôgic xác lập một dạng cấu trúc mới theo lý thuyết tiếp nhận. Rất nhiều đoạn thơ được bỏ lửng có chủ ý, có những câu bắt buộc ta phải dùng phương pháp tư duy ngược, “đi bằng đầu và suy nghĩ bằng chân”:

“Vòm ngực em là hũ rượu thơ,

Quỷ sứ rót đầy

Chưa uống đã trông thạch sùng hoá cáo



Cặp đùi em như hai lưỡi kéo

Khép lại dịu dàng

Có thể cắt đứt đời nhiều hảo hán”

Cái tôi ở Trần Nhuận Minh nhiều lúc tưởng như mâu thuẫn trong quá trình nhận thức bản thể nhưng ông đã có những kiến giải rất thuyết phục bằng hàng loạt hình tượng thơ: Nước sông ra biển bằng xác, bay về rừng bằng hồn trong khi dòng sông chỉ là một. Cây cầu bắc qua sông làm nó “mất giới tính”, “đất sắp xếp lại ý nghĩ” còn các vòm cây “điều chỉnh lại hướng nhìn”. Cây cầu một mặt có lợi cho dân sinh nhưng mặt khác, nó phá hệ vỡ cân bằng, làm thiên nhiên bị thương tổn, vạn vật vì vậy phải có hành động thích ứng. Một yếu tố không kém phần quan trọng đặt ra trong tập thơ là những quy luật sáng tạo nghệ thuật phụ thuộc vào quy luật vận hành của thế giới tự nhiên. Trái đất nghiêng 23 độ, câu thơ cũng nghiêng 23 độ và cô gái ngả vào lòng người yêu trong đêm cũng là 23 độ. Bằng phương pháp lưỡng phân, tách đôi bản thể, đào sâu vào tầng vô thức, tác giả nhìn thấy cái tôi nọ chứng kiến cái chết của cái tôi kia. Cái tôi thứ hai trượt ra khỏi quỹ đạo sinh tử cảm nhận về cái chết vừa thảm thiết vừa dửng dưng. Nó tìm được quy luật vàng: Sự chết là tươi đẹp.

“Nếu tất cả mọi người

Từ thượng cổ

Đều sống cùng chúng ta

Thì thế giới này

Khủng khiếp đến nhường nào…”

Về thao tác nghệ thuật, Bản xô nát hoang dã được hình thành trên những dạng cấu trúc mở với vô số hình ảnh, sự kiện được sắp xếp theo trật tự phi lôgic mà điểm nhấn của nó bao giờ cũng là tình yêu. Tình yêu tồn tại dưới nhiều dạng thức, không chỉ con người mà cả cỏ cây, hoa lá, ếch nhái, côn trùng. Đó là thứ tình yêu dịu dàng thần thánh với khát vọng hoang dã về một thế giới tự nhiên hài hoà tồn tại ngoài ý thức con người.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Cán cờ tre - một tráng ca về Điện Biên Phủ

Trịnh Thanh Sơn

Đọc Cán cờ tre - tiểu thuyết của Trịnh Đình Khôi, Nxb Văn học - 2004



Đúng vào dịp nhân dân cả nước ta đang náo nức và rầm rộ kỷ niệm 50 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (1954-2004), Nhà xuất bản Văn học cho ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết Cán cờ tre của nhà văn Trịnh Đình Khôi, một tác giả văn xuôi từng quen thuộc với bạn đọc trong cả nước. Đây là cuốn tiểu thuyết thứ ba, và là cuốn sách thứ 20 trong sự nghiệp sáng tác của Trịnh Đình Khôi.

Với tên sách thật giản dị, Cán cờ tre, nhà văn Trịnh Đình Khôi đã dành trọn vẹn 540 trang sách để mô tả và lý giải vì sao và nhờ đâu mà dân tộc ta, Đảng ta, quân đội ta có được chiến công lừng lẫy chấn động địa cầu này. Cán cờ tre thực sự là một cuốn tiểu thuyết hoành tráng, là một bản anh hùng ca về chiến thắng Điện Biên Phủ, một Điện Biên Phủ huy hoàng, thấm đẫm máu và nước mắt!

Vậy Cán cờ tre nói gì cùng bạn đọc? Nội dung cuốn tiểu thuyết tập trung mô tả cuộc chiến đấu anh dũng, ngoan cường của những chiến sỹ trong một trung đội mũi nhọn của một đại đội chủ công trên chiến trường Điện Biên Phủ từ trước và sau ngày chiến thắng. Thông qua những nhân vật điển hình, những hoàn cảnh điển hình, tác giả tiểu thuyết đã vẽ bức chân dung thật hoành tráng, vừa rộng lớn vừa sâu thẳm, về một trận chiến quyết liệt giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa tài năng và sức mạnh, giữa can đảm và hèn nhát, giữa nhân tính và phi nhân tính, giữa lòng khát khao thống trị của chế độ thực dân cũ. Có thể nhận định rằng Cán cờ tre của Trịnh Đình Khôi là một tiểu thuyết nghiêm túc, một thứ văn học nghiêm túc, không xu thời, không nhượng bộ, dũng cảm và thành thực, tỉnh táo và đắm say. Đọc qua từng trang, theo dõi từng số phận nhân vật, ta thấy tác giả đã vắt cạn mình mà viết. Thao thức từng chữ, từng trang! Khác với Người người lớp lớp của Trần Dần, Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai, Cán cờ tre với độ lùi thời gian là nửa thế kỷ, trận Điện Biên Phủ hiện lên trong nhận thức và tâm thức của nhà văn có phần sáng tỏ hơn, bao quát hơn và thấu thị hơn. Với bút pháp dựng truyện và kể chuyện xen kẽ một cách rất linh hoạt, bằng thi pháp của tiểu thuyết hiện đại, bằng lối dựng “mờ chồng” thời gian và không gian, quá khứ và hiện tại Cán cờ tre có sức cuốn hút người đọc từ đầu đến cuối. Những nhân vật trong tiểu thuyết, dù chính hay phụ, dù nam hay nữ, dù ta hay địch... qua những trang viết của Trịnh Đình Khôi, đều hiện lên bằng xương bằng thịt. Cuộc đời và số phận của những nhân vật chính được nhà văn khắc họa bằng những chi tiết sắc mạnh như vạc bằng rìu, tạo ra những chân dung và tính cách sống động, đọc xong không quên được. Qua những nhân vật chính, phụ, cả ta lẫn địch, đều thấy số phận hàng nghìn, hàng vạn người sau đó. Một trung đội trưởng Kha và Lụa - cô dân công người yêu của anh, một y tá Mai và Jăng, một hàng binh Pháp, một đoàn trưởng Vũ và Thuần con gái ông, một tướng Đờ Cát và Rôza Hồng, thư ký và người tình của y, một ông già trưởng bản Ten và một ông giáo làng, bố Kha, một tiểu đoàn trưởng Quảng đầy thử thách, những tính cách rất tiêu biểu đậm đặc mà khi đọc xong các nhân vật còn đọng mãi trong tâm tư người đọc. Những con người đầy chất anh hùng nhân văn và rất lão thực. Một không khí xã hội, một hoàn cảnh xã hội giàu bản sắc văn hóa của làng quê Việt Nam. Đó là những trang văn tạo nên không khí hồn quê xứ Việt đậm đà ý thức dân tộc. Tất cả đan quyện vào nhau bằng những mảng màu sáng tối, những đường nét sắc mạnh và ánh sáng lúc dịu dàng, khi chói gắt, tạo nên một bức phù điêu tạc vào năm tháng, về một Điện Biên, một hậu Điện Biên và cuộc kháng chiến của toàn dân tộc, để giành độc lập, tự do. Trục chính của tiểu thuyết là những người chiến sỹ là trung đội mũi nhọn của trung đội trưởng Kha và đồng đội của anh, mà biểu tượng là cái gậy bằng tre hóa thành cán cờ trên cao điểm, qua đó ngợi ca cuộc chiến tranh nhân dân, quân đội nhân dân anh hùng.

Trung đội trưởng Trần Đình Kha được tác giả khắc hoạ rõ nét với tình cảm yêu thương và cảm phục không hề giấu giếm. Những hành động dũng cảm, anh hùng trên chiến trường mà sự sống và cái chết chỉ cách nhau bằng sợi tóc, những day dứt, khổ đau vì thiệt thòi và oan khuất, tình yêu say đắm và trung trinh với Lụa, cô gái cùng quê và là dân công tải đạn chiến trường, lòng yêu thương đồng đội và sự vị tha trước những kẻ cơ hội hèn nhát... Tất cả đều được ngòi bút dư lực và uyển chuyển của Trịnh Đình Khôi mô tả một cách sâu sắc, đầy thuyết phục, đầy cảm thông. Có thể nói, nhân vật Trần Đình Kha là một nhân vật điển hình cho tầng lớp tri thức thanh niên đi theo cách mạng, có lý tưởng trong sáng và đầy tự giác, có phẩm chất của con người nhân bản và nhân văn, có dằn vặt và mâu thuẫn, có niềm tin và sự hoài nghi, có hiện thực lãng mạn, đầy hùng ca và bi kịch. Kha đã vượt qua hai lần cái chết và đã vượt qua chính mình bằng văn hóa. Với nhân vật trung tâm này, Trịnh Đình Khôi đưa ra một luận đề quan trọng và chứng minh rằng, con người chỉ có thể phân cấp với con người là nhờ những tầng văn hóa. Cảnh báo này của nhà văn không đưa ra như một bài nghị luận mà thấm đẫm trong từng chi tiết, từng cảnh ngộ, từng nhân vật đau xót và ngời sáng!

Xoay quanh nhân vật trung tâm, cái mắt bão là Kha, còn quần tụ bao nhiêu nhân vật khác. Mỗi người một cảnh ngộ, một tâm tính, một nỗi thăng trầm, một số phận, khi trực tiếp đối diện với cuộc chiến tranh khốc liệt một chiến trường khốc liệt, nơi mà phẩm giá từng con người và số phận một dân tộc được đưa lên bàn cân, định giá hơn thua đôi khi chỉ bằng phân tấc.

Những đoàn trưởng Vũ, y tá Mai, chính ủy Hữu Thịnh, ông già trưởng bản Ten, Lụa vợ Kha, Jăng tù binh, tướng Đờ Cát và các cộng sự của ông ta, Rôza Hồng - cô gái lai Việt - Pháp, thư ký và người tình của Đờ Cát, các chiến sỹ trong trung đội của Kha, những đồng đội thân thiết như Hùng, Hồi, Kháng, Phú, Nhàn, Chú, chàng cần vụ Lấn của đoàn trưởng Vũ và cô Thuần, con gái ông đều thể hiện rõ phẩm chất và nhân cách cá nhân rất rõ nét. Bên cạnh đó là Hạ và Đề, những kẻ vô học, thoạt đầu, leo lên bằng lý lịch thể hiện bản chất vừa thô lậu, vừa đớn hèn... Bao nhân vật có tên và không tên khác, được nhà văn đưa lên một “cây đèn kéo quân”, cho lộ nguyên hình sáng tối, thật giả, chân nguỵ, thiện, ác!

Mối tình ngang trái giữa y tá Mai với Jăng, một tù binh Pháp đã được nhà văn để công khắc hoạ khá công phu.

Việc Mai lấy Bình - một đồng đội đã yêu Mai hết lòng và việc Bình tự nguyện nuôi dưỡng, chăm sóc cho bé Lê, con gái của Mai và Jăng là một hành vi đầy cao thượng, phù hợp với bản chất nhân ái cao cả của người Việt. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm giữa Mai và Jăng, tình cảm và ứng xử của Mai với Jăng là rất con người, rất hợp lý, rất mức độ mà tôi nghĩ cả nhân vật lẫn tác giả đều phải gồng mình lên mới thực hiện được.

Còn Lụa nữa, Lụa thì sao? Nhân vật nữ này đã được tác giả dành cho một tình yêu đặc biệt, một sự tôn vinh phẩm cách và trở thành biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam, chung thuỷ đảm đang. Trong các cuộc chiến tranh người lính và những người phụ nữ đằng sau họ như người mẹ người vợ, người yêu và những người hy sinh nhiều nhất. Tác giả Trịnh Đình Khôi tuyên ngôn rõ ràng điều này. Anh muốn khẳng định chính họ đã tạo nên chân dung của đất nước.

Với tư cách một nhà tiểu thuyết, lại nhờ có độ lùi thời gian 50 năm, nhà văn Trịnh Đình Khôi có được những may mắn hơn các thế hệ nhà văn đàn anh đi trước. ở tiểu thuyết Cán cờ tre tư liệu lịch sử chính xác và dồi dào chỉ là một phần, phần quan trọng hơn là một phương pháp tư tưởng mới, tự do và dân chủ hơn. Cuộc quyết đấu lịch sử ở chiến trường Điện Biên Phủ đã được nhìn và thể hiện ở một góc độ hoàn toàn mới, hoàn toàn khác, trong đó có ta, có địch, có mặt trận, có hậu phương, có trong nước và ngoài nước, có súng đạn và có ngoại giao. Cuốn tiểu thuyết sẽ thiếu vắng một phần hấp dẫn quan trọng nếu như tác giả không khắc họa nhân vật tướng Đờ Cát, cái linh hồn của trận Điện Biên ở phía đối diện. Trong tiểu thuyết Cán cờ tre tướng Đờ Cát và cô gái lai Rôza Hồng đã được nhà văn tả như những nhân vật chính, những mảng màu quan trọng mà nếu thiếu nó, bức tranh hoành tráng về một trận Điện Biên Phủ chấn động địa cầu sẽ khó hoàn chỉnh được. Trong “vở kịch kinh hoàng” 56 ngày đêm diễn ra ở Điện Biên Phủ, nhân vật Đờ Cát từ Đại tá đã lên Thiếu tướng, từ ngông nghênh ngang ngạnh và đầy tự tin với chiếc mũ đỏ đã trở thành một kẻ bại trận cúi đầu dưới lá cờ trắng. Những biến chuyển và phát triển tâm lý của Đờ Cát, đã được nhà văn mô tả trong sự hư cấu và sức tưởng tượng phong phú, đầy táo bạo và thuyết phục. Nhân vật Đờ Cát đã bước vào tiểu thuyết một cách sống động, con người đó là một anh hùng mã thượng hơn là một chiến tướng dày dạn lửa đạn. Chiếc lon mà ông ta có cũng rất số phận và khá đặc biệt: Vui vẻ hơn nó trở thành đồ chơi cho các chiến sỹ Việt Minh dưới giao thông hào trong khi bản thân ngài thiếu tướng phải đeo một cái lon giả bằng sắt tây do tuỳ tùng tự tạo. Cùng với những trang viết rất hay về sinh hoạt của bộ đội ở chiến trường vừa tự nhiên vừa vui vẻ, còn chứng tỏ khả năng hóm hỉnh hài hước của một ngòi bút tiểu thuyết. Người đọc bấy lâu yêu mến những truyện ngắn đầy chất nhân văn và thẩm mỹ cũng như những trang lý luận sắc sảo giàu tính triết luận qua những tác phẩm đã in và được giải thưởng của Trịnh Đình Khôi nay lại được thưởng thức tài năng của một cây bút qua thể loại tiểu thuyết mà đây là cuốn tiểu thuyết thứ ba.

Trở lại tác phẩm có thể nói những bình luận ngoại đề của tác giả khá nhuần nhuyễn sâu sắc khi vận dụng những tư tưởng triết học đông tây vào sự kiện cụ thể. Ví dụ khi khảo sát tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ tướng Nava có cảm thấy thiếu sót và băn khoăn không? Hẳn là có. Nhưng ông ta đã không tự thắng nổi mình trong những lời tung hô, tâng bốc. Tác giả tiểu thuyết thật sắc sảo và thâm trầm khi lý giải việc Nava đã chịu thua tướng Giáp hai lần, chỉ vì một lẽ ông ta đã “không thắng nổi mình”. Thắng mình mới khó. Tác giả viết người phương đông nói: “Tự thắng giả hùng”. Nava không học và chắc không đọc được câu đó. Người tự thắng mình mới là anh hùng. Nava không có cái anh hùng ấy, trong khi tướng Giáp nhận ra không thể “đánh nhanh, thắng nhanh” được, ông đã xin ý kiến của thượng cấp, đã đánh vật với mình trong cuộc đấu tranh, đảo lộn kế hoạch sang “đánh chắc, tiến chắc” (trang 473).

Sự hấp dẫn của tiểu thuyết Cán cờ tre ngoài chi tiết và sự kiện ăm ắp, ngoài tính cách nhân vật độc đáo và điển hình, còn nhờ vào những suy luận và suy tưởng ngoại đề đầy biện chứng. Tầm của một cuốn sách về mặt văn hóa và triết học, trữ lượng của những tư tưởng văn hóa cũng như mỹ học của tác phẩm là khá cao. Hơn thế nó được thấm đẫm trong chi tiết và ngôn ngữ văn bản. Với tiểu thuyết Cán cờ tre Trịnh Đình Khôi đã chứng minh rằng việc thắng thua ở chiến trường Điện Biên Phủ 50 năm trước là một cuộc chiến tranh và sự thắng thua của hai nền văn hóa. Không ai có thể áp đặt thống trị nền văn hóa của dân tộc mình lên một dân tộc khác. Bài học của Điện Biên Phủ nửa thế kỷ trước đã cảnh tỉnh cho những thế lực và những mưu đồ của bao kẻ quá tự tin vào sức mạnh vật chất, sức mạnh vũ khí, nhưng xem ra, sang đến thế kỷ XXI này, họ vẫn u mê, vẫn chưa tỉnh ngộ. Tác giả báo động cho những biến đổi làm mất văn hóa là vô cùng tai hại cho một dân tộc. Những trang viết về bà mẹ tự mình hỏa thiêu những sản phẩm văn hóa, hàng binh Jăng sưu tầm văn hóa, ông già trưởng bản Ten say mê văn hóa của dân tộc mình là những trang văn đầy tính biểu tượng và có ý nghĩa văn hóa cao khó có được ở những cuốn sách khác. Có những con người như Kha, Lụa, bố Kha, ông già trưởng bản, tiểu đoàn trưởng Quảng, Rôza Hồng, đoàn trưởng Vũ, chính ủy Thịnh và đồng đội của Kha là sản phẩm của một nền văn hóa bền vững cốt cách mới có thể chiến thắng. Nhưng nền văn hóa được biểu tượng bằng cái cán cờ tre ấy cũng có thể là cái cán gáo tai hại trong tay người sử dụng. Cái ý nghĩa thật thâm hậu của hình tượng.

Cán cờ tre là một cuốn tiểu thuyết với đặc thù thể loại, nó có quyền hư cấu và tưởng tượng. Vì vậy, trong tiểu thuyết, có những chi tiết, những ngày tháng, những địa danh, những tên người chưa phù hợp, chưa hoàn toàn đúng với nguyên mẫu, với chính sử, cũng là điều dễ hiểu và dễ chấp nhận. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, trong cuốn tiểu thuyết rất hoành tráng và công phu này, còn có trang viết vội, còn chi tiết “tự nhiên” gây phân vân. Dù sao cũng phải coi đây là tác phẩm lấy sự hư cấu làm chính yếu không phải là tiểu thuyết tư liệu chuyên sâu thông tấn.

Mong rằng, trong những lần tái bản tiếp theo, tác giả sửa chữa những thiếu sót, những hạt sạn không đáng có.

Để kết thúc bài viết nhỏ về cuốn tiểu thuyết lớn của Trịnh Đình Khôi, tôi xin trích câu cuối cùng của cuốn sách khi nói về chiếc cán cờ tre cụ thể: “Hồng lặng lẽ nhìn Kha bằng ánh nhìn đầy vẻ kính trọng và quay sang Jăng:

- Kha nói đúng đấy! Cái ý nghĩa của sự vật đôi khi nó lại nằm ở chính chỗ không có ý nghĩa?”



(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Đọc "Thăng Long ký" của Nguyễn Khắc Phục

Văn Chinh

(Về tập sách "Thăng Long ký"- Tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Khắc Phục, Nxb Thanh Niên, Hà Nội - 2004).

Thăng Long ký bắt đầu từ các sinh hoạt lễ hội dân gian đầy nhục cảm và gợi hứng, một ẩn dụ cho dự báo những điều phi phàm sẽ sinh sôi: Cô thôn nữ Phạm Thị Ngà bỗng nẩy ham vọng đẻ ra đứa con xây được toà thành còn lớn hơn thành Đồng Cổ. Nàng đã thổ lộ ham muốn ấy với nhà sư thông tuệ Vạn Hạnh khiến ông không cưỡng nổi cái mầm nhú lên trong tâm trí, là mình sẽ làm cha và trên thực tế đã nuôi đứa trẻ vừa rời bụng mẹ để thực hiện hoài bão còn lớn hơn mẹ nó: Xây dựng nước Đại Việt độc lập, ôn hoà và tự chủ đồng thời sẽ làm tổng công trình sư kinh thành Thăng Long. Thật khó minh định đẹp hơn, có lý hơn về huyền sử Lý Công Uẩn ra đời - người sáng lập một vương triều hiển hách nhưng "cộng hoà" nhất trong lịch sử phong kiến nước nhà!

Trên cái nền khải hoàn của nền độc lập mới giành lại từ phương Bắc, Thăng Long ký được khai triển trên những bộ ba. Bắt đầu vua Đinh và Lê Hoàn, khi Vạn Hạnh thiền sư còn chưa biết kinh đô Hoa Lư ở đâu. Lê Hoàn và Vạn Hạnh cùng sinh năm 938, năm chiến thắng Bạch Đằng đủ để chấn hưng sĩ khí của con dân nước Việt sau cả ngàn năm Bắc thuộc; những đứa trẻ hoặc hoài thai hoặc chào đời trong sự chấn hưng lẫy lừng ấy quả là phi phàm. Bộ ba đó là: Một tiến (Lê Hoàn) một thoái (vua Đinh) và một chồi (Vạn Hạnh.) Nó nhất quán với thuyết tam thế mà Nguyễn Khắc Phục sở đắc và trở thành nguyên tắc cho cấu trúc của toàn bộ trường thiên tiểu thuyết, thành nền tảng vững vàng của những cốt truyện, những hình tượng nghệ thuật dần dà sẽ hiện lên mà không cần loại trừ nhau. Có thể nói ông có phẩm chất mà một nhà văn viết tiểu thuyết trường thiên nhất thiết phải có.

Mầm hoạ đã chồi, khi vua Đinh lập người vợ trẻ họ Dương làm hoàng hậu và cái chồi lớn lên, hành vi thoán đoạt tất yếu đã diễn ra; nhưng khi chính nhà tiền Lê đang lên đến đỉnh thì đã xuất hiện một chồi khác: Vạn Hạnh đưa Lý Công Uẩn - con nuôi của mình vào đầu quân dưới trướng Lê Hoàn. Và một hiểm hoạ khác, đó là máu lửa của loạn 12 sứ quân còn chưa tắt hẳn (Lê Long Đĩnh cướp ngôi của anh một cách tàn ác, y là một ẩn dụ của u ác thời đại) mà y đã "nằm" để cai trị đất nước. Và ngai vàng đã về tay quan cấm vệ Lý Công Uẩn nhẹ và sạch sẽ nhất trong "công nghiệp giành ngôi" của lịch sử nước nhà. Nhưng nó còn ba cái nhất nữa: Đây là một vương triều hiển hách nhất trong chống ngoại xâm, trong kiến trúc và nhất là hệ tư tưởng "dân chủ phong kiến" đã được hình thành và nhanh chóng phát huy hiệu quả. Bạn đọc sẽ cắt nghĩa được vì sao tác giả yêu nhà Lý say đắm đến thế. Chỉ nói riêng việc ông mô tả tỉ mỉ với giọng văn sảng khoái đặc biệt việc cậu con hoang lại mang họ Lý được hoài thai, được Lý Vạn Hạnh dạy dỗ cẩn thận để làm vua, ngài là người duy nhất có hân hạnh được bọc trong tã lót huyền thoại và vương giả ngay khi mới cắt rốn cũng đủ đưa Vạn Hạnh lên một tầm khái quát: Ông là tích tụ của khát khao độc lập lâu dài sau ngàn năm Bắc thuộc của dân tộc ta. Nhưng còn hơn thế nữa: cảm quan sứ mệnh khiến ông âm thầm toan tính một cách tốt nhất cho sứ mệnh đó; ông đầy ý thức trong hành vi đạo và đời (là nhà sư, nhưng tâm hồn ông là một kiến trúc sư chính trị tài ba và lương thiện; là Phật tử, nhưng ông thông hiểu Nho và Lão - đó là ngã ba Hạc Trì của phù sa châu thổ có tên là tam giáo đồng nguyên) đấy là cái khác biệt căn bản giữa hai người đồng niên: ông và Lê Hoàn. Trong một chương, tác giả đã dẫn câu Lão Tử làm đề từ: Lấy cái tốt của người hoà với ta làm nên thân thiết, sẻ cái xấu của đời mà vẫn trong sạch. Đấy là cốt tử của tư tưởng dân chủ sớm sủa mà một vương triều có được. Tại đây cũng xin được nói ngay, tiến sĩ khai khoa Lê Văn Thịnh hơn bốn mươi năm nữa sẽ bị đày như là nạn nhân của dân chủ giả hiệu, nhưng thế tam giáo đồng nguyên không hề bị lệch, đó chỉ là hệ luỵ tất yếu của khuynh hướng thiên Lão của một nhà Nho đỗ đại khoa sớm mà thôi. Đóng sách tập 2 lại, Lê Văn Thịnh nổi lên như một cái hy vọng của sĩ phu Thăng Long, trẻ trung và trí lự, rồi ra ông sẽ lập công lớn trong ngoại giao đem 5 con voi trắng đổi lấy lại đất bằng khoảng ba tỉnh bây giờ. Nhưng so với chánh sứ Phan Thưởng, Lê chưa uyển nhã, chưa Lão bằng; so với đức tính nhẫn nhục vĩ đại vì nước của Lý Thường Kiệt, Lê còn thua xa. Vạn Hạnh sẽ chỉ như là nhân vật của sử sách nếu chỉ có thế, tiểu thuyết đã khiến ta rơi nước mắt mỗi khi ông vừa muốn chính danh trước tiểu sử Lý Công Uẩn vừa biết tự kiềm chế dù rất chua xót mỗi khi xưng thần với nhà vua, để giữ cho thể diện quốc đạo lẫn quốc triều; ở chỗ này ông rất Con Người. Như sự hiểu của tôi, Vũ Như Tô và Vạn Hạnh là hai nhân vật thành công nhất cả ở tầm tư tưởng, sức khái quát lẫn tính chân thật của hình tượng nghệ thuật của văn học ta.

Vua Lý Thái Tổ cũng là một nhân vật thành công, ngài hành xử như một đấng minh quân. Vua sáng nghiệp mà không hãnh tiến, không quan liêu hoá, không diệt công thần như ngài thật hiếm. Sống giữa vàng son, ngài cũng không quên những người bạn thuở hàn vi, có thể hút vào công nghiệp của mình lão gia nô Phó Phét, tận trung đến gục chết trên máng cỏ tàu ngựa; hút cố nhân Bích Đào cự tuyệt ngôi Hoàng hậu nhưng khi mình lâm chung thì cố nhân đã mang tấm thân trinh bạch của nàng mà truyền hơi ấm cho thi hài mình. Có một tình yêu nữa cũng đẹp và sử thi không kém, đó là Thuần Khanh - vợ Ngô Tuấn (Lý Thường Kiệt) đã bỏ đi tu sau khi chồng bị thiến, nhưng vẫn dành toàn bộ trí lực cuộc đời mình cung hiến cho đại nghiệp của chồng, tái ngộ sau hai mươi năm ở nơi biên thuỳ lúc ông bí mật trinh sát thực địa chiến trường, nàng chỉ tự tay pha cho chồng ấm trè sen, sai thuộc hạ đưa lên cho chồng, còn mình bỏ đi biệt tích. Nơi uống trà xa lạ, người dâng trà xa lạ nhưng vị hương vị và cách pha trà thì rất đỗi thân quen, chỉ là của người ấy khiến Lý tức nghĩ đến cố nhân và hai mươi năm trời đắng cay tủi nhục nhớ thương quay quắt liền sống dậy trong tâm trí vị tướng già đơn độc. Nhưng rồi chí dũng của bậc trượng phu đã chỉ có niềm phẫn uất phù trợ thêm sức mạnh, như một cơ chế nén loso để ông cùng thế trận lòng dân của mình đập kẻ thù dân tộc. Người ta hay ca ngợi văn chương Tàu nhiều chi tiết ghê gớm. Mà ghê gớm thực, Dịch Nha giết con lấy thịt cho vua ăn như một thứ vốn đầu cơ địa vị (Đông Chu liệt quốc,). Kẻ vô học nhờ cơ chế bao cấp mà chỉ với chiếc bánh bao nhân mọt biến một tiểu thư trí thức Bắc Kinh thành nô lệ tình dục kiểu chó (Báu vật của đời). Hay ghê gớm hơn là quái vật Đàn hương hình... Nhưng với Bích Đào và Thuần Khanh, hai nhân vật hoàn toàn sáng tạo của mình, Nguyễn Khắc Phục đã cho văn học ta những ví dụ tương quan nhân loại hơn, giàu có ẩn dụ hơn. Điều đáng mừng là Thăng Long ký đầy rẫy những chi tiết kỳ vĩ và sống động như thế: Trường đoạn Mỹ Duyên - cô cháu gái Lý Thường Kiệt cắp gươm vào cung trong khi âm mưu thoán ngôi âm thầm chờ bùng phát, Nguyễn Thù toạ sơn quan hổ đấu khi Lý Kế Nguyên - con trai Lý Đạo Thành đang chỉ huy quân cấm vệ bảo vệ cho ý đồ chính trị của cha với Hoàng hậu họ Dương chống lại Lý Thường Kiệt. Chỉ một sơ suất nhỏ, Lý Thường Kiệt sẽ mất quyền, đất nước lập tức sẽ suy vong. Nhưng Lý Thường Kiệt đã rút ngòi nổ ra khỏi hầm thuốc súng bằng một bản lĩnh và tài trí không một Tào Tháo nào hơn được. Những trang Phan Thưởng giả say để vừa né tránh kẻ nội gián vừa gán sự dông dài, cái sơ khai của vương triều mới độc lập vào nhận thức những con ó sắp xâm lăng Đại Việt ta. Trường đoạn về hành xử giữa các bậc đại công thần túc trí như Lý Đạo Thành thường coi khinh Lý Thường Kiệt với hoàn cảnh xuất thân thấp kém nhưng dần dần bị khuất phục bởi bản lĩnh Lý Thường Kiệt coi vận nước nặng hơn địa vị, coi nền độc lập của Đại Việt cao hơn hiềm riêng mà Lý Đạo Thành ngoan ngoãn phục tòng thế trận lòng dân như nước cuốn như chẻ tre do Lý Thường Kiệt kiến tạo.v.v... Đó là những trường đoạn có thể sánh ngang với các tác giả truyện lịch sử Đông Tây mà tôi đã đọc.

Nếu như tập 1 Kinh đô rồng xoay quanh hai công trình vĩ đại của Vạn Hạnh: xây kinh thành Thăng Long và lập trường đại học, tôn vinh chữ trí để đưa nền độc lập của nước nhà vào đường ray của quy luật phát triển; thì tập 2 Một mất một còn tiếp tục với mâu thuẫn bộ ba: Thái sư Lý Đạo Thành - một công thần khai quốc quan liêu hoá và bảo thủ; Nguyễn Thù từ tham vọng địa vị quá lớn so với tài năng đi đến vọng ngoại cam tâm làm gián điệp cho nhà Tống và Ngô Tuấn - Lý Thường Kiệt cùng thân hữu của ông như Tạ Đức, Phan Thưởng... Vậy là lại một tiến (Lý Thường Kiệt) một thoái (Lý Đạo Thành) và một chồi (Nguyễn Thù.) Nói như ngôn ngữ hiện đại, Thù là đại biểu cho một tính cách (vọng ngoại), một lực lượng tạm gọi là di căn của thần dân nô lệ đã quá lâu đời. Nước Tống bấy giờ không mạnh, nhưng ý đồ vọng ngoại mù quáng của Thù không phải không là một tiềm tàng nguy hiểm cho nền tự chủ còn non trẻ của Đại Việt. Thấu hiểu điều đó, Lý Thường Kiệt không dùng chiêu thức mà kẻ nắm binh quyền thường dùng là cán lướt mà âm thầm tương kế tựu kế để vừa không gây chia rẽ lực lượng vừa dùng y như một màn sương che mắt kẻ địch. Đó là một hành xử mang tư tưởng thời Lý, cũng như ông đã xử với vị quan bất mãn đầu triều Lý Đạo Thành. Lý Thường Kiệt cùng tuổi với Vương An Thạch, tể tướng nhà Tống đồng thời là người đứng đầu phái Tân pháp của nước này. Lý Thường Kiệt thấu hiểu Vương đang cần chiến công để củng cố quyền lực và Tân pháp đang bị phái cựu học chống cự gay gắt. Ông cũng hiểu rằng, để cho Tân pháp bên kia thắng thế thì cái nền độc lập ôn hoà bên này lập tức lâm nguy bởi những kẻ vọng ngoại mù quáng với tín điều "là Thiên triều thì cái gì cũng đúng" sẽ vứt bỏ cái tốt đẹp nhất đang có của Đại Việt để nhất nhất rập khuôn mẫu quốc. Nguyễn Thù không thể hiểu như Lý Thường Kiệt rằng nhà Tống, mải say sưa với ngai vàng vừa thoán được, đã hoan ca quá lâu, coi trọng vu khoát bay bổng, trong triều quốc khố rỗng không vì nạn tham nhũng xu nịnh, ngoài nội oan khiên dậy đất... nền chính trị rối ren ấy mới cần Vương An Thạch và Tân pháp; nhưng rồi liệu pháp Vương An Thạch cũng không xoay chuyển nổi căn bệnh trầm kha. Thù hiểu làm sao nổi, cái tam giáo đồng nguyên do Vạn Hành gieo trồng, Lý Công Uẩn rồi Lý Thường Kiệt dày công vun xới chính đã là một Tân pháp vượt cả Tống nho đến mấy trăm năm? Tôi không ca ngợi Nguyễn Khắc Phục miêu tả ly kỳ và sống động cuộc chiến tranh nhằm bẻ gẫy âm mưu xâm lược của triều đình Vương An Thạch; đó là cái mà bất kỳ kẻ viết tiểu thuyết dài tập nào cũng phải có, coi như một thứ vốn tối thiểu. Tôi đặc biệt quý trọng sự cắt nghĩa hiện tượng lịch sử độc nhất vô nhị này một cách độc lập với các nhà chép sử, nó cho thấy nhà văn không phải là hệ thống truyền thông của lịch sử; ông ta có bổn phận lý giải và trình bày tư tưởng của chính mình trước diễn tiến lịch sử, lấy lịch sử phụng sự đồng bào và đất nước hôm nay.

Bộ tiểu thuyết đang được viết tiếp nên tôi xin được nói ngay những khiếm khuyết của nó. Nguyễn Khắc Phục hay nói về hiện tượng khai thác lịch sử một cách thiếu quy hoạch như chúng ta đã khai thác rừng đại ngàn. Ông đã tránh được cái hoạ ấy, đã xây dựng được các nhân vật sống động, họ không bị cứng đơ do sử liệu "bó bột". Rất nhiều nhân vật hư cấu rồi sẽ bước ra cuộc đời: Phó Phét, một trai đinh vô điền, nhân giành giải nhất cuộc thi nói phét mà xuất thân; Phan Thưởng, tạng người tự ví mình như con vích là giống người ta đi lên thì mình ngoan cố quay xuống nhưng vẫn bị hút vào thế trận lòng dân; Gia Cát Phong, hoá thân của âm mưu và thù hận hoặc Bích Đào, Thuần Khanh như đã nói ở trên.v.v... Nhưng Nguyễn Khắc Phục vẫn mắc sai lầm là sử dụng tài nguyên rừng phí phạm. Tiểu thuyết có thể giảm một số trang, dành nó cho một cuốn sách biên khảo về đời sống cung đình, như Phạm Khắc Hoè, Nguyễn Đắc Xuân từng làm. Nhưng ông đã "tiếc của giời" mà nhét tất cả những hiểu biết quý giá ấy vào mồm các nhân vật, mớm cung để chúng nói ra. Bực nhất là khi ông cho nhân vật này nói ra những điều mà về logic, nhân vật ngồi nghe đã biết (đây cũng là lỗi thường thấy trong phim truyền hình, phải chăng là bệnh dịch?) với chủ ý để cho người thứ ba - là người đọc lĩnh hội.

Một nhược điểm nữa của Thăng Long ký là đã hư cấu Thượng Dương thái hậu, vợ Lý Phật Mã - Lý Thánh Tông thành người ghen tức với nguyên phi ỷ Lan và gánh lấy hậu quả bị chết cùng các cung nữ bởi tay ỷ Lan như là luật nhân quả. Tác giả đã miêu tả rất hay về việc cô gái làng Sỏi chủ động chài vua, cũng rất nhớ câu nói nổi tiếng "Mẹ già khó nhọc mới có ngày nay mà để người khác ngồi hưởng phú quý thì đặt mẹ vào đâu?" bà ỷ Lan nói với vị vua 7 tuổi con bà. Ngòi bút ông hình như phân vân, nhưng rồi không hiểu sao ông vẫn đi đến phụ hoạ cho sự yêu ghét thường tình, cảm tính. Ông Phục ít khi nói ra lòng thán phục các nhà viết truyện lịch sử Trung Hoa, ông có lý do riêng để ít phục họ, nhưng ông không thể không công nhận điều này: Tư Mã Thiên sau khi ca ngợi hết lời về tài đảm của Lữ Hậu đối với sự nghiệp của chồng mình nhưng vẫn chỉ ra rằng do lòng ghen ghét thái quá mà dẫn đến nguy cơ suýt phá tan cả sự nghiệp nhà Hán khi nó còn non trẻ?

Nhưng ông Phục biết rõ hơn tôi điều này: Chỉ có sự thật lịch sử mới hữu ích cho hậu thế !

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Khuynh hướng đạo lý nhân bản trong Mênh mông bờ nước của Lê Trung Tiết

Đăng Hiển

"Mênh mông bờ nước" là tập truyện ngắn thứ hai của Lê Trung Tiết (sau Những cuộn khói ngày mùa - Nxb QĐND 2001), nội dung có phần thiên về đề tài “hậu xã hội cũ”, “hậu chiến tranh”. Mênh mông bờ nước gồm 10 truyện đều xoay quanh cuộc sống đời thường của nh÷ng người bình thường phần lớn là những người lao động ở nông thôn hoặc dính dáng đến nông thôn. Những biến động của đời sống xã hội trong đó có nhưng không nhiều vì tác giả không tập trung phản ánh nó mà chỉ muốn nêu lên những vấn đề về con người, về quan hệ tình cảm - đạo đức giữa con người với con người. Những tình huống trong truyện chưa thật gay cấn nhưng đã đủ thử thách bản chất con người hay nói cụ thể hơn bản chất con người Việt Nam, đạo lý người Việt Nam, thứ đạo lý không xuất phát từ giáo điều tôn giáo mà hoàn toàn nhân bản đã được bồi đắp và tôi luyện trong quá trình sống lâu dài để trở thành chủ nghĩa nhân cách Việt Nam vừa bền vững vừa hồn nhiên.

Mênh mông bờ nước, vết rạn là truyện quan hệ gia đình, quan hệ vợ chồng. Vết rạn là một chuyện nhỏ nhưng dẫn đến hậu quả lớn. Người vợ hay nói dối vì sợ chồng hẹp lòng, không thông cảm với việc làm chính đáng của mình. Từ đó chồng sinh nghi, sinh ghen khiến cho vợ buồn bực, chán sống, đã đi tự tử (nhưng được cứu thoát). Vết rạn trong tình yêu do mất niềm tin là một vấn đề đáng quan tâm nhưng những tình huống, tình tiết dẫn đến hành động tự tử thì chưa đủ “đô”(1).

Mênh mông bờ nước là trường hợp có tính phổ biến trong đời sống: người phụ nữ muốn vươn lên trong công tác xã hội nhưng người chồng và gia đình nhà chồng không muốn, hay chỉ đồng ý cho chị ta tham gia với điều kiện mưu lợi cho gia đình. Kết cục: Người phụ nữ muốn yên ấm gia đình, yên ổn lương tâm, đành từ bỏ công tác xã hội mà mình đang được tín nhiệm. Truyện biểu dương phẩm chất trong sáng và đôn hậu của người phụ nữ Việt Nam đồng thời cảnh báo những trở lực - ngay trong gia đình - đang kìm hãm sự tiến bộ của họ.

Tiếng vọng lại là một chuyện gần như ngược lại: Người phụ nữ ham tiến thân đến mức sau khi vừa xảy thai xong đã đặt vòng trong nhiều năm, đến khi thành đạt rồi, muốn sinh con thì không thể có nữa! Chị đã nuôi đứa con sơ sinh của một người đàn bà khác, một người đàn bà bất hạnh không được lấy người mình yêu, cũng không được nuôi đứa con mình đã dứt ruột đẻ ra, đã đau khổ quá đến phát điên. Tiếng gọi “Giả con tôi đây” của người đàn bà bất hạnh đã vọng vào lương tâm và sự hối tiếc của người mẹ nuôi.

Đạo lý của con người Việt Nam đã được thử thách trong nhiều hoàn cảnh trong đó có hậu quả chiến tranh. Đêm nay trăng sáng là truyện về một gia đình không có đàn ông, chỉ có 3 người đàn bà (một bà cụ già mù loà, hai người vợ liệt sĩ, họ là mẹ chồng và nàng dâu của nhau). Lệ, cô con dâu, mới 23 tuổi, muốn ở vậy nuôi bà, chăm sóc mẹ, nuôi con nhưng nhu cầu tự nhiên của bản năng khiến cô đã chung chạ với một người đàn ông một đêm bị cảm trước hiên nhà cô. Người đàn ông ấy đã có vợ con lại là cán bộ xã. Anh đã phải vượt lên sự tham lam của mình để gây dựng hạnh phúc cho người đàn bà goá trẻ, người vợ liệt sĩ, người dân của làng anh. Cả hai người thắng được bản thân để đạo lý và hạnh phúc chân chính được tôn trọng. Chỉ tiếc kết cục hai người vừa ôm nhau vừa thề kết nghĩa anh em có vẻ kịch quá!

Chuyện nhà ông Tải là một truyện về đạo đức gia đình, đạo lý nhân bản. Người con dâu goá trẻ muốn xin ông bố chồng sống độc thân một đứa con vì cô không có tình yêu với chồng và biết ông không phải là bố đẻ của chồng mình. Ông bố kiên quyết cự tuyệt vì không thể làm một việc vô luân và vì ông đã có một bài học và sự dễ dãi dối lừa của đàn bà mà hậu quả của nó là ông đã phải nuôi đứa con không phải của mình. Kết thúc có hậu: ông bố lấy vợ, cô con dâu nuôi lấy chồng, bà mẹ chồng lấy nón che bụng khi tiễn cô con dâu về nhà chồng. Một chi tiết khiên cưỡng. Ông Tải không chịu ân ái với vợ vì vẫn bị ám ảnh bởi chuyện cũ (thương cung chi điểu) cho đến khi bà vợ phải nài nỉ, giận hờn…

Các cọc là truyện về quan hệ giữa đấu tranh và tình bạn. Các cọc là anh chàng bộc trực, dám đấu tranh với cái sai, đã thẳng thắn góp ý với bạn mình là cán bộ xã. Người bạn đó lúc đầu cũng khó chịu nhưng sau đó đã nhận ra lẽ phải và sự chân tình của bạn và họ càng quý nhau hơn. Kết thúc có hậu này có vẻ hơi dễ dàng trong khi ở đời “nói thật thường mất lòng”.

Tiêu biểu cho khuynh hướng đạo lý trong truyện Lê Trung Tiết là truyện Cái đẹp. Người bạn tật nguyền xấu xí lại là người có lòng tốt hiếm có và cũng có tình yêu như mọi người lành lặn. Lòng tốt ấy, tình cảm ấy từng không được đáp lại, từng đã bị từ chối phũ phàng nhưng cuối cùng đã được đền đáp bằng tình yêu. Còn cái mà người ta tưởng khó có thể thay đổi được là hình thức con người thì hoá ra lại rất dễ thay đổi - bằng khoa học - nhưng khi trái tim đã bị chinh phục bởi lòng tốt và tình cảm chân thành thì sự thay đổi kia cũng không cần thiết nữa. Thật là “cái nết đánh chết cái đẹp”.

Khuynh hướng đạo lý trong truyện của Lê Trung Tiết không giáo điều, không tự biện mà rất người và gắn bó với hoàn cảnh sống cụ thể của con người Việt Nam và ít nhiều có quan hệ đến tình hình xã hội. Lấp lánh sao trời là đạo đức lấy ân trả oán ngay cả đối với những người đã lấy oán trả ân. Truyện không cốt hồi cố những sai lầm trong cải cách ruộng đất mà chủ yếu ca ngợi lòng khoan dung, tình người cao thượng của con người Việt Nam. Truyện Ban ngày trà mi không nở là lời cảnh báo đối với tâm lý háo sắc, háo tiền và thủ đoạn lừa dối trong “tình yêu và hôn nhân” thời kinh tế thị trường. Các truyện Cái đẹp, Đêm nay trăng sáng, đều gắn với những mất mát trong chiến tranh.

Nếu Lê Trung Tiết đặt những vấn đề đạo đức trên trong những va đập mạnh hơn của thời cuộc và trong những đối lập, xung đột gay gắt hơn của tính cách và hành động thì sức cuốn hút và dư vang của truyện còn mạnh hơn nữa.

Tuy nhiên, hình như Lê Trung Tiết không muốn xây dựng những tình huống quyết liệt, những tính cách bạo liệt, để cho những truyện của anh có thể gần với đời thường hơn. Theo hướng này cũng được, cái đó tuỳ thuộc vào phong cách của tác giả nhưng như thế, tác giả càng phải đi sâu vào tâm trạng nhân vật hơn và sự miêu tả cảnh và người cũng cần đậm nét hơn, đa nghĩa hơn, gây ấn tượng hơn.

Phần kết của một số truyện, có cảm tưởng tác giả hơi vội, chưa đẩy hành động và tâm trạng tới mức cái kết ấy. Có vài truyện chủ đề còn chưa thật nổi bật như Những mảnh cốp pha hoặc có vẻ một chiều như Lấp lánh sao trời.

Những truyện hay trong tập là những truyện đã khắc phục được những nhược điểm trên như Mênh mông bờ nước, Ban ngày trà mi không nở, Cái đẹp… và bao trùm lên xuyên suốt tất cả, kể cả những truyện chưa toàn bích, là một phong cách truyện ngắn bắt đầu định hình: truyện ngắn đời thường có tứ, có chất thơ, chất chân quê, chất nhân bản và đạo lý dân gian Việt.

23-11-2003



(1) Liều lượng

(Văn nghệ trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Sét đánh vào… tứ khoái

Phong Thu

(Đọc Sét đánh vào thị trấn của Phạm Quang Đẩu, Nxb Quân đội Nhân dân -

Hà Nội - 2003)

“… Anh yên chí, em kiếm được thể nào anh cũng có phần”.

Lời giao ước thực lòng với nhau của đôi mèo mả - gà đồng sau một chuỗi lăn lóc, một trận hú vía, ngụ ý rằng: Chúng còn tiếp tục vùng vẫy, lặn ngụp trong vũng lầy của đồng tiền và tội ác mà vẫn cứ nhơn nhơn. Chưa tiệt nọc. Lời cảnh báo còn phải tiếp tục gióng lên. ấy là chuyện gì vậy?

Có một chuyện mà tiểu thuyết Sét đánh vào thị trấn đã được nhà văn khơi ra. Chuyện ấy chưa được nhiều người nhắc tới, vì nó nhập nhoè lẫn vào cái tội danh nói chung: Tệ - nạn - xã - hội. Nó là: Những kẻ liếm láp, ăn theo một cách… đàng hoàng vào những con nghiện hút, hít. Nó là những kẻ: vơ lấy đồng tiền của các nạn nhân đã dính HIV và sẽ bước vào cửa tử HIV - đến “ết” - và chết, để kiếm chác, gây rối xã hội.

Thoạt đọc, ngỡ Sét đánh vào thị trấn là cuốn sách nói về đề tài chống ma tuý. Không. Không chỉ như vậy! Chỉ được gọi là tiểu thuyết, khi cuốn sách nào đó không xắn lấy một đề tài vỏn vẹn nào đó thôi, chứ chưa thể hiện được cuộc sống, đời sống xã hội không tách rời ra ngoài thời điểm lịch sử, tức là thời cuộc và những hoạt động, ý chí hoặc sự toan tính, mưu cơ của con người.

Hiện nay, mọi người đã thấy rõ lắm hiện tượng này: Hễ ở đâu có công trình đầu tư, kiến thiết, xây dựng, mở mang, cải tạo của nhà nước và những việc làm đem lại phúc lợi, tính nhân đạo cho nhân dân, là y như rằng có đủ loại đầu nậu, lũ tầm gửi, vừa ăn theo vừa đào khoét một cách tàn nhẫn cứ như không.

Sét đã đánh vào cái thị trấn miền biên giới - núi cao vào lúc khoảnh đất ấy đã được đổi tên từ Mường ỉn thành Thanh Bình, với nguyện vọng và ý chí thật cao đẹp và cao cả: Đổi mới và nâng cao đời sống cho nhân dân. Tác giả đã khéo xếp cho ông Thiên lôi chỉ giáng lưỡi tầm sét xuống cái bệ xây tấm biển ghi tên gọi mới của thị trấn đến hai lần chứ không giáng vào giữa thị trấn. Là do: Cái bệ và cái biển đã xây trên mỏm đất có quặng. Một cái sự kiện ấy, cũng đã chứa mấy ẩn ý. Những gì đã diễn ra ở thị trấn Thanh Bình trước và sau tiếng sét thứ nhất, đấy là công phu và tâm huyết của Phạm Quang Đẩu với những hiểu biết về miền núi, về con người cùng nỗi trăn trở của anh. Đau xót. Bức bách. Nóng lòng nhưng tỉnh táo và bình tĩnh.

Chưa ló dạng và có hành động khởi động ngay từ những trang đầu, nhân vật làm náo loạn suốt hơn 300 trang của cuốn sách, là một cô gái, được học in ít thôi, mà khoác áo là một cô giáo. Cái cô gái tuổi ngoài 20 đó, thật là “đàn bà dễ có mấy tay”. Trẻ thế mà xỏ mũi tuốt tuồn tuột từ P hó chủ tịch tỉnh với lên mấy quan chức cao hơn tận Hà Nội chỉ với mánh khóe rao bán thuốc cai nghiện. Cái cô Thái ấy có thể xếp vào loại phù thuỷ… gái. Chẳng đẹp, không xinh nhưng là đ i trẻ; nhà văn đã dày công cho cô Thái chưa hề hấn gì sau một loạt thăng trầm, khốn khổ của những người khác - kể cả người thân cha, mẹ, anh, em, họ hàng và… cái ô kiêm người tình cho đến trang cuối cùng, như một nguồn tích điện để sẽ làm nổ tiếng sét loại khác còn nguy hiểm hơn ở thời gian sau của thiên tiểu thuyết này.

Người xưa ở nước ta đã đúc kết bốn cái tệ của cánh đàn ông nói riêng và chừng nào ở nữ giới là: Tứ khoái (rượu, nghiện hút, cờ bạc và chơi gái). Ngày nay mang tên mới: Rượu, bia - đề đóm, đánh bạc, hụi - Hút hít - Các loại “ôm”, tình dục. Để có được “tứ khoái” theo nghĩa xưa và hiện đại hôm nay, thì phải có tiền. Làm gì ra tiền, một khi không tự lao động, làm việc?

Thì như cái cô Thái ấy. Tiền lươn lẹo và tình thì hùi hụi, hùng hục giống con lợn động đực. Hẳn một thứ đàn bà ra ánh sáng tựa con nhà lành, vào góc khuất đúng là con quỷ cái. Vậy mới chết cái anh Phó chủ tịch Lạc. Vừa ham danh vọng, vừa dê, vừa dâm, hám quá mà quáng mắt. Điều đáng chú ý là Thái và Lạc đều vào đời bằng bước đi lệch lạc từ khi còn rất trẻ. Hai người ấy dính với nhau, không hút hít, nhưng đã như con vắt, con đỉa, bám vào kẻ hút hít mà hút ra tiền. Nghĩ vui: Tóm cổ hai nhân vật này (Lạc và Thái) ném ra ngoài, Sét đánh vào thị trấn sẽ khác hẳn.

Dựng nên hai nhân vật này là một thành công của tác giả.

Thị trấn Thanh Bình vốn chỉ là một nơi yên ả chốn biên ải, sẽ êm đềm thôi nếu như không mọc ra những cái quán gào hét, ôm ấp, hút hít… để đến nỗi trai làng bản Nậm Càn cũng bị vít cổ lôi xuống bập vào cái chết trắng. Lớp người vốn chân chất, nhân hậu, nhiệt tình cách mạng cao như Chủ tịch Nam, già làng họ Lầu, họ Và… đã không sao lường hết được chữ ngờ do con cháu mình gây ra, đặt mình vào sự việc đã rồi. Buộc mình phải chấp nhận những điều mới mẻ và chừng nào bất lực trước cái sai, sự việc xấu. Muốn gì thì gì, tương lai vẫn đặt lên vai thế hệ trẻ. Sau đủ mọi thứ quăng quật ở từng số phận con người trong và ngoài và trên thị xã Thanh Bình, nhà văn kết thúc: “… Thiên lôi lại phang trúng cái biển thị trấn Thanh Bình một lần nữa… Ông Chủ tịch mới lên ngay. Nhưng ông quyết khác người tiền nhiệm, xoá không cho xây biển ở chỗ cũ nữa, tìm một chỗ khác…”.

Rõ là: Sét đánh có chỗ. Cột thu lôi, thu được sét. Sét đã đánh một lần vào đâu, ta giờ đã có thể tìm ra nguyên nhân để tránh sét được lắm. Riêng cái tiếng sét ở Mường ỉn cũ, có mang nghĩa là lời cảnh báo cho nhiều việc, sự nhận thức, tri thức, trí tuệ của những người sinh sống tại chỗ, nhất là với tuổi trẻ. Bảo vệ lớp trẻ là một sự nghiệp lớn lao. Từ giảm bớt đến triệt hạ cái xấu ở con người và tuổi trẻ là gian nan, phức tạp, lâu dài, liên tục không ngừng. Tác giả đã đặt lời cảnh báo vào cuộc lại mặt của đôi mèo mả - gà đồng ở cuối cuốn tiểu thuyết thật tự nhiên. Đọc đến trang cuối cùng, tôi cứ nghĩ mãi về thời gian sau của cái cảnh ấy.

Có thể nói: Mối tình giữa Long và Dung, Mỷ và Pây; cuộc tình lăng nhăng của Thuý; số phận bi thảm của anh con trai cả nhà họ Lầu và Bình… đều có chứa tiếng sét dành cho tuổi trẻ.

Phải tỉnh táo và dằn lòng lắm, nhà văn mới không để cho ngòi bút bung ra theo số phận của nhân vật. Anh cứ điềm tĩnh viết, nhưng người đọc lại sốt ruột. Sét cơ mà! Vẫn một phong cách chín chắn, khơi lên từ ngọn nguồn tận cuốn Bảy ngày tự thú (1991), Lời tiên tri độc ác (1992), mười một năm sau, anh cho “nổ sét” ở cuốn tiểu thuyết thứ ba chắc tay hơn.

ở Sét đánh vào thị trấn, vùng địa lý hẹp, thời gian không dài nhưng nhân vật đông hơn, đa dạng hơn, vươn ra không gian xa hơn, cảnh đời sống phong phú và phức tạp hơn. Tôi có thêm ý nghĩa: Thứ ma tuý mà anh đề cập trong cuốn sách này là cái hiểm hoạ của :Tứ khoái.

Và, sét đã đánh vào “tứ khoái!” - nơi sinh ra và nuôi dưỡng những chuyện đau lòng ở cuốn tiểu thuyết này.

Báo Văn nghệ Trẻ
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Xung quanh "Những kẻ giấu mặt" của Hữu Đạt

Cầm trong tay cuốn Những kẻ giấu mặt của Hữu Đạt, tôi đã bị cuốn vào hơn 600 trang sách về một đề tài nếu như không phải là nhất, thì cũng là một trong những vấn đề nóng bỏng nhất được người đọc quan tâm hiện nay ở nước ta: nạn buôn bán ma tuý và thói đạo đức giả.

Cuốn tiểu thuyết Những kẻ giấu mặt được viết dựa trên một số vụ án diễn ra gần đây ở nước ta. Tác giả cuốn sách không hề giấu giếm ý đồ của mình. Ông đã bộc lộ ngay từ phần đầu sách “về cơ bản, nội dung được thể hiện trong cuốn sách đều là chuyện có thật từ các vụ án đặc biệt đã được bóc phá hoặc tư liệu hồ sơ của các loại án mờ…”

Với hơn 600 trang sách, hàng mấy chục nhân vật phức tạp đa dạng thuộc đủ các hạng người: già, trẻ, trai, gái, doanh nghiệp tư nhân, nhà giáo, nhà báo, nhà nghiên cứu, nhà buôn, cảnh sát… ngòi bút của Hữu Đạt đã đủ bản lĩnh để phơi bày cho người đọc thấy được trong thế giới hỗn độn những con người đó, ai là Những kẻ giấu mặt? Thông qua đó, ông muốn bày tỏ thái độ của mình trong cuộc tìm kiếm tiếng nói hoà đồng với độc giả trong cuộc chiến trừ diệt thói “đạo đức giả”, vấn nạn không phải quá hiếm hoi trong xã hội chúng ta hiện nay.

Tiểu thuyết tập trung khai thác chủ đề chính từ một vụ buôn bán ma tuý xảy ra ở một tỉnh miền trung đã từng được báo chí nói tới gần đây, qua tuyến nhân vật Trần Đức Luận, Trần Xuân Viện, A Páo A Puôr…, nạn buôn bán hàm, vị của một số người trong giới trí thức (qua tuyến nhân vật Nguyễn Quang Điều, Cao Văn Ngạo, Nguyễn Văn Lộc), thói ăn chơi trác táng tới mức khuynh đảo xã hội của giới xã hội đen (qua tuyến nhân vật của ông chủ Năm, Sùng hộ pháp, Bảy thẹo, Tám búa), giới nhà báo (Phạm Quốc Văn, Lương Tuệ, giới phản động và buôn bán ma tuý nước ngoài (Ju Cheng Ao, Bùi Hữu Bài…) và không thể không nhắc đến những chiến sĩ công an thầm lặng, ngày đêm “phá án” qua rất nhiều nhân vật từ thiếu tướng tổng cục trưởng Trương Hựu đến cục trưởng Vũ Hồng, phó cục trưởng Trần Nho, trưởng phòng Trần Ngọc, Minh Thúy, các trinh sát viên dày dạn kinh nghiệm, xả thân như Trần Nghị, Quốc Hạ, Đích, Vững… Đã từng biết được công việc của họ ít nhiều qua những thông tin trên báo chí, nhưng quả thật phải đến khi đọc Những kẻ giấu mặt của Hữu Đạt, tôi mới có cơ hội hiểu được tường tận hơn “công việc thầm lặng” họ đã làm bấy lâu nay. Hoá ra cuộc chiến đấu với Những kẻ giấu mặt của họ chẳng đơn giản chút nào, bởi lẽ Những kẻ giấu mặt ấy chẳng phải ai xa lạ. Chúng là những người sống quanh chúng ta, cũng nói, cười, đi, đứng hệt như chúng ta, có điều khác là mỗi cử chỉ, lời nói đi đứng… của chúng chẳng khác nào những diễn viên đóng kịch trên sân khấu. Trùm đường dây buôn bán ma tuý “ăn mặc bình dân”, thích làm từ thiện, trước một cô gái đẹp đến mê hồn, vẫn biết tự kiềm chế dục vọng của mình (Trần Đức Luận); viện trưởng một viện nghiên cứu từng thao thao bất tuyệt về một công trình nghiên cứu nào đó, nhưng “diễn đạt tiếng Việt vẫn còn chưa sõi”, sẵn sàng vì cái ghế công danh chối bỏ cả giọt máu bỏ rơi của mình (Quang Điều), một vị phó ban phòng chống ma tuý nhưng lại tiếp tay cho bọn buôn lậu (Hoàng Dục); một nhà báo trẻ vì hám danh mà vô tình tiếp tay cho “kẻ giấu mặt” (Phan Quốc Văn); một vài vị “sếp” trưởng, phó phòng công an thành phố ăn lương của nhân dân nhưng lại bắt tay với “xã hội đen” (Sáu, Bảy)… Quả là họ chẳng xa lạ với chúng ta chút nào, vậy tại sao lại có thể giấu mặt tinh vi đến như thế? Làm sao cuộc chiến đấu của những chiến sĩ công an lại gian nan, vất vả thậm chí có lúc còn phải trả giá bằng cả sinh mạng của mình, đau đớn đến thế? Hữu Đạt đã tiết lộ cho chúng ta biết rằng, đó là vì tất cả chúng đều học được thói đạo đức giả. Được trang bị thứ vũ khí này, những hoạt động, việc làm xấu xa của chúng trở nên rất tinh vi. Trước mắt nhiều người, một kẻ đạo đức giả có thể từ nham hiểm trở nên “hiền hậu”, xấu thành đẹp, tối thành sáng… Phải tinh vi lắm mới nhận rõ được bộ mặt thật của chúng. Viết đến đây, tôi lại chợt nhớ đến Molière, “người hề” vĩ đại nhất của nước Pháp thế kỷ XVII. Ông từng nói rằng, trong mọi thói xấu của con người, ghê tởm nhất và đáng trừ diệt nhất là thói đạo đức giả. Mọi thói xấu khác của con người đều được sinh ra từ đây. Thật tiếc thay, đã hơn ba thế kỷ trôi qua, kể từ khi Molière tuyên chiến với thói xấu này dường như nó không những không bị tiêu diệt mà còn phát triển dưới nhiều màu sắc tinh vi phức tạp hơn. Phải chăng vì thế cuộc chiến đấu trên mặt trận không có tiếng súng của các chiến sĩ phòng chống ma túy càng trở nên khó khăn, khốc liệt. Tất cả họ, dưới ngòi bút kể chuyện của nhà tiểu thuyết Hữu Đạt, từ vị thiếu tướng tổng cục trưởng Trương Hựu, cục trưởng Vũ Hồng, trưởng phòng Minh Thuý… đến các trinh sát viên Nguyễn Đích, Quốc Hạ, Trần Nhự… đều cùng như phải căng ra, phải “đấu trí”, phải hy sinh cả những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi nhất trong cuộc sống gia đình, thậm chí có lúc, phải sống một “cuộc sống giả” để tìm ra được chân tướng của “Những kẻ giấu mặt”, trừ diệt tận gốc thói “đạo đức giả” đang có nguy cơ trở thành mối hiểm họa trong cuộc sống hiện nay của chúng ta. Tôi nghĩ rằng, đây mới là vấn đề cốt yếu, trong cuốn tiểu thuyết Những kẻ giấu mặt của Hữu Đạt. Tuy nhiên, đọc tiểu thuyết Những kẻ giấu mặt tôi vẫn có cảm giác Hữu Đạt hơi “ôm đồm”. Ông đã đưa vào hơn 600 trang sách của mình quá nhiều vấn đề, nhiều nhân vật. Vì thế, bên cạnh một số nhân vật, vấn đề được khai thác kỹ lưỡng như đường dây buôn bán ma túy với các nhân vật Trần Đức Luận, Trần Xuân Biện, Thương Huyền, hay đường dây phá án với các nhân vật Trương Hựu, Vũ Hồng, Trần Nhự, Minh Thuý… Còn lại, nhóm nhân vật Quang Điều, Văn Ngạo, Minh Lộc…, hay nhóm “xã hội đen” Trùm Năm, Bảy thẹo, Tám búa…, nhóm nhà báo Quốc Văn, Minh Tuệ… dường như vẫn còn thiếu “bề dày” hoặc có thể chưa được khai thác triệt để, toàn diện nên vẫn thiếu tính thuyết phục. Ngoài ra, tôi còn có cảm giác, tác giả đôi chỗ sa vào lối kể lể dài dòng khiến câu chuyện có phần dàn trải, thiếu đi tính sắc bén, vốn là một sức mạnh của tiểu thuyết hiện đại. Tôi tin rằng, với sự sung sức vốn có trong ngòi bút tiểu thuyết, Hữu Đạt sẽ khắc phục được những hạn chế của mình để có được những tác phẩm hấp dẫn hơn trong thời gian tới.



Cuộc chiến thiện - ác trong Những kẻ giấu mặt (*)



Bùi Việt Thắng

1. “Cổ cồn trắng” mượn hình ảnh trong một cuốn tiểu thuyết đã được chuyển thành phim - là nói về kẻ thù, nói về cái ác được Hữu Đạt thể hiện khá sinh động trong những kẻ giấu mặt. Nếu kẻ thù, cái ác mang bộ mặt thảm hại, ngây ngô dốt nát… thì người chiến thắng, cái thiện tất cũng thấp giá. Mà kẻ thù là những kẻ giấu mặt, trà trộn quanh ta vì thế càng cần phải thông minh, tỉnh táo đối với người trong cuộc. Cách thể hiện chủ đề cuộc chiến thiện - ác trong tiểu thuyết của Hữu Đạt, vì thế tuân theo nguyên tắc chơi cờ phải là “kỳ phùng địch thủ”. Kẻ thù có vỏ bọc tốt, có tri thức, có chiến lược, sách lược, thậm chí nhiều tiểu, kỹ xảo sống. Đối lại chúng ta phải cao hơn một tầm, phải “trên cơ”. Đọc tiểu thuyết của Hữu Đạt tránh được nỗi bực bội khi đâu đó ta vẫn gặp cách viết “ta thắng địch thua” “ta giỏi địch kém”. Những Trần Đức Luận, Bùi Hữu Bài… những nhân vật gieo rắc cái chết trắng hiện lên trong tiểu thuyết khá sinh động. Nét chung của chúng là gian hùng, tàn ác nhưng có đầu óc, như Bùi Hữu Bài trở về Việt Nam để “xây dựng một đội ngũ thành một bộ máy siêu chính phủ có khả năng điều hành cả những công việc quốc gia bên cạnh Nhà nước, như ở Mỹ, Ma Cao, Hồng Kông. Khi mạnh hơn ta còn chuyển hoá cả chính quyền về tay mình” (trang 381, 382). Nếu như Bùi Hữu Bài, Trần Đức Luận, ông Trùm Năm… mà câu kết thành công, thì dĩ nhiên cái ác sẽ thắng và cuộc sống sẽ như thế nào?

Tiểu thuyết của Hữu Đạt được viết liền ngay sau dấu vết nóng bỏng của các sự kiện, có thể nói là “ròng ròng sự sống”. Vì thế tính thời sự, tính chiến đấu của tác phẩm rất cao.

Một loại kẻ thù giấu mặt khác, còn nguy hiểm hơn những “Cổ cồn trắng” nói trên, là những bạn bè của chúng ta, nhưng bị tha hoá (như Nguyễn Quang Điều, Cao Văn Ngạo…). Khắc họa những nhân vật thuộc tầng lớp trí thức có địa vị xã hội bị méo mó nhân cách, Hữu Đạt rung hồi chuông cảnh báo cấp cao nhất về sự xuống cấp đạo đức của một bộ phận chiếm vị thế xã hội quan trọng đang làm băng hoại đạo đức truyền thống dân tộc - “lá lành đùm lá rách” “kiến ngãi bất vi vô dũng dã” “trọng nghĩa khinh tài”… Loại kẻ thù giấu mặt này tuy không nhiều nhưng mối hiểm họa lại lớn, bởi không vạch mặt chỉ tên nó, nó sẽ gậm nhấm xã hội, bào mòn đạo lý và làm băng hoại thế hệ trẻ.

2. Một lần đọc sách, tôi ghi lại được một ý hay: Cái thiện đang truy đuổi ráo riết cái ác. Phía trước là một bãi cỏ non mới trồng. Cái ác băng qua bãi cỏ, xéo nát cả một vệt. Cái thiện chạy vòng qua đám cỏ, thừa cơ cái ác đã vượt xa. Cái thiện tăng tốc… Đọc tiểu thuyết của Hữu Đạt, cái ấn tượng về các nhân vật cán bộ, chiến sĩ cảnh sát phòng chống tội phạm về ma tuý thật sâu đậm, xúc động. Nói cách khác, họ đại diện cho cái thiện, họ có “chất người”: Một Cục trưởng Vũ Hồng trước khi lên xe còn dặn đồng đội “phá xong án này nhớ giải quyết cho thằng Đích nó về Bắc Ninh ít ngày giúp vợ đẻ” (trang 67). Khi chuẩn bị bắt Trần Đức Luận thì một tình huống xảy ra - bố Luận chết. Tổng Cục trưởng Trương Hựu đã chỉ thị “phải chờ cho xong tang lễ mới được bắt… Bảy ngày cũng phải chờ… Đạo lý của người Việt xưa nay vốn coi nghĩa tử là nghĩa tận” (trang 584). Từ người chỉ huy cao nhất đến các cán bộ chiến sĩ khác như Đích, Hạ, Trần Như, Trần Ngọc, Nguyễn Chỉ… mỗi người một vẻ mà “mười phân vẹn mười”. Đó là một tập thể mạnh tạo nên quả đấm thép đập tan mọi mưu đồ tội ác của bất kỳ kẻ thù nào.

3. Tiểu thuyết những kẻ giấu mặt của Hữu Đạt đã đan cài chất trinh thám và tâm lý - đây là lối viết hiệu quả tạo nên một công năng của tác phẩm khi viết về một đề tài hóc búa như chống tội phạm về ma tuý. Phải nói Hữu Đạt được TCCSND (Bộ Công an) ưu ái, tạo điều kiện để tiếp xúc tài liệu của chuyên án lớn như các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa và ai cũng biết. Nhưng đó chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Tôi nghĩ có cơ hội sục sâu vào khi tài liệu lưu trữ nội bộ, Hữu Đạt khi viết như được chắp thêm cánh. Dĩ nhiên là “có bột mới gột nên hồ”. Nhưng phần chủ động sáng tạo của Hữu Đạt là hiển nhiên. Tôi thích những tình huống đầy kịch tính tạo nên cái mắt xích, liên kết các sự kiện và bộc lộ tính cách nhân vật. Tạo được những tình huống đặc sắc, tiểu thuyết của Hữu Đạt có độ căng của nhịp điệu và đi nhanh tới kết thúc, mặc dù sách dày hơn 600 trang.

4. Nhưng… cũng đáng tiếc, cuốn tiểu thuyết này có thể nói như nhà văn Nguyễn Công Hoan là cần biết “ăn dè” “cắn ra làm hai” để viết thành hai cuốn tiểu thuyết. Nghĩa là một phần tư liệu, Hữu Đạt nên dự trữ để viết về giới trí thức ngày nay, về sự băng hoại đạo đức của một bộ phận trí thức có vị thế và tiếng tăm trong xã hội. Chính vì “tham” nên Hữu Đạt dồn vào một cuốn sách, nó như cái áo quá chật trên một cơ thể phát phì… hậu quả là, ai cũng biết. Nhưng hình như sự khiếm khuyết, đôi khi lại trở nên hấp dẫn chăng?!



(*) Tiểu thuyết của Hữu Đạt; Nxb Công an Nhân dân. H. 2004.



Hội thảo về cuốn tiểu thuyết “Những kẻ giấu mặt” và cuộc chiến chống ma tuý do tuần báo Văn nghệ và cục cảnh sát phòng chống tội phạm về ma tuý phối hợp tổ chức.



Đấu tranh chống tội phạm về ma tuý đã và đang là vấn đề bức xúc của toàn xã hội. Trên mặt trận đầy cam go và quyết liệt này, hàng ngày, hàng giờ, nhiều chiến sĩ công an nhân dân - lực lượng nòng cốt, xung kích cùng với lực lượng khác được sự giúp đỡ đùm bọc của nhân dân đã chiến đấu kiên cường; nhiều người đã phải đổ cả máu, thậm chí hy sinh cả tính mạng để ngăn chặn đẩy lùi loại tội phạm nguy hiểm này. Cảm xúc trước những chiến công to lớn nhưng thầm lặng của cán bộ chiến sĩ phòng chống tội phạm về ma tuý, nhà văn Hữu Đạt đã viết cuốn tiểu thuyết “Những kẻ giấu mặt” nhằm góp phần động viên ý chí chiến đấu ngoan cường, không quản khó khăn gian khổ của các chiến sĩ cảnh sát và cỗ vũ công lao của phong trào quần chúng nhân dân.

Luôn bám sát những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống, quan tâm đến đề tài phòng chống tội phạm về ma tuý, sáng 18-3, Tuần báo Văn nghệ và Cục cảnh sát Phòng chống tội phạm về ma tuý đã phối hợp tổ chức buổi Hội thảo về cuốn tiểu thuyết “Những kẻ giấu mặt” và cuộc chiến chống ma tuý hiện nay. Đến dự buổi Hội thảo có các vị đại biểu: Đại tá Vũ Hùng Vương - Cục trưởng Cục phòng chống tội phạm về ma tuý, Thượng tá Lê Ngọc Cường - Trưởng khoa Giáo dục Quốc phòng, trường ĐH Khoa học Xã hội và nhân văn quốc gia, nhà văn Trương Vĩnh Tuấn và nhà văn Trung Trung Đỉnh - Phó Tổng biên tập Tuần báo Văn nghệ, nhà thơ Đỗ Bạch Mai - Trưởng Ban biên tập Văn nghệ Trẻ, nhà văn Hữu Đạt cùng đông đảo các nhà văn, nhà báo, các nhà nghiên cứu phê bình, các bạn sinh viên quan tâm đến cuốn tiểu thuyết “Những kẻ giấu mặt” cũng đã đến dự đông đủ. Buổi Hội thảo đã diễn ra trong không khí sôi nổi và thẳng thắn.

(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
“Tìm về cõi hoang vắng” - Tìm về bản ngã con người

Khánh Châm

Tôi đọc cuốn tiểu thuyết “Tìm về cõi hoang vắng” của Kiều Xuân Thủy do Nhà xuất bản Lao động ấn hành với cảm giác của người xem lại bức tranh cũ vừa bị lớp bụi thời gian phủ nhẹ. Bức tranh tưởng đã bị lãng quên, nhưng khi ta cầm chiếc phất trần của thời kỳ đổi mới hôm nay phủ nhẹ lớp bụi thời gian đi, thì nó lại hiển hiện như còn tươi mới. ấy là bức tranh của một thời bao cấp trì trệ, bức bí... mà Kiều Xuân Thủy đã khoanh lại trong bối cảnh một công ty với một vị giám đốc khả kính, vị thư ký công đoàn hiền lành, ông trưởng phòng tổ chức, trưởng phòng tài vụ nhiều tham vọng... với những mối quan hệ lắt léo của họ trong cơ chế “xin, cho”... đầy kịch tính và đậm chất bi hài.

Cuốn tiểu thuyết gồm hai phần, với gần 300 trang, có cấu trúc chặt chẽ, hợp lý ý tưởng của tác giả được thể hiện gọn gàng, bạn đọc dễ dàng tiếp cận và cảm nhận đầy đủ, sau khi gấp cuốn sách lại. Nhân vật trong “Tìm về cõi hoang vắng’’ không nhiều, nhưng được Kiều Xuân Thủy khắc họa kỹ lưỡng, nên đều có diện mạo, cốt cách riêng. Mối quan hệ đan xen giữa các nhân vật cũng không quá phức tạp, phạm vi hoạt động của các nhân vật cũng chỉ gói gọn trong một công ty và địa bàn lân cận, nên câu chuyện không bị phân tán, dàn trải, bạn đọc dễ theo dõi. Trong “Tìm về cõi hoang vắng’’, có lẽ nhân vật thành công nhất mà tác giả dụng công xây dựng là Giám đốc Công ty Tử Vi. Tử Vi là cái trục, xoay quanh ông là các nhân vật khác, như những món gia vị quanh đĩa đặc sản. Ông Tử Vi được tác giả dành cho nhiều “ưu ái’’, nên đã nổi trội hẳn lên so với các nhân vật xung quanh. Đó là một Giám đốc Công ty đầy quyền biến, mưu mẹo và tham vọng. Cách hành xử của ông trong việc riêng cũng như việc chung mang nặng tính toán cá nhân hẹp hòi. Ông “treo thưởng’’ một chiếc xe máy, để con trai ông “cưa đổ’’ bằng được cô con gái ông Phó chủ tịch tỉnh! Bản thân ông, một người không có năng lực, như ông tự nhận biết “Năng lực, thực chất là một khái niệm sách vở, trừu tượng, nửa vời. Chiến hữu của mình nhiều anh năng lực có thừa nhưng họ chẳng khác gì một anh tiều phu đốn củi nóng nảy, kiếm ba năm thiêu một giờ, không cẩn thận còn bị lửa thiêu. Còn mình, chẳng bằng cấp năng lực gì, vẫn đường đường là một ông chủ tài khoản. Tất cả mọi việc đều có bí quyết của nó cả !...”. Một con người như vậy mà vẫn đường đường chèo lái con thuyền một công ty, cầm nắm cuộc sống của bao nhiêu sinh mệnh. Ông đem tiền của Nhà nước chia chác cánh hẩu, đút túi cá nhân, triệt hạ những người không ăn cánh, nịnh trên, nạt dưới, thậm chí “cắt’’ cả quà 1- 6 của trẻ con! Rồi, như là một quy luật của định mệnh, cái thời làm mưa, làm gió của ông cũng dẫn đến một dấu chấm hết: Ông bị Trưởng phòng tài vụ bức tố giác, buộc cấp trên phải cho “hạ cánh an toàn’’. Đến lúc này chân tướng con người thực của ông đã lộ nguyên hình. Ông rõ ra là kẻ “phàm phu tục tử”, khi ông đã “Nghĩ chán rồi, không cần nghĩ nữa. Giữ gìn chán rồi, không cần giữ gìn nữa !’’. Con người tham lam, ích kỷ, vụ lợi, với cái bụng thì to, trái tim thì nhỏ và cằn cỗi đã đi về cõi “hoang vắng’’ ở phần cuối truyện, như một kết cục tất yếu. “Căn bệnh’’ nan y của ông giám đốc vừa bi vừa hài, vừa đáng giận, vừa đáng thương. Một căn bệnh của thời bao cấp trì trệ, xơ cứng… mà Kiều Xuân Thủy đã phát hiện ra và đẩy nó lên thành một kịch tính chua chát.

Quanh ông Tử Vi, còn vài nhân vật nữa, như những nốt nhạc đệm trong một bản nhạc, cáo chung cho một kiểu làm ăn ấu trĩ, cách đối nhân xử thế giả dối, làm tê liệt khả năng sáng tạo, vươn tới của con người. Ví như Trưởng phòng Tổ chức Cơ luẩn quẩn trong mưu toan cầu thân với cấp trên. Ngoài việc khúm núm, nịnh nọt giám đốc, ông còn “bật đèn xanh cho cậu quý tử con trai giám đốc mặc sức tán tỉnh cô con gái cưng của mình, để rồi chuốc lấy một thảm kịch. Cái chết của cô con gái yêu đã làm ông tỉnh ngộ, nhưng mọi sự đã muộn...

Ông Trưởng phòng Tài vụ Bức xuất hiện rất ít, nhưng đã để lại cho độc giả một ấn tượng thật đặc biệt về hành động quái gở khi giãi bày với cấp trên nguyện vọng muốn được thăng quan, tiến chức của mình. Hóa ra ham hố quyền lực của ông quá lớn, mặc dù tuổi đã cao! Và khi không đạt được nguyện vọng, ông lập tức vào vai Giuđa phản Chúa!

Những nhân vật nữ trong “Tìm về cõi hoang vắng’’ không nhiều. Ngoài mấy bà “mệnh phụ’’: Vợ Trưởng phòng Cơ, vợ Giám đốc Tử Vi... chỉ có vẻn vẹn hai cô gái: Cô Dạ Hương, con gái Trưởng phòng Tổ chức, cô Hà con gái ông Phó chủ tịch tỉnh. Hai nhân vật này có phần mờ nhạt và thật đáng tiếc, họ đều bị cậu quý tử con trai ông Giám đốc chinh phục một cách... hơi bị dễ!

Cảnh ông Tử Vi, sau khi đã về hưu rồi, về thăm lại cơ quan cũ là một trường đoạn hay, như cảnh quay chậm của một cuốn phim truyện. Đến lúc này, không phải là ông Tử Vi “đánh bài ngửa”, mà là các nhân vật trong “Tìm về cõi hoang vắng” đồng loạt “đánh bài ngửa” với nhau!

“Tìm về cõi hoang vắng” là một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn người đọc bởi những nhân vật có diện mạo như vừa lạ, vừa quen, bởi những kịch tính, xung đột tuy không dữ dội nhưng phảng phất chất bi hài, bởi cách hành văn vừa sâu cay, vừa trào lộng, hóm hỉnh của tác giả. Cái chết của nhân vật chính ở cuối truyện không hề gây cảm giác buồn chán mà thực chất như một sự gợi mở, nhắc nhở về một quy luật, về một thời đã qua, để những con người hãy cùng nhau sống tốt hơn, đẹp hơn trong một thế giới luôn biến động và trước khi về “cõi hoang vắng”, hãy cùng nhau sống sao cho đúng bản ngã của những con người.

(Báo Văn nghệ Trẻ số 12/2004)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Có một ga tình yêu

Nguyễn Thụy Kha

(Đọc Ga tình yêu của Nguyễn Thông - Nxb Văn hoá - Thông tin)

Thật bất ngờ khi được đọc tập thơ Nguyễn Thông. Đấy là một trải nghiệm xót xa của một người dân Nghệ xa xứ để suốt đời cứ dằn vặt mãi trong tình quê, tình nước, tình bạn, tình yêu và tình đời. Và Nguyễn Thông đã chấm cảm xúc vào những thăng trầm của chính mình mà viết.

Trong thơ Nguyễn Thông có hai mảng không gian thuộc nước Việt và nước Nga (rộng hơn là Liên Xô cũ). Hai mảnh không gian ấy lúc thì cài vào nhau, lúc thì chồng lên nhau, lúc lại tách biệt nhau giữa những dằng xé của một thân phận, một tâm trạng không lúc nào yên ổn. Trên đất Nga, chỉ nhìn thấy dấu chân trên tuyết, Nguyễn Thông đã ám ảnh ngay thành Dấu chân Giao Chỉ:

Trắng mênh mông thông xanh

mờ bạch dương

Vết chân lạ hằn sâu trong lòng tuyết

Em đưa chân nhẹ ướm vào

truyền thuyết

Thơ ấu dậy cồn cào… thương

Phù Đổng Thiên Vương



Tê băng giá quê người mằn mặn

nắng quê hương

Thiếu quốc tịch nhưng quốc hồn đầy vẹn

Anh ngỡ ngàng ánh tuyết nhoà…

cổ nghẹn

Dấu chân người Giao Chỉ vẫn

tha phương…

Khi về lại Yên Nhân quê mình, Nguyễn Thông lại trào lên thương nhớ nơi ấy dù “chẳng chốn chôn rau”.

Nơi anh giờ không dương trắng

thông xanh

Không gió sớm phập phồng hoa

đồng nội

Không còn những hoàng hôn dài gấp bội

Sấm rì rầm chỉ lúa với tre thôi

Một chàng trai dân Nghệ miền Nhân Thành (Yên Nhân cũ) Yên Thành tuổi Kỷ Sửu có một sự thiên di qua bao nhiêu không gian, qua bao nhiêu giảng đường, qua bao nhiêu công việc trong suốt một thời gian đến tuổi 55 mới ngẫm ra số phận trớ trêu của mình:

Tử vi đời tôi sao chờ trong cung đợi

Tôi vẫn tìm tôi mải miết hết cuộc đời

Tưởng nhìn ra. Ai ngờ đời nhiều lối

Lận đận để rồi chủ động tránh

may thôi

...

Gạo cá tính nấu thành cơm số phận

Trên mâm đời chỉ đắng ngọt

thay ngôi

Trong Nguyễn Thông vừa có tố chất của một nhà khoa học, vừa có sự đa cảm của nhà thơ. Bởi vậy, những gì khiến anh rung động đều được anh viết ra bằng ý thức của nhà khoa học và bằng vô thức của nhà thơ. Đọc Nguyễn Thông, không bài thơ nào là không có dấu ấn của sự tìm tòi, có thể có lúc chưa tới, nhưng tìm tòi là khát khao khi Nguyễn Thông định thốt nên lời. Tìm trong thơ anh, đâu cũng thấy rõ một Thi pháp, Thi tứ, Thi ảnh, Thi điệu và Thi tự của riêng Nguyễn Thông, một Nguyễn Thông cố thoát khỏi ảnh hưởng của nhiều thời đại thơ một cách hồn nhiên như chuyển cách sống từ “cơm nhà” ra “cơm bụi”:

Anh đã quên rồi cơm em nấu từ lâu

Bát canh muống chan thời gian

đã nhạt

Chuệch choạc tháng ngày đong

cô đơn vào đầy lòng bát

Ngâm cay, đắng, ngọt, bùi da đũa

đổi màu nâu

Ngay trong khi sử dụng lối lập tứ bằng so sánh như trong “Trắng và đen”, “Lửa và nến”, “Quá khứ và tương lai”, “Hai hạt cát”, “Mắt sàng và hạt tấm”, “Nắm muối lạc và hai que tăm”, “Em như”, “Anh và em”… Nguyễn Thông vẫn cố gắng đẩy cung bậc lên trên sự so sánh hiện hữu:

Năm ngón tay em trắng mềm cắm

xuống bùn đen

Thay rễ mầm đầu tiên trong rét bầm

cho lúa

...

Hạt gạo trắng ngần chắt từ màu đen

lòng đất thành cơm

Queo dưới nắng, oằn đường mưa nên rau vườn mới mướt xanh màu lục

Quả ớt nồng cay bởi đã luộc trong gió

Lào những chiều mưa dục…

Khi Nguyễn Thông nhìn ra Yên Nhân quê mình như khối nam châm điều khiển anh trong từ trường của nó, hay nhìn ra giọt nước mắt người yêu là một “tinh thể hồng lóng lánh” để hoá thành “trầm tích” thì phải thấy chính văn hoá của một nhà khoa học đã giúp cho nhà thơ trong anh mới lên hơn là khi anh bất lực trong thể hiện “ngữ pháp rườm rà kinh khủng động từ Nga” - một bất lực dễ chia sẻ thường thấy ở những người làm thơ chưa chuyên nghiệp. Ngẫm vậy, lại thấy Nguyễn Thông đã bước được những bước đi không ngờ khi anh soi mình vào các vĩ nhân Nga. Bao giờ, Nguyễn Thông cũng bay chênh vênh trên sự so sánh. Anh đã viết thật lạ về Lép Tônxtôi:

Đá xây mộ Tônxtôi

ít hơn số nông nô

Xưa sống trong điền trang đồ sộ

Lối đi vào phần mộ

Dài hơn vòi bút

Uống mực trên lưng

Mồ hôi từng viên đá

Cay đắng chảy ra

Những trang đời ẩn lộ…

Lại là một cách cảm khác về Êxênhin khi đứng trước căn nhà thi nhân:

Ngôi nhà này như nhuộm dáng hồn Nga

Dù đi suốt nghìn năm về không lạ

Thương cọng mì vàng thơm

hương cuống rạ

Khói pha màu cây lá… cả rừng Nga

“Khói pha màu cây lá” thì quả là cũng huyền diệu như “Khói huyền vương lên cây” của Hồ Dzếnh ngày nào.

Với Puskin, Nguyễn Thông cũng thật sâu sắc và đằm đìa:

Puskin nhìn ngây ngất tứ thơ xa

Dắt dòng thi ca Nga chảy vô

ngần nhân loại

Một lần chết nhưng thiên tài sống mãi

Cũng vĩnh hằng như bờ bãi Von-ga

Thơ Nguyễn Thông thường có những liên tưởng bất ngờ, đột ngột tạo ấn tượng mạnh. Nhìn cô gái bịt khăn đen tránh bụi phóng xe trên đường mà anh thấy như “một mũi tên đen - Bắn chẻ ngàn lau lách” nhưng khi ta còn chưa hết ngỡ ngàng với thi cảnh ấy thì đã thấy Nguyễn Thông kéo ngoặt ta sang một liên tưởng khác:

Đợi bao giờ

Cho phố phường lại sạch

Em sẽ bỏ đạo Hồi

Về đạo Phật… nghe anh

Chính sự liên tưởng xung động ấy đã tạo nên những vụt sáng độc đáo trong thơ Nguyễn Thông:

Hạt gạo vàng trôi trên lòng sàng của mẹ

Ngàn sao quay trong vũ trụ ngàn đời

Chỉ hạt tấm xé đời mình tự bé

Lọt mắt sàng khẽ nhảy xuống nia chơi

(Mắt sàng và hạt tấm)

Bài “Người con gái gảy đàn dưới tàu điện ngầm” là một bài thơ hay và độc đáo. Nhìn cô gái Nga “Ngón tay bóc thời gian từng phím gỗ - Day lòng đàn ép bảy nốt bật tung xa” mà anh liên tưởng sang nàng Kiều và chị Dậu để đẩy bài thơ thoát khỏi sự tả lên tầm triết lý nhân văn “Dây đàn căng kéo oằn kiếp nhân sinh”.

Nguyễn Thông hay tạo những cụm từ ghép giữa những hiện hữu và những tâm trạng như: Cây đợi chờ, Mần lo, Quả Sợ, Mầm năm tháng, Kéo lầm lỡ, Nhặt dại khờ, Giá đỏng đảnh, Khói thu chi… để tạo hiệu quả thơ. Cách này có được chắc do cuộc sống từng trải của anh chắt lọc ra chứ không cố ý nên đọc ra có lúc thấy thích, có lúc như một gia vị khó được tất cả chấp nhận. Ví dụ lá dướp cá chẳng hạn.

Một tập thơ như tập tổng kết đời mình như thể Nguyễn Thông thật đáng trân trọng vì nó đúng là thơ chứ không phải diễn ca. Điều mà chàng thạc sĩ khoa học này gửi gắm với mọi người là “Mai sau dù có bao giờ” thì hãy nhớ trên đời mãi mãi vẫn có một thứ cao quý, đó là thơ:

Ai mài bút viết thơ tình trên chợ

Bán ồn ào để thu tĩnh mua mơ

Nhân loại cũng đã từng say với chợ

Bán cho đời… vô giá… chỉ là thơ.

(Chợ xứ người)

Hà Nội - Rằm chạp Quý Mùi

(Báo Văn nghệ số 12))
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Đầy ắp nhân tình trong truyện ngắn Mường M

Nguyễn khắc phê

(Đọc Cạn chén tình - Tuyển tập truyện ngắn Mường Mán, Nxb Trẻ, 2003)

Với gần 40 năm cầm bút, với hơn hai chục tác phẩm văn xuôi, thơ và kịch bản phim, nhà văn Mường Mán là một tên tuổi đã quen thuộc với bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ. Có lẽ vì ấn tượng của một loạt truyện dài mà ngay từ tên sách (Lá tương tư, Một chút mưa thơm, Bâng khuâng như bướm, Tuần trăng mê hoặc, Khóc nữa đi sớm mai v.v…) khiến nhiều người gọi ông là nhà văn của tuổi học trò, trên trang sách của ông chỉ là những Mùa thu tóc rối, Chiều vàng hoa cúc… Một người viết tạo được dấu ấn như thế (dù là với lứa tuổi nào) cũng đã là quý, nhưng đọc Cạn chén tình chúng ta còn gặp một cây bút truyện ngắn đặc sắc, một “Mường - Mán - khác”.

Điều đặc biệt dễ thấy hơn cả là trong tuyển tập dày dặn gồm 48 truyện ngắn này có quá nửa là những truyện viết trước năm 1975, khi tác giả là phóng viên báo chí Sài Gòn ở chiến trường miền Trung. Lâu nay, không ít người, khi nói về thế hệ nhà văn ở miền Trung trong giai đoạn này thường chỉ lưu ý đến những cây bút “phản chiến” hoặc những kẻ “bồi bút chống cộng”, Mường Mán có con đường riêng của mình. Trên những trang văn của anh hầu như không có tiếng bom đạn, không miêu tả trận đánh nào, cũng không thấy những “cuộc đấu” quyết liệt về ý thức hệ, về chuyện thắng bại “địch - ta” mà đầy ắp nhân tình - tình yêu quê hương, trai gái, vợ con, bạn bè… cả những tình yêu thoáng qua, những kẻ bạc tình và bao trùm lên tất cả là tình yêu thương của tác giả đối với những cuộc đời bất hạnh, những số phận trớ trêu.

Có thể có bạn đọc sẽ trách tác giả lảng tránh những “điểm nóng” của thời cuộc và hẳn rằng đó không phải là cách tốt nhất để nhà văn phản ánh cuộc sống sôi động mấy chục năm qua như nhiều người đòi hỏi. Nhưng một nhà văn được bạn đọc nhớ đến trước hết nhờ có cách thể hiện cuộc sống với bút pháp riêng, xây dựng được một thế giới nghệ thuật độc đáo giàu sức truyền cảm và gợi nghĩ đến những vấn đề sâu xa về lẽ sống ở đời, chứ không phải là viết về đề tài “nóng” hay “lạnh”, “lớn” hay “nhỏ”. Nhiều truyện ngắn trong Cạn chén tình đã tạo được hiệu quả nghệ thuật như thế. Cần nói thêm là tuy tác giả không trực tiếp viết về chiến tranh, nhưng những đảo lộn và dư âm của cuộc chiến khốc liệt để lại dấu ấn sâu sắc trong nhiều truyện ngắn. Và ngẫm cho cùng, quả bom hay viên đạn nổ bùng trong giây lát, nhưng hậu quả của nó, nỗi đau nó gây ra thì đeo đẳng con người ta suốt cả cuộc đời. Bà mẹ của Phan suốt ngày đêm, từ năm này sang năm khác, mỏi mòn tựa cửa đợi con về, cô em gái mỗi lúc quá buồn lại bịa chuyện mẹ chết để gọi một người bạn của Phan về cho có bóng dáng đàn ông trong nhà, nhưng bà mẹ nhất quyết không cho ai bước vào cửa, nếu không phải là Phan! Và thảm kịch đã xảy ra khi người yêu của cô em gái đặt chân lên thềm, bà mẹ đã túm đầu một bức tượng đập lên đầu chàng trai… (Truyện Bi kịch). Nhân vật không tên trong truyện Người đàn ông hay cười ba lần ly hôn, không sao kiếm được việc làm chỉ vì cái tật hay cười, ngay cả trong đám tang và trước nỗi bất hạnh của người đời! Mãi rồi người ta mới hiểu người cựu chiến binh ấy vì “một miếng bom hay đạn gì đó nhỏ xíu kẹt lại trong hộp sọ không thể gắp ra… thỉnh thoảng gây những xung động trêu ngươi, buộc anh phải nở những nụ cười ngoài ý muốn!” Truyện Bi kịch viết từ năm 1972, truyện sau viết năm 1995, tác giả không nói rõ, nhưng độc giả nếu quen phân tích nhân vật theo kiểu “địch - ta” có thể nhận ra “người đàn ông hay cười” là một chiến sĩ cách mạng. Còn Phan? Anh lên “rừng” theo Cách mạng, hay đi lính “cộng hoà”, hay chỉ vì thất vọng trước thời thế mà bỏ nhà phiêu bạt? Sự mơ hồ này có lẽ là chủ ý của tác giả và nhờ đó, truyện có ý nghĩa khái quát hơn, có sức sống lâu hơn. Cũng vì thế, mảng truyện viết trước năm 1975 vẫn “liền mạch” với những truyện ngắn của tác giả viết trong những năm gần đây. Quả là bi kịch những người mẹ mất con - nói rộng hơn, nỗi đau “tan - hợp” thời nào cũng có. Hàng ngàn gia đình bất hạnh vì tai nạn giao thông, vì ma tuý trong những năm hoà bình vừa qua là điều ai cũng biết…

Tuy thế, Mường Mán không phải là cây bút “trung lập” hay “mất lập trường”. Chỉ một truyện ngắn Những mùa trăng ca múa viết năm 1972 với hình ảnh chiếc mũ cối bộ đội, với “o Dương” cùng những đồng chí du kích đánh Tây ở làng quê anh được miêu tả qua những trang văn thật đẹp và đậm đà tình nghĩa đã thể hiện sự trân trọng của tác giả đối với những người đã hy sinh vì Tổ quốc, thể hiện tình yêu da diết đối với quê hương. Giọng điệu Huế, hình ảnh Huế và làng Chuồn quê anh thấm đẫm trên rất nhiều trang sách. “… Tôi bỏ những đường phố lớn, lẩn lút trốn vào Đại Nội men theo chân thành cổ. Bóng chiều và niềm im lặng tuyệt vời thả trí tôi tận đáy hồ xanh. Trên mặt hồ xanh, tôi ngồi xuống, lòng thanh thản nhẹ tênh, cái mũ cối úp lên đùi. Cái mũ cối già nua bạc màu kỷ niệm. Tôi nhìn cái mũ và nhớ o Dương… Tôi im nghe tiếng hát o xưa lồng lộng vọng về. Tôi hát, hát say mê những tiếng hát đầu lòng xưa, mơ hồ thấy vầng trán quấn quýt tóc bay của o khẽ chạm tới vầng trăng vô hình nào đó…” (Tạp chí Văn nghệ Quân đội từng in lại truyện này với lời giới thiệu trân trọng của nhà văn Nguyễn Khải) Trong truyện Về giữa mùa hè (viết năm 1973) in đầu cuốn sách với rất nhiều chi tiết, nhân vật chân thật như là một đoạn hồi ký thì tác giả đã dành những dòng thật xúc động khi viết về người Cha kính yêu của mình đã hy sinh trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất.

Cho dù vậy, phần nhiều trong Cạn chén tình vẫn là những câu chuyện rất khó xác định đề tài, với những cảnh đời có thể gọi là “nhỏ bé”, những kỷ niệm nhẹ nhàng và nhiều khi như mơ hồ nữa. Nhưng có lẽ chính vì thế, nó gần gũi với người đọc, trang sách gấp lại, nhiều nhân vật vẫn vương vấn trong lòng độc giả. Có ai lại không xót xa, bâng khuâng trước số phận của Ngâu - cô gái 17 tuổi suốt ngày cô đơn trên tầng gác vì tai nạn giao thông tiện đứt một chân và cướp mất một mắt của cô, đêm đêm chờ đón “những que diêm hy vọng” loé lên ngoài tường thành xuất hiện cùng với hình bóng của một chàng trai và sau đó là những bức thư không địa chỉ: thật xót xa vì sứ giả lặng lẽ xuất hiện đêm đêm để an ủi Ngâu lại chính là anh trai cô! Anh đâu ngờ “trò chơi” anh bày ra để em đỡ cô độc chỉ có thể dẫn đến vô vọng khi cô gái không ngớt đòi xuống gặp chàng trai bên tường thành rồi mê sảng suốt đêm khiến anh phải tìm đến một vị linh mục xưng tội. Nhưng Chúa Trời hẳn cũng phải bó tay trước nỗi bất hạnh này!

Truyện ngắn Mường Mán vẫn nhiều mơ mộng và nhẹ nhàng nhưng thật sự có “sức nặng”. Cạn chén tình là một cuốn sách “nặng ký” về nhiều phương diện. Chỉ có điều “khó hiểu” là một cuốn sách đầy ắp nhân tình như thế, sao lại lấy tựa Cạn chén tình, dù đó là một truyện ngắn hay.

(Báo Văn nghệ số 12))


Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Vũ Duy Thông người rót say vào tỉnh

Trịnh Thanh Sơn

(Đọc tập thơ Và cuộc đời sẽ cứu rỗi) (*)



Đây là tập thơ thứ tám Vũ Duy Thông trình bạn đọc. Tập thơ mang một cái tên có màu sắc Thánh kinh, nhưng là Thánh kinh nhân bản và nhân văn. Vậy nhà thơ muốn nói gì với bạn đọc qua cuốn Thánh kinh tự chế này?

Nhà thơ nói rằng: Đêm nào tôi cũng hoá cơn mưa/ Để chăm bẵm tưới tắm/ Thấm đẫm luống cày khô hạn/ Đất ải bở tơi đợi mùa. Mưa chưa tạnh nhà thơ còn mưa tiếp:

Đêm nào tôi cũng hoá cơn mưa

Trên đồng rơm đụn rạ

Dạo khúc tình tang sinh nở

Rủ rê hạt thóc nảy mầm

(Đêm nào tôi cũng hoá cơn mưa)

Rủ rê hạt thóc nảy mầm là một câu thơ thật giản dị mà mang nhiều hàm nghĩa, tưởng không là thi sĩ, không là Vũ Duy Thông sẽ không viết được . Nhà thơ sẽ là gì nếu không phải là những cơn mưa ấy? Ngày nào cũng vắt mình cạn kiệt/ Để đêm đêm khi bạn ngủ rồi/ Tôi hoá thành cơn mưa. Tôi theo dõi thơ Vũ Duy Thông rất kỹ, cả tám tập thơ của anh, vì mối quan hệ riêng, tôi đều được đọc từ bản thảo. Phải nhận rằng, ý kiến của tôi về thơ Vũ Duy Thông nghiêng về chủ quan, có phần cực đoan, nhưng có lẽ nào khác được? Vũ Duy Thông viết có vẻ dễ dàng, viết như chỉ nhờ vào trí thông minh, viết như nhẹ bẫng, chẳng bóp trán chau mày gì, vậy mà thơ anh có hồn có vía, có nặng có nhẹ, có vui buồn và đắng cay, có niềm tin và rất nhiều hoảng hốt. Thơ Vũ Duy Thông đa dạng, đa chiều, nhiều hợp âm và phức điệu, nói như ngôn ngữ âm nhạc, thơ anh nhiều “xanh cốp”. Đọc thơ Vũ Duy Thông, phải có một chìa khoá để giải mã riêng. Cái chìa khoá ấy là Vũ Duy Thông hay nói ngược, cách nói của cha ông ta, vừa hóm vừa giễu cợt và nụ cười nửa miệng…

… Và cuộc đời sẽ cứu rỗi tập hợp 64 bài thơ Vũ Duy Thông viết trong gần 5 năm nay. Những chiêm nghiệm cuộc đời, bao thăng trầm từng trải, nghĩ mình, nghĩ người, nghĩ trong nước rồi nghĩ ngoài nước, nghĩ xưa rồi nghĩ đến ngày mai, và tất cả nhờ thơ chuyển tải. Vẫn tài hoa như xưa, nhưng trong tập thơ này, ta thấy Vũ Duy Thông đã khác, trầm lắng hơn, nặng trĩu hơn và sâu đằm hơn. Chẳng hạn, anh Nói với em về mặt trời:

Anh sợ

Em ở bên mặt trời vẫn ra đi

Anh sợ hơn

Em bỏ đi mặt trời còn ở lại…

Thơ Vũ Duy Thông không chỉ hiển hiện trên những câu chữ, mà hiện sâu hơn sau mặt chữ, giống như lá loài cây vú sữa, mặt trên xanh, mặt dưới đỏ, nhưng vẫn là một lá cây xanh. Thơ anh động, va đập và trăn trở, đã ngỡ thế này lại ra thế khác, và như thế, nói như ngôn ngữ triết học là “hai mặt của một vấn đề”. Chỉ có điều, là nhà thơ, Vũ Duy Thông trình bày bằng thơ:

Thuở xưa ngỡ đã tan tành

Cái duyên ráo hoảnh cái tình đãi bôi

Chỉ tay hướng ngược hướng xuôi

Nỗi mình va vấp nỗi người chênh vênh

Đã toan rụng lá giữ cành

Hay đâu mở cửa thình lình gặp mưa

(Cho mình ở tuổi năm mươi)

Xưa nay, thơ không làm cho ai sợ, nhưng nhờ thơ và qua thơ, nhà thơ có thể nói nhiều điều mà ai cũng sợ. Sợ nhất là nỗi tuyệt vọng. Kinh Phật nói: “Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng”. Vũ Duy Thông thấu hiểu điều đó, và trong những ngày tháng cam go nhất của cuộc đời, ngỡ đã rụng lá giữ cành anh bỗng thình lình gặp mưa. Điều đó không chỉ an ủi riêng nhà thơ mà còn động viên, an ủi bao người khác. Thơ không làm việc ấy thì làm việc gì?

Cũng vậy, trong bài thơ nhớ người bạn thơ Bế Kiến Quốc, Vũ Duy Thông cũng nhắc lại tư tưởng này và nâng lên một cấp độ mới, siêu thoát hơn, rộng rãi và minh triết hơn:

Tôi sẽ ra đi

Như tờ lịch trên tường

Như dòng sông tan hoà vào biển

Như quả chín tới tận cùng sự chín

Hạt vùi trong đất đợi mùa sau

(Lời của lá mùa đông)

Vũ Duy Thông không cao đàm khoát luận về thơ tải đạo hay không tải đạo, nhưng bằng sáng tạo của riêng mình, anh như nói rằng thơ là thông điệp của con người đến con người, thơ từ một người đến đông người, vậy thì thơ tải đạo. Và anh thương cả lúc chợ chiều:

Em nói chợ chuộng đông chuộng gì lúc vãn

Tôi nghĩ: mình bỏ đi lều quán sẽ buồn



Hai mươi năm sau ngày ấy

Tôi vẫn đi bán những thứ không ai mua

và mua những gì không ai bán

Mải tìm người không biết chợ đã tan

(Ngày ấy bây giờ)

Là một nhà thơ có phong cách và tư tưởng, lại vật vã lăn lộn từ chiến tranh ra hoà bình, từ bao cấp sang đổi mới, đời sống riêng nhìn bề ngoài ngỡ như thành đạt, nhưng bên trong quá nhiều trắc trở, thậm chí đắng cay, Vũ Duy Thông biết mình đang ở vị thế nào trong cuộc đời và trong thơ. Chính vì thế, thơ Vũ Duy Thông mỗi ngày một đạm, một tĩnh, một suy tư nhưng không buông xuôi hay yếm thế.

Chưa bao giờ tôi thấy Vũ Duy Thông bám víu vào thơ để thành danh hay thành đạt. Anh làm thơ như một số kiếp, không rũ bỏ được , nếu rũ bỏ được thơ từ ngày tóc còn xanh, hẳn anh đã thành người khác. Nhưng “đã mang lấy nghiệp vào thân”, không thể nào chạy trốn, bởi thế anh vẫn buộc phải làm thi sĩ. Và anh viết:

Nếu sự vượt lên của con người

Cũng dễ chịu như là bóng đá

Mọi thắng thua trong đời

Cũng công bằng như trong bóng đá

Thì em ơi! Chúng mình có lẽ

Nín thở dễ dàng hơn

Thở cũng dễ dàng hơn!

(Lăn cùng trái bóng)

Sự sống vững bền và tươi rói luôn là điều mà nhà thơ quan tâm. Tất cả sẽ là hư vô nếu không còn sự tươi rói ấy. Biết tôn trọng sự sống, thành tâm tôn thờ sự sống xanh tươi là quan điểm bất di bất dịch trong tư tưởng thơ Vũ Duy Thông. Anh viết nhiều về mưa - ấy là nói về sự sống, anh viết nhiều về cỏ, ấy là sự sống, anh viết nhiều về mầm, về lá, ấy là sự sống. Sự sống ấy mới chính là bè bạn của nhà thơ…

Sau bao nhiêu va vấp nhọc nhằn

Tôi cúi xuống, cỏ cùng tôi thân thiện

Cỏ đứng ngoài cạm bẫy khôn ngoan

Muôn bàn tay chìa ra bè bạn



Cỏ bên mẹ bao năm tôi vắng

Giờ lại canh nấm mộ dãi dầu

Tuổi thơ tôi vui đùa cùng cỏ

Quá nửa đời giờ vẫn nhận ra nhau

(Trên đê làng)

Vì lý do công tác, Vũ Duy Thông nhiều lần phải ra nước ngoài. Dường như đi đâu, anh cũng có thơ và thơ ấy đều hướng về đất nước, hoặc một cảm nghĩ về xứ người với rất nhiều trăn trở. Trong tập thơ này, anh cho in mười bài thơ viết ở nước ngoài trong những chuyến đi ấy: Tôkyo, Lên Trường Thành, Quán Thính Vũ, Gánh ngô đêm, Uống rượu ở xứ người, Mùa đông ở Viên, Bên sông Nêva, Đêm tuyết, Thơ và hòn cuội…

Cũng là viết về xứ người, nhưng cảm nhận của mỗi nhà thơ một khác, tuỳ theo tâm thế và cái tạng của mình. Chẳng hạn, Lên Trường Thành của Trung Quốc, Vũ Duy Thông viết rằng:

Nhớ nắng phương nam lên thành lạnh

Vương triều đổ nát ta còn nhau

Thấy chùm quả dại ngờ bồ kết

Định hái dành em để gội đầu.

(Lên Trường Thành)

Chẳng hạn, ở Đài Loan, trong đêm, anh gặp một người già ngồi bán ngô luộc, ngô nướng, và bỗng cảm thương cho những thân phận nghèo hèn trên xứ người:

Ngô ở Đài Loan luộc cho thêm muối

Bà mẹ Tàu lúi húi quạt than

Mái lều thủng bếp lò xì xụt

Bữa tối người nghèo lõng bõng mưa chan

(Gánh ngô đêm)

Chẳng hạn, ở đất Thục (Trung Quốc), ngồi uống rượu rắn ở Phương Đình Quán, nhà thơ nghĩ ngợi rất nhiều và sực tỉnh trong đêm:

Nửa đêm tỉnh giấc chợt rùng mình

Mừng lưỡi còn chưa phun nọc độc

Cay đắng cũng xin làm kiếp người

Mảnh tình phương Nam xa xôi ơi!

(Uống rượu ở xứ người)

Đi nước ngoài mà làm thơ như thế, hẳn là người cũ quá chăng? Cũ hay mới thì chưa biết, chỉ biết nhà thơ chỉ thích về nhà. Hoá ra, nhà mình là hay hơn cả. Ta về tắm nước ao ta!

Viết về thơ Vũ Duy Thông mà không nhắc gì về thơ tình yêu sẽ là khiếm khuyết, bởi theo tôi, thơ tình Vũ Duy Thông có thể xếp vào hạng “lên võ đài”. Tôi đặc biệt yêu thích hai bài thơ tình trong tập thơ này của anh, đó là: Lời từ biệt mùa thu và bài Điệp khúc bằng lăng Vũ Duy Thông viết đã lâu rồi, nay mới “dám” công bố.

Lời từ biệt mùa thu có thể coi là một bài thơ tình đặc sắc trong đội ngũ những bài thơ tình của Việt Nam, xưa và nay. Phẩm chất cốt lõi của thơ tình là viết về những tình yêu dang dở và trắc trở. Nhưng dang dở và trắc trở thế nào thì mỗi bài thơ một khác. Trong bài thơ Lời từ biệt mùa thu, Vũ Duy Thông chọn một trắc trở dịu dàng:

Lời từ biệt dịu dàng sao

Xé trang thơ này

Anh đặt lên giấc mơ mình nặng nhọc

Lên bước chân em đã mờ dấu cát

Biển vắng người từ bữa em đi.

… Mùa thu đang về ở phía bên kia…

Trong bài Điệp khúc bằng lăng lại thể hiện một tâm thế khác, nỗi cô đơn dằng dặc và một tấm lòng vị tha:

Mong bình yên, mong em được bình yên

Trong bản nhạc em yêu thời thiếu nữ

Trong điệp khúc hoa bằng lăng nở

Hoa như cơn mưa tím trước hiên nhà

Rụng thảng thốt mỗi lần em trở lại

Nhắc ta về một thời đã đi qua

Trong đời thơ của mỗi người thơ, cũng có những bước thăng trầm như mỗi đời người. Giữ sao cho sự thăng trầm đừng cách nhau quá xa, cách nhau vời vợi là điều khó khăn và thách thức. Thơ Vũ Duy Thông, ở tập thứ tám này vẫn giữ được phong độ, vẫn giữ được phong cách, vẫn giữ được phong sương. Điều ấy thật đáng quí, đáng trân trọng và đáng yêu. Thơ Vũ Duy Thông vẫn đang hay!
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Đọc Nhật ký Mã Yến: Nhật ký đòi quyền sống của những con người nhỏ bé

Cuốn sách không có cốt truyện, không hấp dẫn, không có văn chương. Nhưng cả châu Âu đã xôn xao vì nó, âm vang ngược trở lại đất nước Trung Hoa mênh mông. Đó là Nhật ký Mã Yến (*) - nhật ký của một học sinh tiểu học 13 tuổi. Đất nước Trung Hoa mênh mông, vĩ đại có 1 tỉ 200 triệu dân, có nền văn minh sông Hoàng Hà - Dương Tử chói lòa, đất nước Trung Hoa đã vào WTO, đã tự phóng tàu vũ trụ, sắp trở thành cường quốc kinh tế thế giới...

Trong đất nước ấy có một khu vực đất đai khô cằn, dân cư thưa thớt là khu tự trị Nội Mông, trong Nội Mông có huyện Ninh Hạ cũng nghèo tương tự, và trong Ninh Hạ có thôn Trương Gia Thụ nhỏ xíu của những người Hoa theo đạo Hồi. Mã Yến, 13 tuổi, sống với bố mẹ và em trai ở đó.

Cũng như cả thôn, nhà Mã Yến sống với thu nhập bình quân đầu người không đến 100 tệ/năm (khoảng 190.000 đồng VN!), với trạng thái thường trực là cảm giác đói và rét, với mơ ước giản dị là được nhìn thấy cha mẹ ở nhà vào mùa đông, và với khao khát cháy bỏng là được đi học.

Tất cả câu chuyện của Mã Yến chỉ xoay quanh chuyện thèm được đi học, muốn được no trong lúc học và mơ tuần sau, tháng sau, năm sau cha mẹ lại tiếp tế đủ đồ ăn và đóng đủ học phí để đi học.

Cô bé viết nhật ký để ghi lại những công việc hàng ngày của mình, những quan sát thầy cô bè bạn, nỗi đau đớn nhục nhã vì đói đến tái xanh cả người mà không vay bạn cùng lớp được một cái bánh bao, niềm nhớ nhung thương xót cha mẹ đến quặn cả ruột khi dưới cái rét 10 độ âm mà cha mẹ vẫn phải lặn lội ngoài hoang mạc để kiếm rau phát thái (facai) về bán cho người giàu ở thành phố ăn cho “cung hỷ phát tài” (**).

Nhưng bất chấp tất cả, Mã Yến vẫn đến trường. Và đó mới chính là bài ca tuyệt vời về khát vọng làm người, về nghị lực sống của những con người nhỏ bé.

Một phóng viên nước ngoài đến Ninh Hạ tìm hiểu cuộc sống của người dân, cán bộ xã dẫn đi vòng quanh, xem qua loa và nói những lời hoa mỹ về mức sống khá giả tưởng tượng của nhân dân. Bà mẹ mù chữ của Mã Yến không thể chịu đựng được nữa. Bà vùng lên, chạy về lấy cuốn nhật ký của cô bé ra dúi vào tay người phóng viên: “Sự thật không phải thế. Tôi không biết nó viết gì vì không đọc được, nhưng trẻ con thì bao giờ cũng nói thật, hãy đọc rồi sẽ biết”.

Và thế là tất cả bắt đầu: Nhật ký Mã Yến được in và giới thiệu ở Pháp và châu Âu, được biết đến ở Bắc Kinh, trẻ em Pháp mở chiến dịch giúp đỡ Mã Yến, quyên tiền giúp Mã Yến đi học, Mã Yến được sang Pháp, được lên Bắc Kinh. Mã Yến lấy tiền nhuận bút lập quĩ giúp các bạn cùng cảnh. Cuộc đời Mã Yến sang trang. Mẹ Mã Yến đã được đi học để viết thư cho con gái: “Con gái yêu...”

Nhưng vẫn còn hàng chục Mã Yến trong thôn Trương Gia Thụ, hàng ngàn Mã Yến trong huyện Ninh Hạ, hàng triệu Mã Yến ở Trung Quốc và hàng chục triệu Mã Yến trên trái đất này. Bởi vậy mà Mã Yến đã mơ làm phóng viên để đi khắp nơi, phát hiện ra những Mã Yến khác, để giúp các cô bé ấy được tiếp tục sống và mơ ước học hành...
_______________

* NXB Hội Nhà văn 2005

** Facai chỉ là một loại rau dại mọc ở vùng cận hoang mạc nhưng vì nó đồng âm với “phát tài” nên cả người Trung quốc mới giàu ở lục địa lẫn người Hong Kong đều say mê. Một đĩa rau facai trên bàn ăn khách sạn Hong Kong có thể lên tới 500 tệ (gần 1 triệu đồng VN)

Theo Tuổi trẻ

Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Gió nắng Trường Sơn

Hơn 30 năm trước, trong căn nhà nhỏ ở số 51 Trần Hưng Đạo (Hà Nội), nhà thơ Chế Lan Viên đã chuẩn bị từng cây bút, từng tờ giấy viết thư để tiễn con trai mình vào chiến trường miền Nam.

Ở nơi khói lửa, đạn bom những vần thơ của cha: “Năm ngoái đào rung trong tiếng bom. Năm nay đào đẹp lại xa con. Chiến trường con ở hoa gì nhỉ. Khét lẹt mùi bom, xuân có còn?”, là nguồn sức mạnh thiêng liêng đối với chiến sĩ, nhà văn Phan Lai Triều. Và rồi, những năm sau giải phóng, lật giở từng ký ức, ông đã viết tập bút ký Gió nắng Trường Sơn (NXB Văn Nghệ TPHCM).

Gió nắng Trường Sơn của Phan Lai Triều sống lại với nhiều màu sắc của kỷ niệm về một thời đã qua nhưng vẫn thật gần. Ở đó đã có lúc một mình ông chống chọi với những chiếc trực thăng của giặc Mỹ, bị thương, phải lết trong đêm tối để tìm lại đồng đội. Máu của nhiều chiến sĩ đã đổ xuống nhưng chính nó lại nuôi dưỡng ý chí tự cường, giành lại hòa bình, độc lập cho dân tộc. Vì thế, có những cô gái vừa ốm dậy sau cơn sốt rét rừng không được tuyển chọn để vận chuyển vũ khí, đạn dược đã giận, khóc cả buổi. Ở Trường Sơn, bộ đội đã tự sáng chế ra cây đèn dầu với nhiều kiểu dáng độc đáo để “thắp sáng khi màn đêm phủ xuống núi rừng”. Bộ đội cũng tìm cho mình chiếc gậy để sẻ chia gian nan, hiểm trở trên đường ra trận. Hơn thế, chiếc gậy còn là chiếc điếu cày, là cái móc giữ ba lô, là cây căng để mắc võng, là nơi để khắc tên người yêu. Người lính cũng không thiếu những câu chuyện cười ra nước mắt như vì mệt và đói đã “tu” quá nhiều mật ong, nước chè để đến nỗi say bí tỉ...

Gió nắng Trường Sơn cũng theo người về giải phóng Sài Gòn, TP này đã giữ chân người chiến sĩ trẻ. Cũng từ đó, những năm tháng sống và chiến đấu ở Trường Sơn càng không thể nào quên trong tác giả: “Có những đêm tôi nằm mơ, thấy những đồng đội của mình đang bấm chặt chân xuống mặt đất trơn trượt của con dốc vùng rừng núi phía Tây Thừa Thiên - Huế, ấy là vào những năm tháng mưa dầm, cả ngày không tìm được một tia nắng”...


Theo NLĐ



📎 MH550534233
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0