Toàn cầu hoá và sự đa dạng văn hoá
Dương Thuấn - Mai Văn Hai
Văn hoá Việt Nam đang có nguy cơ bị văn hoá nước ngoài lấn át và mất dần đi bản sắc dân tộc - đã có không ít bài viết cảnh báo và bày tỏ sự quan ngại đó. Thực tế có đáng lo như vậy không? Và trước tình hình toàn cầu hoá nhanh chóng như hiện nay, có phải hội nhập là tất yếu, không có con đường nào khác nếu muốn phát triển? Để làm sáng tỏ về vấn đề này, chúng tôi muốn trở lại một số vấn đề cơ bản của toàn cầu hoá và sự đa dạng văn hoá.
Từ cái chung đến cái riêng, cái khác biệt
Chúng ta đều biết, ngày 12 tháng 2 năm 2001 giới khoa học sau nhiều năm nghiên cứu đã công bố bản đồ gien người: Có 99,9% số gien trong tất cả con người trên trái đất đều giống nhau - dù họ thuộc bất kỳ quốc gia hay dân tộc nào. Và một điều vô cùng hiển nhiên, mà bằng quan sát ai cũng có thể biết được, đó là để có thể tồn tại thì tất cả mọi người trên trái đất - cũng bất luận họ ở quốc gia hay dân tộc nào - đều có nhu cầu chung là phải ăn, mặc, tìm nơi ở và tổ chức đời sống cộng đồng. Vậy là, từ cơ sở sinh học đến các nhu cầu xã hội, ta thấy cái phần chung, phần giống nhau của con người là rất lớn.
Tuy nhiên, trong khi dựa trên cơ sở sinh học để giải quyết các nhu cầu đầu tiên mang tính phổ biến này, mỗi cộng đồng người, với kinh nghiệm thực tiễn của mình, lại có một cách lựa chọn riêng, được biểu hiện thành một lối sống, một cách ứng xử và tất cả những điều đó tạo nên bản sắc riêng của họ.
Chẳng hạn, ăn là một nhu cầu nhằm duy trì sự sống, song trong khi các sắc dân du mục chủ yếu là ăn thịt thì dân trồng trọt ăn nhiều ngũ cốc và các thứ rau quả khác. Về mặc, người cực Bắc hầu như quanh năm phải khoác áo lông thú và đi giày ấm, còn ở phương Nam, nhất là khu vực quanh xích đạo, người ta chỉ mang áo đơn, áo cánh, thậm chí nhiều lúc chỉ đi chân đất và ở trần. Nơi ở cũng vậy, nếu như người xứ lạnh quen làm nhà theo kiểu trần thấp, tường dày, cửa nhỏ để giữ hơi ấm thì dân miền nhiệt đới lại thích làm nhà cao, cửa rộng với hàng hiên rộng dài cho thoáng mát và dễ giao hoà với cỏ cây, hoa lá.
Để có thể tồn tại và phát triển, không có xã hội nào không phải bắt đầu từ các công việc giống nhau là phải làm nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Nhưng quá trình thực hành các công việc này lại mỗi nơi một khác. Cũng nhằm cái đích chung là sản xuất lương thực, thực phẩm nhưng chỗ này chăn nuôi, chỗ kia trồng trọt. Hay cũng một nghề trồng trọt mà nơi thì quảng canh, nơi khác thâm canh và nơi khác nữa lại kết hợp cả quảng canh lẫn thâm canh. Từ góc độ tổ chức cộng đồng, thì việc bảo vệ an ninh và duy trì sự cố kết giữa các thành viên là mục tiêu mà xã hội nào cũng mong đạt tới, song ở quốc gia này người ta tổ chức xã hội theo chế độ quân chủ, ở quốc gia khác là chế độ cộng hoà, và quốc gia khác nữa là chính quyền dân chủ nhân dân. Về thể chế hôn nhân và gia đình cũng vậy: có xã hội theo mẫu hệ, có xã hội theo phụ hệ và không ít xã hội có hình thức không hẳn mẫu hệ cũng không ra phụ hệ. Tóm lại, nhu cầu chỉ có một, mà biểu hiện thì vô cùng đa dạng - một sự đa dạng hoàn toàn mang tính khách quan của đời sống xã hội.
Qua cái riêng, cái khác biệt thấy cái chung, cái thống nhất
Ngược lại, qua những biểu hiện muôn hình ngàn vẻ của văn hoá, người ta cũng có thể lần ra chỗ giống nhau, chỗ thống nhất hằng xuyên của chúng. Các tài liệu nhân học và khảo cổ học chỉ ra rằng, ngay từ thời cổ đại, có nhiều tộc người sống rất xa nhau, giữa họ không hề có một sự giao lưu về văn hoá, song cộng đồng nào cũng biết tạo ra cho mình một thứ bánh để ăn, một loại rượu để uống, một "mốt" quần áo để che thân. Nhằm giúp cho việc chuyên chở các đồ vật nặng, cộng đồng nào cũng chế tác được một loại xe riêng và điều thú vị là không có ở đâu con người lại tạo ra chiếc bánh xe vuông, vì người ta đều hiểu làm như thế xe sẽ không chạy được. Khi xem những bộ sưu tập về các công cụ sản xuất và chiến đấu của các tộc người hết sức khác nhau trong các viện bảo tàng về dân tộc học, người ta cũng thấy rõ sự giống nhau giữa các nền văn hoá, còn sự khác nhau chỉ ở một vài chi tiết nhỏ. Chính vì vậy mà E. B. Tylor, trong tác phẩm Văn hoá nguyên thuỷ, đã viết: "Chúng ta cũng thấy như vậy (thấy những nét giống nhau) ở những công việc của người hoang dã: những đồ gỗ dựng nhà, những tấm lưới bắt cá hay những cần câu, những cái tên hay những ngọn giáo đi săn, những cách thức tạo ra lửa, nấu nướng thức ăn bằng lửa, những kiểu bện thừng và đan giỏ, được lặp đi lặp lại giống nhau kỳ lạ ở các mẫu của tất cả các bộ sưu tập minh hoạ cho sinh hoạt cuả các xã hội lạc hậu từ Kamchatka đến Đất lửa và từ Đahomey đến các đảo Hawai".
Có thể dẫn chứng gần gũi hơn là những nét giống nhau, nét thống nhất trong tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam:
- Về sự đoàn kết:
Nhiều chống càng tốt
Nhiều cột càng bền
(Tục ngữ Thái)
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
(Tục ngữ Kinh)
- Về quan hệ ứng xử:
Chồng mắng thì vợ nhịn lời
Vợ giận, chồng lại lả lơi làm lành
(Tục ngữ Thái)
Chồng giận thì vợ bớt lời
Cơm sôi nhỏ lửa, một đời không khê
(Tục ngữ Kinh)
- Về tình yêu nam nữ:
Khi lòng dạ đã thương
Cởi áo cho nhau mặc
(Dân ca Vân Kiều)
Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay
(Dân ca Kinh)
Thân em như con từ quy
Đêm thì họp bạn, ngày thì đi đâu
(Dân ca Mường)
Thân em như lá đài bi
Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầm sương
(Dân ca Kinh)
- Về kinh nghiệm đồng áng:
Ruộng chờ mạ,
Ruộng kỹ càng tốt.
Mạ chờ ruộng,
Mạ muộn chẳng được hạt nào.
(Tục ngữ Tày)
Tua rua thì mặc tua rua
Mạ già, ruộng ngấu không thua
bạn điền.
(Tục ngữ Kinh)
Như vậy là cái chung, cái thống nhất được thể hiện trong mọi lĩnh vực, mọi hiện tượng của các xã hội khác nhau và xu hướng này là hiển nhiên không kém xu hướng cá biệt hoá, đặc thù hoá.
Toàn cầu hoá có thủ tiêu sự khác biệt giữa các văn hoá?
Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, mối quan hệ vừa thống nhất vừa đa dạng của văn hoá đang nổi lên như một vấn đề thời sự nóng hổi. Nhiều người lo ngại là kết quả của toàn cầu hoá có thể làm nảy sinh một nền "văn hoá đồng phục" trên quy mô toàn cầu, mà biểu hiện ban đầu của nó là sự xuất hiện các đơn vị văn hoá chung đối với mọi nước (như mốt, thể thao, du lịch, văn hoá đại chúng). Sự lo ngại này đâu phải là vô cớ. Người ta nhận thấy là ngay cả một nước có truyền thống văn hoá rực rỡ như nước Pháp - nơi đã sinh ra những Đescartes, Racine, Baudelaire, Vitor Hugo - cũng đang bị xâm chiếm bởi các loại nhạc Rock, Rap, Pop, phim ảnh Hollywood, quần jean, áo thun, McĐonal’s, Pizza Hút, gà rán Kentucky, v.v... Trong khi đó, những thành tựu riêng mà từng dân tộc đã đạt được như văn học nghệ thuật, triết học, khoa học - thông qua các phương tiện kỹ thuật hiện đại - lại đang vượt ra khỏi khuôn khổ dân tộc và các biên giới quốc gia để trở thành tài sản chung của nhân loại. Theo xu hướng này, toàn cầu hoá là đồng nghĩa với sự thủ tiêu tính đa dạng của các nền văn hoá khác nhau.
Tuy nhiên, khi xem xét vấn đề một cách toàn diện, người ta đã nhận ra nhiều lý do đảm bảo cho sự khác biệt giữa các văn hoá.
Trước hết, cần nhớ rằng toàn cầu hoá là một quá trình diễn ra không đồng đều và đầy mâu thuẫn, ở đó các nước giàu chiếm vị trí thủ lĩnh và là kẻ chiến thắng, trong khi các nước nghèo lại trở nên nghèo hơn nữa. Do đó, phong trào chống lại toàn cầu hoá cũng đang ngày một tăng lên của các lực lượng, các khu vực, các dân tộc, các vùng khác nhau. Chúng ta có thể nhận thấy rõ điều này tại các hội nghị toàn cầu ở Sietlơ, Praga hay Đavôxơ. Rõ ràng là, toàn cầu hóa trong khi làm xuất hiện sự tích hợp và thống nhất văn hoá trên phạm vi toàn cầu, thì đồng thời cũng kéo theo nó sự phân hoá về văn hoá một cách sâu sắc nhất. Biểu hiện sinh động cho sự phân hoá này là sự ra đời của hàng loạt các khái niệm như: nền văn minh, văn hoá khu vực, văn hoá dân tộc, văn hoá vùng, v.v...
Thứ hai, kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng một quốc gia, một dân tộc khi có sự giao lưu, tiếp xúc và tiếp thu văn hoá của các quốc gia, dân tộc khác, thông thường người ta không bê nguyên xi, mà chỉ chọn lựa lấy những mặt, những yếu tố có lợi, rồi biến cải, dân tộc hoá, bản địa hoá cho phù hợp để thành văn hoá của mình. Các nhà nghiên cứu gọi sự chọn lựa này là sự tiếp biến, hay là độ "khúc xạ" trong tiếp thu văn hoá.
Thứ ba, từ trước đến nay người ta đã viện dẫn rất nhiều lý do để giải thích về sự khác biệt giữa các văn hoá, như sự khác nhau về chủng tộc, sự cách xa về không gian địa lý, sự không đồng nhất về khí hậu, đất đai, sự chế định của những điều kiện kinh tế - xã hội, v.v... ở đây chúng tôi chỉ nhấn mạnh một điều, rằng nhiều khi chính bản thân sự gần gũi, sự tương đồng cũng trở thành lý do làm nảy sinh sự khác biệt. ấy là khi mỗi người đều muốn tô đậm sự khác biệt của mình, để khẳng định bản sắc, để được là chính mình. Trong tác phẩm Chủng tộc và lịch sử, nhà nhân học Lévi - Strauss viết rằng: "Nhiều tập quán đã nảy sinh không phải từ một sự cần thiết nội tại hay một sự cố thuận lợi nào đó, mà chỉ từ ý muốn không phụ thuộc vào một nhóm bên cạnh".
Từ những lý do trên đây, nhìn lại lịch sử giao lưu và tiếp biến văn hoá của Việt Nam, chúng ta càng thấy rõ sức sống mãnh liệt và sự tiến bộ về mặt văn hoá của dân tộc ta là lớn lao biết chừng nào. Từ cái nền văn hoá Đông Nam á, trải qua hàng nghìn năm quan hệ với nước láng giềng lớn là Trung Hoa, tổ tiên ta đã không ngừng tiếp nhận và biến cải những yếu tố hữu ích trong văn hoá của họ như ngôn ngữ, văn tự, cách tổ chức nhà nước, giáo dục, khoa cử, nghệ thuật, v.v... làm giàu có thêm cho nền văn hoá nước nhà. Dưới thời Pháp thuộc, trong khi không ngừng chống xâm lược, chúng ta vẫn chủ động tiếp thu các giá trị văn hoá Pháp và phương Tây nói chung. Đó là việc Latinh hoá chữ quốc ngữ để thay thế cho các loại chữ vuông truyền thống, sự kết hợp Đông và Tây y, cải cách giáo dục theo lối mới, rồi thể thao, khoa học, công nghệ, giao thông vận tải, truyền thông báo chí, tiểu thuyết, thơ ca, hội hoạ, âm nhạc, điện ảnh, v.v... Ngày nay, với chủ trương sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, dân tộc Việt Nam không ngừng phấn đấu cho mục tiêu hoà bình, độc lập và phát triển trên quy mô toàn cầu. Nếu như trước đổi mới chúng ta chỉ có quan hệ hợp tác, trao đổi văn hoá với khoảng 20 nước trên thế giới, thì ngày nay con số đó đã tăng lên nhiều lần, với nhiều hiệp định, chương trình hợp tác đã được ký kết. Quan hệ giao lưu, hợp tác văn hoá không ngừng mở rộng không chỉ làm cho nền văn hoá của chúng ta được tiếp thêm sức mạnh, mà vai trò, vị thế của Việt Nam cũng không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế.
Vậy thì, chúng ta có nên quá lo lắng cho việc hội nhập sẽ làm mất đi bản sắc dân tộc hay không?
(Báo Văn nghệ)
Dương Thuấn - Mai Văn Hai
Văn hoá Việt Nam đang có nguy cơ bị văn hoá nước ngoài lấn át và mất dần đi bản sắc dân tộc - đã có không ít bài viết cảnh báo và bày tỏ sự quan ngại đó. Thực tế có đáng lo như vậy không? Và trước tình hình toàn cầu hoá nhanh chóng như hiện nay, có phải hội nhập là tất yếu, không có con đường nào khác nếu muốn phát triển? Để làm sáng tỏ về vấn đề này, chúng tôi muốn trở lại một số vấn đề cơ bản của toàn cầu hoá và sự đa dạng văn hoá.
Từ cái chung đến cái riêng, cái khác biệt
Chúng ta đều biết, ngày 12 tháng 2 năm 2001 giới khoa học sau nhiều năm nghiên cứu đã công bố bản đồ gien người: Có 99,9% số gien trong tất cả con người trên trái đất đều giống nhau - dù họ thuộc bất kỳ quốc gia hay dân tộc nào. Và một điều vô cùng hiển nhiên, mà bằng quan sát ai cũng có thể biết được, đó là để có thể tồn tại thì tất cả mọi người trên trái đất - cũng bất luận họ ở quốc gia hay dân tộc nào - đều có nhu cầu chung là phải ăn, mặc, tìm nơi ở và tổ chức đời sống cộng đồng. Vậy là, từ cơ sở sinh học đến các nhu cầu xã hội, ta thấy cái phần chung, phần giống nhau của con người là rất lớn.
Tuy nhiên, trong khi dựa trên cơ sở sinh học để giải quyết các nhu cầu đầu tiên mang tính phổ biến này, mỗi cộng đồng người, với kinh nghiệm thực tiễn của mình, lại có một cách lựa chọn riêng, được biểu hiện thành một lối sống, một cách ứng xử và tất cả những điều đó tạo nên bản sắc riêng của họ.
Chẳng hạn, ăn là một nhu cầu nhằm duy trì sự sống, song trong khi các sắc dân du mục chủ yếu là ăn thịt thì dân trồng trọt ăn nhiều ngũ cốc và các thứ rau quả khác. Về mặc, người cực Bắc hầu như quanh năm phải khoác áo lông thú và đi giày ấm, còn ở phương Nam, nhất là khu vực quanh xích đạo, người ta chỉ mang áo đơn, áo cánh, thậm chí nhiều lúc chỉ đi chân đất và ở trần. Nơi ở cũng vậy, nếu như người xứ lạnh quen làm nhà theo kiểu trần thấp, tường dày, cửa nhỏ để giữ hơi ấm thì dân miền nhiệt đới lại thích làm nhà cao, cửa rộng với hàng hiên rộng dài cho thoáng mát và dễ giao hoà với cỏ cây, hoa lá.
Để có thể tồn tại và phát triển, không có xã hội nào không phải bắt đầu từ các công việc giống nhau là phải làm nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Nhưng quá trình thực hành các công việc này lại mỗi nơi một khác. Cũng nhằm cái đích chung là sản xuất lương thực, thực phẩm nhưng chỗ này chăn nuôi, chỗ kia trồng trọt. Hay cũng một nghề trồng trọt mà nơi thì quảng canh, nơi khác thâm canh và nơi khác nữa lại kết hợp cả quảng canh lẫn thâm canh. Từ góc độ tổ chức cộng đồng, thì việc bảo vệ an ninh và duy trì sự cố kết giữa các thành viên là mục tiêu mà xã hội nào cũng mong đạt tới, song ở quốc gia này người ta tổ chức xã hội theo chế độ quân chủ, ở quốc gia khác là chế độ cộng hoà, và quốc gia khác nữa là chính quyền dân chủ nhân dân. Về thể chế hôn nhân và gia đình cũng vậy: có xã hội theo mẫu hệ, có xã hội theo phụ hệ và không ít xã hội có hình thức không hẳn mẫu hệ cũng không ra phụ hệ. Tóm lại, nhu cầu chỉ có một, mà biểu hiện thì vô cùng đa dạng - một sự đa dạng hoàn toàn mang tính khách quan của đời sống xã hội.
Qua cái riêng, cái khác biệt thấy cái chung, cái thống nhất
Ngược lại, qua những biểu hiện muôn hình ngàn vẻ của văn hoá, người ta cũng có thể lần ra chỗ giống nhau, chỗ thống nhất hằng xuyên của chúng. Các tài liệu nhân học và khảo cổ học chỉ ra rằng, ngay từ thời cổ đại, có nhiều tộc người sống rất xa nhau, giữa họ không hề có một sự giao lưu về văn hoá, song cộng đồng nào cũng biết tạo ra cho mình một thứ bánh để ăn, một loại rượu để uống, một "mốt" quần áo để che thân. Nhằm giúp cho việc chuyên chở các đồ vật nặng, cộng đồng nào cũng chế tác được một loại xe riêng và điều thú vị là không có ở đâu con người lại tạo ra chiếc bánh xe vuông, vì người ta đều hiểu làm như thế xe sẽ không chạy được. Khi xem những bộ sưu tập về các công cụ sản xuất và chiến đấu của các tộc người hết sức khác nhau trong các viện bảo tàng về dân tộc học, người ta cũng thấy rõ sự giống nhau giữa các nền văn hoá, còn sự khác nhau chỉ ở một vài chi tiết nhỏ. Chính vì vậy mà E. B. Tylor, trong tác phẩm Văn hoá nguyên thuỷ, đã viết: "Chúng ta cũng thấy như vậy (thấy những nét giống nhau) ở những công việc của người hoang dã: những đồ gỗ dựng nhà, những tấm lưới bắt cá hay những cần câu, những cái tên hay những ngọn giáo đi săn, những cách thức tạo ra lửa, nấu nướng thức ăn bằng lửa, những kiểu bện thừng và đan giỏ, được lặp đi lặp lại giống nhau kỳ lạ ở các mẫu của tất cả các bộ sưu tập minh hoạ cho sinh hoạt cuả các xã hội lạc hậu từ Kamchatka đến Đất lửa và từ Đahomey đến các đảo Hawai".
Có thể dẫn chứng gần gũi hơn là những nét giống nhau, nét thống nhất trong tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam:
- Về sự đoàn kết:
Nhiều chống càng tốt
Nhiều cột càng bền
(Tục ngữ Thái)
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
(Tục ngữ Kinh)
- Về quan hệ ứng xử:
Chồng mắng thì vợ nhịn lời
Vợ giận, chồng lại lả lơi làm lành
(Tục ngữ Thái)
Chồng giận thì vợ bớt lời
Cơm sôi nhỏ lửa, một đời không khê
(Tục ngữ Kinh)
- Về tình yêu nam nữ:
Khi lòng dạ đã thương
Cởi áo cho nhau mặc
(Dân ca Vân Kiều)
Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay
(Dân ca Kinh)
Thân em như con từ quy
Đêm thì họp bạn, ngày thì đi đâu
(Dân ca Mường)
Thân em như lá đài bi
Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầm sương
(Dân ca Kinh)
- Về kinh nghiệm đồng áng:
Ruộng chờ mạ,
Ruộng kỹ càng tốt.
Mạ chờ ruộng,
Mạ muộn chẳng được hạt nào.
(Tục ngữ Tày)
Tua rua thì mặc tua rua
Mạ già, ruộng ngấu không thua
bạn điền.
(Tục ngữ Kinh)
Như vậy là cái chung, cái thống nhất được thể hiện trong mọi lĩnh vực, mọi hiện tượng của các xã hội khác nhau và xu hướng này là hiển nhiên không kém xu hướng cá biệt hoá, đặc thù hoá.
Toàn cầu hoá có thủ tiêu sự khác biệt giữa các văn hoá?
Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, mối quan hệ vừa thống nhất vừa đa dạng của văn hoá đang nổi lên như một vấn đề thời sự nóng hổi. Nhiều người lo ngại là kết quả của toàn cầu hoá có thể làm nảy sinh một nền "văn hoá đồng phục" trên quy mô toàn cầu, mà biểu hiện ban đầu của nó là sự xuất hiện các đơn vị văn hoá chung đối với mọi nước (như mốt, thể thao, du lịch, văn hoá đại chúng). Sự lo ngại này đâu phải là vô cớ. Người ta nhận thấy là ngay cả một nước có truyền thống văn hoá rực rỡ như nước Pháp - nơi đã sinh ra những Đescartes, Racine, Baudelaire, Vitor Hugo - cũng đang bị xâm chiếm bởi các loại nhạc Rock, Rap, Pop, phim ảnh Hollywood, quần jean, áo thun, McĐonal’s, Pizza Hút, gà rán Kentucky, v.v... Trong khi đó, những thành tựu riêng mà từng dân tộc đã đạt được như văn học nghệ thuật, triết học, khoa học - thông qua các phương tiện kỹ thuật hiện đại - lại đang vượt ra khỏi khuôn khổ dân tộc và các biên giới quốc gia để trở thành tài sản chung của nhân loại. Theo xu hướng này, toàn cầu hoá là đồng nghĩa với sự thủ tiêu tính đa dạng của các nền văn hoá khác nhau.
Tuy nhiên, khi xem xét vấn đề một cách toàn diện, người ta đã nhận ra nhiều lý do đảm bảo cho sự khác biệt giữa các văn hoá.
Trước hết, cần nhớ rằng toàn cầu hoá là một quá trình diễn ra không đồng đều và đầy mâu thuẫn, ở đó các nước giàu chiếm vị trí thủ lĩnh và là kẻ chiến thắng, trong khi các nước nghèo lại trở nên nghèo hơn nữa. Do đó, phong trào chống lại toàn cầu hoá cũng đang ngày một tăng lên của các lực lượng, các khu vực, các dân tộc, các vùng khác nhau. Chúng ta có thể nhận thấy rõ điều này tại các hội nghị toàn cầu ở Sietlơ, Praga hay Đavôxơ. Rõ ràng là, toàn cầu hóa trong khi làm xuất hiện sự tích hợp và thống nhất văn hoá trên phạm vi toàn cầu, thì đồng thời cũng kéo theo nó sự phân hoá về văn hoá một cách sâu sắc nhất. Biểu hiện sinh động cho sự phân hoá này là sự ra đời của hàng loạt các khái niệm như: nền văn minh, văn hoá khu vực, văn hoá dân tộc, văn hoá vùng, v.v...
Thứ hai, kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng một quốc gia, một dân tộc khi có sự giao lưu, tiếp xúc và tiếp thu văn hoá của các quốc gia, dân tộc khác, thông thường người ta không bê nguyên xi, mà chỉ chọn lựa lấy những mặt, những yếu tố có lợi, rồi biến cải, dân tộc hoá, bản địa hoá cho phù hợp để thành văn hoá của mình. Các nhà nghiên cứu gọi sự chọn lựa này là sự tiếp biến, hay là độ "khúc xạ" trong tiếp thu văn hoá.
Thứ ba, từ trước đến nay người ta đã viện dẫn rất nhiều lý do để giải thích về sự khác biệt giữa các văn hoá, như sự khác nhau về chủng tộc, sự cách xa về không gian địa lý, sự không đồng nhất về khí hậu, đất đai, sự chế định của những điều kiện kinh tế - xã hội, v.v... ở đây chúng tôi chỉ nhấn mạnh một điều, rằng nhiều khi chính bản thân sự gần gũi, sự tương đồng cũng trở thành lý do làm nảy sinh sự khác biệt. ấy là khi mỗi người đều muốn tô đậm sự khác biệt của mình, để khẳng định bản sắc, để được là chính mình. Trong tác phẩm Chủng tộc và lịch sử, nhà nhân học Lévi - Strauss viết rằng: "Nhiều tập quán đã nảy sinh không phải từ một sự cần thiết nội tại hay một sự cố thuận lợi nào đó, mà chỉ từ ý muốn không phụ thuộc vào một nhóm bên cạnh".
Từ những lý do trên đây, nhìn lại lịch sử giao lưu và tiếp biến văn hoá của Việt Nam, chúng ta càng thấy rõ sức sống mãnh liệt và sự tiến bộ về mặt văn hoá của dân tộc ta là lớn lao biết chừng nào. Từ cái nền văn hoá Đông Nam á, trải qua hàng nghìn năm quan hệ với nước láng giềng lớn là Trung Hoa, tổ tiên ta đã không ngừng tiếp nhận và biến cải những yếu tố hữu ích trong văn hoá của họ như ngôn ngữ, văn tự, cách tổ chức nhà nước, giáo dục, khoa cử, nghệ thuật, v.v... làm giàu có thêm cho nền văn hoá nước nhà. Dưới thời Pháp thuộc, trong khi không ngừng chống xâm lược, chúng ta vẫn chủ động tiếp thu các giá trị văn hoá Pháp và phương Tây nói chung. Đó là việc Latinh hoá chữ quốc ngữ để thay thế cho các loại chữ vuông truyền thống, sự kết hợp Đông và Tây y, cải cách giáo dục theo lối mới, rồi thể thao, khoa học, công nghệ, giao thông vận tải, truyền thông báo chí, tiểu thuyết, thơ ca, hội hoạ, âm nhạc, điện ảnh, v.v... Ngày nay, với chủ trương sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, dân tộc Việt Nam không ngừng phấn đấu cho mục tiêu hoà bình, độc lập và phát triển trên quy mô toàn cầu. Nếu như trước đổi mới chúng ta chỉ có quan hệ hợp tác, trao đổi văn hoá với khoảng 20 nước trên thế giới, thì ngày nay con số đó đã tăng lên nhiều lần, với nhiều hiệp định, chương trình hợp tác đã được ký kết. Quan hệ giao lưu, hợp tác văn hoá không ngừng mở rộng không chỉ làm cho nền văn hoá của chúng ta được tiếp thêm sức mạnh, mà vai trò, vị thế của Việt Nam cũng không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế.
Vậy thì, chúng ta có nên quá lo lắng cho việc hội nhập sẽ làm mất đi bản sắc dân tộc hay không?
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,