📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Chín khúc tương đồng- Đọc trường ca trầm tích của Hoàng Trần Cương

0 trả lời, 95 lượt xem — Trang 1 / 1
Chín khúc tương đồng- Đọc trường ca trầm tích của Hoàng Trần Cương

Tùy bút của Nguyễn Quang Lập

1. Tôi hiểu Trầm tích là kết tủa của kí ức, sự kết tủa lỏng, từng giọt, từng giọt một của một người từ thủa “đẻ rơi bên cối giã gạo”, thủa mới chỉ là “ nỗi buồn không biết nói”, “đi qua tuổi thơ nắng mưa lấn bấn”, đi qua “những nhọc nhằn mê lú”, “những tháng năm tươi nguyên màu máu chảy”, “những địa tầng mưng máu” cho đến ngày bạc tóc mới giật mình nhìn lại món nợ đời không biết trả làm sao, nhưng lại không muốn “gán cho mai sau/dù một cắc nợ nần”.

Từng giọt kí ức cũng là từng giọt ăn năn, từng giọt nhớ thương day dứt, kết thành dòng sông chảy lặng lẽ giữa đời thường.

2. Kí ức về nơi chôn nhau cắt rốn, “nơi mùa hạ long đầu/mùa đông lỏng gối/ nơi linh thiêng thơm thảo tình người”. Nơi đó là miền Trung, mảnh đất “mỏng và sắc như cật nứa”, mảnh đất “về tắt mắc rừng / đi ngang vướng biển”- “Mảnh đất nghèo mồng tơi không kịp rớt”.

Miền Trung, “cái chảo rang của đất đựng trời,” “đông chưa tàn, hạ đã rạn ban mai”. Sống trọn kiếp với miền Trung mới thấm cái chữ rạn kia. Mùa hạ đã rạn trời, “nắng rúc xù mái rạ”, “bảnh mắt nắng rộm màu cá rán/ nghe mo nang lốp bốp nổ khắp làng”, “trời thủng lam nham nắng chiều vàng ối”. Những mùa hạ điêu đứng. Nắng điêu đứng nắng. “Đói khát chen nhau gầy rạc lời ru”, “những dòng sông thoi thóp nước”. Gió điêu đứng gió. Những ngọn gió “thổi cay thổi rát”, những ngọn gió “cào lửa vào đêm”. Đất gan gà gió xới “bụi đỏ vùi chột cả bóng tre” và “cát mênh mang là cát”, “lốc xoáy hình vành nón”, “bạc phau trang giấy trắng học trò.” Đã từng vật vã trong mịt mù cát bụi, tôi hiểu vì sao nhà thơ lại nói: “Câu ví dặm nằm nghiêng/ trên nắng và dưới cát” và vì sao “ đến câu hát cũng hai lần sàng lại”.

Lịm đi vì những câu thơ hay tê tái!

Những câu thơ nóng rẫy, rút ruột từ những năm tháng trời đày, những mùa hạ vật vã với nắng gió và hạn hán, thèm quá một giọt mưa trời, bao ngày “ngửa mặt nhìn trời xanh nhức mắt”, nhìn “sông Lam héo theo lá” mà lo. Và khóc: “Gặp trăng thâm quầng đứng khóc cạn đêm”. Những ai từng bị những vầng trăng quầng đe dọa suốt tuổi thơ cháy khát, khó lòng cầm được nước mắt trước thơ anh.

3. Miền Trung, “những đồng quê gió máy bạc trời” , những cơn “mưa quây khú cả nắng vàng”. Mảnh đất “mưa giờ Ngọ chưa qua gió giờ Mùi đã tới”, mảnh đất “ròng ròng mùa chinh chiến”. ở đâu trong kí ức da diết nhớ thương mảnh đất ấy cũng gặp “những bãi hoang loang đầy vọt bổi”, những cánh đồng “lúa con gái mà gầy còm úa đỏ”, những xóm làng “tre pheo cụt ngọn”, những “cây mít còm nhựa ứa rưng rưng”, “những đồi chổi rành/ những truông chổi đót/ quét vẹt trời miền Trung”. Một chữ “vẹt” xót xa, cứa vào lãng quên, đánh thức những tâm hồn bỏ trốn, đánh thức cả mùi quê cho những kẻ li hương: “Mùi cỏ mặn và khẳn như lông bò tẩm nắng” - “mùi cỏ còn đắng nghét đến hôm nay”.

Miền Trung, nơi ấy “chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ/ không ai gieo, mọc trắng mặt người”. Tao tác người tha phương cầu thực, đất rỗng không, trời cũng rỗng không. Trống trơn “những ngọn đồi tím lịm sim mua”, những bến sông hoang đầy gió, “ tiếng gọi đò méo cả bến sông”. Một chữ méo buốt đến tận xương. Chữ của trời hay chữ của người? Ba mươi năm cạy cục viết văn, một chữ ấy làm tôi giật mình sợ toát mồ hôi.

“Nhìn quầng trăng lại nhớ mảnh quê gầy”.

Muốn khóc quá.

4. Có một miền Trung của kí ức được chiếu sáng bằng cái nhìn trẻ thơ, cái nhìn quí hơn vàng cho những ai đam mê nghệ thuật, được nhà thơ cất giữ nâng niu sau nửa đời bươn chải, bỗng sáng lên một vẻ đẹp rưng rưng. Trời quê “tẩm ngẩm xanh”, “bờ ao tím rần túm lá lộc mưng/ lá lộc mưng trảy non chát ngòm cổ họng” và trên cánh đồng quê “chiều chưa nguội nắng/ ngoài đê cỏ hỏn hẻn cười/ đã giật mình nghe sấm đuổi”. Bức tranh đồng quê của chú bé nghịch ngợm, mải chơi. Cái nhìn trẻ thơ là cái nhìn ngạc nhiên, vì thế nó mở mắt cho ta cảm được cái lạ lùng những gì hằng thấy, những gì quen thuộc, những gì nhàm chán trong cuộc sống mòn của kiếp người. “Trăng đầu tháng đỏ ngầu/ như cái bã trầu ai nhè ngang đỉnh núi.” Ta xuýt xoa và chợt nhớ miếng bã trầu mẹ ta vẫn thường quệt ngang trên vách. “Hình như bến bờ đau đẻ/ khoắt khuya đất vật ầm ầm”. Ta phì cười và chợt nhớ những đêm thơ bé, nghe bất kì tiếng động nào ta cũng lén mẹ vụt ra sân. Cái nhìn tuổi thơ là cái nhìn vô tư lự, gạt hết cay cực ở đời, tỏa ra ánh sáng trong vắt, vì thế cho ta nhìn thấy cái đẹp ngay cả trong những gì nguy hiểm, những gì đang đe dọa. Cái đẹp của cơn lũ về lúc nửa đêm, ngoài cái nhìn trẻ thơ không ai có khả năng nhìn thấy: “Hình như sông cũng nằm mơ/ nửa đêm sóng cười trắng xóa”. Ta sống được, ta yêu đời chỉ vì ta đã bị mê hoặc bởi cái nhìn trẻ thơ, có phải thế chăng? Những con cá còm dưới đáy vó bè đói rách bỗng lấp lánh vẻ đẹp lạ thường: “Đọng trắng đáy vó bè những mảnh trăng bơi lẻ.” Trẻ thơ là vậy, thương người cũng thật trẻ thơ: “Khoai sắn thương nhau láu táu để dành”. Thương trời cũng thật trẻ thơ: “Đưa mây trắng về trời khêu lại nắng”. Cái chữ khêu ấy là chữ của trẻ thơ hay chữ của kí ức trẻ thơ thì cũng thế. Thương cả những con kiến mùa nước lũ: “Mùa lũ theo con kiến càng/ leo cong ngọn cỏ/ mùa lũ theo đàn kiến đỏ/ men ngược bờ tường/ mùa lũ theo bầy kiến đen/ tha rơm vào tổ/ mùa lũ xua đàn kiến gió/ bỏ nhà đi hoang/ mùa lũ đẩy cánh kiến vàng /sang nhà hàng xóm”. Thương mà lại hát vang lên, dung dăng dung dẻ, ấy là cách thương của trẻ thơ.

Ta già nua bởi vì ta cằn cỗi.

5. Trầm tích chỉ những giọt tình thi thoảng, điều ngạc nhiên nhíu mày, dù thế nào thơ cũng là chốn trú ngụ của tình yêu. Nhiều thơ cho bà, ít thơ cho em, dòng thơ thật trong không thật mát. ít nhưng mà quí hiếm, thôi thì cầm lòng vậy. Đã bao lần ngắm em, khó thấy một cảnh này: “Buổi trăng lên em tự vuốt bóng mình”. Không phải, vẫn hằng thấy đó thôi nhưng chẳng biết nói lên. Không biết hắt lên đời thường ánh sáng lạ, xin đừng làm thi sĩ. “Em thấm vào anh/ đam mê lịm ngọt”. ai chẳng thế nhưng thơ có cách thấm của thơ. Thấm từ khi “gặp màu xanh hút hồn thăm thẳm mắt em”. Không có “hút hồn”, câu thơ ấy xưa như trái đất, thơ đôi khi cũng cần phải láu. Thấm từ buổi đầu gặp gỡ, hoặc là trong ngõ nhỏ, hoặc ở giữa cánh đồng, hoặc ở bến sông quê chiều vừa lịm nắng. Không biết. Chỉ biết “em ngang qua chiều/ nắng thơm mùi rượu/ mắt sông/ môi lửa/ gió lên đồng”. Em đáng yêu và đáng... sợ, nếu là tôi, tôi sẵn sàng xin chết. Xin chết một lần yêu: “ Mưa đến với đêm/ và anh mang gió/ ôm mưa ngang thềm.” Cái chết có chữ thơ che đậy. Xin chết hai lần yêu: “Khoảnh khắc gặp gỡ/ mờ đất tối trời/ như là ngọn lửa/ sấn vào đêm sâu/ đêm ngày sấp ngửa...”. Một chữ sấn làm tan hết chữ thơ, lộ thiên cái chết nóng rực. Vườn thiêng đã phá, trái cấm đã ăn, cứ thế, cứ thế.... “Em là thế/ và anh là thế/ xanh ngang đêm/ và thắm lệch ngày”. Xanh thì xanh ngang, thắm thì thắm lệch, lạ thay cái chữ thơ làm ta lún sâu vào tình, khó lòng dứt ra được.

6. Bơi lội trong dòng sông kí ức có tên Trầm tích, ta gặp những mảnh đời thường lam lũ, những chân dung dựng bằng kí ức, dựng bằng tinh lọc thơ dành dụm suốt đời. Vẫn là bà muôn năm lưng còng, Trầm tích cho ta một góc nhìn lấy ra từ đau xót, phác thảo bà, đời rất đời mà đẹp hơn cổ tích: “Tuổi thơ tôi đi qua/ trong nắng mưa lấn bấn/ trong bóng bà đã lấm hoàng hôn”, trong bóng bà “lúi húi dáng lưng còng lóng ngóng vịn cơn mưa”. Hội họa nào vẽ được cái “bóng lấm hoàng hôn” và dáng “vịn cơn mưa”? Muôn năm không vẽ được, cho dù Rodin, cho dù Hopper. Muôn năm bà vẫn ru cháu dưới ánh trăng, chiếc võng cột gốc cau, “ánh trăng nâng bóng cau đặt mớm vào mép võng”, sao ta nghe tiếng ru hời nhớ thương đứt ruột: “Câu ví dặm gầy nhom thì thào như người mới ốm”. Đứa bé thiêm thiếp ngủ, bà “ bỏm bẻm nhai trầu/ rón rén thức mùi hương”. Cháu bà là tương lai của bà, bên cánh võng bà cố giữ gìn nâng giấc tương lai, bao nhiêu đắng cay hờn tủi trong đời bà rón rén giấu đi. Cả trầu cau cũng tỏa hương rón rén!

Bà nào bà không thương cháu nhưng thương như bà thuở “làng lâm nạn”, rùng rùng đói rách xâm lăng, mọi thứ trong nhà đều đem đấu giá, quả thật trong đời chưa nghe ai nhắc đến: “Biết lấy chi cho lũ cháu nô đùa/ bà xâu mấy đồng xu rỉ xanh rỉ vàng chuột tha vào trong ngạch/ quàng lên buồng chuối sau nhà/ quàng lên buổi chiều buồn thời gian không đấu giá”. Ai từng qua những ngày “lâm nạn”, những ngày ruộng đất sục sôi , thấy lại kí ức này đều cúi gằm xuống ngực khẽ nấc lên, chắc thế.

Không làm sao nói hết.

Không làm sao nói hết dáng mẹ miền Trung tần tảo nuôi con. “Mẹ hãm nhỏ đĩa đèn dầu lạc/ tẩm lớp nghệ vàng lên mẹt cá ươn/ sớm mai kéo sụp nón / sấp mặt ngồi cuối chợ/ nhặt về những đồng xu bạc phếch đất bùn.” Tuổi bé con có biết gì đâu, bạc tóc mới đau cái “buổi sáng con để xổng con cá chầy ngoài bãi/ con cá chầy sẽ mang gạo về cho các em con”. “Con cá mừng thoát nạn”, mẹ đứng trơ trên bãi, “lũ em đứng vỗ tay”, “mẹ rấm rức cười/ mắt mưng mưng gió.” Nụ cười đắng ngắt, không đau đời không nhìn thấy được. La joconde có nụ cười bí hiểm, mặc kệ La joconde, tôi chỉ thao thức vì nụ cười của mẹ.

Bạc tóc mới đau “ngày di dân gió tràn vào xóm nhỏ”. Nườm nượp những cuộc di dân chẳng phải vì đói nghèo, vì những ý tưởng vu vơ kinh tế mới. “Mẹ lận vào lưng đùm hạt giống”, “bỏ lại sau lưng mồ mả cha ông”, “dẫn bầy con đi/ ánh mắt phẳng lì màu đất nện”. ánh mắt trơ lì cam chịu của người mẹ miền Trung. Mẹ biết mẹ đang đem con đến chỗ sa cơ nhưng chẳng thể đặng đừng, làm sao đương cự với trống dong cờ mở? Đau đến nỗi trào ra hai chữ phẳng lì. Bỗng hiểu vì sao “mẹ vén vun cưng nựng nụ cười/ trên gương mặt thời gian còn rác rưởi.”

7.Trầm tích có chân dung đa sắc, có chân dung một nét. Hai ngàn rưỡi câu Trầm tích, chỉ hai câu anh vẽ về cha. Phác thảo một nét xót như xát muối. Người cha vừa thoát qua cái chết dựa cột oan uổng sau một cú sửa sai, lẳng lặng về nhà. Không mừng vui cũng chẳng giận hờn. “Mẹ bảo: may mà trời có mắt/ cha chẳng nói gì/ người lẳng lặng cầm sào đi xốc lại cây rơm”. Phác thảo một nét thô tháp và trần trụi, toát lên khí chất miền Trung. Nếu là xinê, đây là xen tuyệt hảo.

8. Trầm tích đa thanh không tổng phổ, nói rằng giao hưởng e hãy còn xanh. Nhưng có một xônát cho bộ dây, chân dung không.
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0