Nguyễn Mai Hương : Cành thiên hương đợi...
Trịnh Thanh Sơn
Người đàn ông, xưa nay vẫn tự coi mình là kẻ mạnh, nhưng thực ra, lại rất yếu mềm, nếu vấp phải một lời ru, như thế này:
Ngủ đi anh… đợi ban mai/ Câu thơ em hái đêm dài tặng anh/ Ngủ đi anh giữa ngàn xanh/ Cho vầng trăng đợi… đẫm cành Thiên Hương (Ru anh)
Thơ ấy là thơ của phái yếu, của đàn bà, của nước… Không kiếm nào chặt đứt! Thơ ấy là thơ “lạt mềm buộc chặt”, thơ của những dây tơ hồng, quấn quýt dịu dàng mà có thể làm chết cứng những cây thân gỗ. Thơ ấy là thơ của người kiên gan, đem cả cuộc đời ra đánh bạc, không cần ăn thua, mà thua là cái chắc, nhưng không bỏ cuộc chơi giữa chừng!
Thơ ấy là thơ của người Nhặt gió heo may. Đây là tập thơ đầu tay (in riêng) của Nguyễn Mai Hương, một nữ tác giả trẻ, xuất hiện chưa nhiều trên báo chí, trên văn đàn, và cũng chưa tạo ra được nhiều ấn tượng nơi bạn đọc. Tuy nhiên, khi cầm trên tay tập thơ của chị, một tập thơ thật đẹp, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành (2004), tôi đã đọc một cách trân trọng và hào hứng. Có những câu thơ, Nguyễn Mai Hương đã làm tôi ngạc nhiên, ngạc nhiên vì cái cách sử dụng lục bát thật nhuần nhuyễn, càng ngạc nhiên hơn vì cái ân tình sâu nặng mà chị gửi qua những câu lục bát kia:
Thương người - tôi khóc cho tôi/ Khóc cho câu lục nổi trôi đêm dài…/ Thương mình - tôi khóc cho ai?/ Khóc cho câu bát ngày mai… hết buồn!
(Lục bát thương mình)
Ai là “câu bát” chắc là phải nghĩ, phải tự vấn lương tâm, rằng mình có xứng với “câu lục” hay không? Lỡ nhịp, lỡ vần thì lục bát sẽ lỡ làng, vậy thôi! Nói như không mà buồn thấm thía, phẩm chất của lục bát, của ca dao là ở đó. Mừng thay, thơ Nguyễn Mai Hương rất gần ca dao. Và cũng rất gần với đồng dao nữa:
Anh có thấy không/ Mùa xuân đến đấy/ Nụ mầm bật dậy/ Nhựa xuân đang trào/ … Anh ơi có thấy/ Xuân từ mắt em (Anh có thấy)
Phẩm chất cốt lõi và xuyên suốt trong hồn thơ Mai Hương là ấm áp và trong trẻo, hồn nhiên và bình dị. Chị chỉ nói những gì mà chị am tường, chị chỉ phô diễn những gì mà tâm hồn chị đang lắng nghe, dù mong manh nhưng thấu suốt. Đôi khi là một hoài niệm mỏng như cánh chuồn:
Vầng trăng em đi/ nơi ấy xa xôi/ Mênh mang quá sau mùa xuân êm dịu/ Em đi qua những ngày huyền diệu/ Ngơ ngác lòng xao xuyến… tháng tư ơi!
(Khúc hát tháng tư)
Đôi khi là một cảm giác mơ hồ, hiện hình thành một câu hỏi không lời giải đáp:
Từ trong mùa thu/ Thì thầm ai gọi/ Hay là gió nói/ Lời yêu ngập ngừng (Từ trong mùa thu)
Tuy nhiên, ở đời, không ai hồn nhiên hay thơ ngây mãi được. Người ta phải tự lớn lên, để nhận biết đâu là chính, tà, đâu là tình yêu và nghĩa vụ. Thác lời Trọng Thuỷ, Nguyễn Mai Hương có những câu thơ thật sâu sắc và đầy sức thuyết phục, đặng chiêu tuyết cho một mối tình huyền thoại đầy bi kịch:
Nỏ thần - con dâng cha/ Cái báu vật người dặn con lấy cắp/ Người đánh chiếm Loa Thành, biến con thành giặc/ Trong máu chảy đầu rơi/ Trong tình yêu con và nàng tan nát người ơi!/ Con phải đi, xin bái biệt người/ Nơi ấy - Trái tim con đang gọi/ Nơi ấy - Cuộc đời oan nghiệt nào hay/ Cái tưởng được lại là điều đánh mất…
(Lời Trọng Thuỷ)
Âm hưởng những câu thơ trên mang màu sắc bi hùng ca, phảng phất chất giọng Đinh Hùng hay Huy Thông, làm người đọc không khỏi ngỡ ngàng. Một cây bút nữ, có “chất giọng” trầm hùng như thế, không phải là dễ tìm. Chỉ tiếc rằng, sự xuất hiện của bài thơ này như là một ngẫu nhiên, đột biến, chưa trở thành giọng điệu chủ đạo của cả tập thơ, vì thế nó trở nên cá biệt. Nếu như Nguyễn Mai Hương tự ý thức được và đi theo hướng này thì hay biết bao! Chí ít, cũng được những dòng thế này:
Dẫu cụt đầu vẫn giữ trọn tình yêu/ Để sống mãi hai nghìn năm có lẻ/ Đầu đã rơi… máu Mỵ Châu vẫn rỉ/ Trước tượng Người tôi khóc một tình yêu!
(Khóc trước tượng Mỵ Châu)
Dường như, khi khơi đúng mạch cảm xúc, khơi đúng sở trường, cái sở trường của một người nhu mì bề ngoài mà bên trong âm thầm tung phá, thơ Mai Hương sinh động hẳn lên, lung linh và biến ảo lạ thường. Chẳng hạn, thác lời dòng sông, nhà thơ nói:
Tôi giật mình một ngày tìm tới/ Cửa bể đây rồi sao rộng quá người ơi!/ Lòng biển mênh mang xa tít chân trời/ Sông muốn nói một lời… sâu thẳm!
(Khúc hát dòng sông)
Hoặc một tâm tình sâu kín, nếu không nhờ thơ, sẽ khó lòng thổ lộ:
Chẳng bao giờ cất giấu được mùa thu/ Bầu trời xanh mát lành quá đỗi/ Nhìn lá rơi và hàng cây gió thổi/ Ta muốn nói một lời êm ái với thời gian…
(Mùa thu không trở lại)
Phải rồi, mùa thu thì cất giấu làm sao được?! Dẫu biết mùa thu không trở lại, nhưng người thơ, như một cành Thiên Hương, vẫn đợi, đợi với một sự kiên gan, với một niềm tin rằng “trái cây rơi vào tay người hứng quả”! Rằng:
Dẫu vẫn biết mọi dòng sông đều chảy/ Vẫn nặng lòng với bến cũ đò xưa…
Xem ra, kẻ “nặng lòng” này cũng là một thứ người giời đầy vậy. Thương thay!
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Trịnh Thanh Sơn
Người đàn ông, xưa nay vẫn tự coi mình là kẻ mạnh, nhưng thực ra, lại rất yếu mềm, nếu vấp phải một lời ru, như thế này:
Ngủ đi anh… đợi ban mai/ Câu thơ em hái đêm dài tặng anh/ Ngủ đi anh giữa ngàn xanh/ Cho vầng trăng đợi… đẫm cành Thiên Hương (Ru anh)
Thơ ấy là thơ của phái yếu, của đàn bà, của nước… Không kiếm nào chặt đứt! Thơ ấy là thơ “lạt mềm buộc chặt”, thơ của những dây tơ hồng, quấn quýt dịu dàng mà có thể làm chết cứng những cây thân gỗ. Thơ ấy là thơ của người kiên gan, đem cả cuộc đời ra đánh bạc, không cần ăn thua, mà thua là cái chắc, nhưng không bỏ cuộc chơi giữa chừng!
Thơ ấy là thơ của người Nhặt gió heo may. Đây là tập thơ đầu tay (in riêng) của Nguyễn Mai Hương, một nữ tác giả trẻ, xuất hiện chưa nhiều trên báo chí, trên văn đàn, và cũng chưa tạo ra được nhiều ấn tượng nơi bạn đọc. Tuy nhiên, khi cầm trên tay tập thơ của chị, một tập thơ thật đẹp, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành (2004), tôi đã đọc một cách trân trọng và hào hứng. Có những câu thơ, Nguyễn Mai Hương đã làm tôi ngạc nhiên, ngạc nhiên vì cái cách sử dụng lục bát thật nhuần nhuyễn, càng ngạc nhiên hơn vì cái ân tình sâu nặng mà chị gửi qua những câu lục bát kia:
Thương người - tôi khóc cho tôi/ Khóc cho câu lục nổi trôi đêm dài…/ Thương mình - tôi khóc cho ai?/ Khóc cho câu bát ngày mai… hết buồn!
(Lục bát thương mình)
Ai là “câu bát” chắc là phải nghĩ, phải tự vấn lương tâm, rằng mình có xứng với “câu lục” hay không? Lỡ nhịp, lỡ vần thì lục bát sẽ lỡ làng, vậy thôi! Nói như không mà buồn thấm thía, phẩm chất của lục bát, của ca dao là ở đó. Mừng thay, thơ Nguyễn Mai Hương rất gần ca dao. Và cũng rất gần với đồng dao nữa:
Anh có thấy không/ Mùa xuân đến đấy/ Nụ mầm bật dậy/ Nhựa xuân đang trào/ … Anh ơi có thấy/ Xuân từ mắt em (Anh có thấy)
Phẩm chất cốt lõi và xuyên suốt trong hồn thơ Mai Hương là ấm áp và trong trẻo, hồn nhiên và bình dị. Chị chỉ nói những gì mà chị am tường, chị chỉ phô diễn những gì mà tâm hồn chị đang lắng nghe, dù mong manh nhưng thấu suốt. Đôi khi là một hoài niệm mỏng như cánh chuồn:
Vầng trăng em đi/ nơi ấy xa xôi/ Mênh mang quá sau mùa xuân êm dịu/ Em đi qua những ngày huyền diệu/ Ngơ ngác lòng xao xuyến… tháng tư ơi!
(Khúc hát tháng tư)
Đôi khi là một cảm giác mơ hồ, hiện hình thành một câu hỏi không lời giải đáp:
Từ trong mùa thu/ Thì thầm ai gọi/ Hay là gió nói/ Lời yêu ngập ngừng (Từ trong mùa thu)
Tuy nhiên, ở đời, không ai hồn nhiên hay thơ ngây mãi được. Người ta phải tự lớn lên, để nhận biết đâu là chính, tà, đâu là tình yêu và nghĩa vụ. Thác lời Trọng Thuỷ, Nguyễn Mai Hương có những câu thơ thật sâu sắc và đầy sức thuyết phục, đặng chiêu tuyết cho một mối tình huyền thoại đầy bi kịch:
Nỏ thần - con dâng cha/ Cái báu vật người dặn con lấy cắp/ Người đánh chiếm Loa Thành, biến con thành giặc/ Trong máu chảy đầu rơi/ Trong tình yêu con và nàng tan nát người ơi!/ Con phải đi, xin bái biệt người/ Nơi ấy - Trái tim con đang gọi/ Nơi ấy - Cuộc đời oan nghiệt nào hay/ Cái tưởng được lại là điều đánh mất…
(Lời Trọng Thuỷ)
Âm hưởng những câu thơ trên mang màu sắc bi hùng ca, phảng phất chất giọng Đinh Hùng hay Huy Thông, làm người đọc không khỏi ngỡ ngàng. Một cây bút nữ, có “chất giọng” trầm hùng như thế, không phải là dễ tìm. Chỉ tiếc rằng, sự xuất hiện của bài thơ này như là một ngẫu nhiên, đột biến, chưa trở thành giọng điệu chủ đạo của cả tập thơ, vì thế nó trở nên cá biệt. Nếu như Nguyễn Mai Hương tự ý thức được và đi theo hướng này thì hay biết bao! Chí ít, cũng được những dòng thế này:
Dẫu cụt đầu vẫn giữ trọn tình yêu/ Để sống mãi hai nghìn năm có lẻ/ Đầu đã rơi… máu Mỵ Châu vẫn rỉ/ Trước tượng Người tôi khóc một tình yêu!
(Khóc trước tượng Mỵ Châu)
Dường như, khi khơi đúng mạch cảm xúc, khơi đúng sở trường, cái sở trường của một người nhu mì bề ngoài mà bên trong âm thầm tung phá, thơ Mai Hương sinh động hẳn lên, lung linh và biến ảo lạ thường. Chẳng hạn, thác lời dòng sông, nhà thơ nói:
Tôi giật mình một ngày tìm tới/ Cửa bể đây rồi sao rộng quá người ơi!/ Lòng biển mênh mang xa tít chân trời/ Sông muốn nói một lời… sâu thẳm!
(Khúc hát dòng sông)
Hoặc một tâm tình sâu kín, nếu không nhờ thơ, sẽ khó lòng thổ lộ:
Chẳng bao giờ cất giấu được mùa thu/ Bầu trời xanh mát lành quá đỗi/ Nhìn lá rơi và hàng cây gió thổi/ Ta muốn nói một lời êm ái với thời gian…
(Mùa thu không trở lại)
Phải rồi, mùa thu thì cất giấu làm sao được?! Dẫu biết mùa thu không trở lại, nhưng người thơ, như một cành Thiên Hương, vẫn đợi, đợi với một sự kiên gan, với một niềm tin rằng “trái cây rơi vào tay người hứng quả”! Rằng:
Dẫu vẫn biết mọi dòng sông đều chảy/ Vẫn nặng lòng với bến cũ đò xưa…
Xem ra, kẻ “nặng lòng” này cũng là một thứ người giời đầy vậy. Thương thay!
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,