📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

KRISHNAMURTI VÀ CON NGƯỜI TOÀN DIỆN - Carlo Suarès

7 trả lời, 3.576 lượt xem — Trang 1 / 1
Carlo Suarès
KRISHNAMURTI  VÀ CON NGƯỜI TOÀN DIỆN
(Krishnamurti et l'Unité humaine)
Dịch giả: nếu ai biết xin làm ơn cho biết

Nguồn: Sài gòn: Nxb. Ca dao
Đánh máy: nghia21kh- ThưViện Ebook


TIỂU DẪN

            Quyển sách này đề nghị thay thế quyển đã xuất bản năm 1932 dưới nhan đề Krishnamurti. Từ hồi ấy đến ngày nay nhân tình thế sự đã già dặn hơn. Cuốn sách xuất bản năm 1932 và những cuốn tiểu luận nói về Krishnamurti có thể là nguyên nhân của vài sự hiểu lầm, vì người ta đã đem tư tưởng của ông đối chiếu với tư tưởng triết gia, tiểu thuyết gia, chính trị gia, tâm lí học gia, bác học gia để tìm nét tương đồng. Ngày nay, những điểm ghi lại để đánh dấu dòng tư tưởng của ông đã trở thành những nguyên nhân lầm lộn hơn là những yếu tố để tìm hiểu. Tình hình thế giới ngày nay đã nghiêm trọng đến nỗi cần phải có sự đổi mới toàn diện các tìm hiểu một thực thể còn chưa biết được là con người đối với chính con người. Krishnamurti đề nghị với chúng ta một giá trị nền tảng hết sức mới mẻ, nếu đem so sánh với những giá trị ta đã biết thì cũng như phủ nhận ông. Giá trị nền tảng của ông làm đảo lộn cả tiến trình suy tưởng và nghiền nát cả những nền móng mà tri thức con người đã tạo lập được. Như vậy, giá trị nền tảng của ông không phải là đề thuyết để nghiên cứu và so sánh mà phải tìm hiểu bằng kinh nghiệm sống.
            Ba-lê 1950.
Đăng nhập để trả lời
0
TỰ TRI

            Đời sống của chúng ta hỗn loạn, ít người chối cãi điều ấy. Chúng ta phải vật lộn với những khó khăn mỗi ngày một tăng nhịp độ. Khí giới tàn phá có sức mạnh để tiêu hủy toàn thể giống người trên trái đất. Loài người không còn biết nương tựa vào một giá trị nào để tìm ánh sáng dẫn dắt họ trên đường đời. Con người bị phân tán, họ lệ thuộc vào nhóm của họ; nhóm nào cũng cho là mình nắm được chân lí và chống đối các nhóm khác; đấy là những tôn giáo mới, có đủ điều kiện để giải thích con người và vũ trụ bằng một ông Trời hay một hệ thống kinh tế, một nhân vật hay một tập thể, bằng tinh thần hay vật chất, do đó mà sinh ra hỗn loạn. Người nào nhóm nào cũng thấy mình có lí, còn thiên hạ sai lầm, do đó mà xảy đến tai họa. Chúng ta không có một giá trị nào có hiệu lực, một chân lí nào có sinh lực, có giá trị nhân văn thật sự, bởi vì khi người ta có tham vọng đạt tới cái phổ quát, người ta đã uốn nắn tư tưởng vào một chiều hướng nào đó. Đó là sự thật mà chúng ta phải nhận định nếu chúng ta muốn hiểu Krishnamurti khi ông nói đến giá trị duy nhất, đơn giản và trực tiếp. Giá trị đó là giá trị toàn diện, hội nhập được con người và xã hội, con người sống giá trị nào mới hiểu được giá trị đó. Như vậy thì không thể theo tiên nghiệm và biết được có một giá trị như thế hay không, mà biết được bản chất của nó. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể hiểu được rằng nếu có một giá trị như thế thì người ta chỉ đạt được bằng cách bỏ hẳn đường lối cảm nghĩ căn cứ vào một quan điểm không tránh được mâu thuẫn. Lí hội cái đại đồng qua cái tiểu dị, như tin tưởng ông Trời, khoa học, quốc gia hay cộng sản v.v… tất nhiên phải vấp phải những đặc điểm mâu thuẫn nhau. Hẳn là người thông đạt vẫn tìm cách dung hòa những cái trái ngược và khẳng định đường nào đưa đến đích cũng là tốt cả. Mọi cố gắng đều phải căn cứ vào một định đề: điều bất khả tri luận có thể đạt được bằng điều khả tri luận, cái toàn thiện có thể đạt được bằng cái bất toàn, bản thể có thể đạt được bằng cái biến dịch. Đây là điểm mà Krishnamurti trả lời “không” một cách hùng hồn, hiên ngang, vô úy; ông vẫn trung thành với tư tưởng của ông từ ngày ông bắt đầu lên tiếng: đường nào cũng có sai lầm, không làm gì có con đường đưa tới đích. Cứu cánh nằm trong phương tiện, nguyên nhân ở trong kết quả, bởi vì phương tiện tự nó chính là cứu cánh của nó và hậu quả trở thành nguyên nhân. Mục tiêu nào cũng là hảo huyền, biến dịch chối bỏ bản thể. Xét ra thì việc đời chứng minh rằng ông có lí, bởi vì chưa bao giờ người ta dung hòa được những cái trái ngược nhau. Nếu ta xét việc đời một cách khách quan chứ không theo ý muốn của ta, ta không khỏi nhận thấy lí tưởng, tín lí, tin tưởng, hệ thống … là cho người ta phải chỉnh đốn, chối bỏ, phản đạo, suy đoán; tóm lại: theo đuổi mục đích nào cũng tạo ra mối thù. Đường đi cần người dẫn lối, dẫn lối cần phải có uy quyền Chúa tể, giáo chủ, lãnh tụ,… cường hào sẽ gây ra sự phục tòng hay sự chống đối của các môn đệ, tín đồ, người dân bị trị, kẻ bị bóc lột. Qua dòng lịch sử, nếu quả có người đã phô diễn được giá trị chính yếu của sự đoàn kết nhân loại đúng như di ngôn của những người biết được chân lí mạc khải, thì thiết tưởng cần gì phải đổ máu nhiều thế mới truyền bá được đạo của họ? Hậu quả thật là tai hại, vì sự thật mà đem nhắc lại thì chỉ còn là dối trá, như Krishmanurti đã nói.
            Vì một lỗi lầm thời nào cũng có, chân lí trở thành luật hay đức tin vẫn cản trở tri thức. Phương pháp được cấu tạo bằng thể chất của sự ngu muội, bởi vậy phương pháp nhốt chân lí vào trong cái vòng luẩn quẩn. Không cần tìm tri thức mà chỉ cần tìm nguyên nhân ngu muội. Chân lí chính là chúng ta, chân lí vẫn ở đây, vẫn theo dõi chúng ta và sẵn sàng xâm nhập vào chúng ta. Chúng ta không thể đi đến chân lí; làm thế nào mà chúng ta thấy đường đến một điểm mà chúng ta không biết ở đâu? Đừng nên tìm ông “Trời”. Nếu chúng ta thấy ông Trời thì ông Trời không phải là chân lí. Chúng ta biết được điều bất khả tri luận chăng? Câu nói thật là mâu thuẫn. Nhưng biết cái khả tri, nghĩa là biết những yếu tố hoạt động của tư tưởng, của xúc cảm, biết như vậy sẽ đi tới chỗ bất khả tri luận.
            Trong thế giới điên đảo hỗn loạn, những ý thức hệ tập thể đề nghị phương thuốc cấp bách để chữa những thống khổ mà chính chúng gây ra, chúng cho rằng giá trị nền tảng của con người toàn diện chỉ là trừu tượng, lí thuyết. Ai cũng nhận thấy ít nhiều thảm họa cho nên ai cũng đòi hỏi có người thiện chí và có hành động cấp thời. Người ta muốn giải quyết xung đột giữa các quốc gia, các hệ thống kinh tế, các giai cấp xã hội, các chủng tộc. Người ta không có thì giờ suy nghĩ, người ta tham gia vào hoạt động chống đối hay ủng hộ và làm tăng thêm cuộc xung đột mà người ta định dẹp tan, người ta theo đuổi ảo tưởng đem lại hòa bình bằng chiến thắng và dùng vũ lực để duy trì nền hòa bình đó, đó là đặc điểm của bất cứ người chiến sĩ nào.
            Đứng trước những việc bấn loạn như thế, Krishnamurti tuyên bố rằng ông chỉ sống một mình, không môn đệ, không tín đồ, không tổ chức. Ông chỉ võ trang bằng một giá trị duy nhất: sự tự tri, theo ông thì giá trị ấy hữu hiệu cho cả cá nhân lẫn xã hội; bởi vậy người ta thường chê ông là mơ mộng; khí giới của ông hầu như không thích đáng. Khí giới của ông không ngăn cản được trận thế chiến thứ hai và sẽ không ngăn cản được trận chiến tranh thứ ba. Ông trả lời rằng trận chiến tranh thứ ba đã khởi sự rồi bởi vì ai cũng chiến đấu, nếu người ta muốn hòa bình thì phải thôi ngay không được đánh nhau. Hẳn là ai cũng sẵn lòng thôi gây hấn với điều kiện là đối phương bị giải giới hoàn toàn. Chính vì thế mà chúng ta tiến tới bờ vực thẳm. Nhưng tai họa xảy đến cho chúng ta vì chúng ta không tin hẳn là có vực thẳm ấy. Hy vọng rằng rồi mọi việc đâu sẽ vào đấy vẫn giản tiện hơn. Ít ra người ta cũng yên lành được đến thế hệ sau. Người ta còn tự nhủ rằng tình thế vô phương cứu vãn, thà sống ngày nào hay ngày đấy chẳng bận tâm nhiều.
            Krishnamurti vô cùng phẫn nộ đối với những người vô tâm như thế. Chính ông, ông cảm thấy mình hoàn toàn trách nhiệm, hoàn toàn thất vọng. Toàn thể nhân loại, cá nhân cũng như giống nòi, đã lâm nguy. Phương thuốc không thể là phương thuốc nửa vời, bởi vì thực ra thảm họa chỉ là hậu quả của tất cả những phương thuốc đã dùng.
            Những người có trách nhiệm, chính trị gia và nhà kinh doanh, hằng ngày đã hành động để tăng thêm mối họa, nhưng họ không muốn hiểu lí do chính yếu đã dấn thân họ vào bước nguy nan. Guồng máy nhà nước vĩ đại, hành chính, kinh tế, cảnh sát và quân sự đã nuốt chửng con người bé nhỏ, dù họ là nạn nhân, dù họ bất mãn hay họ nổi loại, họ cũng không thể nghĩ rằng sự Tri thức lại có thể cứu vãn con người. Nhưng họ muốn một tác động tập thể, họ làm như hành động ấy sẽ có hiệu lực hơn một biện pháp nửa vời, chính vì thế mà họ chứng minh rằng họ không ý thức được thực trạng toàn thể toàn diện. Một nhóm người hay một đoàn thể không bao giờ có tính cách toàn thể toàn diện. Chỉ có cá nhân hay toàn thể nhân loại là đại diện cho cái gì phổ quát. Một đoàn thể không có suy xét, họ ở dưới mức Tri thức, họ là sự ngu muội, sự vô trách nhiệm có tổ chức, tác động của đoàn thể chỉ là tác động thoái hóa. Trái lại, cá nhân có đầy đủ ý thức, cá nhân sẽ là người sáng tạo. Sáng tạo là nhìn sự vật ở đúng tầm đúng mức với tinh thần mới mẻ và sáng sủa. Khi một nền văn minh bước vào con đường tự tận, người ta dùng đủ mọi cách để bóp nghẹt mọi cải cách tinh thần. Đến lúc ấy thì người thông đạt chỉ còn cách quay lưng lại.
            Cho đến ngày nay, việc suy tầm giá trị nền tảng đời sống còn là một vấn đề chí hướng. Phần lớn những người sống trong một nền văn minh tôn giáo như Bà la môn giáo, Phật giáo, Công giáo… có điều kiện trí óc và tâm thần để được tương đối yên ổn. Cơ năng sáng tạo của con người bị phá hủy, con người không chới với giữa dòng không tìm thấy lẽ sống như con người sống trong thời đại của chúng ta. Bởi thế cho nên thời trước hiếm có người thấy cần phải phá bỏ điều kiện duy trì một tiềm thức tập thể đặc biệt để tìm giá trị nhân văn siêu việt và độc đáo. Nhưng ngày nay ai cũng phải nhận thấy tình trạng tiêu hủy tự do – cái tự do sáng tạo mà con người tự nhiên có – xưa kia chỉ có một thiểu số người ưu tú biết được tình trạng ấy. Hoàn cảnh sống thêm lâm nguy. Kĩ thuật hành chính, cảnh sát vô danh và vô trách nhiệm áp dụng khắp toàn cầu đã bao vây chúng ta một mạng lưới đầy phạm trù, đã giết chết con người sáng tạo trong chúng ta, và rồi sẽ giết chết chúng ta thật sự. Sự kiện ấy hiển nhiên. Ý thức được tự do, hiểu được tự do có nội dung như thế nào không còn là vấn đề chí hướng mà là vấn đề sinh tử của chúng ta. Mặc dù vận mệnh của nhân loại sẽ ra sao, nhân loại sẽ sống sót hay tự tận, nỗ lực của chúng ta phải nhắm vào nhu cầu khẩn cấp là ý thức được tự do. Đã đến lúc chúng ta phải đập tan những mắt lưới kiềm tỏa của một thế giới mà những giá trị mệnh danh là giá trị văn minh quay trở về phá hoại văn minh.
            Chúng ta sẽ nhận thấy cũng như Krishnamurti rằng đạp đổ những thành trì ấy không phải dễ, bởi vì tư tưởng của chúng ta đã quen tác động cách nào để tự túc tự mãn với lí lẽ của nó. Lí trí của chúng ta là lí trí của con người bất di bất dịch trong chúng ta; nhưng bản chất của con người là biến dịch, chúng ta biến đổi theo thời gian, chính vì vậy mà lí trí ấy chỉ là sản phẩm của một cách suy luận máy móc. Con người đã tâng bốc một phát kiến lên hàng một chân lí rồi tìm đủ mọi cách để minh chứng, nhất là dùng đến thần học. Tật xấu đã có từ thuở con người biết cóp nhặt nhiều xảo thuật của ngôn ngữ, như vậy chúng ta phải tẩy não một cách sâu rộng nếu chúng ta muốn thấy lại bộ mặt chân xác của chúng ta. Đối với Krishnamurti thì chân lí ấy chính là thấy lại chân tướng của mình. Chúng ta không cần đi đâu xa. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta biết được việc đời đã khơi động cái gì trong lương tâm ta vào một lúc nào đó, như thế là tri thức toàn diện, vô biên và phi thời gian tính.
            Chân lí đơn giản nhưng đa diện một cách bi thảm. Chúng ta có thể nói rằng chúng ta không đồng ý với khái niệm “biết mình” của Krishnamurti chăng? Không muốn biết mình chăng? Nhưng chính vì chúng ta tán đồng ông mà có điều không rõ nghĩa cho lắm. Chữ “Tự Tri” đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần qua các thế hệ. Bề ngoài nó không có gì là mới mẻ, thậm chí phần nhiều người đàm luận với Krishnamurti khó mà hiểu được tại sao “Tự Tri” lại có thể là chìa khóa của mọi vấn đề. Đó chỉ là điểm không rõ nghĩa, vì Krishnamurti không nói rằng người ta tự biết mình thì hay, ông cũng không nói rằng “Tự Tri” là cái gì đáng mong muốn. Ông không muốn đưa vào đời sống nầy một triết lí khả dĩ điểm tô, bình ổn và vỗ về đời sống của chúng ta. Theo ông thì biết mình là hành động trực tiếp, mạnh mẽ, cụ thể, hành động duy nhất giúp chúng ta tránh khỏi tình trạng mơ hồ hỗn độn. Biết mình lúc khẩn cấp, thiết thực như nhẩy vào xuồng cứu nạn nhân lúc tàu đắm. Do đó chúng ta nhận thấy sự hiểu nhầm sẽ tai hại đến thế nào.
            Những người có cảm tưởng về một cuộc khủng hoảng hoàn toàn của nhân loại hẳn là không nhận thấy tầm quan trọng toàn thể toàn diện của khái niệm “Tự Tri”. Mới đầu họ chưa chấp nhận, họ không muốn phán đoán vội. Hoan hô khái niệm “Tự Tri” như một thực thể triết lí theo cách cục của người làm ra vẻ trí thức thì thật là lầm lẫn tai hại. Bởi vì nếu giá trị đó là giá trị tuyệt đối thì nó sẽ tác động đến chúng ta theo một chiều phá hoại, nó làm tan rã thực thể của chúng ta. Chúng ta không còn biết chúng ta là ai, cũng không còn biết chúng ta là cái gì. Nói đến toàn thể, đến tuyệt đối là nói đến sự tự vẫn tâm lí. Những danh từ cực đoan mà Krishnamurti đã miễn cưỡng mà dùng đến phải được chúng ta chấp nhận với thực chất của chúng, với tất cả ý nghĩa chúng phải có.
            Những ý nghĩa đó rất sâu xa và rộng rãi. Chúng ta phải lãnh hội ý nghĩa đó trong sự tĩnh tâm theo dõi tiến trình nội tâm của ta với tinh thần an nhiên tự tại. Lúc đó, lúc đã tĩnh lại cái “Tự Tri” của ta sẽ bừng sáng với thanh khí vi diệu của riêng ta. Trước hết nó bộc lộ cái gì chỉ riêng ta biết, ngoài ra không ai biết được. Bởi vì mỗi người chúng ta tích lũy cả một quá khứ nhân loại cho nên nếu chúng ta hiểu biết thế giới nội tâm của chúng ta là chúng ta đã khám phá ra đạo lí, ra Tri Thức. Nếu hai sự kiện ấy không làm cho chúng ta ngại ngùng, nếu chúng ta suy tư cho đến nơi đến chốn, nếu chúng ta để cho chúng tái tạo chúng ta, chúng ta sẽ biết rằng lương tâm của chúng ta là công cụ duy nhất để nội quan hiện tượng sinh sống mà chính chúng ta là đại diện. Nếu chúng ta muốn khám phá ra bí mật của kiếp người thì chúng ta phải thăm dò, phải thám hiểm nó từ ngay trong nội tâm của chúng ta. Lương tâm của chúng ta, không thể quan sát một người khác mà biết được họ có liên lạc như thế nào với lương tâm của họ và với thiên nhiên. Mỗi người chúng ta há không phải là kết quả của toàn thể sự tiến hóa qua toàn thể kì gian hay sao? Chúng ta vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của chính chúng ta. Đời sống trong chúng ta là đời sống hiện tại và hoạt động. Đời sống đó là nguyên nhân của tất cả quá khứ của nó. Và quá khứ đó với sự tích lũy những vật lộn, phản ứng, thích ứng, vô tâm, ý thức, sinh tử, thắng bại, quá khứ đó nếu lúc này ta tri giác được thì nó sẽ là nguyên nhân của hiện tại. Và khi nó hoạt động trong khuôn khổ hiện tại thì nó không còn là quá khứ, nó trở thành nguyên nhân và hậu quả của chính nó. Nguyên nhân bí hiểm nào, thị dục huyền bí nào đã đưa bản thể của chúng ta đến chỗ đồng nhất hóa với sự kiện “tôi là” thế này, “tôi là” thế kia?
            Nếu lúc này có sự đồng nhất hóa thì chỉ tại lúc này có mặt nguyên nhân đồng nhất hóa chứ không phải tại có những yếu tố đồng nhất hóa, vì những yếu tố ấy thuộc về quá khứ. Chính nguyên nhân ấy là cái gì sống và hiện diện. Hơn thế: nguyên nhân ấy chính là đời sống. Chính nguyên nhân ấy khơi động hồi tưởng, đem lại cho hồi tưởng một vẻ sống, nếu nó dẹp bỏ hồi tưởng đi tức là nó tiêu hủy hồi tưởng. Nguyên nhân ấy là biến dịch hay là bản thể, là cái trở thành hay là cái viên thành? Hay là cả hai?... Biến dịch và bản thể đã bí mật thông đồng với nhau thế nào để đánh lạc hướng lương tâm và làm cho lương tâm mất hướng?
            Những ý tưởng ấy và nhiều ý tưởng khác xuất hiện trong lúc suy tư đặt cho ta những câu hỏi gay go, tư tưởng của chúng ta không biết trả lời ra sao, tư tưởng bị dồn vào chân tường cho nên tìm cách né tránh: những ý tưởng ấy mở đường đến tri thức theo chiều tu dưỡng tâm tính con người với điều kiện chúng ta không cho là một tác động lí trí. Quả vậy, lương tâm của chúng ta không phải chỉ là tư tưởng. Có lẽ chúng ta sẽ hiểu ngay rằng trong số những yếu tố của lương tâm, tư tưởng là yếu tố đứng xa lương tâm hơn cả. Xúc động, tình cảm, cảm giác, tri giác, mộng mị và tất cả những yếu tố tiềm thức và vô thức mới đúng là yếu tố thực sự của chúng ta, chứ còn ý tưởng và khái niệm – hay ý kiến – chỉ là những yếu tố mà chúng ta điều động ở ngoại vi. Krishnamurti nhắm vào sự tự tri, ông đưa chúng ta đến một lãnh vực không còn danh từ nữa, tư tưởng trở thành yên lặng. Tuy nhiên, song song với loại tư tưởng ấy, người ta cần phải tăng cường một hình thức tư tưởng nhắm vào sự nhận định mãnh liệt, cẩn trọng, vô tư, vô vị lợi và chất phác, không khác nào một người coi kho chăm lo ghi vào sổ việc xuất nhập kho hàng. Nhưng sự sốt sắng của y sẽ vô ích nếu y chỉ mất thì giờ chú ý đến sự vật với tư cách là sự vật, chỉ đem ra phê bình, bàn bạc. Điểm quan trọng nhất là ghi nhận. Nếu y lơ đễnh thì không ghi nhận được hoạt động đó. Hằng ngày biết bao nhiêu sự việc xảy ra trong người chúng ta bất cứ lúc nào, trong mỗi giây đồng hồ chúng ta tác động và phản động trong tất cả mọi cơ năng của chúng ta. Nhưng kì dị thay, chúng ta không chú trọng đến thể tính đã kết tinh được đời sống trên trái đất này. Nếu chúng ta chú trọng đến thể tính thì hẳn là chúng ta biết nó thế nào.
            Tác động tri thức là tác động nhận định, bởi vậy nó là tác động trực tiếp, nhưng rất khó thực hiện, bởi vì đứng về phương diện nào chúng ta cũng vấp phải tập thể mà không đạt được con người. Những vấn đề gay cấn nhất, những thảm kịch đau đớn nhất phải chăng là thảm kịch gây nên vì một vài cách rung cảm, suy tưởng và xử sự chung cho một quốc gia, một đoàn thể, nghề nghiệp hay một giai cấp? Phải chăng vì chúng ta đồng nhất hoá mình với một vài cách xử sự lưu truyền hay chung cho tập thể mà chúng ta đã gây ra phần lớn những thảm kịch gia đình của chúng ta? Điều ấy đúng quá, chúng ta đã quen xử sự như thế cho nên có những thảm kịch gây ra vì phong tục tập quán xa lạ với chúng ta, chúng ta cho là quái dị. Nếu chúng ta chỉ biết tự tôn thờ mình, thì khi chúng ta phải giải quyết vấn đề đặt ra vì sự tôn thờ ấy đối diện với vấn đề dìu dắt linh hồn, chúng ta những muốn lấy độc trị độc. Trái lại nếu chúng ta chấp nhận sự tự tri là một giá trị, nghĩa là chỉ có ta biết mình ta, ngoài ra không ai biết được thì chúng ta sẽ bác bỏ tất cả tin tưởng, truyền tục, kinh thánh, thần thư của Đông phương cũng như Tây phương, ý niệm về con người và cuộc đời, quan niệm triết lí, ý thức hệ, đến cả đường lối suy tưởng nữa. Quả vậy, chỉ có một tâm hồn mới mẻ, giản dị, hồn nhiên theo đúng nghĩa của những danh từ ấy là có thể trông thấy cái gì có thực. Những điều người ta dạy bảo chúng ta đều che lấp sự thực.
            Thử hỏi ai có thể biết rõ được ý nghĩa thâm sâu của một sự phản ứng, của một cảm xúc mờ mịt, của những ý nghĩ không hiện rõ rệt, không hiện ra, chính những ý nghĩa không hiện rõ đó là tinh chất, là thế giới thâm sâu của chúng ta, đời sống hàng ngày hàng giờ luôn luôn khơi động những ý nghĩa đó. Nếu không phải là chính chúng ta thì ai có thể biết được thâm tâm của chúng ta? Chúng ta có cần tới sự khôn ngoan của người xưa để biết trái tim ta khô khan hay ta yêu mến chăng?
            Như vậy, chúng ta không nên để mình bị lôi cuốn bởi những cái gọi là Thượng đế, Thiện, Tinh Thần hay Vật chất, Quốc gia hay Quốc Tế, thực ra chỉ là những phóng rọi trừu tượng của sự ngu muội; chúng ta nhận thấy sự biết mình là biết những liên lạc của mình với đời sống và với mỗi người, vấn đề cá nhân là vấn đề xã hội và ngược lại, vấn đề xã hội là vấn đề cá nhân.
            Chúng ta không thể biết mình chúng ta nếu chúng ta không biết qua những liên lạc với đời sống và mọi người. Lập trường của Krishnamurti là chính yếu, lập trường ấy diễn tả đúng tính chất thiết thực của tư tưởng hơn những lập trường khác. Chúng ta không thể quan niệm được một người trong tình trạng sống cô độc không liên lạc gì với người khác. Con người chỉ hiện hữu trong phạm vi liên lạc với người và vật quanh mình. Như vậy, nếu chúng ta muốn biết rõ chúng ta thế nào, chúng ta chỉ có thể biết qua những sự tiếp xúc, những sự trao đổi, nhưng sự xung đột của chúng ta. Nếu chúng ta rút mình vào cô độc với mục đích suy tư về mình, chúng ta không còn tiếp xúc với những gì khơi động sự phản ứng của chúng ta và bộc lộ bản chất chân thực của chúng ta. Vả chăng sự biệt tích như thế chỉ là hão huyền: sự liên lạc với bên ngoài, dù là liên lạc tối thiểu theo lối sống ẩn sĩ và nhà tu cũng vẫn có. Những liên lạc ấy được lọc qua lớp vỏ dựng lên theo hình ảnh ngu muội của chúng ta để che chở cho chúng ta. Như vậy chúng ta có thể đạt tới sự quân bình, tới sự thư thái, tới sự siêu thoát thần bí, nhưng đó không phải là tri thức. Ông Trời mà chúng ta khám phá ra chỉ là giả tạo. Nếu chúng ta chính là phương tiện để đi tới sự hiểu biết của chúng ta, chúng ta phải luôn luôn qua những thử thách, chúng ta phản ứng trước cuộc đời như thế nào thì chúng ta phải thấy rõ chúng ta đúng như vậy. Đời sống bất trắc không thể dự đoán trước được, đời sống có khuynh hướng huỷ bỏ những tin tưởng trên đó người ta xây dựng quân bình tâm lí. Người ta trông đợi Ông Trời đem lại cho người ta sự yên ổn nhất, người ta gán cho ông Trời quyền năng cho người ta sống vĩnh cữu trong niềm cực lạc. Nhưng chúng ta càng tiến tới gần sự yên ổn tâm lí, chúng ta càng kém hiểu biết về mình. Tìm ông Trời, tìm chân lí, là tìm cách không hiểu mình nữa. Nếu chúng ta chỉ tìm đến sự yên ổn vật chất, sự yên ổn đó có ngày sụp đổ, chúng ta sẽ trở lại sự bất ổn, với cuộc đời. Không ai kém sống bằng những người nấp kín trong tín lí, trong tín ngưỡng, trong ý thức công bình chính trực của mình. Phàm nhận tội lỗi ít ra cũng có ý thức về hành động, họ hành động chống lại người khác để theo đuổi mục đích riêng. Có lẽ ý thức hành động đó sẽ có ngày đưa họ đến sự hiểu biết. Nhưng người vô tư bảo vệ một lí tưởng, cho sự thành tâm là một đức tính, họ bênh người này chống người khác, đem lại thắng thế cho quan điểm này, đánh bại quan điểm khác, như vậy họ khác nào một cán bộ cuồng tín bao giờ cũng tìm được lí lẽ để biện minh việc làm gàn rỡ của mình, khác nào một kẻ gây ra hỗn loạn. Trong mối liên lạc với mọi người, họ không có dịp để biết mình, họ tự đồng nhất hoá với quyền lợi của tập thể, họ để hết thì giờ để suy xét, tán thành và bài bác, rốt cuộc họ thấy mình càng hoạt động mạnh thì họ càng không thấy mình gây ra hỗn loạn. Chúng ta có thể tự hỏi tại sao chúng ta khước từ trách nhiệm, từ khước sự già dặn của tâm lí, thậm chí chúng ta quên rằng bổn phận đầu tiên của chúng ta là tự hiểu mình chứ không phải là hành động một cách mù quáng. Cho rằng tự tri là một phần trừu tượng của triết học không có ích lợi gì là tự thú rằng mình vô trách nhiệm. Một người làm công sử dụng một cái máy hay một khí cụ mà không học được cách sử dụng sẽ cảm thấy mình trách nhiệm về sự thất bại của mình. Nhưng vì sai làm chúng ta sử dụng con người chúng ta làm phương tiện mạnh mẽ nhất, gần tầm quan sát nhất để hoạt động, ấy thế mà chúng ta theo tiên thiên rằng chúng ta không thể tự tri được. Nhân loại còn ăn rễ sâu xa xuống cái ngu muội và cái vô thức, thậm chí những người ưu tú nhất cũng bị mê hoặc bởi thành kiến rằng người thường không thể đạt tới tri thứ tuyệt đối. Người ta tin rằng người ta có linh hồn bất diệt hay không có linh hồn bất diệt. Người ta tin rằng có Đấng Tạo Hoá hay có sự tiến hoá của một vũ trụ bỗng dưng có đó không hiểu tại sao. Hầu như "tin tưởng" đã có một ý nghĩa nào đó rồi. Hầu như phủ nhận sự tin tưởng của người khác đã có một ý nghĩa rồi. Rốt cuộc mỗi người tự giam cầm mình trong một thành trì kiên cố giữa cõi huyền bí và hữu hạn, mục tiêu và lí do tồn tại của một thứ trách nhiệm riêng biệt, hẹp hòi và độc hại.
            Nhận lấy trách nhiệm toàn diện chứ không phải từng phần là một lí do cần thiết và đầy đủ để chấp nhận sự tự tri làm giá trị duy nhất, cá nhân và tập thể. Quy về một mối như vậy chúng ta có thể nói rằng không có vấn đề nào có thể giải quyết trên bình diện riêng biệt của nó, bởi vì giải pháp chỉ là giải pháp trong phạm vi nguyên nhân của vận để, giải pháp ở trong vấn đề vì vấn đề là vấn đề riêng biệt. Nhưng nếu chúng ta xét toàn thể một con người, nếu chúng ta xét con người toàn diện, thì chúng ta đã tác động ở ngoài và ở trên vấn đề.
            Đời sống kim thời quá ư phức tạp, các chuyên gia chia tay nhau nắm giữ từng phần, bởi vậy người thường không thể kiểm soát nổi. Thí dụ sự sản xuất và sự phân phối (liên hệ trực tiếp đến mỗi người chúng ta) bao gồm biết bao yếu tố. Những yếu tố ấy tuỳ thuộc nhiều ngành nghiên cứu, sử dụng khoa học kinh tế, xã hội, chính trị, điều động nhân công và vốn liếng, tổ chức kĩ nghệ, thương mại, canh nông, lịch sử, địa dư, toán học, triết lí…, nói tóm lại, cần đến toàn bộ kiến thức nhân loại, sự áp dụng lại theo những lí thuyết mâu thuẫn nhau, chuyên gia không đồng ý với nhau về một điểm nào, họ chỉ đồng ý với nhau một điểm là không thể sản xuất và phân phối tài nguyên mà không có xung đột, thậm chí nền tảng chung của mọi hệ thống là vũ lực. Dĩ nhiên những người không được huấn luyện về những khoa học ấy không bao giờ hiểu hết kiến thức của các chuyên gia. Như vậy không bao giờ chúng ta nắm vững được tình trạng chăng? Tình trạng ấy vượt tầm hiểu biết của chúng ta chăng? Chúng ta thử nhìn toàn bộ, nhìn một cách trực tiếp, giản dị với cặp mắt con người xem sao? Trước hết chúng ta nhận thấy sản xuất nhiều thì không có gì là khó khăn. Nếu nhân loại làm việc đầy đủ năng suất thì chỉ trong vài tuần lễ thực phẩm nhiều không thể tưởng tượng được. Hàng trăm triệu người cần thực phẩm đó sẽ có ngay mà dùng. Vậy thì vấn đề ở đâu? Sản xuất không phải là "vấn đề", vì nếu cứ để sự sản xuất tiến hành theo phương tiện của nó thì nó sẽ phát triển không có hạn chế. Về phương diện tiêu thụ cũng thế. Nhưng giữa sản xuất và tiêu thụ, theo các chuyên gia, có một bức tường bí hiểm không thể vượt qua được. Họ không thấy rằng "vấn đề" không giải quyết được chỉ vì không có vấn đề. Các chuyên gia không thể ngờ được rằng "vấn đề" chỉ là nguỵ đề. Bởi vậy, họ cố gắng "giải quyết" trên phương diện riêng biệt của "vấn đề". Nếu họ xem xét tình trạng theo nhỡn quang của thân phận con người trên một hành tình nhỏ không mong chờ sự cứu giúp của cõi trời nào, hẳn là họ sẽ muốn chung nhau chút tài nguyên của tạo hoá, những danh từ "giá cả", "mua bán" sẽ hiện ra vẻ ti tiện. Quả vậy, khi chiến tranh bộc phát thì những danh từ ấy biến mất, hầu như không có, hầu như biến thành hư không, chưa cấu tạo. "Vấn đề" là ở chỗ đó: mặc dù chuyên gia cố gắng chứng minh, nhưng "vấn đề" không có thực, mà chỉ có giá trị tâm lí.
            Như vậy, chúng ta trở lại sự biết mình, sự cần thiết phải vượt ra ngoài cái khuôn chật hẹp mà chuyên gia đã dùng để đóng khung những vấn đề của chúng ta một cách võ đoán. Bộ máy kĩ thuật vĩ đại với những bánh xe rắc rối, những khó khăn kinh tế và tài chánh, tất cả chỉ là những mánh lới của người chỉ huy dùng để cấm đoán chúng ta bước vào chỗ hội họp bí mật của họ. Họ trưng ra tài năng hão huyền của họ để cấm kị hết cái này đến cái khác. Còn chúng ta, vừa dễ tin, vừa tỉnh táo, vừa ráng chịu, vừa chống trả, chúng ta không biết hành động thế nào, hành động từ đâu, chúng ta bị lôi cuốn vào một tiến trình phá hoại. Chúng ta thiên tả hay thiên hữu, chúng ta nghiêng về Đông phương hay Tây phương, duy tâm hay duy vật. Krishnamurti chứng minh cho chúng ta thấy rằng chúng ta phản ứng trong điều kiện sinh sống của chúng ta, khí giới của chúng ta cũng không hơn gì khí giới của đối thủ. Nhưng khi chúng ta đã chấp nhận sự tự tri là một giá trị, một thế giới mới sẽ mở ra cho chúng ta, trong tâm hồn chúng ta không còn sự ngăn cách thiếu nhất trí, chúng ta không gặp những khó khăn đủ loại, chúng ta hội nhập vào chính chúng ta và vào nhân loại thống nhất.

Đăng nhập để trả lời
0
NHÂN VĂN

            Tự tri là một sự kiện tuyệt đối, người biết mình sẽ phủ nhận những giá trị khác vì biết mình chính là đạt được cái "thành" của tất cả các giá trị. Những giá trị khác phải tan vào trong sự tự tri như hạt thóc gieo xuống đất sẽ biến thái để thành cây kết quả. Toàn bộ những kinh nghiệm của loài người phải tan vào trong sự tự tri để tạo ra một hành động sáng tạo có tính cách tự động mạc khải. Cái gọi là bước tiến trong tương lai của nhân loại sẽ vượt khỏi nhu cầu kinh nghiệm và phủ nhận thời gian, theo quan niệm của Krishnamurti. Lương tâm con người phủ nhận cả khái niệm biến dịch, những lớp đất bồi của tương tâm hốt nhiên được tri giác mãnh liệt, tự chúng sẽ biến mất. Đường lối đi đến sự tri thức theo như người ta hiểu nhằm vào một mục đích, một sự khắc khổ, một kỉ luật, bởi thế chúng ta có thể mô tả và trình bày được. Nhưng sự tri giác trực tiếp và tức thời "cái hữu thể" không phải là một đường lối, không phải là cái gì mô tả được, bởi vậy sự tri thức ấy khó giải thích. Sự khó khăn không phải ở tri thức mà ở những trở ngại chúng ta đưa ra để chống lại nó. Do đó mà có khía cạnh tiêu cực của Krishnamurti, cạnh khía tiêu cực ấy làm cho những giá trị nguỵ trá quay lại chống nhau. Nhưng sự phá huỷ đó chỉ là phá huỷ những bức tường ngăn cản và có khi còn dắt đế sự tự vẫn tâm lí. Nếu người ta tự buộc mình phải phá huỷ thì người ta đi đến chỗ tự vẫn tâm lí thật. Một tín đồ đồng nhất hoá mình với tín ngưỡng, nếu người ta làm cho họ không tin đạo của họ nữa thì không khác nào người ta giết chết họ, nhưng nếu có sự hiểu biết, nếu vừa có có tự tận lẫn tái sinh, người ta sẽ được thanh thoát không còn gì xúc phạm được đến người ta nữa. Chuốc lấy cái chết để được tái sinh thì thật là vô ích. Dầu sao thì cái chết vẫn chờ đợi ta, tại sao người ta lại để cho nó phải chờ đợi nếu không phải là tìm cách đánh lừa nó, dùng nó làm lối đi cho quá khứ đã chết có đường kéo dài ra thành tương lai, như vậy tương lai chỉ là sự phóng rọi của quá khứ. Tất cả cái gì chúng ta có thể nghĩ tới mới chỉ là quá khứ, quá khứ ấy lại trở thành quá khứ của quá khứ nếu chúng ta nghĩ lại một lần nữa. Nhắc lại những khái niệm, biểu thị, tin tưởng, kỉ luật, suy tư, chỉ là bỏ chạy trước cái không thể tránh được. Nếu quả như vậy thì tại sao chúng ta lại tìm cách né tránh? Tại sao chúng ta không lần hồi chết trong sự tái sinh thường xuyên? Muốn cho tâm trí được tươi tắn mới mẻ thì chúng ta bóp chết mỗi kinh nghiệm trải qua cũng là sự phi thường chăng? Hay là người ta vẫn bất định, người ta không tin nó nuôi dưỡng người ta, thậm chí người ta đem xếp cẩn thận vào kho, chất thành đống cồng kềnh, đến nỗi người ta chỉ còn là một mớ thói quen?
            Đón nhận cái chết và đón nhận sự sống không khác gì nhau. Từ chối sự chết tức là từ chối sự sống. Sống chết chỉ là hai mặt của cái gì không có quá khứ, không có tương lai. Nhưng người tin tưởng vật chất hay tinh thần dạy ta rằng khước từ hiện tại là sửa soạn một đời sống tốt đẹp hơn ở trái đất này hay ở thế giới bên kia. Đối với phái này thì sự giải thoát là giải thoát toàn thể chúng sinh, đối với phái kia là cứu rỗi cá nhân. Chúng ta theo sở thích, ý muốn, giáo dục, khuynh hướng của chúng ta, nói chung chúng ta theo điều kiện sống của chúng ta, chúng ta đưa một giá trị thực tại vào những hệ thống đặc trách sự cứu rỗi linh hồn hay thân xác, làm như những hệ thống ấy hiện hữu một cách khách quan, bên ngoài sự tin tưởng của chúng ta!
            Trong lãnh vực ấy, tình trạng hỗn độn của các nhà lãnh đạo tinh thần còn sâu xa hơn của các nhà doanh nghiệp và chính trị gia, chúng ta để cho họ khai thác vì những lí do sâu xa hơn, bí hiểm hơn. Người thiếu cơm ăn tưởng tượng ra thiên đàng tương lai bờ xôi ao mật ở ngay trái đất này hay ở thế giới bên kia. Mỗi người sáng chế ra một bảng kê điều thiện theo hình ảnh lộn ngược của đời sống mà họ cho là xấu xa. Sự phủ nhận cái có thật, sự khước từ hiện tại chỉ có thực nếu ta kể nó là sự phủ nhận, nhưng không có thực nếu ta kể nó là cuộc đời; bởi vậy, chỉ có sự trốn tránh cuộc đời chứ không có thiên đàng. Sự phủ nhận ấy là phủ nhận trong hiện tại, được gác lại để sau sẽ hay. Như vậy cái được tổ chức bởi hệ thống kinh tế hay tín ngưỡng chính là sự trốn tránh cuộc đời chứ không phải thiên đàng, bởi vì người ta không thể tổ chức cái gì không có, nhưng chúng ta dễ tin cái tốt lành tưởng tượng cho nên chúng ta dễ bị người khác khai thác. Người chịu ách độc tài lại tìm cách độc tài với người khác. Người không chịu uốn nắn tâm trí của mình vào khuôn khổ nào đó lại tìm cách đưa ra một khuôn khổ cũng giống như khuôn khổ trước nhưng giống theo kiểu bức ảnh giống tấm phim chụp. Toàn bộ những cách chạy theo một mục tiêu tưởng tượng như thế được gọi bằng cái tên rất kêu: sự biến dịch, thực ra nó đưa loài người đến chỗ tự sát. Vì yêu ma phù chú nào, vì phép thánh thần nào mà chúng ta trao chìa khoá mở cửa thiên đàng hão huyền ấy cho họ?
            Chúng ta đã lầm mà học hệ thống tư tưởng và quan niệm thần học của họ, chứng minh và mạc khải của họ; hiển nhiên là họ mâu thuẫn nhau, trong phe này cũng như phe kia, chỉ những người muốn để cho họ thuyết phục là bị thuyết phục mà thôi. Chúng ta sẽ thấy có ích lợi hơn nếu chúng ta tìm hiểu những lí do làm cho chúng ta chấp nhận hệ thống này, theo tín ngưỡng kia. Những lí do ấy sẽ bộc lộ cho chúng ta biết điều kiện tư tưởng của ta, tình cảm của ta. Triết gia và thần học gia đưa ra những biểu thị về con người và vũ trụ, những hệ thống của họ lại uốn nắn họ theo những biểu thị ấy, thậm chí họ không biết rằng những hệ thống aayts do chính họ lập ra. Tư tưởng của con người được trừu tượng hoá cách nào cũng được. Người ta đưa ra những quan niệm gọi là Bản Thể, Tuyệt Đối, Vĩnh Cửu… và nhà tư tưởng tưởng tượng ra rằng những phóng rọi đảo ngược sự dốt nát của họ là những sự thật. Thực ra nhà tư tưởng không thăm dò những ước vọng kín đáo. Những nguyên nhân không chịu thú nhận của họ đã làm cho họ tin tưởng hệ thống lập ra, họ thích dốt nát và hồ đồ cho được nên thân. Tin tưởng của họ, tín ngưỡng của họ không phải là tri thức. Tri thức là sự tự động mạc khải tiến trình toàn diện của lương tâm; không làm gì có khái niệm, tín lí hay biểu thị về đời sống. Như vậy, triết lí có hại cho tri thức.
            Tri thức nghĩa là nhận thấy cái gì hữu thể trong sự vận hành luôn luôn đổi mới trong cuộc đời. Như vậy là tham dự vào mọi sự biến đổi, mọi chuyển hoán tinh tế nhất của lương tâm. Chính vì thế mà ôm đồm khăn gói tay nải cồng kềnh chỉ có hại. Bất cứ yếu tố nào có sẵn trong ý thức đều kìm hãm làm cho nó bất động. Ý thức của con người nếu gồm nhiều cơ năng nhưng không có điểm làm mốc sẽ thấy rõ những chỗ kết tinh của trí nhớ làm vướng víu nó. Gặp một sự cản trở là ý thức tan biến; làm cho sức sống hừng lên được là điều đáng mừng cho tri thức. Tri thức chính là sự giải toả ấy. Đây không có gì giống một môn bách khoa hay một chủ thuyết. Tất cả cái gì có thể biết được đều phải nhận thức được, đời sống không biết ngày mai nó sẽ thế nào, nhờ sự nhận thức nó mới có thể tồn tại được. Bởi thế cho nên tìm hiểu cái bất khả tri theo sự chỉ dẫn của nhà thần học chỉ là một việc làm phi lí.
            Trạng thái vô thời gian sáng tác ngẫu phát không có quá khứ, không có tương lai. Chúng ta có thể biết được cuộc sống giải thoát ấy nếu chúng ta giam mình trong những thành trì tâm lí chăng? Chúng ta đã cho rằng không thể biết được cái bất khả tri, ấy thế mà chúng ta hăm hở đi tìm cái bất khả tri. Như vậy, vực thẳm, vô minh của chúng ta tức là cái bất khả tri trong chúng ta, chúng ta muốn đem nó kết hợp với cái bất khả tri khác là đời sống sáng tạo! Vô minh là không biết rằng mình vô minh, nhưng nguyên nhân ấy có thể biết được. Khi đã tri giác được nguyên nhân thì người ta không còn vô minh, cái bất khả tri có thể hiện ra thành khả tri. Thực ra, người ta làm cho nó hiện hữu, người ta tạo ra nó.
            Vô minh đồng nghĩa với kì gian, với sự tồn tục. Tri giác được như thế là hành vi của người lớn. Từ lúc tuổi thơ cho đến lúc chín chắn sung mãn, chúng ta qua đủ mọi giai đoạn phát triển của lương tâm nhân loại. Đến lúc ấy chúng ta nhận thức được rằng mỗi chúng ta là kết quả của toàn thể sự tồn tục dòng giống, như vậy lương tâm của chúng ta là một vực thẳm của chính nó, bởi vì nó bị giam hãm trong một biến hành mà người ta không biết rằng có khởi điểm hay không có khởi điểm. Tuy thế nhưng chúng ta cũng tự đồng nhất hoá với sự tồn tục đó suốt từ lúc ra đời đến lúc chết. Trong chuỗi Thời Gian thăm thẳm mịt mù chúng ta dọn sạch độ một trăm năm quèn đời sống của chúng ta, rồi chúng ta đưa lên hàng một thực thể và chúng ta tưởng tượng ra đó là sợi dây duy nhất và liên tục của ba vạn sáu nghìn ngày cuộn lại như cái vòng đeo tay. Chúng ta muốn cho cái tôi của chúng ta có khả năng biến hình đổi dạng. Từ thời thơ ấu đến tuổi thiếu niên, qua tuổi tráng niên, qua tuổi tráng niên rồi đến tuổi lão niên, chúng ta tích luỹ những kinh nghiệm may rủi, chúng ta tiếp xúc với đời sống dưới trăm ngàn cạnh khía, chúng ta thay đổi ý kiến, quan điểm, chúng ta biến đổi hoàn toàn, thậm chí không còn gì là người thuở trước, nhưng chúng ta có cảm tưởng rằng chúng ta vẫn là thực thể ấy, chúng ta chỉ như người bộ hành đã trải qua nhiều bước phiêu lưu. Ảo tưởng ấy, kì gian ấy, chính là hiện thân của sự vô minh bởi vì nó chỉ có thể là một giai đoạn không đáng kể giữa vực thẳm bí hiểm quá khứ và tương lai. Bí mật quá khứ và bí mật tương lai đều phi lí vì chúng ta không thể nghĩ đến một giải đáp nào, chúng ta không thể biết nó có chung có thuỷ hay vô chung vô thuỷ. Cái Ngã của chúng ta chỉ là sự nhân cách hoá một cái không thể thấu hiểu được, nói khác đi là cái phi lí. Cái Ngã muốn tự tạo cho mình một Thực Thể, một Bản Thể, đành phải cờ gian bạc lận. Cái Ngã ẩn mình vào thế giới trừu tượng tin rằng vĩnh cửu là một kì gian vô tận, đúng ra quan niệm ấy vô nghĩa.
            Sự thật thì cái Ngã rối loạn và bất định, không biết nguồn gốc, cứu cánh và lí do tồn tại của mình, phải tìm sự khuây khoả dưới hình thức giải trí hay an toàn. Dưới thâm sâu, cái Ngã chỉ là sự rỗng tuyếch thống trị bởi sự tham lam và sợ sệt với bộ mặt độc ác và mâu thuẫn. Sự rỗng tuyếch dễ nhận ra khi chúng ta thấy khía cạnh đáng ghét của nó nhưng nó cũng biết trá hình để tiếp tay cho chúng ta, chúng ta lại kính trọng, tôn sùng nó. Nó sẽ nguỵ trang bằng những danh từ rất kêu, những lí tưởng rất phấn khích để kẻ thù chúng ta có thể điềm nhiên phá hoại những giá trị cao trọng của chúng ta cũng như chúng ta có thể điềm nhiên mà phá hoại giá trị của họ. Đạo lí quan niệm là đối lập với tà tâm cần phải dựa vào một hình ảnh, một giáo lí, một cách xét đoán, nghĩa là một niềm tin vững chắc để con người được an tâm, cả đến người anh hùng dấn thân vào cõi chết cũng cần như vậy. Sự quên mình, lòng vị tha, sự hi sinh, đều là mưu chước của cái Ngã dùng để xác định. Nếu nó tự biết nó như thế thì nó còn gì để hi sinh? Không lẽ nó hi sinh cái vô minh?
            Chúng ta không cần suy xét nhiều về những giá trị phấn khích nhất, đời sống không phải là do anh hùng hay thánh nhân dẫn đạo, có lẽ ta sẽ học hỏi được chút gì nếu ta tìm sự tự tri qua cách xét định những người dẫn đạo tâm linh và thế tục của chúng ta, họ mưu đồ một sự an toàn có hại cho sự an toàn của chúng ta. Chúng ta nên tự hỏi rằng chúng ta có mắc vào ảo tưởng ấy chăng khi ảo tưởng ấy đi xa chúng ta đến nỗi nó theo hình ảnh sự kinh hoàng sợ sệt của chúng ta mà chế tạo ra những người lãnh đạo.
            Theo đuổi sự yên ổn tâm lí "chống" cái này, "chống" cái khác, là tự đặt mình vào một tình trạng biến thái tâm thần và phá hoại sự an toàn tương đối và hợp lí duy nhất mà chúng ta có thể vươn tới, đó là sự an toàn vì đời sống vật chất của giống người. Đại chúng bị sự tuyên truyền làm cho hoảng hốt không còn biết suy nghĩ nữa. Về phương diện tâm lí, quần chúng như miếng bột mềm, dễ bị những lời phỉnh phờ dối trá thô thiển nhào nặn, như có thể xảy ra trong đời sống các đô thị lớn chói lòa ánh sáng và bụi bặm. Quần chúng đô thị trở nên bị nhồi sọ vô cùng, đó chỉ là sự di chuyển những nhu cầu sinh lí bị tước đoạt, thậm chí những giá trị gọi là tâm linh bị biến đổi thành giá trị cảm giác, ấy thế mà người ta còn ngạc nhiên rằng tính vô sĩ trở thành một tính xấu chung.
            Trong tình trạng hỗn loạn ấy, sự khẩn thiết là mỗi người phải tự xác định vị trí của mình và ước lượng tầm quan trọng của thái độ mình. Nếu không có chút an toàn tâm lí, nếu sự an toàn ấy chỉ là hình ảnh thực tại lộn ngược, nếu đời sống bất an thì đâu là nền tảng tâm lí của đời sống chúng ta? Đối với câu hỏi ấy, đời sống hàng ngày có câu trả lời một cách hiểu biết và sát với đời sống, đó là sự tri giác lẽ sống của chúng ta, lẽ sống của sự hiện hữu cá nhân của chúng ta. Xác định vị trí của chúng ta, chúng ta xác định vị trí của nhân loại đối với muôn loài sinh sống. Từ con côn trùng cho đến người, sự hiện hữu cá nhân có một mục đích phi ý thức hay có liên tiếp những mục đích ý thức được. Nếu chúng ta chế tạo ra những mục đích hạn chế thì dĩ nhiên những mục đích ấy không phải là toàn thể lẽ sống của chúng ta và chỉ có chỗ trong cái "trở thành". Nhưng nếu chúng ta đặt lẽ sống vào cái trở thành thì chúng ta phủ nhận lẽ sống. Xét cho kĩ thì không có sự biện minh nào cho cái trở thành là có giá trị cả. Khất lần đến ngày mai mới biết đến sự thật là tưởng tượng ra rằng trong chuỗi dài những con số sẽ có một con số bất thình lình nhẩy vọt đến vô cực. Thực ra con người là điểm gặp gỡ của trở thành và hiện hữu, hay đúng hơn, là điểm tranh chấp của trở thành và hiện hữu, bởi vì hai cái không thể dung hòa được với nhau, nếu con người hiện hữu thì phải ngưng trở thành.
            Con người cô lập trong ý thức cá nhân của mình là tổng số những sự giải phóng lần hồi qua sự tiến hóa của muôn loài đưa đến loài người. Trong sự tiến hoá ấy loài vật ngừng lại ở giữa đường, chỉ thích ứng một cách máy móc. Có sự tranh chấp liên tục giữa sự thích ứng và khả năng thích ứng, giữa nhu cầu sinh sống trong hoàn cảnh sống và nhu cầu vượt qua những đảo lộn của hoàn cảnh sống. Hoàn cảnh gồm cả thiên nhiên lẫn xã hội. Xã hội càng ổn định (như kiểu xã hội của côn trùng), cá nhân càng bị dồn vào tình trạng một yếu tố chỉ có chức vụ làm cho chạy guồng máy xã hội. Việc ấy đã hiển nhiên trong xã hội loài mối và rõ rệt trong các giai cấp xã hội kết tinh. Bây giờ nếu có sự đảo lộn thì cá nhân bị lên án, địa vị yên ổn của họ bị lung lay, xã hội sụp đổ vì các chức vụ trong xã hội bị chuyên môn hoá quá mức.
            Từ loài vật đến loài người đã có sự gián đoạn, người khác giống vật về bản năng tích luỹ trong quá khứ. Loài côn trùng sinh ra đã biết sử dụng đủ bản năng một cách tuyệt vời; nhưng đứa trẻ bị tê liệt vì không sử dụng được bản năng, nó không thể sống một mình được. Con người sinh ra chỉ mang theo có sự thất bại ấy, và chính sự thất bại ấy đem lại cho họ khả năng ứng phó với hoàn cảnh, họ có thể biến đổi mãi. Nhưng chính mục đích kì lạ ấy lại là một sự mâu thuẫn sống động. Quả vậy, sự thích ứng bị khả năng thích ứng đánh bại, nhưng thực ra khả năng thích ứng tự nó không hiện hữu; nó chỉ là sự gián đoạn thường xuyên những sự thích ứng cần thiết để con người sinh sống. Thực ra cùng một lúc có cả hai hiện tượng: sự thích ứng và khả năng thích ứng. Đó là sự vận hành. Nhưng khi còn là cái bào thai đứa trẻ phải hư không hoá sự vận hành đó. Đó là một kết hợp sinh lí rất bén nhạy, con người phản ứng trước ngoại giới sẽ in hình sống động vào tâm khảm, kết hợp sinh lí trở thành kết hợp tâm thần sinh lí, sự phối hợp các phản ứng sẽ tạo ra những hành động máy móc nhờ có trí nhớ ghi vào khắp nơi. Sự tích luỹ kinh nghiệm vì bám riết lấy đời sống như thể có khuynh hướng gây ra nọa tính của đời sống, người ta trở nên nọa tính vì hiện tượng đồng nhất hoá, hiện tượng đồng nhất hoá đó là cái ngã. Như vậy cái Ngã chỉ là hiện thân của sự mâu thuẫn, cái Ngã chỉ là sự ngưng trệ nhất thời của sự vận hành, sự vận hành đó chính là dòng sống. Kiếp người thống khổ vì muốn giữ mãi tình trạng khốn quẩn đó tuy có bài học của cuộc đời dạy ta rằng tất cả đều vô thường. Hẳn là toàn thể cái gì hiện hữu cũng có thường xuyên, nhưng sự hiện hữu thường xuyên đó chống lại cái thường trụ. Lương tâm cá nhân là một giai đoạn mà người ta nhận thức được cái bất khả tri không tiêu huỷ được. Chính ở vị trí ấy mà Krishnamurti muốn can thiệp để làm cho lương tâm cá nhân bỏ khuynh hướng đồng nhất hoá, tri giác được chân tướng của mình, biết mình và huỷ mình đi để cái bất khả tri có thể lộ diện.
            Đứng về phương diện sinh vật học thì hầu như sự tiến hoá của muôn loài đến loài người là giai đoạn chót, loài người có kĩ thuật đã biết làm chủ thiên nhiên, tự đặt mình vào kỉ luật để bảo toàn đời sống của giống nòi. Về phương diện tâm lí thì không phải như vậy, người ta có thể giải thích tình trạng khủng hoảng của nhân loại ngày nay như sau: cuộc đấu tranh cho tiến hoá của muôn loài tiếp diễn trên bình diện tâm lí, thực vậy, Krishnamurti muốn phát động một cuộc hoán cải bất thần, một cuộc hoán cải nhẩy vọt khi ông tuyên bố rằng con người bình thường, đúng nghĩa là con người, không có ngã. Những người cô lập trong lương tâm cá nhân của mình đều sống trong tình trạng nguy nan, tình trạng tạm bợ, nói đúng ra họ mới là tiền nhân loại, xét một cách vô tư thì họ không có sinh lực. Nhận định như thế thì Krishnamurti không phải là ông thầy dạy đời, ông chỉ là một sự hiện diện. Ông xây dựng cái đơn nhất và cái bình thường, nhưng cách xây dựng của ông không thể mô tả được. Chính ông là cái gì mà ông nói: khó lòng mà tìm được ở ông cái gì vô ngã, sự kì diệu đó làm kinh ngạc chúng ta vì chúng ta không kinh ngạc chút nào. Sự hiện diện ấy không thấy được, không thể định nghĩa được, đối với chúng ta, nó là nét giản lược nhất của sự tổng hợp cá nhân chúng ta. Kết quả sự tìm tòi của chúng ta ở gần chúng ta hơn sự dọ dẫm của chúng ta. Chúng ta sẽ loại bỏ được những cuộc dọ dẫm một cách tự nhiên và bất thần khi chúng ta tự thực hiện. So với Krishnamurti thì chúng ta chỉ là một thứ tiền nhân loại chưa tiến được tới trình độ nhân văn. Những tranh chấp, đau khổ và ước vọng của chúng ta để tìm đường giải thoát đã báo trước và sửa soạn con người nhân văn. So với chúng ta thì ông là người báo trước một con người nhân văn. Nếu hiểu chữ báo trước theo hai nghĩa ấy thì không làm gì còn sự trở thành. Đã có sự tiếp diễn.
            Chúng ta không thể chứng minh sự kết hợp ấy bằng cách nào khác cách nghiên cứu sự cách biệt giả tạo mà chúng ta tạo ra trong mình chúng ta. Không có cách học hỏi nào làm cho chúng ta biết được tình trạng ấy, bởi vì chủ thuyết nào cũng đòi hỏi chúng ta vượt một khoảng cách không có: tai hại hơn, họ còn muốn cho khoảng cách ấy không thể vượt qua được, dưới này là thế nhân, trên kia là thiên thần. Trái lại, Krishnamurti ngay từ khi tuyên bố mình tự thực hiện được mình đã không ngừng nhắc lại rằng ai cũng có thể tự thực hiện được một cách hoàn toàn như vậy, ông cả quyết rằng người nào được giải thoát cũng được được chân lí như một Ki-tô hay một Thích Ca, sự giải thoát không dành riêng cho một thiểu số người có tu luyện hay một số siêu nhân, ai cũng có thể đạt được; sau này ông khước từ cả lí luận suy lí, bẻ gẫy luật nhân quả, công kích hành vi tác động quần chúng căn cứ vào một ý thức hệ, ông cho rằng cách mạng và cải cách chỉ có tính cách thoái hoá. Mặc dầu người ta muốn có thời gian để tìm hiểu, để chấp nhận một thông điệp hầu như ở trên trình độ tiến hoá của con người, ông cương quyết phủ nhận tiến hoá, kì gian và biến dịch. Tính cách quyết liệt ấy, đó là nền tảng và yếu tính của chân lí. Mặc dầu người ta cố gắng dung hoà Krishnamurti với một mục đích theo đuổi, với một cuộc tìm tòi, với một cuộc khổ tu, tóm lại là một lí tưởng của phàm nhân hay một sự toàn thiện của thần linh, lí lẽ viện ra cũng chỉ có nghĩa là khước từ chân lí.
            Như vậy, Krishnamurti chủ trương sự hoán cải tâm lí, ông đề nghị với chúng ta phương pháp ý thức được điều kiện tâm thần của chúng ta, với sự ý thức ấy chúng ta sẽ lí hội được điều kiện tâm thần, chúng ta sẽ chú trọng đến nó đúng mức và chúng ta giữ được cái vô tư, cái vô sở cầu, tuy bị đời sống hàng ngày thôi thúc. Sự khó khăn chính là chúng ta tự đồng nhất hoá với những điều kiện ấy, thậm chí chúng là chúng ta, chúng là cái tôi của chúng ta, thậm chí chúng không cho chúng ta biết được ý nghĩa của chúng, bởi vì chúng ta không thể tự mình quan sát mình nếu không tạo ra một người quan sát khác, và cứ theo cách ấy tạo thêm mãi theo phương sách quen dùng của siêu hình học. Không phải bằng cách ấy mà người ta loại bỏ được cái vòng luẩn quẩn xấu xa của cái Ngã, sự phân tích chỉ tăng cường sức kiềm toả của vòng luẩn quẩn. Nhưng nếu người ta muốn lãnh hội được điều cần thiết, được hiện tại, được con người vô thời gian, không quá khứ, không tương lai, con người sẽ ngạc nhiên mà nhận thấy ngay rằng cái Ngã của chúng ta và hiện tại không bao giờ gặp gỡ nhau. Cái Ngã chúng ta thu thập những yếu tố của quá khứ để sử dụng, nó đem phóng vào tương lai để tạo ra những hình ảnh, những đối tượng thị dục của chúng ta. Mơ mộng nhục thể hay tâm linh, mục đích có thực hay tưởng tượng, chỉ là những mưu chước để gây cho chúng ta cảm tưởng rằng có cái gì tồn tại trong thời gian. Nhưng nếu bất thần sự sáng suốt của chúng ta soi thấu khoảnh khắc sống động ấy thì sự điên đảo sẽ tan biến, thay thế vào chỗ ấy sẽ là một thứ nhẹ nhàng, một sự giải thoát, một sự an nhiên tự tại không thể diễn tả được.
            Hẳn là mơ mộng, lợi danh và thị dục chưa thoả sẽ có lúc trở lại vì thói quen, lười biếng suy nghĩ và tật xấu. Một phút giác ngộ có thể xua đuổi được chúng nhưng rồi chúng trở lại với đôi chút thay đổi. Khi thăng khi giáng, việc đời quấy rầy chúng ta lâu, nhất là khi tuổi đời đã uốn nắn và kết tinh chúng ta. Nội tâm chúng ta có thể thay đổi từ phút này sang phút khác, nhưng có lẽ chúng ta phải nhiều nhẫn nại kiên trì mới đem lại được trật tự trong mọi lãnh vực tâm thần và thể chất. Krishnamurti hiểu điều ấy lắm cho nên ông không muốn đưa ra phép lạ. Trạng thái tri thức là sự suy tư thường xuyên, là sự chủ ý phân biệt chân ngụy. Phân định được chân ngụy là ngộ đạo bất cứ lúc nào.
            Sự tri giác hiện tại rất có hiệu lực đối với chúng ta vì nó tác động đến mọi tầng lớp của lương tâm, nó thấu suốt những bức tường ngăn cách lương tâm thành lớp trên lớp dưới. Những sự ngăn cách ấy chính là cái ngã, chúng ta tri giác sự ngăn cách ấy như một thực thể. Gặp lúc thuận tiện nó đoạt lấy sức lực của ta và tước đoạt khả năng sáng tạo của ta. Tâm thần ta phân ra từng lớp ngăn cách nhau như vậy là bởi có tiến trình phát triển của con người từ thuở nhỏ đến tuổi lớn khôn. Các nhà tâm lí học hiểu rõ lắm, họ nhận thấy các lớp ngăn cách trong tâm thần khó lòng thông hiểu nhau và sự liên lạc với nhau rất bí hiểm, bởi vậy họ tìm cách phân tích mật hiệu của biểu tượng và giấc mơ và tìm cách lập lại nguyên nhân quá khứ của những tình trạng dao động ấy. Họ bình thường hoá sự lưu thông qua các vách tường ngăn cách nhưng bức tường vẫn còn. Như vậy con người có thể đạt được một toàn bộ những tiến trình đã thống nhất và họ tự đồng nhất hoá với một hình ảnh nhất định của chính mình, cái Ngã của họ được củng cố bởi những luận điệu giải thích và chứng minh ấy. Họ cảm thấy mình đã thích ứng được. Sự lo sợ về mâu thuẫn nội tâm được tạm yên. Như vậy sự phân tách là một yếu tố làm cho con người thoái lui.
            Nhưng theo Krishnamurti thì những vách tường ngăn cách ấy đều sống động, nguyên nhân của chúng vẫn hoạt động và ở hiện tại chứ không phải ở quá khứ, và kinh nghiệm đã chứng thực điều ấy. Những yếu tố của sự kết tinh ấy xuất hiện từng thời kì. Cái đáng kể là tiến trình kết tinh, và tiến trình kết tinh thì bất biến nếu không nó đã không có mặt. Đi tìm một sự tổn thương trong quá khứ như kiểu khám nghiệm một cái sẹo ở mặt là không kể đến sự kiện sống động tức là thực thể tâm thần, trong cái thực thể ấy một hậu quả không ngừng gây ra nguyên nhân vì vô minh, nó là nguyên nhân của chính nó cho đến lúc sự tự tri giác đều tiêu huỷ nó đi để tái tạo nó.
            Như ta đã thấy, nhân-quả là sự mâu thuẫn gắn liền với sự quân bình nhân vị, đối diện với đời sống phổ quát, nhân vị tự lên án mình để tự xác định. Cái Ngã tưởng rằng không biết mình bị lên án, nhưng những lớp sâu thì biết lắm. Do đó mà có những hàng rào ngăn cản để chận lấy tin tức, gây rắc rối và xáo trộn. Như vậy cái Ngã tạo ra vô minh với mục đích duy nhất là tự biện hộ. Tấn hài kịch chóng xoay ra thảm kịch, giấc mơ biến thành cơn mê sảng. Cái Ngã là một trạng thái ô trọc. Ta chỉ cần nhận thấy để chấp nhận với Krishnamurti rằng tuy trên thế giới có nhiều tôn giáo nhưng người bình thường đã từ bỏ cái Ngã. Lúc khởi thuỷ con người ấy là đại diện duy nhất của trạng thái "bình thường" ấy, điều đó xem ra có vẻ mâu thuẫn nhưng không có gì là quan trọng! Lời nói của Krishnamurti căn cứ vào lương tri và quan sát. Trong phạm vi ấy không có cái gì không thể xem xét và chứng nghiệm được với điều kiện là từ bỏ những lí thuyết đã nuôi dưỡng các cuộc tương tranh trên thế giới. Á châu muốn cho cái Ngã là một ảo tưởng và sự hoà động với vũ trụ là một thực thể. Âu châu thích linh hồn bất diệt và một Ông Trời nhân cách hoá, ở giữa là một thuyết xã hội học thực tiễn xây dựng một cái Ngã tập thể bằng cách đoàn ngũ hoá xã hội, tâm lí học xoay sở giữa những thành trì kiên cố ấy. Chúng ta muốn có ánh sáng để biết đường đi, chúng ta không cần gì cả. Ý tứ của chúng ta quay vào những hiện tượng của ý thức sẽ lãnh hội được sự thật giản đơn là muốn tìm phải biết chỗ mà tìm.
            Nói rằng cái Ngã biến mất nghe ra có vẻ kì dị, nhưng sự biến mất cũng là một hiện tượng bình thường như sự xuất hiện của nó mà chúng ta ai cũng biết từ khi thoát khỏi tuổi ấu trĩ, từ khi dưới hình thức này hay hình thức khác, chúng ta có một cảm tưởng kì lạ về chân tướng của chúng ta giữa lúc cái Ngã kết tinh. Cảm tưởng cảm phục lẫn lo ngại mà chúng ta thấy có khi xuất hiện kèm theo những câu hỏi có vẻ ngây ngô rằng do sự trùng phùng nào chúng ta lại là chúng ta, cha mẹ chúng ta lại là cha mẹ chúng ta, thế gian là thế gian chứ không phải cái gì khác, chúng ta những muốn quên đi, chúng ta được khuyến khích bởi cuộc sống có tổ chức ở quanh mình ta, chúng ta bị thúc dục bởi cái Ngã chỉ muốn dập tắt vùi sâu một tri giác nguy hiểm cho nó đang tìm cách xuất lộ. Cái gì ta tri giác được tự nhiên trở lại bề mặt và lôi cuốn chúng ta qua một nơi chênh vênh khúc khuỷu nếu chúng ta cứ để nó kéo đi.
            Chúng ta cũng còn biết những lúc mà ý thức của chúng ta không đạt tới cái Ngã, thí dụ lúc chúng ta ngủ say mới tỉnh, tư tưởng của chúng ta bám lấy một vật, một ý tưởng, cho đến lúc bất thần chúng ta nhận biết chúng ta là chúng ta, chúng ta trở lại hoàn toàn thân phận làm người của chúng ta. Một trạng thái luôn luôn ở bên dưới cái Ngã là trạng thái của người cổ sơ, của người man dã, con người chưa được phân hóa cá tính, họ còn lẫn vào với bộ lạc, với tôn tộc, với cha mẹ, con cái. Trái lại, có khi một linh hồn đoàn thể, một tiềm thức tập thể xuất hiện như một cái Ngã, thí dụ trường hợp một người lính mù quáng, cử chỉ máy móc nhất vẫn tự phụ là mình hơn người, là mình sống theo ý muốn của mình. Như thế cũng đủ hiểu rằng con người chỉ có ý nghĩ, tình cảm và thái độ rập khuôn theo mọi người sẽ càng thêm cảm tưởng là mình sống với quan điểm riêng của mình. Xét đến sự phi lí ấy chúng ta sẽ thấy cái Ngã của ta bản chất nó là một sản phẩm của tập thể, thật là một mâu thuẫn danh từ nếu không phải là mâu thuẫn của cái Ngã.
            Nhưng chúng ta cũng có lúc sống ở bên trên cái Ngã, những lúc chúng ta yêu mến, chúng ta sống mãnh liệt, chúng ta sáng tác, chúng ta hành động theo trực giác. Đứng trước những sự nguy hiểm lớn, những vẻ đẹp huy hoàng, chúng ta tập trung mọi năng khiếu của chúng ta, chúng ta trở lại con người toàn diện. Trong những lúc ấy, chúng ta đi trước tư tưởng của chúng ta, và, lạ lùng thay, tư tưởng đi chậm lại cơ hồ bị ngưng hẳn; cái Ngã đã nhường chỗ cho sinh hoạt sáng tạo.
            Cái Ngã cấu tạo ra văn minh và giá trị của chúng ta mới còn ở giai đoạn ấu trị của nhân loại. Vượt khỏi nó là tiến đến sự trưởng thành, sự sung mãn, huyền thoại, tôn giáo, triết lí với đạo lí tích luỹ hàng bao thế kỉ sẽ tiêu tan.
            Chúng ta có thể quan sát được tất cả những sự kiện ấy.
o0o          
            Năm 1948, Krishnamurti đã tuyên bố rằng ông không đọc một cuốn sách triết lí nào, một cuốn thần thư nào. Những điều ông biết, ông biết một cách trực tiếp, như vậy ông chứng minh được hiệu năng của sự tự tri. Nói đúng ra không phải ông nói rõ như thế, nhưng qua những cuộc nói chuyện và thảo luận tổ chức tại nhiều nước, ý kiến của ông tự nhiên xuất hiện tuỳ theo mọi trường hợp khiến cho ông tiếp xúc được với đủ mọi hạng thính giả, ông trình bày các suy tư của ông đúng như thấy nó xuất hiện trong tâm trí ông. Phần nhiều những sách của ông xuất bản chỉ là những tập biên bản cuộc thảo luận ghi lại bằng tốc kí, ông đọc qua và sửa chữa chút ít. Bởi vậy cho nên chúng ta không thấy những tác phẩm viết ra như một thiên đại luận. Khi chúng tôi viết những dòng này (1950), ông đã hoạt động được một phần tư thế kỉ, tư tưởng của ông đã tiến triển rất nhiều. Không cần nói đến những tác phẩm của ông viết hồi còn nhỏ như "Dưới chân thầy" hay những tác phẩm khác người ta viết về ông như "Temple Talk" không có nét gì chung với tư tưởng của ông sau này, chúng ta nhận thấy một cách hiển nhiên rằng những lời bàn luận và những tập thơ ra đời sau khi ông tự thực hiện (vào năm ông độ 30 tuổi, năm 1927) đều không nên trích dẫn những câu nói của ông nếu người ta muốn thành tâm tìm hiểu bức thông điệp của ông. Nhưng nếu chúng ta đặt những tác phẩm đầu tiên ấy vào toàn bộ sự nghiệp của ông thì những tác phẩm cảm kích ấy sẽ giúp chúng ta theo dõi sự tiến triển của một kinh nghiệm đáng kính phục.
            Trong những chương sau chúng tôi sẽ nhắc lại Krishnamurti từ đầu và theo sát tư tưởng của ông cho đến thời kì hiện tại. Chúng tôi sẽ có dịp khoáng triển thêm những khái niệm đã cô đọng lại trong vài trang giấy.

Đăng nhập để trả lời
0
BẢN TÌNH CA

            Krishnamurti đã bắt đầu viết và thảo luận từ lúc còn trẻ tuổi, tuy nhiên, như chúng tôi đã nói, những tài liệu trong thời kì ấy chỉ cho chúng ta biết một vài nét tính tình của ông chứ không cho biết nhiều về bức thông điệp hiện tại của ông. Muốn hiểu bức thông điệp ấy mà không làm sai lệch vì những ý kiến viết ra lúc đang thai nghén, chúng ta phải đọc ông từ năm 1927 trở đi, thời kì mà Krishnamurti đã tự thực hiện, theo cách nói của ông.
            Nhưng bức thông điệp của ông không ngừng biến đổi. Rất dễ tìm ra những mâu thuẫn, thí dụ mâu thuẫn giữa một khẳng định vào năm 1928 và một khẳng định khác vào năm 1931. Chính vì bản chất của bức thông điệp mà có sự biến thiên ấy, đây không phải là kết quả của sự tìm tòi khoa học hay sự nghiên cứu trong thư viện, đây là sự mô tả hàng ngày của một kinh nghiệm sống, người ta phải tạo ra ngôn từ để trình bày cho người khác hiểu được. Krishnamurti đã thụ huấn từ thuở nhỏ một nền giáo dục bắt ông tôn thờ hết hình ảnh này đến hình ảnh khác, không bao giờ ông chấp nhận dừng lại ở một ảo tưởng nào. Ông khao khát vĩnh cửu, vĩnh cửu sống động, tiếp xúc trực tiếp với đời sống hàng ngày. Bởi vậy cho nên mối tình cao trọng của ông, hiểu theo nghĩa phổ quát và giản dị nhất là danh từ tình yêu, đã đem lại cho ông sức mạnh để tiến tới, không dừng lại dưới bóng những ngôi đền đài.
            Ông chú trọng đến một vẻ mặt, một dáng dấp, đến sự kiện có tính chất con người hơn là sự kiện trừu tượng, sở vọng lớn lao của ông là học hỏi được nhiều và học hỏi cả mọi người để hoà mình với đời sống, một đời sống trôi biền biệt và chỉ được người ta trình bày với ông dưới hình thức những hình ảnh và những thần linh. Mối tình của ông là mối tình thắm thiết với tất cả cái gì sinh sống, với toàn thế giới, với mỗi người, mỗi vật. Ý chí của ông là ý chí bất khuất, không sờn, không muốn để người nào, tư tưởng nào giam hãm mình, ông nghi ngờ tất cả. Sau hết là ý thức nổi loạn gây ra vì những thống khổ ông đã trải qua trong thời thơ ấu và thời niên thiếu. Nhờ thế ông đã đạt được tri thức. Chúng ta hiểu rằng kinh nghiệm chung quyết của ông là cái gì khác chứ không phải sự khám phá của trí tuệ. Khi mà người ta thấy bất thần bản thể tâm lí – nếu có thể nói vậy – của ông tan biến vào trong đời sống, đời sống vô Ngã, rộng rãi phổ quát mà ông vẫn trông tìm, thì tự nhiên người ta hiểu rằng đây là một sự thoát xác, đây là cái Ngã tan biến vào hiện tại vĩnh cửu; sự giác ngộ ấy được diễn tả với phương tiện có thể dùng được, là những hình ảnh, những quan niệm của quá khứ.
            Cái Ngã đã biến mất, nhưng biến vào trong một cái liên tục. Không làm gì có gián đoạn, đình chỉ, chỉ có liên hoàn. Đời sống tâm lí được chuyển vào một thế giới mà quá khứ vẫn còn đó, nhưng đã biến hình và tái tạo lại. Đã từ lâu Krishnamurti tưởng rằng đó là sự phối hợp, vì tình yêu đời sống mà ông tiêu huỷ cái Ngã của ông. Lời nói đầu tiên của ông là một bài ca lạc thú, một bài tình ca trong ấy không có chỗ nào dành cho sự giải thích hiện tượng đã xảy ra cho ông. Nhưng khi đã vượt qua những kinh nghiệm thần bí mà chúng ta biết và tuy rằng tư tưởng của ông còn dò dẫm đường đi, ông cũng khám phá ra một đời sống không thần kì, không huyền bí, nếu có thể nói như vậy. Ông đã biết rằng không có đường lối nào, không có tư tưởng thần bí nào đưa đến đời sống chân thực ấy được. Ông vượt qua được lãnh vực tôn giáo, ông nỗ lực tập trung vào thực tại, ông tạo dựng thực tại của ông một cách liên tục và để cho thực tại tái tạo mình (không có một quan niệm thần bí nào cho chúng ta thấy một thí dụ về sự đồng nhất hoá tuyệt đối và chung quyết như thế).
            Sự kiện ấy cho chúng ta biết rằng kinh nghiệm của ông là kinh nghiệm toàn diện. Từ đây chúng ta chứng kiến sự tiến triển của một người thấm nhuần thực tại sống động, thực tại đã giúp ông thoát được cái bản ngã của ông. Phải từ ba đến bốn năm kiên trì mới có thể dần dần tái tạo một phương pháp suy tưởng mới. Bản tình ca, thi vị trữ tình, vẻ tươi đẹp của mùa xuân gợi đến vui vẻ và hạnh phúc, đến hứng khởi hồn nhiên, tất cả những sự kiện ấy đều phải biến thành một bức thông điệp sáng sủa kết hợp với tình yêu.
            Nhưng sáng suốt ấy, sự sáng suốt tạo ra bởi tình yêu ấy, không thể có cho những người muốn tìm nó ở các phạm trù, muốn ngăn chặn nó, muốn giết chết nó bằng những hệ thống của họ. Người ta phải tập lấy một phong thái suy tưởng không phải chỉ dùng đến trí tuệ mà thôi, đó là sự phối hợp tình yêu với trí tuệ, không bao giờ hai yếu tố rời nhau.
            Vì sự phối hợp ấy mà người ta không thể giới hạn sự nghiên cứu trong phần sau của bức thông điệp, phần phân tách những cơ năng của ý thức, nhưng người ta phải biết tới sức mạnh của tình yêu thúc đẩy người ta tiêu hủy cái Ngã.
            Trước hết người ta nhận thấy Krishnamurti từ năm 10 hay 12 tuổi đã từng đứng đầu một phong trào lớn. Năm 1911, ông 15 tuổi phong trào ấy chỉnh đốn hàng ngũ để tôn ông lên làm người lãnh đạo tinh thần. Một thảm kịch xảy ra năm 1927, và năm 1929 có việc đốt phá đền đài. Những biến cố ấy có nhiều tiếng vang, hai mươi năm sau ở Madras, năm 1947, người ta còn chất vấn ông: "Hội Thông Thiên Học đã loan báo rằng ông sẽ là Đấng Cứu Thế và vị Đại sư của thế gian. Tại sao ông rời khỏi hội Thông Thiên Học và từ khước bức thông điệp cứu thế của ông?"
            Krishnamurti trả lời:
            "Người ta đã hỏi tôi nhiều về vấn đề ấy, tôi cho rằng có bổn phận phải trả lời. Tuy lời chất vấn không quan trọng lắm nhưng chúng tôi cũng nhận thấy nó đặt ra cho chúng tôi vấn đề tổ chức. Tôi xin kể một câu chuyện rất thú vị. Một người đi ngoài phố, đi sau là hai người lạ. Đi đường, ông ta trong thấy một vật sáng bèn nhặt lấy ngắm nhìn rồi bỏ túi. Hai người đi theo để ý đến ông, người nọ bảo người kia: "Đây là một việc xấu lắm phải không anh?". Nhưng người kia là thằng quỉ, y trả lời: "Không, cái ông ta vừa lượm được là chân lí, tôi sẽ giúp ông ta tổ chức". Các bạn sẽ thấy câu chuyện ấy có ý nghĩa gì: chân lí có thể tổ chức được chăng? Chúng ta có thể tìm ra chân lí bằng một tổ chức chăng? Hay chúng ta phải vượt lên trên những tổ chức để tìm ra chân lí? Tại sao lại có những tổ chức tôn giáo? Tổ chức tôn giáo có dựa vào những sự tin tưởng khác nhau không? Chúng ta tin tưởng cái gì, người khác cũng tin tưởng như ta, thế là xung quanh sự tin tưởng hình thành một tổ chức. Kết quả sẽ như thế nào? Tin tưởng và tổ chức sẽ li gián người ta mãi mãi. Bạn theo đạo Bà la môn, tôi theo đạo Hồi, bạn theo Thiên chúa giáo, tôi theo Phật giáo. Trải qua lịch sử chúng ta đã thấy tín ngưỡng dựng lên những thành trì ngăn cách người này với người kia. Tổ chức nào căn cứ vào một tin tưởng cũng không tránh được gây ra chiến tranh như đã xảy ra bao nhiêu lần rồi. Chúng ta nói đến tình huynh đệ, nhưng nếu tín ngưỡng của người khác không phải là tín ngưỡng của ta là ta sẵn sàng để cắt cổ họ. Chúng ta thấy không ngớt những chuyện như thế.
            Chúng ta cần tổ chức nọ, tổ chức kia không? Hẳn bạn cũng hiểu rằng tôi không nói đến những tổ chức lập ra để giúp ích cho loài người trong cuộc sống hằng ngày. Tôi muốn nói những tổ chức có tính cách tâm lí gọi là tổ chức tâm linh. Những tổ chức ấy có cần thiết không? Người ta đã căn cứ vào giả thiết rằng những tổ chức ấy cứu giúp con người thể hiện chân lí và còn là một phương tiện tuyên truyền. Bạn có muốn cho người khác biết ý nghĩ của bạn, điều gì bạn đã học được, điều gì có vẻ cụ thể. Nhưng chân lí có cái gì chung với sự tuyên truyền không? Có phải rằng cái cái gì là chân lí đối với ta, nếu ta đem tuyên truyền thì nó không còn là chân lí đối với người khác không? Sự thật, Thượng đế, dù bạn muốn gọi bằng danh từ nào, cũng không phải là cái để tuyên truyền, nhưng mỗi người chúng ta phải tự kinh nghiệm mà lãnh hội được, kinh nghiệm ấy không thể tổ chức được. Từ khi người ta tổ chức và truyền đạo, sự thật không còn là chân lí, nó trở thành dối trá và cản trở chân lí. Bởi vì, dẫu sao thì cái chân thực, cái vô cùng không thể lập ngôn được, không có ngôn từ nào nói ra được hết. Cái bất tri không thể đo lường bằng cái khả tri, bằng danh từ. Đem ra đo lường nó không còn là sự thật nữa, sự thật trở thành dối trá, thậm chí nói chung thì sự tuyên truyền trở thành sự dối trá, và những tổ chức lập ra để suy tầm chân lí sẽ trở thành những công cụ của người tuyên truyền, nghĩa là mất hết ý nghĩa. Không những chúng tôi chỉ nói đến tổ chức đặc biệt trên đây mà thôi, tất cả các tổ chức tâm linh đều là phương tiện để khai thác. Những tổ chức ấy sẽ tạo lấy những đặc tính, và đặc tính ấy sẽ trở thành quan trọng. Người ta tìm hội viên và tín đồ, thế là bắt đầu có sự khai thác. Hội viên không thể tìm ra chân lí vì lẽ hiển nhiên là tổ chức trở nên quan trọng hơn sự suy tầm chân lí. Không thể dùng một tổ chức nào để tìm đến chân lí, chân lí sẽ xuất hiện nếu có tự do. Tự do không thể có được nếu có ý muốn cầu an. Con người bị giam hãm trong sự cầu an không bao giờ khám phá ra sự thật.
            Đối với vấn đề cứu thế, câu trả lời rất giản dị. Chưa bao giờ tôi phủ nhận điều ấy và tôi không cho rằng tôi cần phải phủ nhận hay không phủ nhận. Điều quan trọng đối với tôi là xét xem những điều tôi nói có thực hay không. Các bạn đừng để cho nghi thức dẫn dắt mình, đừng cho một danh từ nào là quan trọng. Mặc dầu tôi là thầy thiên hạ hay là cái gì khác, điều đó không có gì là quan trọng. Nếu điều đó quan trọng đối với bạn, bạn chỉ đi qua bên cạnh sự thật mà tôi nói, bởi vì bạn xét định theo một nghi thức mà nghi thức thì bao giờ cũng mong manh! Kẻ này nói rằng tôi là người cứu thế, kẻ khác nói rằng không phải, như vậy họ là gì? Họ cùng mắc vào một sự hỗn độn, một sự khốn đốn, một cuộc xung đột. Hẳn bạn thấy điều đó thật là vô nghĩa. Tôi biết rằng bạn đã để mất thời giờ với vấn đề ấy. Tôi có là người cứu thế hay không, điều đó không mấy quan trọng. Điều quan trọng là khám phá ra điều tôi nói có phải là sự thật hay không, người ta chỉ có thể biết được nếu người ta để ý xem xét, ý thức được điều tôi nói lúc này người ta sẽ tìm hiểu xem nó có thể hiện trong đời sống hằng ngày hay không. Điều tôi nói không có gì là khó hiểu cả. Người trí thức nhận thấy khó hiểu chỉ vì trí óc họ bị thiên lệch. Người sùng đạo cũng nhận thấy cực kì khó hiểu. Nhưng người thành tâm tìm hiểu thì không cho nó là khó khăn vì tôi chỉ nói những điều rất giản dị. Tôi không thể nói vắn tắt bằng vài câu, bởi vậy tôi cũng không nói vắn tắt như vậy. Những câu trả lời của tôi và cuộc đàm luận này sẽ trình bày với các bạn những điều được các bạn lưu ý."
            Những câu hỏi: "Ông có phải là Đấng Cứu Thế không?" – "Ông đã từ bỏ sứ mạng của ông rồi sao?" – "Ông có phải là người mà thiên hạ đã báo trước cho chúng tôi biết chăng?" – những câu hỏi ấy đều có vết tích xúc động tôn giáo; những câu trả lời của Krishnamurti về việc phân tích những tổ chức tâm linh, nghĩa là tôn giáo, đều rất đáng chú ý. Nhưng năm 1927, Krishnamurti còn ở xa sự thư thái khách quan ấy. Chúng ta hãy nghe ông nói vào thời ấy:
            "Suốt trong đời sống này, mà có lẽ từ những kiếp trước, tôi chỉ có thiết tha có một điều: vượt ra ngoài sự thống khổ, ngoài những giới hạn, khám phá ra cái đáng yêu nhất của mình, cái đáng yêu nhất của mỗi người thì người nào cũng có, hòn đá cũng có, ngọn cỏ ta dẫm lên cũng có. Ý muốn của tôi, ước vọng mãnh liệt của tôi là kết hợp với cái đáng yêu nhất của tôi để tôi không đến nỗi lẻ loi, cái Ngã của tôi không đến nỗi tách biệt. Khi tôi đã tiêu hủy được hoàn toàn cái Ngã, tôi có thể phối hợp với cái đáng yêu nhất của tôi, vì tôi đã thấy nó – chân lí của tôi – tôi muốn đem cống hiến bạn."
            Qua những hình ảnh, những huyền tượng, những chủ thuyết đè nặng xuống vai ông; mặc dầu có lời khuyên bảo của những người che chở cho ông, địa vị cao sang của họ, tà thuật của họ; mặc dầu bị kiềm tỏa bởi huyền tục, mê tín, thành kiến, lòng tín đạo mờ mịt; ông vẫn là người cô độc bướng bỉnh, ông biết con đường đi đến giải thoát, không bao giờ do dự.
            Qua những tác phẩm mà chúng tôi biết, trở nên quá khứ xa xôi của ông, chúng tôi đều nhận thấy ông cương quyết dùng phương tiện riêng của mình để khám phá ra yếu tính của mình, và ông biết rằng yếu tính ấy là yếu tính của vạn vật.
            Từ năm 1926, trước khi ông tự thực hiện, ông đã nói:
            "Hẳn các bạn đều biết rằng người ta muốn sống thì phải sáng tạo, mà muốn sáng tạo thì phải vật lộn và không bằng lòng cái gì cả.
            Muốn vật lộn và bất bình có kết quả thì mỗi người phải khai triển quan điểm riêng của mình, khuynh hướng và năng lực của mình; chính vì mục đích ấy mà tôi muốn đánh thức vị quan tòa nghiêm khắc trong người các bạn, người đưa đường chỉ nẻo duy nhất có thể giúp các bạn sáng tạo. Nhưng đáng tiếc rằng hầu hết các bạn chỉ thích chép lại và làm theo người khác vì con đường này dễ đi hơn… Khi gợi lên tiếng nói nghiêm khắc đến thành một bạo chúa, tiếng gọi duy nhất mà các bạn có thể nghe theo, chúng ta cũng phải biết mục đích mình theo đuổi và cố gắng không ngừng để đạt tới đích. Mục đích ấy là gì? Đối với tôi, tôi biết rằng tôi muốn đạt tới sự thật cuối cùng. Tôi muốn đạt được một tình trạng nào tôi có thể biết chắc chắn rằng tôi đã chinh phục được chân lí, đã sáp nhập chân lí vào mình… Đó, mục đích của tôi là như thế. Việc thứ nhất phải làm là làm sao cho tiếng nói thỉnh thoảng mới nghe được đó trở thành tiếng nói liên tục… muốn như vậy thì phải sống theo quan niệm của mình… Đó là những điểm chính yếu. Tôi không nghe lời ai khi tôi chưa có cảm tưởng rằng người ấy có lí mặc dù họ là ai. Tôi không muốn nấp sau tấm bình phong che lấp sự thực…
            "…Nếu bạn có hứng khởi thì trực giác của bạn sẽ có tiếng nói mà ai cũng muốn nghe, sẽ trở thành ông thầy của bạn, thẩm quyền duy nhất chỉ đạo đời sống của bạn…
            "…Tôi vẫn tự chủ: trong đời tôi, tôi không muốn gì hơn có thể từ bỏ được cái Ngã ngăn cách…"
            Như vậy, Krishnamurti không những đã biết mình muốn gì mà còn biết cách làm thế nào để đạt được ý muốn: thức tỉnh tiếng nói nội tâm, trực giác sáng tạo, để chúng ta trở nên "hơn những thần khí tầm thường", tiếng gọi ấy không thể cưỡng được, nó sẽ ra lệnh cho ta trút bỏ hết mà nghe theo nó. Tóm lại, Krishnamurti dùng một phương pháp tự động hấp thu rất sáng suốt, ông đặt mục đích ở tại bản thân ông, đó là người bạo chúa không ngừng day dứt ông, chính vì thế mà ông tạo ra bạo chúa, rồi ông dùng ngay mục đích ấy làm phương tiện để đạt tới nó! Dùng cứu cánh làm phương tiện! Sau này ông còn khơi động sự sáng tạo ấy cho người khác.
            Ông đã có sự quyết tâm ấy từ hồi nhỏ, từ hồi ông tuyệt thực đến gần chết, ông chỉ ước vọng có một điều, ước vọng đạt được sự thật tuyệt đối không nhờ cậy bất cái gì, không chịu phục tòng, không chịu dừng lại giữa đường! Đến tuổi lên mười, xu hướng tuyệt đối đã vò xé ông. Sau khi ông đã đi tới đích thì ông không cần bận tâm đến cái gì nữa. Đặt cho cái toàn thể tên gọi nào cũng vậy! "Bạn hỏi tôi: Anh là ai? Tôi là bất cứ cái gì, vì tôi là đời sống", chúng ta có nên hiểu rằng cái "tôi" mà ông nói đó không còn là một thực thể, Krishnamurti không còn ở đây nữa."
            "Tôi nói rằng tôi là một với Cái Thân Yêu của tôi vì tôi cảm thấy tôi như thế, vì tôi biết như thế. Tôi đã thấy cái tôi hằng mơ ước, tôi và Cái Thân Yêu của tôi hòa hợp với nhau, từ lúc này không còn sự chia rẽ, bởi vì tư tưởng, thị dục, ước vọng của tôi – của cái Ngã riêng tôi – đều tiêu hủy hết.
            Như vậy tôi có thể nói rằng tôi là một với Cái Thân Yêu, dù bạn muốn gọi nó bằng tên nào, gọi là Thích Ca, Thế Tôn, Shri Krishna hay Ki tô."
            Từ lúc thơ ấu, ông đã học tôn thờ hình ảnh, nhưng ý muốn duy nhất của ông là tiêu hủy cái mình tìm kiếm bằng cách đồng nhất hóa:
            "Tôi tự nhủ: tôi còn đứng ngoài nhìn vào như nhìn một bức ảnh, như một vật khách quan, tôi còn xa cách, tôi còn ở xa trung tâm, nhưng khi đã có năng lực, có sức mạnh, có quyết tâm, khi tôi đã hết ô trọc, đã thanh tịnh thì những bức tường ngăn cách ấy sẽ biến mất. Nếu tôi còn không nói được một cách chắc chắn, nếu tôi còn những xúc động giả tạo hay còn nói thêm nói bớt để làm người khác tin tôi, thì thực ra tôi chưa nói được gì. Tôi chỉ nói được những cái tầm thường mờ mịt để vừa lòng cả mọi người."
            Như vậy ý muốn đạt tới đạt tới sự thật cuối cùng của ông không làm ông thất vọng mà làm ông sáng suốt. Không thất vọng và đạt tới sự thật là hai sự kiện đồng nghĩa.
            "Khi tôi bắt đầu suy tư mà chỉ trông cậy vào chính mình cách đây vài năm, tôi đang ở trong tình trạng nổi loạn. Tôi không thỏa mãn với sự giáo huấn nào, với giáo quyền nào. Tôi muốn tự khám phá ra người đáng là bậc sư của thiên hạ sẽ như thế nào dưới hình thức ấy còn tàng ẩn chân lí nào. Nhưng trước hết, trước khi có khả năng tự mình suy tư mà thông đạt, tôi cho rằng tôi là môi giới của bậc sư thiên hạ, bởi vì rất nhiều người cho tôi biết như vậy. Khi tôi bắt đầu suy tư, tôi muốn biết người ta hiểu chữ bậc sư thiên hạ như thế nào, người ta hiểu chữ làm môi giới cho bậc chân sư như thế nào, người ta hiểu chữ bậc sư giáng thế như thế nào.
            "Tôi muốn nói một cách đại quát; tôi có thể nói tường tận hơn nhưng tôi không có ý ấy. Bởi vì khi người ta định nghĩa cái gì thì cái ấy chỉ còn một vật đã chết. Khi người ta làm một sự kiện được định nghĩa đích xác quá – ít ra đây là điều tôi khẳng định – người ta sẽ gán cho nó một ý nghĩa, ý nghĩa đó sẽ có hình tướng nhất định trong tâm trí người khác, họ sẽ bị cột chặt vào với hình tướng ấy, sau này họ lại cần phải cởi bỏ…"
            "Tôi không nhân danh một uy tín nào để nói với các bạn. Các bạn không cần phải nghe tôi, các bạn chỉ cần hiểu. Đây không phải là uy quyền, giáo điều để nghe theo một cách mù quáng, tuy rằng các bạn muốn như thế. Các bạn muốn tôi đưa ra những luật lệ, các bạn muốn tôi là nhân vật này, nhân vật kia để các bạn có thể làm việc cho tôi. Nhưng không phải vì mục đích ấy mà tôi nói, tôi nói là để chúng ta có thể hiểu nhau và giúp đỡ nhau…
            "Khi tôi còn nhỏ, tôi thấy Shri Krishna với cái sáo của ông như người Ấn độ vẫn hình dung ra ông bởi vì mẹ tôi là người tôn thờ Shri Krishna. Mẹ tôi nói đến ông làm cho tôi tự tạo lấy một hình ảnh của ông, một người mộ đạo từ bi, ca hát trong một bầu không khí hân hoan – các bạn khó mà hiểu được cảnh tượng ấy có ý nghĩa gì đối với trẻ con Ấn độ."
            Rồi người ta cho ông biết những hình ảnh khác, sau cùng là hình ảnh đức Thế tôn.
            "Đối với tôi là một cuộc tranh đấu không ngừng để tìm chân lí, bởi vì tôi không thể thỏa mãn uy quyền, sự bó buộc, sự khuyến khích của bất kì ai. Tôi muốn tự tôi tìm ra chân lí, dĩ nhiên tôi phải khổ hạnh mới tìm được…"
            Chân lí đó là cái gì? Đó là tất cả: tất cả cái gì tiềm ẩn đằng sau hình ảnh, cái gì hơn hình ảnh.
            "Tôi tự nhủ: bao giờ tôi chưa là một với các bậc sư thì tôi chưa cần biết họ khác nhau, hay Shri Krishna, Ki tô, Thế tôn chỉ là một người… Tôi tôn thờ một hình ảnh, nhưng tôi không được thỏa mãn, và vì bất mãn, áy náy, lo âu, tôi có thể tự đồng nhất hóa với hình ảnh ấy, trở thành hình ảnh ấy… Năm trước tôi không thể nói được rằng tôi là bậc sư như tôi nói bây giờ; bởi vì nói vậy tôi không thành thực, nói vậy không đúng. Vì lúc ấy tôi chưa kết hợp được nguồn gốc với mục tiêu, cho nên tôi không thể nói được tôi là bậc sư. Nhưng bây giờ tôi nói ra. Tôi trở thành một với Cái Thân Yêu, tôi trở thành người giản dị."
            Ở Ấn độ, có khi cái kì diệu ở ngay cuộc sống hàng ngày. Những hình ảnh mà người ta dạy ông tôn thờ, Shri Krishna với cái sáo mà mẹ ông thường nói đến, mà trẻ con Ấn độ tôn thờ, rồi đến những ông thầy khác, sau cùng là đức Thế Tôn; lúc thiếu thời Krishnamurti trông thấy thật sự, sống những hình ảnh ấy thật sự, nhưng đến sau ông muốn khám phá ra sự thật, che khuất đằng sau những hình ảnh ấy, ông bèn đi xuyên qua hình ảnh, ông tự đồng nhất hóa với hình ảnh. Mãi sau này, khi sự đồng nhất hóa đã thành tựu, sự kết hợp đã thực hiện, ông mới hiểu rằng những hình ảnh ấy chính là chính ông đã đem ngoại giác hóa nội tâm của ông, yếu tính của ông.
            Ông kể lại câu chuyện đại khái như sau:
            "Một hôm một môn đệ tìm đến một vị tì khưu mà xin dạy cho biết chân lí. Vị tì khưu nhốt người sa di vào một cái hầm.
            "Ngươi ở đây mà tu luyện, độ một năm nữa ngươi sẽ thấy Thầy."
            "Một năm sau vị tì khưu hỏi người sa di đã thấy Thầy chưa?"
            "Con thấy rồi."
            "Ở đấy một năm nữa người sẽ được nghe lời thầy nói."
            "Sau một năm nữa, Thầy nói: Bây giờ ngươi hãy nghe Thầy nói gì trong một năm." Trong một năm nữa, người sadi nghe lời Thầy chỉ bảo. Hết ba năm ấy, vị tì khưu lại đến mà rằng:
            "Bây giờ người đã sống với Thầy, Thầy đã nói với ngươi, ngươi đã thụ huấn Thầy, ngươi hãy suy tư cho đến khi không còn Thầy nữa. Bấy giờ ngươi sẽ biết chân lí."
            Sự khác biệt giữa Krishnamurti một mình khám phá ra chân lí, Thầy không khác nào chính mình. Ông gặp gỡ hình ảnh cuối cùng, ông thấu suốt hình ảnh tôn kính của đức Thế Tôn, ông sống thật sự hình ảnh ấy, ông đạt được sự cực lạc.
            " …Tôi mơ màng, tôi sống trong một căn phòng tĩnh mịch. Bình minh yên lặng, không một ngọn gió. Núi cao xanh rờn đứng sừng sững, lạnh lùng tươi sáng trên nền trời u ám. Xung quanh căn lều gỗ tối om, đàn chim đen và vàng chào đón mặt trời.
            "Tôi ngồi dưới đất, chân xếp bằng, tôi suy tư. Tôi quên cả núi xanh dưới ánh sáng mặt trời, quên cả chim chóc, sự yên lặng mênh mang và mặt trời đỏ ối.
            "Tôi mất cả cảm giác về thân xác tôi. Chân tay tôi bất động, thoải mái, thư thái. Niềm cực lạc thăm thẳm tràn vào trái tim tôi. Tôi tập trung tâm trí, tôi khích động tâm trí. Từ bỏ được thế giới vô thường tôi có đầy đủ sức lực.
            "Không khác nào ngọn Đông Dương nổi lên giũ sạch bụi đời ô trọc, bậc Thầy của các Thầy xuất hiện giản dị và cao đẹp, mình mặc áo vàng, ngồi kiết già như đời người thường thấy…"
            Hình ảnh ấy sống mãi với anh, ở bên mình ông. Tuy ông thấy được niềm cực lạc nhưng ông không dừng chân ở đấy. Ông vẫn đi tìm. Ông vẫn hồ ngư. Ông muốn đập tan hình ảnh, đi xuyên qua hình ảnh. Ông muốn thấu đến tinh túy sự vật. Ông muốn đạt tới tuyệt đối. Một hôm…
            "… Thầy tiến về phía tôi và đứng yên. Trái tim và linh hồn tôi đều cương nghị. Cây cối và chim muông yên lặng lắng tai nghe. Trong bầu trời có tiếng sấm sét, rồi yên tịnh hoàn toàn.
            "Tôi thấy Thầy nhìn tôi, nhãn quang của tôi mở rộng, mắt tôi nhìn và trí tôi hiểu hết. Trái tim tôi hôn hết mọi sự vật, vì mối tình mới đã chớm nở trong tôi.
            "Một vinh dự mới làm toàn thân tôi rung động, vì Thầy đi trước, tôi theo sau, mặt ngẩng cao. Tôi trông thấu qua Thầy, thấy cây cối lớn rung động, lá cành ra vẻ chào đón, tôi trông thấy lá cây rụng, đất bùn, nước long lanh và cành cây khô. Dân quê vai nặng gánh gồng đi xuyên qua Thầy mà không thấy Thầy, họ vẫn cười cười nói nói. Chó chạy qua Thầy đến gần tôi mà sủa. Mấy cái nhà nhỏ biến thành động tiên mái ngói đỏ như nóng chảy ra dưới ánh chiều tà. Cái vườn là chuyện thần tiên, và tiên chính là hoa.
            "Tôi trông thấy Thầy đứng in hình lên nền trời đen buổi tối, rựng rỡ trong vinh quang vĩnh cửu. Thầy đi trước mặt tôi trên con đường nhỏ, mắt vẫn nhìn theo tôi trong khi tôi theo thầy.
            "Thầy đến gần phòng tôi, tôi đi ngang qua người Thầy.
            "Tôi đã được giải thoát, một điệu nhạc mới vang lên trong tim tôi.
            "Thầy vẫn ở trước mặt tôi. Tôi nhìn ra đâu cũng thấy Thầy. Vinh quang của Thầy tràn đầy người tôi, chưa bao giờ tôi từng biết vinh quang như vậy. Tôi được thấy vĩnh cửu an nhiên tự tại. Thầy đem lại vinh quang cho mọi sự, Thầy vẫn đứng trước mặt tôi."
            Ông đồng nhất với hình ảnh, hình ảnh ở trong ông, tràn đầy ông, nhưng như thế vẫn chưa đủ. Sự nghi ngờ vẫn chưa dịu bớt. Ông chưa suy tư, ông còn tìm tòi. Ông muốn là tinh túy của ông. Rồi một ngày kia chân lí bộc lộ không chút bợn. Mọi hình ảnh đều biến mất. Tinh túy của sự vật tự nó xuất hiện. Trái tim ông tràn đầy niềm hoan lạc và yêu thương. Một niềm vui khôn tả đã đến với ông và ông có lòng từ ái vô bờ đối với những người không có được tình yêu vô lượng như thế. Tình yêu vô lượng ấy là tất cả. Nhưng đồng thời cũng là sự cô đơn. Ông muốn hỉ xả cho tất cả mọi người, ông muốn đem lại cho hết thảy mọi người, ai cũng có tình yêu vĩnh cửu. Sự biến thái đốt cháy người ông, lửa cháy làm ông rung động mãnh liệt đến nỗi tấm thân nhỏ bé và cao nhã của ông mỗi lúc như muốn gẫy vụn. Tuy nhiên đồng thời ông chế ngự được sức mãnh liệt ấy khiến cho ông được thư thái an nhiên vô cùng. Xung quanh ông người ta nghe ông, người ta xúc động một cách mơ hồ hay người ta nhún vai không tin. Người ta không hiểu. Ông đã ra người xa lạ. Nhưng điều đó có làm chi!
            "Từ khi tôi tìm thấy Cái Thân Yêu của tôi không bao giờ tôi thấy cô độc.
            "Tôi là người xa lạ giữa các dân tộc, giữa các quốc gia. Giữa biết bao người xa lại tôi thấy như hương hoa nhài. Người lạ bao quanh tôi nhưng tôi không thấy cô đơn.
            "Tôi khóc cho những người xa lạ ấy; họ sống thật là cô đơn! Họ hãi hùng vì cô đơn mênh mang. Họ phải lôi kéo người khác đến với họ, những người khác cũng cô đơn như họ.
            "Tôi là người khách qua đường giữa nơi trần thế vạn vật phù du, tôi thoát khỏi những ràng buộc rắc rối. Tôi không còn là người xứ nào, không bị giới hạn bởi một biên giới nào.
            "Bạn ơi, tôi khóc cho bạn. Bạn xây đắp những nền móng kiên cố nhưng cái nhà của bạn đến ngày mai sẽ sụp đổ.
            "Bạn ơi, hãy đến với tôi, đến ở ngôi nhà thân yêu nhất của bạn là cái Thân Yêu. Tuy bạn lang thang trên cõi đất này không có gì làm của riêng, nhưng bạn được trọng vọng như một mùa xuân rực rỡ bởi vì bạn đưa đến đây người bạn của mọi người.
            "Bạn ơi, hãy sống với tôi. Cái Thân Yêu với tôi là một."
            Và rồi tiếng hát của mối tình ấy dâng lên ngập tràn tất cả. Cái Thân yêu của ông không còn ở trong tim ông nữa mà tỏa khắp thế gian, còn ông, ông ở khắp cả mọi nơi, ông đã thoát ra khỏi thân xác ông, ra ngoài trung tâm của ông.
            "Bạn hãy nghe,
            "Tôi hát cho bạn nghe tiếng hát của cái Thân yêu.
            "Ở nơi triền núi xanh yên lặng.
            "Gặp gỡ mặt biển xanh lóng lánh như gương.
            "Ở nơi suối nước cuồn cuộn gào thét niềm hoan lạc.
            "Ở nơi hồ nước lặng phản chiếu nền trời êm,
            "Bạn sẽ gặp cái Thân yêu.
         o0o
            "Trong thung lũng mây cô đơn treo lơ lửng,
            "Đang tìm ngọn núi trú thân
            "Trong làn khói bay thẳng tắp lên trời
            "Trong xóm làng vào lúc chiều tà,
            "Trong dải mây mỏng mảnh đang lan tỏa,
            "Bạn sẽ gặp cái Thân yêu.
           o0o
            "Trên ngọn cây cao đang nhảy múa,
            "Giữa hàng cây cổ thụ,
            "Giữa bụi gai sợ sệt bám chặt lấy mặt đất,
            "Giữa những thân dây leo đong đưa lười biếng
            "Bạn sẽ gặp cái Thân yêu.
           o0o
            "Trong thửa ruộng cầy chim muông bới tìm sâu bọ,
            "Trên con đường mòn dưới bóng hàng cây uốn khúc dọc theo bờ sông,
            "Hai bên bờ dòng nước chảy róc rách,
            "Ở giữa rừng bạch dương cao vút ngả nghiêng theo chiều gió
            "Trong thân cây vừa bị sét đánh mùa hạ mới đây,
            "Bạn sẽ gặp cái Thân yêu.
         o0o
            "Trong bầu không khí yên lặng màu lam
            "Chỗ trời đất gặp nhau,
            "Trong buổi mai thơm phức mùi nhang,
            "Trong bóng râm mát hàng cây giữa buổi trưa,
            "Trong bóng dài đêm tối,
            "Trong đám mây rực rỡ lúc chiều tà,
            "Trên con đường mòn bên dòng nước lúc chiều tà,
            "Bạn sẽ gặp cái Thân yêu.
           o0o
            "Dưới ánh sao mờ,
            "Trong đêm trường tịch mịch,
            "Trong ánh trăng phản chiếu dưới mặt nước lặng,
            "Trong sự yên lặng mênh mang trước buổi bình minh,
            "Giữa tiếng thì thầm hàng cây tỉnh giấc
            "Trong tiếng ríu rít chim kêu buổi sáng,
            "Giữa bóng tối tái sinh,
            "Trên đỉnh non xa tắm nắng,
            "Trên khuôn mặt đời sống thiêm thiếp mơ màng,
            "Bạn sẽ gặp cái Thân yêu,
            o0o
            "Hỡi nước rung rinh, hãy dừng lại,
            "Hãy nghe tiếng nói của cái Thân yêu.
            o0o
            "Trong tiếng cười vui sướng của trẻ con,
            “Bạn có thể nghe thấy tiếng nói của cái Thân yêu
            “Tiếng sáo véo von
            “Là tiếng nói của Cái Thân yêu
            “Tiếng kêu sợ hãi của con chim cô độc.
            “Rung động trái tim làm cho ta rơi lệ
            “Bởi vì đó là tiếng nói của cái Thân yêu
            “Biển cả gào thét
            “Gây niềm nhớ
            “Nhưng cái Thân yêu vỗ về ru ngủ
            “Con gió nhẹ nhàng
            “Khẽ lướt ngọn cây cao
            “Đưa lại tiếng nói của cái Thân yêu.
            o0o
            "Tiếng sấm vang giữa núi rừng
            “Làm cho linh hồn tràn ngập tiếng nói mãnh liệt của cái Thân yêu
            “Trong sự ồn ào chốn thị thành
            “Trong tiếng động inh ỏi của xe cộ vùn vụt.
            “Trong tiếng nức nở máy chạy nơi xa
            “Qua tiếng nói của đêm trường,
            “Tiếng kêu đau đớn, tiếng kêu vui sướng
            “Vẻ xấu xa của sự tức giận,
            “Tiếng nói của cái Thân yêu sẽ đến với ta.
            o0o
            "Trên hải đảo xanh rờn nơi xa xăm
            “Trên hạt sương long lanh
            “Trên sóng bạc nhấp nhô
            “Trên mặt nước sáng như gương
            “Trên cánh chim đang bay
            “Trên chiếc lá mơn mởn dưới trời xuân,
            “Bạn sẽ thấy khuôn mặt của cái Thân yêu.
            o0o
            "Trong ngôi đền thiêng liêng,
            “Trong phòng khiêu vũ,
            “Trên khuôn mặt thánh Sanyasi
            “Trong tiếng lè nhè của anh say rượu
            “Trong người thiếu nữ trinh bạch cũng như trong người cô gái điếm đàng
            “Bạn sẽ gặp cái Thân yêu.
            o0o
            "Trong cánh đồng hoa
            “Trong chốn thị thành buồn thảm xấu xa
            “Trong người trong sạch và trong người ô trọc,
            “Trong đóa hoa che khuất thần linh
            “Đều có cái Thân yêu.
            o0o
            "A! Biển cả đã vào trái tim tôi,
            “Trong một ngày tôi thấy trăm mùa hạ
            “Hỡi bạn, tôi ngắm nhìn khuôn mặt tôi trong bạn,
            “Khuôn mặt của cái Thân yêu.
            o0o
            "Bài tình ca của tôi là như thế!"
            Trong thời kì ấy, Krishnamurti ngẫm lại những đoạn đường mình đã đi qua, ông tìm hiểu và mô tả. Ông rút ra bài học và đem công bố nhưng thế nhân ít ai hiểu được; những giai đoạn phải qua đều phù phiếm, vô ích; tìm cách đi hết đoạn đường thì thật là phi lí; chẳng phải đi đâu cả; chỉ có chân lí trong sự tri giác cái gì hiện hữu; chỉ có con đường giải thoát là sự tự tri.
            Dần dần bản tình ca của ông tập trung lại, cô đọng lại nhưng vẫn còn hiệu lực và bắt đầu xuất hiện ý nghĩa.
            "Qua hình tướng bề ngoài, ta trông thấy ngươi chính là ta hiển hiện. Tuy rằng núi có thung lũng nhưng ta không thể lên núi được. Đêm tối bí hiểm làm xuất hiện tinh tú nhưng ngày sinh ra đêm. Ta yêu đời sống. Tình ta như hồ nước trên núi cao tích tụ nước suối nguồn rồi đưa xuống dòng sông lớn, nhưng hồ không cho ai biết đáy sâu, thanh lặng như núi về sáng, tư tưởng của ta thoát ra từ tình yêu. Vui sướng thay người ta tìm thấy được nhịp điệu của đời sống, vì họ sáng tạo dưới bóng vĩnh cửu."
            Giọng nói bắt đầu thay đổi, hình ảnh xa dần, rồi sau không trở lại nữa. Thời kì ảo giác đã chấm dứt. Tư tưởng thanh lặng thoát ra từ tình yêu. Bây giờ chúng ta sẽ thấy tư tưởng ấy đánh bại triết học, siêu hình học, tâm lí học và cấu tạo dễ dàng những giá trị của sự tự tri.
            Bản tình ca trở thành tiếng gọi người đời trở nên sáng suốt. Con người sẽ từ bỏ được những hình ảnh cuối cùng. Ngôn từ được thanh lọc vì thêm phong phú.
            "Tôi đã sống với thiện ác của loài người chân trời từ ái của tôi tối sầm lại,
            “Tôi đã trải qua những gì là đạo đức và vô luân của người đời và tư tưởng hỗn loạn của tôi trở nên độc ác.
            “Tôi đã chia sẻ lòng tín ngưỡng và sự vô đạo của loài người, gánh nặng cuộc đời càng thêm nặng.
            “Tôi đã cùng người theo đuổi danh vọng, vinh quang ở đời trở nên phù phiếm.
            “Và bây giờ tôi ước lượng chiều sâu của đối tượng thị dục bí hiểm."
            Sau hết, đây là giai đoạn cuối cùng. Từ ái phối hợp với trí tuệ đã từ bỏ mọi đối tượng. Lòng từ ái không nhân tính như vậy có thể gọi là từ ái theo đúng nghĩa của danh từ ấy chăng? Không, khi đã hủy diệt thực thể tâm lí thì từ ái sẽ trở thành cái gì? Tự nó là mục đích, lí do tồn tại, khởi điểm và chung cục của nó. Nó là khoảnh khắc hiện tại. Từ ái là sự vĩnh tồn của chính nó.
            “Bạn để cho vật giới phản ảnh đời sống lôi cuốn mình theo, bạn chạy theo cái bóng, bạn không biết được đời sống. Hiểu rõ đời sống là suy tưởng và rung cảm với từ tâm vô lượng là thoát bỏ ý thức và bản ngã. Nếu bạn còn tùy thuộc vào danh thì bạn không nắm được ý nghĩa toàn diện của đời sống. Như vậy, khi bạn yêu ai, bạn thân thiết với người ấy hơn với tình yêu. Nhưng khi ta yêu hết lòng thì người và ta không còn thực nữa.”
            Tình yêu của ông đã đạt được trong sáng, nhưng người đời còn để cho biết bao xúc động lôi cuốn mình theo, họ phải thất vọng và bất bình. Nhiều người kinh hãi. Sao? Người này không thân thiết với ai? Làm sao mà người ta có thể tha thiết với tình yêu hơn là với người mình yêu? Còn như nói đến tình yêu không đối tượng thì đó chỉ là lãnh vực trừu tượng. Xưa nay vẫn thế, người ta nghĩ đến hai trường hợp: tình yêu ràng buộc và tình yêu ảo vọng trốn tránh mọi người quay vào tháp ngà ích kỉ. Nhưng câu trả lời sẽ đến, câu trả lời thật giản dị, quá giản dị, bởi vì nó không xuất phát từ một nơi ngăn cách của lương tâm, nó không có nét gì chung với thế giới lương tâm ngăn cách.
            “Đối với tôi thì quan niệm về sự thân hữu của bạn thật là sai lầm. Con người mà tâm lí bưng bít chỉ có tình yêu đối với một vài người; một người như thế cần có bạn, bởi vì họ trông mong có bạn để ấm lòng, an ủi và thỏa mãn. Tôi không cần có bạn hữu một cách nồng nhiệt, bởi vì tôi không dự trữ trong người tôi cái gì để cống hiến một số ít người trong khi không mang lại người khác được cái gì."
            Những cái "tôi" đã giác ngộ đều tiêu hủy. Nhưng nếu ai cũng thoát li được cái tôi thì họ sẽ thấy trong tình yêu chính là vĩnh cữu của họ một điểm giống như một mũi kim, trong suốt, sáng chói không thể thăm dò được, không thể ước lượng được, không có chung mà cũng không có thủy.
            Từ tâm đã vượt khỏi khúc tình ca.

Đăng nhập để trả lời
0
1927 – TIẾNG KÊU GIẢI THOÁT

            Năm trước Krishnamurti đã phối hợp với hình ảnh thân yêu của mình, với đối tượng của những cuộc suy tầm, đến tháng giêng năm 1927 thì ông thấy những biểu tượng mơ mộng đều tan biến. Ông ý thức được "tự thể" đồng thời thần thoại và biểu tượng cũng biến mất. Không phải là thứ hào quang đầy ảo giác mà trái lại là sự tan biến những bóng mờ của mê võng. Chính ông nói rằng đại giác là sự khám phá ra giá trị chân thực của mỗi vật. Điều đó thật giản dị. Đó là sự tri giác cái chân thực của mỗi vật khi liên lạc với cuộc đời. Tuy rằng định nghĩa sự thể hiện con người như thế thật giản dị, nhưng người ta có biết phải giải thoát thế nào để có thể tri giác trực tiếp được như thế? Mặc dầu những yếu tố của tâm con người là gì: hoàn cảnh, quá khứ sống với cộng đồng, quá khứ cá nhân, văn hóa trí nhớ, sinh thành, kì gian, thị dục, cho đến cảm tưởng mình hữu hình hữu tướng, tất cả những yếu tố đó đã kết tập thành cái tâm. Người ta phải trừ bỏ hết thảy mới mong tri giác trực tiếp được. Tất cả tâm hồn thể chất của ta đều kêu lên rằng không thể được, nhưng Krishnamurti cả quyết rằng trạng thái ấy là "tự thể".
            Chưa chịu chấp nhận một lời khẳng định như thế nếu chưa hiểu rõ nội dung thì rất chánh đáng và cần thiết, nhưng người ta sẽ làm một việc bất chánh nếu người ta xuyên tạc ông và bức thông điệp của ông, nếu người ta cắt xén bớt đi, lấy cớ rằng lời nói mạnh mẽ quá. Người ta có thể cho rằng Krishnamurti nói quá đáng, nhưng người ta phải nghe hết, phải chấp nhận những lời cả quyết của ông. Nhiều bạn hữu ông còn vướng phải huyền tượng tạo ra bởi tiềm thức cho nên còn làm cho kiếp sống tuy độc đáo nhưng rất giản dị của mình mờ ám bởi ý tưởng siêu nhiên và thần linh. Nhưng khi thái độ của ông làm cho các bạn hữu phải thất vọng với sự thần linh hóa ấy, thì họ lại mắc vào lỗi lầm trái lại, họ nhắc đến như một nhà thơ, một triết nhân, một nhà văn, một nhà thuyết pháp để khỏi làm sợ hãi những người coi đức Ki tô hay đức Thế tôn là những vị thần linh. Mơ mộng hứng khởi đầu tiên của Krishnamurti được thay thế bằng quan niệm từ bỏ thần linh, nhưng ông không hề đả động đến Phật, Ki tô và các giáo chủ khác! Nhưng nếu người ta nhận định rằng Krishnamurti cũng chỉ là một người thì theo thứ bậc tôn ti, theo những phạm trù mà người ta đặt ra, người ta phải hủy diệt tất cả thần linh và cấp bậc lớn nhỏ, thông điệp, cứu tinh, độ thế… Không có Thượng đế nào khác con người được vẹn toàn, nhưng Krishnamurti đã nói. Không có đấng cứu thế vì không có Thiên chúa để ban phép lành cho ai.
            Những người con tin huyền tượng, còn phân biệt thần linh với phàm nhân, thiêng liêng và thế tục, những bạn cũ của Krishnamurti, muốn cho ông là một thiên sứ, một trung gian giữa thiên nhiên và hạ giới, những người ấy chống đối lại ông vì ông muốn phóng rọi toàn thề thần linh xuống trái đất. Đối với ông, không những chỉ người đạt được chính quả mới biết được chân lí như Ki tô hay Thế tôn, mà tất cả mọi người đều có thể và phải liễu ngộ với điều kiện là họ có ý muốn mãnh liệt học hỏi lấy phương pháp riêng của mình. Họ có thể và họ cần phải làm, bởi vì trạng thái ấy là trạng thái duy nhất cứu vãn được con người sáng tạo.
            Như vậy Krishnamurti chỉ phủ nhận thần linh và huyền tượng vì ông thu hút thần linh và huyền tượng, và đánh tan đi như khi tỉnh ngủ người ta làm tan biến giấc chiêm bao. Những người không phá được duyên nghiệp của mình thì không thể đi đến chỗ phủ định bằng cách khẳng định, phá hủy bằng sự thành quả. Vả chăng điều ấy thật khó hiểu đối với những ai tự thỏa mãn với quan niệm duy vật, những ai còn mơ màng huyền tượng, biểu tượng và siêu hình. Những người ấy đều đẩy Krishnamurti vào lập trường đối lập với họ, họ không lí hội được lời chỉ giáo của ông và hiện tượng tâm lí nguồn gốc tư tưởng của ông.
            Chúng tôi được biết cuộc tranh luận ấy từ khi ông công bố giáo lí của ông vào năm 1927, một cuộc tranh luận bi thảm, sôi nổi, kịch liệt, đa hình đa dạng, rắc rối khôn cùng! Tất cả những câu hỏi đặt ra để chất vấn ông dưới hình thức huyền bí đều ở trong phạm vi vọng chấp, con người không còn tự do để suy tưởng. Trả lời bằng cách phủ định hay khẳng định một câu hỏi thuộc lãnh vực vọng chấp vô thường của các pháp chỉ là thừa nhận pháp, và một lần nữa, xô đẩy cái tâm vào giấc mơ tôn giáo như người ta đã làm hàng bao nhiêu thế kỉ nay… hay phủ nhận tự do, và như thế cũng vẫn là mê võng không thay đổi được bao nhiêu.
            Cuộc tranh luận ấy kéo dài hàng tháng hàng năm muốn như lôi kéo Krishnamurti ra ngoài vấn đề chính yếu của ông, bức thông điệp của ông, người ta chỉ chú trọng đến thân thế ông, đến thực thể của ông: "Ông là ai?". Người ta không nhìn thấy cái phi lí của một câu hỏi như thế, một câu hỏi đặt ra định đề là sự thật của một thực thể và khả năng hội lí được sự thật ấy, người ta chất vấn ông để bắt buộc ông phải chấp nhận có thần linh hay là thoái từ. Krishnamurti là môi giới của một cái Ngã trên cao, của Kito hay Phật? Hay chính ông đã thành Kito hay Phật; nhiều người có thể cho đó là chuyện phù phiếm, lố lăng, tuy nhiên vấn đề quan trọng lắm vì nó liên hệ đến vấn đề ý nghĩa của kiếp người. Người ta đã đặt câu hỏi không đúng cách, bởi vậy cho nên, cũng như những vấn đề khác tương tự, Krishnamurti từ chối không trả lời bằng cách phủ định hay khẳng định. Quả vậy, người nào đã được giải thoát thì đạt được sự thật cũng như Kito hay Phật, nhân sự giải thoát ấy chính họ không còn là gì nữa. Cảnh giới siêu thoát không còn nhân tính. Nếu người ta còn nghi ngờ thì cuộc tranh luận sẽ làm sáng tỏ chân lí đó. Cuộc tranh luận xung quanh cái tôi đã giải thoát sẽ chứng minh rằng không còn chủ thể nữa.
            Ngoài ra, cuộc tranh luận còn làm sáng tỏ giáo lí của ông vì vấn đề giáo quyền được đặt ra. Sự chống đối giáo quyền là mối bận tâm trước nhất của ông: ông chỉ cần nói một lời là hàng trăm ngàn người nghiêng mình kính phục ông. Nhưng người đời đã cố ý hay vô tình mà khai thác giáo quyền. Nếu ông còn bận tâm với cái Ngã của ông thì chỉ trong vài tuần lễ ông có thể lập ra một tôn giáo mới cũng như các tôn giáo lớn ở khắp năm châu. Ông có thể tạo ra phong trào ấy bằng một câu trả lời "có" hay "không". Ông sẽ phá hủy những uy quyền của cái không uy quyền.
            Điều kiện đặc biệt tạo ra quanh mình ông khiến cho ông phải hành động một cách đặc biệt: phải mất hai năm đấu tranh mới bác bỏ được tổ chức tôn giáo mà người ta dựa vào uy tín của ông để tạo ra.
            Với sự kiên trì, cương quyết, mềm dẻo, êm ái, ông đã sửa soạn để năm 1929 ông phải bỏ được tổ chức ấy mà hành vi của ông không đem lại cho ông chút uy quyền nào. Nếu ông nói ra sớm thì việc làm của ông có nghĩa là ông trả lời không và hàng trăm ngàn người chỉ đợi tiếng nói ấy để biết mình phải chấp nhận hay khước từ cái gì. Đến lúc ông lên tiếng thì các luồng dư luận đã chín muồi, người đời đã tạm thỏa hiệp cái gì tuy không ý thức được nhưng cũng khá vững vàng, hành vi của ông tuy chính xác và quyết định nhưng ai nấy đều có đủ tự do để suy diễn mà hiểu.
            Ông chinh phục lấy cái không uy quyền, ông trung thành với bức thông điệp của ông trải qua những khó khăn chồng chất, nhờ vậy ông muốn người đời không hiểu mình hay hiểu ngược lại còn hơn là sự phản bội sự thật bằng cách dùng uy tín của mình để bắt người ta chấp nhận sự thật ấy. Nếu ông dễ động lòng kiêu căng hay khiêm tốn, để vui hay buồn thì hẳn là ông không thể thản nhiên để người đời không hiểu mình như vậy.
            Trái lại, ông tìm cách thoái từ lời thỉnh nguyện của những người muốn tạo uy quyền cho ông. Một hôm, sau khi thuyết pháp, ông mạnh dạn tố giác uy quyền thần linh, giáo phẩm, quyền hành của các chức sắc; một vị chức sắc trong tông mới thành lập quanh mình ông đến thăm ông mà rằng:
            – Tôi trở thành một chức sắc vì tôi đi tìm sự thật và tôi nghĩ rằng tôi phục vụ sự thật. Ông cho rằng sự thật không thể đem ra mà tổ chức được, tôn giáo chỉ là tư tưởng của loài người đông cứng lại, tôn giáo không đưa đến sự thật. Nhưng tôi, tôi yêu chân lí. Tôi sẽ làm tất cả để đạt chân lí. Nếu tôi phải từ bỏ chức sắc của tôi, lòng tin của tôi, tôi sẽ từ bỏ ngay. Tôi tin tưởng ông, tôi hiểu rằng ông nắm vững được chân lí mà ông hằng nói đến… xin ông cho biết tôi phải làm gì bây giờ?
            – Ông không nên bỏ lòng tín đạo vì một lời tôi nói. Tại sao ông muốn bỏ giáo hội? Người kia suy nghĩ rồi trả lời:
            – Ông nói phải. Tại sao tôi lại bỏ giáo hội?
            Rồi y ra về. Y lấy làm thoả mãn. Từ đấy y giải thích rằng Krishnamurti cũng nói rằng giáo lí của ông không đủ lí lẽ khiến cho y phải bỏ giáo hội.
            Nhiều người hỏi ông rằng tại sao ông tạo ra quanh mình những điều ngộ nhận.
            – Nhiều người chất vấn tôi, để tôi nói cho họ biết họ tin đạo là có lí hay không có lí… Nếu tôi trả lời có hay không họ sẽ vin lấy để cho là tôn giáo mới của họ. Nếu họ muốn hiểu, họ sẽ thấy họ nên hành động nếu chính họ tin chắc chứ không phải vì lời tôi bảo họ làm cái gì. Nếu họ hiểu lời tôi nói, tự họ sẽ biết họ phải làm cái gì với tín điều và chủ thuyết của họ.
            Đây là một thí dụ điển hình về mối liên lạc giữa Krishnamurti và những người thân cận với ông. Người ta có thể gần như cả quyết rằng giữa ông và mỗi người tiếp xúc với ông đã có sự ngộ nhận. Tín đồ đủ mọi tông phái không hề bỏ đạo, trái lại họ bám riết lấy niềm tin. Hằng năm họ đến nghe ông thuyết pháp rồi thích ứng từng tiếng nói của ông với mê võng của họ. Các bạn ông cũng thế. Họ suy diễn theo quan niệm của họ và đem thích ứng với vũ trụ của họ. Tuy nhiên, chúng ta phải khách quan mà công nhận rằng ngày nay, ảnh hưởng của ông đã đánh tan đám mây mờ và mê võng, người đời đã hiểu ông. Bức thông điệp của ông sáng sủa và gợi ý thức tự do cho những người nghe ông, giữa sự hỗn độn hoang mang, người ta muốn làm sai lệch tư tưởng của ông, nhưng ngày nay bức thông điệp đã nổi bật lên, vì phải tả xung hữu đột cho nên ý nghĩa càng thêm sáng tỏ.
            Tuy nhiên, vào năm 1927 nhiều người đã đứng về phía ông mặc dù không hiểu ông lắm nhưng cũng có linh cảm rằng ông sẽ thắng. Con đường suy tư của họ trái ngược với đường lối của ông, con đường của ông là con đường nổi loạn, nghi ngờ, bất phục, nghĩa là giải thoát lần hồi, còn như con đường của họ chỉ giới hạn trong sự chờ đợi với thái độ ủy mị, thần thoại, trong ước vọng xuất hiện một siêu nhân an ủi họ, làm trung gian giữa họ với thần linh và họ sẽ vui sướng đến chảy nước mắt mà tôn thờ. Mặt khác sự chờ đợi liên miên, sự tin tưởng ở chính mình hối thúc ông, khích lệ ông làm cho ông thêm cương quyết, có khi ông phấn khích và nổi nóng, có lúc ông bùng lên giận dữ cực điểm. Ông đứng dậy thét vào mặt đám người ngu muội chỉ biết chờ đợi:
            "Các ông đã làm gì với nghi lễ với kinh sách của các ông? Các ông đã làm cho biết bao người vui sướng với vĩnh cửu chứ không phải với sự vật trôi qua? Ông có đem lại cho họ được hạnh phúc vững bền, hạnh phúc không có gì làm mờ ám được không? Các ông phải tự hỏi xem mình đã làm gì?…
            "Tự cho mình chức vụ, tên tuổi, sống cách biệt với mọi người, tự cho mình là khác tục, người ta có thể lấy làm thỏa mãn lắm. Nhưng, nếu những lời ông nói đúng cả thì ông có thể cứu được một người nào khỏi vòng khổ não không?
            "Trong nhóm các ông có một người nào đem lại hạnh phúc cho tôi không, tôi, một người tầm thường?… Ai giúp tôi tránh được đau khổ?… Ai cho tôi thức ăn của trời khi tôi đói? Có ai đã xúc động sâu xa để chịu đau đớn thay người khác? Ông đã đem lại cho đời cái gì? Sự nghiệp của ông đâu? Sao lại có thể cho ông là khác đời khi ông còn tham dự vào tông này, phái khác?
            "Các ông khác gì tôi? Tác phẩm của ông là gì? Mục đích của ông là gì? Ông đã làm gì với kiếp sống của ông?…"
            Sau cùng ông đồng nhất hóa với cái mà ông vẫn tìm tòi, với sự thật trong đó không còn ý thức về cái ngã của ông, sự thật ở trên cả thần khí, trực giác và nguồn gốc của mọi khả năng sáng tạo.
            Ông nói ra một cách giản dị. Mối bận tâm của ông lúc ấy là minh thí rằng con đường giải thoát là ở nội tâm của mỗi người. Không những ai cũng có thể có thần khí được, mà ai cũng có thể tự tri một cách toàn diện, bởi vì nguồn gốc khổ não và vô minh chỉ là chính mình chứ không phải cái gì khác, mình chỉ cần thấy đúng chân tướng của mình là có thể diệt được khổ não và vô minh.
            Nhưng sự ngộ nhận đã xảy ra ngay từ những lời nói đầu tiên của ông. Bởi vì sự ngộ nhận bắt nguồn từ mê võng, huyền tượng, biểu tượng, ma thuật, tôn giáo mà chúng ta đã tạo ra từ bao nhiêu thế kỉ nay để khỏi trông thấy chân tướng của chúng ta. Những người thân cận ông đã có cách giải thích để bám chặt lấy quan niệm duy ngã lười biếng của họ, họ lấy sự giải thích ấy làm nguồn an ủi, làm nguồn sáng tạo soi đường. Ngay sau đấy, ông giải thích rằng sự thật không phải như thế, chưa bao giờ như thế, sự giải thích không bao giờ giúp lương tâm kẻ khác hiểu sự thật bởi vì không làm gì có sự kiện trung gian giữa con người và sự thật tuyệt đối, chỉ có sự vô minh của họ và sự khước từ không nhìn thẳng vào mặt sự thật. Ý nghĩ về sự kiện trung gian dắt đến ý nghĩ về cái gì ở trên cao, ý nghĩ ấy chỉ là tự ta phóng rọi ra mà thôi. Giữa ta và sự phóng rọi của ta không có gì cả, trừ ý muốn phấn khích và tồn tại.
            Đã ngộ nhận thì không thể nào mà làm sáng tỏ được. Vả chăng nguyên nhân sự khó khăn ấy là Krishnamurti bất lực, không giải thích được xong xuôi hiện tượng xảy ra trong người ông. Mãi sau này dần dần ông mới luyện được khả năng ấy sau khi đã nỗ lực nhiều. Dần dần ông phải tạo ra một phương pháp mà chưa có yếu tố nào có sẵn trong gia tài văn hóa nhân loại.
            Người ta thắc mắc mà chất vấn ông về bản thân ông vì người ta cho rằng nếu sự thật không có trung gian thì tôn giáo sẽ ra sao? Cách tranh đấu của ông để bênh vực sự thật cũng đã là giáo lí.
            Nếu mê tâm chỉ là một trạng thái mơ mộng mặc dầu khơi động lên một thế giới ý tưởng và tâm linh như thế nào, nếu con người hoài bão sự giác ngộ để thoát khỏi ảo tưởng, huyền tượng và biểu tượng thì chính Krishnamurti là sự giác ngộ ấy, ông đồng nhất hóa với sự giác ngộ, với cái gì người đời vẫn tôn thờ dưới muôn ngàn hình thức thần linh. Ông chính là cái mà người đời vẫn tưởng niệm và cầu nguyện cho tôn giáo của họ. Quả vậy, chúng ta nhận thấy bao giờ người ta cũng nói đến điều ấy, đến sự thức tỉnh, sự dẹp tan mây mù che khuất cái tâm sáng. Như vậy, tri thức không phải là trạng thái tâm tư nhờ đó người ta tìm ra giải đáp những câu hỏi người ta đặt ra như ai sáng tạo ra vũ trụ…? Nhưng tri thức tiêu hủy cả người đặt ra những câu hỏi ấy.
            Krishnamurti cương quyết vượt qua những câu hỏi mà người ta chất vấn ông và muốn bắt buộc ông trả lời "đúng" hay "không đúng". Những người thực lòng đau khổ vì tình trạng cuộc đời hiện nay sẽ không còn tự hỏi rằng: ai là ông thầy? Kẻ nào có cái gì muốn nói có phải là thầy hay không? Vả chăng cũng không ai biết như thế là gì. Đòi hỏi như thế thật là phi lí. "Đối với tôi, bước vào đời và đề nghị một giáo lí là một việc làm rất giản dị. Người đời không cần biết đó là sự "giáng thế" hay sự "mê hoặc", hay sự giáng lâm vào một ngai thờ mà người ta vẫn chờ đợi từ lâu, người đời không cần biết có phải chính là Krishnamurti hay không".
            Người đời đau khổ, họ muốn biết người ta mang lại cho họ cái gì thật sự, người ta có cái gì để nói ra chứ họ không cần biết người ấy là ai. Xung quanh Krishnamurti biết bao người lăng xăng ồn ào nhưng chẳng mang lại được cái gì cho đời, biết bao người tưởng rằng mình cứu nhân độ thế nhưng Thông điệp cứu thế của họ không ai hiểu được.
            "Đến sự thật cho ông còn không tìm được, ông chỉ là người bưng bít, vậy mà ông muốn giải thoát cho người? Ông biết xoay sở ra làm sao? Ông biết thế nào là phải trái, chân ngụy, để làm thầy thiên hạ, ông biết thế nào là chân lí…
            Thí dụ có vài người đến bảo ông rằng tôi là thầy. Điều đó giúp ích được gì cho ông? Thay đổi gì sự thực? Tâm trí ông làm cách nào mà hiểu được?
            "Ông muốn rằng chân lí xuất hiện từ một người nào đó. Ông đợi một uy quyền nào đó đưa ra chân lí và bắt ông phải chấp nhận. Ông tôn thờ một người chứ không phải là chân lí."
            "Các ông đợi lúc Krishnamurti chết – điều không thể tránh được – để lập ra một Tôn giáo, các ông bới óc tìm ra luật lệ bởi vì Krishnamurti đối với các ông là chân lí. Rồi các ông sẽ lập đền thờ, nghi lễ, đưa ra tín điều, hệ thống tin tưởng, đạo lí và triết lí. Các ông xây dựng trên lưng tôi những nền móng vĩ đại, các ông tự giam mình trong những bức tường, trong đền đài, bấy giờ lại phải có một ông thầy khác đến gỡ rối cho ông, đưa ra khỏi ngôi đền. Nhưng tâm trí loài người được cấu tạo cách nào để họ sẽ thấy còn xây dựng đền đài để thờ thầy, và họ còn làm như thế mãi…"
            Nhưng Krishnamurti đã nhất định triệt hạ cái vòng tất định tai hại ấy. Tiếng kêu giải thoát của ông cũng chính là tiếng kêu nổi loạn. Người ta sẽ không bỏ tù được ông, người ta sẽ không cô lập được ông, không làm gì được ông.
            "Tôi không muốn giam mình trong biên giới nào, tôi không muốn bị giới hạn bởi cái gì. Các ông không thể giam cầm được khí trời. Các ông có thể làm cho một chút khí trời tù hãm, nhiễm độc, nhưng khí trời ở ngoài, khí trời của cả mọi người, các ông không thể kiềm chế được. Tôi không bị ai giam hãm cả. Tôi sẽ đi con đường duy nhất. Tôi đã tìm thấy cái gì tôi muốn tìm. Tôi đã kết hợp với Cái Thân Yêu của tôi. Cái Thân Yêu của tôi và tôi cùng nhau đi trên đường đời."
            Tuy ông quyết liệt như thế nhưng ông cũng phải mất nhiều năm mới đập tan được những mắt lưới dày đặc, nhơ nhớp mà người ta bủa giăng để vây hãm ông. Những ai đã theo dõi từng ngày cuộc tranh đấu không ngừng ấy sẽ hiểu ý nghĩa phổ quát của nó, đó là cuộc tranh đấu của loài người trải qua lịch sử để trừ bỏ huyền thoại. Trong cuộc tranh đấu ấy Krishnamurti nổi bật lên như một nhân vật có một không hai. Đại loại người ta có thể nói rằng trong bốn năm trường, tất cả những lời chất vấn ông đều hướng về một mục đích là bắt ông chấp nhận một uy quyền mà ông không muốn có. Người ta đã dùng đến đủ mọi phương pháp một cách cố ý hay vô tâm; xảo thuật, bạo động, đả kích trực tiếp, phản bội, xuyên tạc, khích bác, ghép thêm những ý tưởng đối nghịch để mong được mặc nhiên chấp nhận, tách một quan điểm ra làm nhiều phần trong khi quan điểm ấy cần phải dứt khoát lựa chọn toàn thể hay là phủ nhận toàn thể.
            Tín đồ của ông tầng tầng lớp lớp thần linh hóa ông, họ cho rằng ông đã biết đủ mọi các thần, ông đã đồng nhất với sự thật tuyệt đối mà các thần đều ước vọng, nhưng họ vấp phải sự cương quyết của ông, họ cho rằng ông đã nắm được bảo vật thiên đình mà không chịu nhả cho mọi người chút ít, ông còn từ chối không chịu chấp nhận thần linh của họ. Trong cuộc tranh chấp ấy họ muốn ông phải chịu một trong hai điều: một là chịu nhả miếng mồi của trời, cho nó lại trở về trời, vì ông nhất định chỉ muốn làm người theo nghĩa tự nhiên của chữ người; hai là bay theo nó lên trời và ở trên ấy chiếm lấy ngôi thượng đỉnh mà người ta đã sửa soạn sẵn cho ông. Nhiều người bị vò xé bởi thắc mắc tôn giáo bủa giăng ra đủ mọi cạm bẫy rồi chính họ lại mắc vào cạm bẫy vì muốn dung hòa cái không thể dung hòa được. Người ta đưa ra những sách ông viết hồi còn trẻ để chứng minh rằng ông mâu thuẫn, người ta đem những vấn đề cá nhân ra công khai chất vấn ông; người ta bắt lỗi ông kiêu căng, lạnh lùng, nhẫn tâm; người ta phao tin rằng ông là đồ đệ đã chống lại Thầy cho nên Thầy đã bỏ đi rồi; người ta công bố những lời giải thích về trường hợp của ông gây cho ông ảo tưởng đồng nhất hóa với thông điệp, nhưng ông phải biết phân biệt để loại bỏ cái gì là của ông và đối nghịch với truyền thống huyền bí.
            Những cuộc công kích ông là những tài liệu quí giá về tính cố chấp của loài người khăng khăng tạo ra huyền thoại, nhưng sự công kích không làm cho Krishnamurti nao núng. Những cuộc tranh chấp ấy cho ta hiểu tình hình thời ấy hơn là những văn kiện khác. Ông cố thủ bảo vệ quan điểm chính yếu của ông một cách đích xác, ông có khả năng để không bao giờ giam hãm mình trong một lập trường có thể định vị cho ông và gán cho ông một loại uy tín nào.
            Ông có thể để cho người ta giả thiết rằng khi ông chống đối cái gì thì ông đứng về phía đối lập với sự kiện ông chống đối chăng? Ông trở lại vấn đề và tuyên bố rằng ông không chống đối cả ý kiến đối lập: ông chống đối cả chủ thuyết, lí thuyết dựa vào uy tín của ông để xuất hiện, chủ thuyết và lí thuyết ấy cũng phải sụp đổ. Ông không ngần ngại mà làm cho người ta thất vọng, hầu như ông muốn như thế tuy ông có rất nhiều người nghe. Không những ông không chịu lập ra một tôn giáo mà ông còn cố gắng phá hủy nền móng tôn giáo nhân danh ông mà thành lập. Trong một bài thơ của ông; ông đã viết rằng ông đã nghiền nát cả tảng đá trên đó ông đã lớn lên. Không còn cái gì thật hơn trên tất cả mọi quản điểm của ông, giáo lí của ông chính là kết quả của sự chiến thắng ấy.
            Nếu ông không tìm thấy sự thật, nếu ông đạt được cái thành và nếu ông chỉ muốn từ chối uy tín vì thành thực thì công việc của ông đã dễ dàng hơn. Nhưng không phải thế. Ông tìm thấy ngọn nguồn và ông muốn phá tan tất cả cái gì đã được sửa soạn để lấy nước nguồn. Các cao đồ đã chờ đợi sẵn, họ xây dựng nghi lễ, kinh sách, chú thuyết, giáo tông, dựa vào cá nhân ông, sự tìm tòi của ông, sự tin chắc nội tâm của ông. Bây giờ đã qua thời kì chuẩn bị, ở khắp nơi, Ấn Độ, Á châu, Mĩ châu, Úc châu, trong 40 quốc gia ông đã tạo ra lòng ngưỡng mộ, sẵn sàng để qua những cơn khích động mạnh. Tình trạng ấy không còn nữa. Nếu ông không giải thoát được những huyền tượng một cách hoàn toàn, tuyệt đối, ắt là ông đã dùng đến phương tiện thống trị ở tầm tay với như thế. Ông sẽ lãnh vai trò một vị giáo chủ Tân Giáo, nhất là ở Ấn Độ. Uy tín của ông lớn lao, ông chỉ nói một tiếng là đủ khích lệ hằng trăm ngàn người, họ chỉ theo bản năng mà biết ông đã đạt đạo và muốn thần linh hóa đạo của ông. Lòng tin của ông cũng vững chắc cho nên ông mới không còn mắc phải cạm bẫy cảm tình, ông có can đảm phủ nhận sự an ủi quần chúng, ông để cho quần chúng thất vọng ông, ông không mang lại cho họ chút tín ngưỡng nào, sự trú ẩn nào, trái lại ông đưa người ta trở lại chỗ người ta muốn trốn tránh: bản thân họ. Câu trả lời “có” hay “không” mà người ta vẫn chờ đợi để tin tưởng, ông chưa hề nói ra bao giờ.

Đăng nhập để trả lời
0
CHINH PHỤC VÔ QUYỀN

            1928: "Sự thật tuyệt đối", "đời sống", "sự thật chính yếu", những khái niệm ấy không ai hiểu được. Tất cả đều mờ mịt mông lung, hầu như ông có tài dùng những danh từ mà có bao nhiêu người nghe ông là có bấy nhiêu cách suy diễn. Tuy rằng có những khó khăn ấy nhưng lương tri con người vẫn tin tưởng ở ông vì người ông hiển lộ thành quả của những dao động trong nội tâm ông. Thái độ của ông không thể làm cho ai ngờ vực được; lập trường của ông thật là dứt khoát đối với những điều kiện người ta chờ đợi ở ông, đối với truyền thống mà siêu hình và tôn giáo mà ông đã cương quyết xa lánh. Vả chăng ông đã cho biết phương pháp của ông muốn thực hiện phương pháp người ta cần phải kể đến kinh nghiệm hằng ngày.
            Như vậy trong thời kì ấy ông chưa nói đến vấn đề xét nghiệm tâm lí của sự thật ấy, ông mới cho biết những điều chỉ dẫn quí báu để sau này đặt vấn đề chính danh khi danh từ của ông dùng đã trở nên đích xác hơn. Quan điểm của ông tuy không được dựa vào một ý thức hệ nào nhưng cũng không vì thế mà kém sáng sủa; sự thật mà ông nói không phải là một sự kiện tĩnh, không thể nào định nghĩa được, không thể tìm thấy trong thế giới những ý niệm; chỉ có những đòi hỏi của cuộc sống hàng ngày là có thể làm xuất hiện sự thật không có cái gì làm hiển lộ nó hơn cuộc tranh chấp giữa Krishnamurti và những người tâm thần rối loạn quanh mình ông.
            Làm thế nào mà ông có thể khẳng định rằng ông không có môn đệ trong khi bao nhiêu người đã tuyên bố mình là cao đồ của ông?
            "Tôi vẫn nói rằng tôi không có môn đệ. Mỗi người là một môn đệ của sự thật, nếu họ hiểu sự thật chứ không theo ai cả. Tôi không có giáo phái. Tôi mong rằng các ông không coi mình là người trong giáo phái của tôi, làm như thế là sai lệch và phản lại sự thật mà tôi nói… Các ông muốn trở thành môn đệ để được khuyến khích, để có thể tựa vào ai và được che chở. Nhưng khi ông đã tùy thuộc vào người khác thì thật là tai hại cho ông!… Phương pháp duy nhất để đạt sự thật là làm môn đệ cho sự thật, không cần một trung gian nào… Nghi lễ mà các ông tôn thờ cũng không có ý nghĩa gì cả. Tôi biết tôi nói cái gì cũng làm cho ông nghi ngờ thắc mắc, nhưng tôi nói rằng sự thật không có gì là nét chung với những nhân vật hèn mọn và chuyên chế mà các ông tôn thờ…"
            Ông không có môn đệ, nhưng ít ra ông có dùng đến những nghi thức mà người ta đã sửa soạn cho ông chăng?
            "Một lần nữa tôi xác định rằng không cần một nghi thức nào để phát triển tâm linh. Các ông sẽ vui sướng nếu tôi dùng uy tín của tôi mà nói rằng cần nghi thức hay không cần nghi thức! Cũng như các ông sẽ vui sướng nếu tôi bảo các ông: "Xin các ông cứ tiếp tục kinh kệ" hay "Xin các ông hãy bỏ kinh kệ đi". Nói như vậy hẳn là các ông yên tâm. Vì tôi không nói như thế, vì lời nói của tôi không dựa vào một uy tín nào khác cho nên các ông bối rối, vì lo ngại cho nên các ông không biết mình thế nào, các ông bỏ mất cái chính yếu và các ông chỉ chú trọng đến điều không chính yếu. Tôi nói rằng tất cả các nghi thức đều không chính yếu đối với sự tự thực hiện đời sống của mình. Các ông sẽ nói: "Thế còn những người theo giáo hội Công giáo Tự do, những người của các giáo phái nhận là được Krishnamurti nâng đỡ?", "thưa các bạn, sự định đoạt là về phần các bạn chứ không về phần tôi. Sao các bạn lại muốn để tôi định đoạt cho các bạn! Các bạn như những đứa trẻ đứng chưa vững và không thể bước đi một mình được. Các bạn đã sửa soạn trong 17 năm trường và các bạn lại bị tác phẩm của mình cầm tù mình? Các bạn đừng dùng tôi làm uy quyền của các bạn và đừng nói rằng Krisnamurti không tán thành nghi thức. Đối với tôi, không có vấn đề tán thành hay không tán thành. Nếu các bạn muốn theo thì các bạn cứ theo, lí lẽ của các bạn tự nó đầy đủ rồi, nếu các bạn không muốn theo thì các bạn không theo, và lí lẽ ấy cũng đầy đủ. Chỉ có sự khó khăn khi nào các bạn thử nghe lời ai, khi nào các bạn lo sợ: sợ mất món bổ dưỡng tâm linh, mà theo ý các bạn, có ở trong tổ chức đặc biệt của các bạn. Không có một tổ chức nào "chứa đựng" sự thật, mặc dù tổ chức ấy được cấu tạo và duy trì bởi truyền thống như thế nào."
            Người ta đã nói rằng có một ông Thầy thì cuộc tiến hóa của nhân loại thêm mau chóng, còn Krishnamurti nói rằng: người ta dù ở trình độ tiến hóa nào cũng có thể giải thoát được; Hơn thế, ông còn tuyên bố rằng "trở thành, chỉ là quan điểm sai lầm, trạng thái chân thực duy nhất phi thời gian tính."
            "Tôi xin được nói rằng, sự giải thoát có thể đạt được bởi một người ở bất cứ giai đoạn tiến hóa nào, miễn là người ấy hiểu được thế nào là giải thoát; tôn thờ những trình độ tiến hóa như các bạn không phải là điểm chính yếu. Cũng như người đời theo thời theo thế trong tước phẩm cao sang, các ông cũng trọng vọng tước phẩm cao sang, hai lãnh vực không khác nhau bao nhiêu. Các ông nên phát triển sự hiểu biết và ý muốn tự giải thoát, các ông phải quên các giai đoạn và những người thuộc về các giai đoạn ấy. Những sự kiện ấy giúp ích được gì cho các ông?"…
            Sự khinh bỉ cấp bậc, tôn giáo, siêu hình, thần bí, sự từ chối không chấp nhận những trình độ mà theo truyền thống dù ở dưới hình thức nào, người ta cũng cần phải qua hết nếu muốn đạt tới sự giải thoát, sự phủ nhận hiệu lực của sự tiến hóa, đều là những quan điểm khó lòng có thể chấp nhận được.
            Như vậy thì có một loại giáo lí cho đại chúng, lại có một loại giáo lí cho các cao đồ chăng?
            "Tôi không có cao đồ. Vả lại, ai là quần chúng? Chính các ông đó. Chính trong tâm trí các ông mới có sự phân biệt ra quần chúng và cao đồ, giữa tăng và tục. Tâm trí các ông đã làm mờ ám sự thật…"
            Nhưng, nếu không có cấp bậc thì làm thế nào mà ta định đoạt được vị trí của ta? Lương tâm của ta há không phải là một phần của tâm phật?
            "…hỡi các bạn, các bạn nhởn nhơ với những điều ấy. Đối với các bạn không phải là cái cốt yếu nhưng đối với tôi đó là điểm cốt yếu. Tôi chỉ bận tâm với sự thật. Các bạn bận tâm với lương tâm của Krishnamurti. Các bạn có thể biết được gì khi bạn không biết Krishnamurti mà cũng không biết Jesus Christ? Tôi không biết ai nói với bạn như thế, nhưng các bạn đều bị giam hãm trong những câu hỏi quyến rũ!… Vậy thì các bạn đừng bận tâm tìm hiểu xem tôi là ai; không bao giờ các bạn biết được. Tôi không đòi hỏi các bạn chấp nhận bất cứ lời nói nào của tôi. Tôi không đòi hỏi gì ở các bạn; tôi không muốn được mọi người biết tên biết tuổi, tôi không muốn các bạn tâng bốc tôi hay nghe theo tôi…
            Chưa bao giờ chúng ta thấy một ông Thầy cực lực xua đuổi môn đệ và tạo ra nghi ngờ như thế. Tuy nhiên, cũng chưa bao giờ ông biểu lộ sư cao cả thâm viễn như lúc ông ông phóng dội câu hỏi trở lại lương tâm của người hỏi ông, lúc ông khởi động sự nghi ngờ và sự bối rối như một lời kết án. Sau hết, câu hỏi rõ ràng, câu hỏi từ hai ngàn năm nay đã được đặt ra vì sự nghi ngờ, đã sáng sủa và dịu bớt vì một sự hiển nhiên bắt người ta phải tin tưởng:
            – Ông có phải là chúa Christ tái sinh? Và câu trả lời tới ngay một cách sáng sủa, thông suốt, ghê gớm. Câu trả lời cuối cùng:
            – Bạn cho tôi là ai?…
            Sau này sẽ không còn câu hỏi như thế nữa. Như vậy, dần dần cuộc tranh luận về thực thể Krishnamurti sẽ khô cạn, cuộc tranh luận phi lí nhưng chỉ phi lí trong phạm vi những tin tưởng của loài người, tôn giáo, và không tôn giáo của họ, phủ định và khẳng định của họ; cũng phi lí trong phạm vi: làm người mà không biết thế nào là thực thể con người thì thực là phi lí. Xem thái độ và cách trả lời của Krishnamurti thì đủ biết ông tập trung sự tìm tòi và những mối nghi ngờ của ông vào điểm ấy; vào thực thể của mỗi người, mỗi người phải tiêu hủy thực thể ấy, phải cắn nuốt thực thể ấy đi trước khi hiểu được ý nghĩa của câu hỏi: "Người là ai?"
            – Có nên hiểu rằng chúng tôi không có gì đáng lo sợ, mà phải theo đến đầu đến đũa ý kiến của ông gợi ra không?
            – "Tại sao các ông lại sợ? Các bạn sợ gì? Sợ lời tôi nói không thật? Sợ phải lìa bỏ những cái bạn vẫn bám riết lấy bấy lâu chăng? Bạn có thể thấy gì nếu bạn ngại ngùng không muốn thúc đẩy suy tư và rung cảm của bạn cho đến lúc đạt được thành quả tối hậu?…
            "Các bạn hãy kết hợp với đời sống, các bạn sẽ kết hợp với tất cả… Có thể kết hợp thế nào với cuộc đời? Không phải bằng cách tạo ra những khó khăn phức tạp, nhưng bằng cách tự tạo ý chí nồng nhiệt tìm sự thật để tiêu hủy mọi rắc rối. Các bạn sẽ nói: làm sao mà ta có thể yêu mến cuộc đời như vậy? Yêu mến bằng cách thâu nhập kinh nghiệm. Thâu nhập thế nào? Bằng cách trải qua kinh nghiệm. Làm sao mà qua kinh nghiệm? Đừng sống cô lập với cuộc đời…."
            Thời kì ấy thái độ của Krishnamurti đã làm cho chúng ta phải tin vì người ta không thể nghi ngờ sự thật mà ông đã đạt được; trong những bài diễn văn của ông, ông đã huy động mọi yếu tố để củng cố niềm tin của ông như vẻ nhìn, giọng nói uyển chuyển vô cùng, cường độ tập trung, nhiệt tâm lộ ra cử chỉ; nhưng chúng ta phải công nhận rằng những điều ông nói vào thời kì ấy đối với tinh túy, bức thông điệp của ông chỉ có giá trị những vết tích để suy tầm. Những danh từ như "giải thoát", "để cho đời sống tự do", "tạo lập trong chúng ta một mục đích vĩnh cửu" làm một thứ kim chỉ nam trên con tàu gặp nạn để chỉ đường cho chúng ta thực hiện mục đích (đưa mục đích vào trong mình để đạt mục đích); Cái "tự do", là "hạnh phúc", là "chân lí", là "vĩnh cửu" làm tiêu tan hết xung đột giữa thiện và ác, giữa cá nhân và xã hội, sự "hiểu đời" là cho chúng ta làm chủ lấy mình vì đó là sự viên thành của tất cả trí thông minh; tất cả những danh từ ấy đều mông lung mờ mịt, vì có liên hệ đến những sự kiện mà chúng ta không biết.
            Như vậy cho đến năm 1927, những danh từ của Krishnamurti có khuyết điểm là mơ hồ. Đến năm 1932, ông dùng những chữ đích xác hơn nhưng người ta lại hiểu ít hơn! Năm 1927, ông nói đến một đời sống giải thoát mà không ai hiểu đó là gì, đến năm 1932, ông mới cắt nghĩa rằng con người phải thoát li cái ngã của họ; qua những danh từ trở nên chuẩn xác, bức thông điệp không thể hiểu một cách đại khái được nữa, không thể suy diễn được nữa. Người ta không thể ẩn nấp vào mê võng thần thoại, người ta lại tiếc Krishnamurti hồi 1927 còn dễ hiểu hơn. Tìm "sự sống" hầu như dắt ta tới cuộc phiêu lưu vào thiên đàng, tới một đợt tâm tình hướng về thờ kính, tới một thái độ bị lôi cuốn dễ dàng vào mộng niết bàn. Thoát li cái ngã bằng cách tập trung mọi khả năng vào sự lìa bỏ những cái người ta vọng chấp, biến cuộc phiêu lưu ấy thành sự phá hủy vũ trụ của mình, đó là những điều không thể hiểu được, không thể chấp nhận được và nhất là đáng ghê sợ khi những danh từ hiện rõ nghĩa.
            Bức thông điệp càng trở nên sáng sủa người đời càng ít hiểu hơn vì người ta đã bắt đầu kháng cự lại. Tuy nhiên, chúng ta không nên lợi dụng sự tối nghĩa của những danh từ đầu tiên để hạ thấp bức thông điệp. Bức thông điệp của ông đã toàn thể toàn diện rồi không thể giảm thiểu được nữa. Chúng ta chỉ có thể hiểu Krishnamurti năm 1927 nếu chúng ta chịu chấp nhận hiểu ông một cách tuyệt đối. Một lần nữa, ông như thế nào thì chúng ta phải chấp nhận thế hay chúng ta không chấp nhận. Không làm gì có sự "tiến triển" của Krishnamurti kể từ năm 1927. Cái toàn thể toàn diện không làm gì có sự tiến hóa. Chỉ có sự tiến hóa của hình tướng cái toàn thể toàn diện và sẽ có sự tiến hóa về sau nữa. Nhưng "nhìn sự vật đúng chân tướng của sự vật, không phải là một sự tiến hóa, đó là một sự phục sinh không quá khứ không tương lai xẩy ra trong mỗi khoảng khắc. Đó là năng động tính tự nó phát hiện ra mỗi lúc, tự nó mới mẻ, đầy đủ. Bởi vậy cho nên chúng ta không thể căn cứ vào những cách mô tả sự thật ấy mà ông miễn cưỡng phải làm để có một ý niệm, nhưng chúng ta phải căn cứ vào những điều chỉ dẫn của ông để tìm kiếm bằng hành động, vào kết quả của sự tìm kiếm.
            Như vậy chúng ta đã thấy rằng nếu muốn hiểu tinh túy bức thông điệp của ông qua thời kì đầu chúng ta phải làm cho những danh từ còn sót lại có liên hệ với Krishnamurti, gán cho chúng đầy đủ ý nghĩa kinh nghiệm của ông. Những danh từ "tự tạo lấy kinh nghiệm vĩnh cửu", "dùng mục đích ấy làm phương tiện" có thể không có nghĩa nào, nhưng đó là một đường lối đi tắt qua những lối quanh co của thời gian. Krishnamurti truyền lại cho chúng ta cách nhìn sự thật đó. Ông làm cho kì gian tan vào sự phi thời gian. Ông tiêu hủy sự tin tưởng của người đời, người đời tin rằng cần có tiến hóa. Ông minh thị rằng con người có thể thoát khỏi mê võng, lìa bỏ biểu tượng và huyền tượng tự họ tạo ra, sự thu hút quá khứ chỉ có thể thực hiện trong hiện tại, theo đuổi sự thật trong tương lai hay trong những bình diện khúc mắc của tâm tưởng chỉ là một ảo tưởng. Ông làm cho sự kiện sau đây trở thành hiển nhiên: quá khứ và tương lai đụng độ với hiện tại, chỉ có hiện tại là "thực hữu". Ông đưa người nghe vào tận chỗ đụng độ ấy, điểm mà vì không có danh từ người ta có thể gọi là mục đích, nhưng mục đích chính là trung tâm, nhưng trung tâm có chuyển động; mà chuyển động chỉ là hiện tại, là toàn thể quá khứ và tương lai, điểm ấy ở trong chúng ta, điểm ấy là chúng ta, là khả năng ý thức được cái "thực hữu" đối lập với mục đích tính. Và Krishnamurti chứng minh từ lúc khởi sự nói đến giáo lí mặc dù có biết bao sự kiện ngoại lí, nhưng cũng có thể gợi ý cho người khác tri giác được trạng thái phi thời gian mà họ đã đồng nhất hóa với nó. 
            Cũng như một người nằm mơ nghe thấy một tiếng gọi, tiếng gọi tiến vào trung tâm giấc mơ xua đuổi mây mù của một kì gian do giấc mơ tạo ra, người nghe thấy tiếng gọi ấy qua cái tâm mờ ám của mình, tiếng gọi đem lại cho họ sự thức tỉnh.
            Chúng ta không nên quên bầu không khí mãnh liệt ấy tạo ra xung quanh Krishnamurti ngoài ý muốn của ông, chính bầu không khí ấy làm giáo lí của ông có hình thức. Ông khám phá ra một trạng thái chứ không phải một sự việc hay một ý niệm, hậu quả trước tiên của sự khám phá ấy vang âm đến người xung quanh.
            Vì thế cho nên chúng ta phải xem xét bức thông điệp của ông vào thời ấy.
            "… sự giải thoát, hiểu theo nghĩa tuyệt đối của nó là kết quả của tất cả kinh nghiệm con người, nó không phải là sự phá hủy rung cảm của ta. Một sự giải thoát như thế rất cần nếu người ta muốn đạt tới hạnh phúc cuối cùng, tuyệt đối. Tôi hiểu hạnh phúc là tuyệt đích của trí thông minh, uy thế của sự cao cả, uy thế sáng tạo của thần khí. Nếu người ta hiểu hạnh phúc và giải thoát theo quan điểm ấy thì không có gì là tiêu cực, là phá hoại, đó là quan điểm tích cực và xác định sức mạnh sáng tạo của con người…
            "Hôm trước tôi đàm luận với một người ở Bombay, sau một lúc trao đổi ý kiến, ông ta nói: "Những lời ông nói có thể tạo ra những siêu nhân, những người có thể tự làm chủ lấy mình, tự tạo ra trật tự cho mình, tự mình làm thầy mình một cách tuyệt đối. Nhưng còn người ở tận chân thang, tùy thuộc một uy quyền bên ngoài, phải tựa vào nạng mà đi, phải phục tòng một cương thường thực ra không hợp với họ? Tôi trả lời ông ta là: Ông hãy xem xét việc đời. Kẻ mạnh, kẻ vũ phu, kẻ quyền thế, kẻ chiếm quyền cao chức trọng; kẻ yếu hèn, kẻ hiền lành sẽ bắt buộc phải ở dưới ách của họ. Bây giờ ông hãy trông cái cây, nó được uy lực nâng đỡ nó; sức mạnh là ở rễ sâu khuất dưới đất, lá cành mềm yếu, nụ non thì ở trên cao. Nhưng trong xã hội loài người như ta thấy ngày nay, kẻ yếu phải gánh vác người quyền thế và khỏe mạnh, còn trong thiên nhiên thì cái gì mạnh và cường chống đỡ cho cái gì yếu ớt. Các ông còn xét định mỗi vấn đề với tâm trí sai lệch… các ông còn chấp nhận những điều kiện bây giờ, còn như tôi, tôi xét định vấn đề theo quan điểm khác.
            "Vì các ông không có sự tin tưởng chắc chắn cái gì tự mình hiểu được, các ông nhắc lại lời nói của những người có quyền thế, các ông cóp nhặt những câu nói của họ, các ông dựa vào quá khứ để chống lại cái gì mới mẻ. Về những điểm ấy tôi không có gì để nói. Nhưng nếu các ông không nhìn đời với nhỡn quang thiên lệch và bất cập, mà các ông theo nhỡn quang của mình dựa vào thống khổ, tư tưởng, kiến thức, hiểu biết và từ ái của mình, thì các ông sẽ hiểu lời tôi nói, vì ta hiểu bằng trái tim là ta minh trí."
            "Riêng tôi, tôi hi vọng rằng ông sẽ hiểu tôi nói gì, tôi không phải là người mộ đạo và tôi không theo một truyền thống tín ngưỡng nào. Tôi vẫn có thái độ như thế trước cuộc đời. Vì đời sống biến đổi hàng ngày cho nên không những tin tưởng và nền nếp lưu truyền đối với tôi vô ích, mà nếu tôi để cho chúng chi phối thì tôi không thể hiểu được đời sống."
            "Ông có thể giác ngộ được mặc dù ông ở trong tình trạng nào, nhưng ông cần phải có thần khí. Nói cho cùng thì người có thần khí là người thoát li được hoàn cảnh họ sống, người vượt ra được ngoài khuôn khổ sống của họ. Như vậy người nào cho rằng vì mình sống trong những điều kiện nào đó cho nên không thể đạt được toàn thiện thì họ nên hiểu rằng dù họ sống ở đâu mà không có sức mạnh họ cũng bị nhận chìm; trái lại nếu họ có sức mạnh thì dù ở đâu họ cũng đạt được toàn thiện… Các ông sẽ trả lời tôi: tôi không co uy thế như vậy. Tôi xin cho ông biết quan điểm của tôi: muốn khám phá ra uy thế ấy ông phải trải qua đủ các kinh nghiệm, nhưng tiếc rằng ông không chịu thử thách kinh nghiệm!"
            Nhưng làm sao để giúp đỡ kẻ yếu, kẻ bị bóc lột, kẻ cần phải thử thách cuộc giải thoát ấy hơn cả?
            "Bằng cách chỉ cho họ biết họ cần phải chống đối một cách thông minh, hướng vào một mục đích, nhắm đạt được tự do là sự kiện chính yếu cho tất cả mọi người. Tăng tiến hệ thống kĩ nghệ thành một tổ chức tuyệt vời, đem lại cho công nhân một đời sống sung túc và vui tươi, như thế cũng làm chưa đủ, họ vẫn còn bị giam cầm trong những giới hạn ấy. Ông Henry Ford đã đem lại cho họ sự giải trí, ông muốn tạo cho họ một cuộc sống lí tưởng, nhiều kĩ nghệ gia muốn theo gương ông. Tuy nhiên người ta chỉ sơn son thiếp vàng cái cũi và lồng mà thôi. Người ta cung cấp cho họ những phẩm vật chỉ gợi thêm thị dục vô ích. Còn những giam hãm trong hệ thống độc hại. Cái tôi đòi hỏi là để người ta dùng thì giờ rảnh rang mà tự giải thoát chứ không phải để trang hoàng lồng son cóng xứ nền văn minh của người ta."
            Như vậy, những cơ cấu xã hội, luân thường, tôn giáo, phong tục bề ngoài được thiết lập như để binh vực kẻ yếu, dẫn dắt họ tới một cuộc đời tốt đẹp hơn, nhưng chính những cái đó đã ngăn cản họ dấn thân vào những kinh nghiệm trực tiếp của đời sống. Loài người hèn yếu hay sợ sệt tìm những nơi trú ấn đó để trốn tránh kinh nghiệm trực tiếp và nguyên vẹn, chính vì thế mà tâm hồn họ thiếu thốn nghèo nàn. Ai mà không thấy lập trường của Krishnamurti đã biểu lộ tinh thần cách mạng, ý thức sáng sủa về sự cần thiết tạo lập một tình trạng sống trong đó con người thấu hiểu nguyên do chính yếu của chế độ người bóc lột người và tìm cách chấm dứt?
            Nguyên do chính của tình trạng xã hội ngày nay mà triệu chứng là sự sợ hãi, chính là tình trạng sống cô lập của mỗi người trong cái ngã của mình. Sự hiểu biết bị giam cầm trong một cái vòng kín mít ngăn cách với tinh túy, với thần khí, với sự giải thoát, với hạnh phúc.
            "Tiêu hủy sự lo sợ, phần lớn người ta – dù là hạng người nào – cũng bị bao vây bởi những sợ sệt, sợ mình làm điều ác, địa ngục và thiên đàng, sợ chê khen. Nhưng chúng ta nên hiểu rằng, làm gì có thiện ác, làm gì có thiên đàng với địa ngục, không có cái gì đáng cho ta gọi là phá sản, vì tất cả chỉ là vấn đề kinh nghiệm, kinh nghiệm đã có thì tất cả đều tan biến. Giải thoát chính là chiến thắng được sợ hãi. Chính sự sợ hãi gây ra oan trái, làm cho sứt mẻ, xấu xa. Ai bảo tôi rằng tôi phải xuống dưới địa ngục, tôi chẳng thấy gì khác cả, nếu ai bảo tôi làm bậy, tôi cũng chẳng thấy gì khác vì tôi không sợ gì cả. Phần nhiều người ta sợ những cái người ta không biết. Nhưng chúng ta chỉ có thể biết những cái gì nhờ kinh nghiệm. Nếu chúng ta sợ nó, chúng ta cứ việc dấn thân vào. Sợ hãi xuất hiện khi người ta có những chỗ tối tăm trong tâm và trong trí, người ta còn có những vấn đề chưa giải quyết được. Xưa nay bao giờ cũng vẫn thế. Không bao giờ chúng ta bước chân vào đền chùa nếu vấn đề nào của chúng ta cũng giải quyết xong xuôi. Chúng ta vào nhà chùa, vào nhà thờ để thờ phụng và cầu nguyện khi nào chúng ta bị đặt trước một vấn đề mà không biết giải quyết ra sao. Đó, tôn giáo đã trở thành như vậy – những cái mắc áo để treo các vấn đề không giải quyết xong."
            Nếu người ta muốn hiểu đời sống là một cái vô cực siêu hình thì quả là chúng ta đứng ở một đầu đối lập với quan điểm của Krishnamurti.
            Dòng sống vĩnh tồn vừa là nhân lẫn quả, khởi điểm và chung điểm, ấy thế mà vô thủy vô chung, dòng sống của muôn vật muôn loài không phải là thế giới bên kia, không phải là sự hiện hữu siêu nhiên, không phải là lương tâm vũ trụ, không phải một trí thông minh phổ quát, một bản thể siêu hình. Mỗi khoảnh khắc, dòng sống là toàn thể toàn diện của tất cả cái gì hiện hữu. Nó là tất cả, nhìn một cách giản dị và trực tiếp. Cái tất cả ấy không có nguyên nhân, không có kết quả, nhưng cái có nguyên nhân kết quả chính là cái ngã. Cái ngã vừa là thể chất, sinh vật, tâm lí, xã hội, là bức tường ngăn cách chúng ta với sự hiện hữu của mỗi vật, mỗi vật đúng như chân tướng của nó. Bức tường ấy chúng ta chỉ có thể phá đổ bằng kinh nghiệm. Kinh nghiệm thì chúng ta phải trải qua với toàn thể toàn diện con người chúng ta, bởi vì nếu có phần nào của chúng ta không dự vào, thì sự mù quáng của chúng ta sẽ trú ẩn vào phần ấy.
            Như vậy kinh nghiệm phải nhắm vào sự khua động cái ngã đến tận chỗ trú ẩn cuối cùng của nó. Hiểu như vậy thì chúng ta có thể nói rằng Krishnamurti là một cơ hội kinh nghiệm. Nhưng làm thế nào để khích động kinh nghiệm ấy ở người khác? Trước hết chúng ta phải khuấy động trí óc và rung cảm của họ. Đã đành là người ta có thể hiểu được kinh nghiệm của người khác, nhưng được như vậy người ta phải có lòng từ ái cao trọng hơn người. Nếu bạn có lòng từ ái vô lượng ấy, đời sống và sự hiểu biết đời sống sẽ trở nên giản dị".
            Làm thế nào mà một người bị mê muội và lung lạc bởi một chế độ xã hội cay nghiệt nhất hay một người kém cỏi có được khả năng hiểu biết như thế?
            "Không nên nói rằng người lao động là người tầm thường. Họ không tầm thường đâu. Chính những người tự túc tự mãn với giáo điều, tin tưởng của họ, những người xa lánh mọi thống khổ và vui sướng, chính những người ấy là người tầm thường, chứ người lao động, người ăn tối lo mai không phải là người tầm thường. Chính người biết chắc ngày mai mình có sẵn cơm ăn thường thường là người tầm thường.
            “Phần nhiều người tưởng tượng rằng chân lí ẩn dấu, chân lí ở ngoài cuộc sống hằng ngày, ở ngoài trí óc con người bình thường, ở ngoài tầm của người tâm trí không có gì là đặc biệt. Người ta thường nghĩ rằng muốn tìm sự thật thì phải sống ẩn dật, thâu thái kiến thức, trải qua một vài loại thống khổ và vui sướng. Trái lại, tôi xác định rằng, ngay từ khi chúng ta hiểu cuộc đời như vẫn tiếp diễn trước mắt chúng ta là chúng ta hiểu được sự thật… Không có ông Trời nào khác con người trút bỏ được ô trọc và đạt được thanh tịnh, không có uy quyền nào ở ngoài con người dẫn dắt con người. Chỉ có mình chỉ đạo cho mình chứ không ai chỉ đạo cho mình cả. Không làm gì có thiên đàng, địa ngục, thiện ác, ngoại trừ thiên đàng, địa ngục, thiện ác do họ tạo ra. Con người chỉ có trách nhiệm với mình chứ không có trách nhiệm với ai khác.
            Hoàn toàn trách nhiệm như thế là giai đoạn thứ nhất để tiến tới chân lí tuyệt đối, muốn hoàn toàn trách nhiệm thì phải khước từ uy quyền của thần linh, truyền tục và tín ngưỡng. Người ta phải bất bình, phải nổi loạn chống lại sai lầm, ngoài ra còn phải giản dị, nhưng giản dị không phải là thô lỗ. Sự giản dị chân thực là kết quả của kinh nghiệm rộng lớn, thống khổ rộng lớn, tranh đấu rộng lớn. Người ta phải tập hợp làm một mối tất cả thân xác, tư tưởng, tâm đã bị phân ra làm nhiều mảnh.
            Một quan niệm như thế hầu như khó chấp nhận được. Nhất là phải đem ra áp dụng với mình và phải bắt đầu ngay từ lúc này. Đợi đến ngày mai không thay đổi gì được hiện tại, hiện tại là lúc này, ở đây, trong cái toàn thể toàn diện của nó. Hôm nay đã là ngày mai của những chuỗi ngày đã qua. Nhưng muốn bắt đầu ngay thì chúng ta phải muốn bắt đầu. Chúng ta phải ý thức rằng chúng ta là thế nào, ý thức thật sự bằng hành động chứ không phải trong ý hướng, và ý thức bất cứ lúc nào trong một ngày. Sau nữa, chúng ta phải hiểu rằng sự sáng suốt ấy phải luôn luôn chuyển động và vô cá tính để có thể tham dự vào những thúc phọc của đời sống. Phải vượt qua giai đoạn kinh nghiệm và tư tưởng. Đó là sự chuyển hoán thực sự, là sự "tạo lập mục đích vĩnh cửu trong chúng ta".
            "Tạo lập mục đích vĩnh cửu ấy quan trọng bậc nhất cho những ai muốn thoát li mọi rắc rối biến loạn trong đời sống – đây không phải là mục đích của người khác, cách nhìn của người khác, nhưng đây là mục đích thoát thai từ kinh nghiệm, từ thống khổ, từ sự hiểu biết của riêng mình.. Một mục đích như thế khi đã tạo lập sẽ rọi ánh sáng vào tình trạng hỗn độn trong tư tưởng và làm hiển lộ lẽ sống của cuộc đời."
            Hẳn là đây nói đến lẽ sống của một cá vi người. Điểm này đã được tỏ rõ, cũng như những nét chính trong thông điệp của Krishnamurti và tính chất của nó, chúng ta có thể để tâm tìm hiểu ý nghĩa chân thực ở dưới dòng chữ.
            “Bởi vì con người chưa giải quyết được vấn đề của chính mình cho nên vấn đề của đời sống chưa giải quyết được. Vấn đề cá vi của con người là vấn đề cuộc đời. Nếu con người không thấy mục đích của mình thì cuộc đời cũng không thay đổi mục đích của nó. Ta không thể tách rời con người khỏi cuộc đời, hai thực thể chỉ là một. Nếu vấn đề cá vi con người có thể giải quyết được bằng sự tự tri thì vấn đề cuộc đời cũng có thể giải quyết được".
            Xã hội như chúng ta nhận thấy quanh mình chúng ta, không thể tách rời khỏi chúng ta và chứa chấp những mâu thuẫn nội tâm của chúng ta. Những ai muốn giải quyết những vấn đề xã hội mà không phá bỏ những giới hạn trong mình họ gây ra vì điều kiện nội tâm của họ, họ chỉ làm cho xã hội thêm hỗn loạn.
            Theo một vài quan niệm tôn giáo thì xã hội là hậu quả của cá nhân, còn theo quan niệm của duy vật thì cá nhân là hậu quả của xã hội. Tất cả những quan niệm ấy đều võ đoán, lí thuyết và sai lầm. Chúng ta nên tránh, đừng khơi lại một cuộc tranh luận đã lâu đời và phi lí.
            Nguồn gốc của sự phân chia cái tâm ra nhiều cái ngã cách biệt nhau liên hệ mật thiết với hoạt động của con người, với mối tương quan giữa con người và thiên nhiên. Những cái ngã do thiên nhiên thai nghén đã tạo ra một trạng thái mà người ta gọi là con người, nhưng theo Krishnamurti thì đó mới chỉ là trạng thái tiền nhân loại. Cái mà ta gọi là văn minh cũng chỉ là kết quả của những xung đột, nếu chúng ta muốn tạo ra một trật tự có tính cách nhân văn thật sự thì chúng ta phải tự giải thoát, phải bắt đầu ý thức được rõ ràng cảnh ngộ của chúng ta, chúng ta phải phá hủy tình trạng con nhộng là quan niệm cá nhân của chúng ta. Chúng ta nhận thấy ở khắp mọi nơi quanh mình ta rằng con người sinh ra, sống, phát triển rồi chết, giam hãm trong mê võng cá nhân!. Cái gì ta xây dựng trong điều kiện ấy cũng không thể phá hủy được mê võng. Quan điểm của Krishnamurti như thế thật là cách mạng theo nghĩa chữ cách mạng của ông, nhưng chúng ta đã có thể hiểu rằng ông đem lại nền tảng tâm lí mà cho đến ngày nay chúng ta vẫn chưa có để cấu tạo những giá trị hoàn toàn mới mẻ. Nếu chúng ta hiểu thì bức thông điệp của ông không những đem lại cho chúng ta sự tin chắc rằng có người giải thoát được ngã vọng tưởng, mà còn khiến cho chúng ta tin chắc rằng tình trạng duy nhất có tính chất nhân văn thực sự. Nhờ cái nội tâm sáng sủa ấy chúng ta có thể xua đuổi được bóng âm u vô minh, sợ sệt, Thượng đế, thủ hữu, sự an ủi, cấp bậc tôn giáo và xã hội, tóm lại cái gì là ở dưới con người, là tâm mê võng.
            Con người thấp kém như vậy đã tạo ra ảo tưởng kì gian trong thời gian. Tương lai chỉ là sự nối dài ảo tưởng ấy không bao giờ đem lại cho ta được cái gì. Nhưng ai đã tìm được sự giải thoát thì đời sống trở thành giản dị, không còn hỗn loạn, thời gian và mọi khó khăn sẽ biến mất…
            “Thời gian trói buộc cuộc đời: Khi chúng ta được tự do chúng ta sẽ ở ngoài thời gian…Mỗi người phải khám phá ra phương tiện riêng của mình để tiến tới mục đích. Không có sự thật nào khác, không có Thượng Đế nào khác mục đích mà mỗi người đặt ra cho mình; uy vũ của người nào, của thần linh nào cũng không thể xúc phạm được".
            Muốn đạt tới sự thật phải làm cách nào để trí tuệ rung cảm và thân xác hòa hợp với nhau?
            “Trí tuệ phải có một mục tiêu, nhưng mục tiêu ấy phải tự ta tạo ra, nếu không chúng ta sẽ có những vọng tưởng rằng mục tiêu ấy là sự phát triển cá nhân duy nhất của mỗi người… Muốn đạt được tự do, ta phải co ý muốn mạnh mẽ về tự do. Người đời rất sợ sự ham muốn, họ cho rằng ham muốn là xấu và phải diệt trừ. Đó là một thái độ lầm lẫn. Ham muốn là sức mạnh thúc đẩy người ta hành động. Nếu chúng ta muốn cho đời sống của chúng ta nảy nở toàn vẹn thì chúng ta phải có ham muốn mạnh mẽ, ham muốn dắt đến kinh nghiệm và nhờ kinh nghiệm mà chúng ta hiểu biết. Nếu người ta biết dùng sự ham muốn, sự ham muốn sẽ dẫn đến tự do mà họ hằng mong ước. Nếu dập tắt ham muốn chúng ta không thể đạt tới tự do được nữa. Nhiều người có thị dục mạnh mẽ, nóng bỏng, chính yếu, nhưng không biết sử dụng, họ dập tắt hay để cho thị dục sai khiến mình. Không có thị dục thì không có hành động sáng tạo… Bởi vì người ta chỉ có sự hiểu biết sơ thiển về cách giải quyết những vấn đề trí tuệ và đạo đức cho nên người ta đã bày đặt ra tôn giao, tín ngưỡng, giáo điều…Vì con người không muốn tự do cho nên họ dập tắt thị dục.
            “Một khối óc giản dị sẽ hiểu được sự vẹn toàn vì chính họ là thành phần của sự vẹn toàn. Sự giản dị là cái khó sở đắc, bởi vì muốn được giản dị người ta phải qua những kinh nghiệm lớn.
            “Mục đích tối hậu của rung cảm là đạt tới sự giải thoát, giải thoát đượm màu sắc từ ái. Có khả năng yêu mến và không ràng buộc với người nào, với cái gì, như thế là đạt được sự vẹn toàn tuyệt đối của rung cảm. Tình yêu mặc dù có đòi hỏi, ghen tuông, độc đoán và ích kỉ lúc ban đầu, nhưng sau sẽ triển khai chói sáng… Phải dứt bỏ hết thảy, nhưng phải yêu tất cả, vì tình yêu cần cho sự triển khai của đời sống. Có nhiều cách để thâu thái kinh nghiệm. Một trong những cách sống ấy là sống trong đời sống của mỗi người, là nhìn vào mắt mỗi người đi qua để dùng trí tưởng tượng mà biết được vui sướng lẫn thống khổ của họ…Thỉnh thoảng có lúc tôi quan sát những người mong muốn giúp đỡ người khác. Nhưng họ không biết cách nào vì họ không biết đặt mình vào địa vị người khác và quan niệm việc đời với nhỡn quang của người ấy. Những ai muốn hiểu đời sống quanh mình phải có cảm thông với người, phải có những ham muốn lớn lao tuy không nô lệ những ham muốn ấy.
            “Đối với thân xác ta thì mục tiêu là vẻ đẹp. Trên đời này ai cũng tìm vẻ đẹp nhưng người ta tìm mà không hiểu. Vẻ đẹp là chính yếu cho thân xác, nhưng ta không nên để cho thân xác chỉ là một cái vỏ rỗng không…"
            Phải cộng tác với cuộc đời. Phải sẵn sàng góp sức vào cuộc đời, theo sát cái gì biểu lộ sức mạnh bành trướng của nó, tính chất năng động của nó.
            “Khi các bạn trói buộc đời sống vào tín ngưỡng, thói tục, luân lí, giáo điều, các bạn sẽ giết chết đời sống. Đời sống hoài bão tự do và chỉ có thể tìm thấy tự do bằng kinh nghiệm…Trước kia, nhất là ở Ấn độ, người ta tưởng rằng có thể tìm ra chân lí bằng cách xa lánh cuộc đời… chúng ta phải dấn thân vào cuộc đời, cuộc đời nguyên vẹn là cuộc đời, vì chúng ta chỉ có thể chinh phục được nó nếu chúng ta hiểu nó tường tận…
            Xưa có người đóng cẩn thận cửa ngõ nhà mình, chỉ để mở một cái, vì ông ta chỉ đợi mặt trời bước vào bằng cửa ấy. Nhưng chẳng bao giờ mặt trời bước vào cả. Những người giam mình trong truyền tục và tin tưởng chật hẹp và bưng bít của mình cũng sẽ làm như vậy, họ tưởng rằng sự thật ở trong những truyền tục và tin tưởng ấy."
            Muốn phát triển sự hiểu biết ấy để sau phá tung cái ngã, chúng ta phải nổi loạn. Sức mạnh ấy trong chúng ta và chỉ có chúng ta mới phát triển được. Đời sống giản dị và đẹp đẽ. Không thể giam hãm nó trong một hình thể nào. Nhưng con người tựa vào quá khứ lo sợ cuộc sống phiêu lưu hiện tại.
            “Ai sống ở đời cũng bị ràng buộc bởi quá khứ, truyền tục, sợ hãi, chê trách, tin tưởng, đạo đức của quá khứ. Bao giờ cũng nhìn về đằng sau thì không bao giờ các bạn tìm ra sự thật. Khám phá ra sự thật bao giờ cũng phải nhìn ra đằng trước…Phá bỏ sự kìm hãm của quá khứ cũng như chúng ta dùng búa để mở một lối đi giữa rừng già âm u…Các bạn không nên sống trong tương lai và trong những sự kiện đã chết từ ngày trước. Các bạn hãy sống trong hiện tại ngay bây giờ. Các bạn nên hiểu rằng các bạn là sản phẩm của quá khứ, hành động ngày hôm nay chỉ đạo ngày mai, làm chủ thời gian và làm chủ tiến hóa, nhờ thế các bạn làm chủ sự vẹn toàn. Các bạn sẽ sống mãnh liệt hơn, mỗi phút giây đều có giá trị của nó, mỗi khoảnh khắc đều đáng kể… Nhưng tiếc thay các bạn vẫn sợ một hiện tại như thế!”
            Quả vậy, khi mà cái ngã phóng ngọn lửa nghi ngờ vào quá khứ là bản thân của nó, thì nó tự hủy. Chính vì muốn tránh sự tự hủy mà nó không nghe tiếng gọi của hiện tại tức là đời sống. Tuy nhiên, nếu người ta muốn biết sự thật, điều thứ nhất người ta phải làm và trông thẳng vào sự nghi ngờ. Không nên để nó nằm bẹp ở phía dưới mà phải mời nó vào khắp châu thân chúng ta. Tiếp đón trong vẻ độc ác huy hoàng của nó. Tin tưởng bóp nghẹt nghi ngờ và như vậy là bóp nghẹt đời sống.
            “Tôi xin nói với các bạn rằng cái gọi là đạo chính thống sẽ bừng lên trí óc và trái tim tiếp đón sự nghi ngờ thì không làm gì còn chính thống, uy tín, không còn sự tin tưởng chật hẹp nhỏ nhen vào một nhân vật nào… Cho đến ngày nay các bạn đã tôn thờ các nhân vật chứ không phải chính sự thật. Nhưng nếu các bạn hiểu, nếu các bạn có can đảm tiếp đón sự nghi ngờ các bạn sẽ không còn là môn đệ của người nào như từ trước tới giờ, các bạn sẽ là môn đệ của sự thật?”
            Như vậy Krishnamurti không phải là người an ủi chúng ta; ông không làm chúng ta yên lòng, bớt lo ngại; ông không phải là người chăn dắt một đàn cừu nào. Người ta muốn tin tưởng, ông đem lại sự nghi ngờ. Người ta muốn ông là người nâng đỡ, che chở, ông đẩy mọi người lại với một mình mình. Người ta đòi hỏi ông đem lại cho người ta sự tin tưởng mới, tức là làm cho bể khổ có nét trẻ trung vì bến mê đã từ lâu chỉ nhắc lại những biểu tượng không còn hiệu lực. Ông đem lại một sự giải thoát mà người đời chỉ có thể tìm thấy bằng cách dấn thân vào đời sống hằng ngày, vào đời sống ở ngoài đường. Người ta muốn xa lánh cuộc đời, ông khuyên người ta dấn thân vào cuộc đời.
            Vì có hàng trăm ngàn người chấp nhận rằng ông có uy tín tinh thần, ông dùng sự tin tưởng ấy như một khí giới để phá hủy đến nền móng những kiến trúc tâm mê võng để cấu tạo những người mới, những người giác ngộ.

Đăng nhập để trả lời
0
Xin lỗi ban quản trị,

Xin vui lòng xoá chủ đề này vì tôi không thể đăng trọn hết bản dịch.

Rất cám ơn.

vinhhoa


Đăng nhập để trả lời
0

Chào vinhhoa

Truyện đã dịch đến đây, cũng mất nhiều thì giờ, mà xoá đi thì tiếc nhỉ

Thôi thì Ct.Ly để đây, khi nào Vinhhoa có thể đăng tiếp thì đăng tiếp, có sao đâu vinhhoa nhỉ

Cảm ơn Vinhhoa đã góp sức cho thư viện, và chúc vinhhoa luôn vui
Đăng nhập để trả lời
0