BẢN TÌNH CA
Krishnamurti đã bắt đầu viết và thảo luận từ lúc còn trẻ tuổi, tuy nhiên, như chúng tôi đã nói, những tài liệu trong thời kì ấy chỉ cho chúng ta biết một vài nét tính tình của ông chứ không cho biết nhiều về bức thông điệp hiện tại của ông. Muốn hiểu bức thông điệp ấy mà không làm sai lệch vì những ý kiến viết ra lúc đang thai nghén, chúng ta phải đọc ông từ năm 1927 trở đi, thời kì mà Krishnamurti đã tự thực hiện, theo cách nói của ông.
Nhưng bức thông điệp của ông không ngừng biến đổi. Rất dễ tìm ra những mâu thuẫn, thí dụ mâu thuẫn giữa một khẳng định vào năm 1928 và một khẳng định khác vào năm 1931. Chính vì bản chất của bức thông điệp mà có sự biến thiên ấy, đây không phải là kết quả của sự tìm tòi khoa học hay sự nghiên cứu trong thư viện, đây là sự mô tả hàng ngày của một kinh nghiệm sống, người ta phải tạo ra ngôn từ để trình bày cho người khác hiểu được. Krishnamurti đã thụ huấn từ thuở nhỏ một nền giáo dục bắt ông tôn thờ hết hình ảnh này đến hình ảnh khác, không bao giờ ông chấp nhận dừng lại ở một ảo tưởng nào. Ông khao khát vĩnh cửu, vĩnh cửu sống động, tiếp xúc trực tiếp với đời sống hàng ngày. Bởi vậy cho nên mối tình cao trọng của ông, hiểu theo nghĩa phổ quát và giản dị nhất là danh từ tình yêu, đã đem lại cho ông sức mạnh để tiến tới, không dừng lại dưới bóng những ngôi đền đài.
Ông chú trọng đến một vẻ mặt, một dáng dấp, đến sự kiện có tính chất con người hơn là sự kiện trừu tượng, sở vọng lớn lao của ông là học hỏi được nhiều và học hỏi cả mọi người để hoà mình với đời sống, một đời sống trôi biền biệt và chỉ được người ta trình bày với ông dưới hình thức những hình ảnh và những thần linh. Mối tình của ông là mối tình thắm thiết với tất cả cái gì sinh sống, với toàn thế giới, với mỗi người, mỗi vật. Ý chí của ông là ý chí bất khuất, không sờn, không muốn để người nào, tư tưởng nào giam hãm mình, ông nghi ngờ tất cả. Sau hết là ý thức nổi loạn gây ra vì những thống khổ ông đã trải qua trong thời thơ ấu và thời niên thiếu. Nhờ thế ông đã đạt được tri thức. Chúng ta hiểu rằng kinh nghiệm chung quyết của ông là cái gì khác chứ không phải sự khám phá của trí tuệ. Khi mà người ta thấy bất thần bản thể tâm lí – nếu có thể nói vậy – của ông tan biến vào trong đời sống, đời sống vô Ngã, rộng rãi phổ quát mà ông vẫn trông tìm, thì tự nhiên người ta hiểu rằng đây là một sự thoát xác, đây là cái Ngã tan biến vào hiện tại vĩnh cửu; sự giác ngộ ấy được diễn tả với phương tiện có thể dùng được, là những hình ảnh, những quan niệm của quá khứ.
Cái Ngã đã biến mất, nhưng biến vào trong một cái liên tục. Không làm gì có gián đoạn, đình chỉ, chỉ có liên hoàn. Đời sống tâm lí được chuyển vào một thế giới mà quá khứ vẫn còn đó, nhưng đã biến hình và tái tạo lại. Đã từ lâu Krishnamurti tưởng rằng đó là sự phối hợp, vì tình yêu đời sống mà ông tiêu huỷ cái Ngã của ông. Lời nói đầu tiên của ông là một bài ca lạc thú, một bài tình ca trong ấy không có chỗ nào dành cho sự giải thích hiện tượng đã xảy ra cho ông. Nhưng khi đã vượt qua những kinh nghiệm thần bí mà chúng ta biết và tuy rằng tư tưởng của ông còn dò dẫm đường đi, ông cũng khám phá ra một đời sống không thần kì, không huyền bí, nếu có thể nói như vậy. Ông đã biết rằng không có đường lối nào, không có tư tưởng thần bí nào đưa đến đời sống chân thực ấy được. Ông vượt qua được lãnh vực tôn giáo, ông nỗ lực tập trung vào thực tại, ông tạo dựng thực tại của ông một cách liên tục và để cho thực tại tái tạo mình (không có một quan niệm thần bí nào cho chúng ta thấy một thí dụ về sự đồng nhất hoá tuyệt đối và chung quyết như thế).
Sự kiện ấy cho chúng ta biết rằng kinh nghiệm của ông là kinh nghiệm toàn diện. Từ đây chúng ta chứng kiến sự tiến triển của một người thấm nhuần thực tại sống động, thực tại đã giúp ông thoát được cái bản ngã của ông. Phải từ ba đến bốn năm kiên trì mới có thể dần dần tái tạo một phương pháp suy tưởng mới. Bản tình ca, thi vị trữ tình, vẻ tươi đẹp của mùa xuân gợi đến vui vẻ và hạnh phúc, đến hứng khởi hồn nhiên, tất cả những sự kiện ấy đều phải biến thành một bức thông điệp sáng sủa kết hợp với tình yêu.
Nhưng sáng suốt ấy, sự sáng suốt tạo ra bởi tình yêu ấy, không thể có cho những người muốn tìm nó ở các phạm trù, muốn ngăn chặn nó, muốn giết chết nó bằng những hệ thống của họ. Người ta phải tập lấy một phong thái suy tưởng không phải chỉ dùng đến trí tuệ mà thôi, đó là sự phối hợp tình yêu với trí tuệ, không bao giờ hai yếu tố rời nhau.
Vì sự phối hợp ấy mà người ta không thể giới hạn sự nghiên cứu trong phần sau của bức thông điệp, phần phân tách những cơ năng của ý thức, nhưng người ta phải biết tới sức mạnh của tình yêu thúc đẩy người ta tiêu hủy cái Ngã.
Trước hết người ta nhận thấy Krishnamurti từ năm 10 hay 12 tuổi đã từng đứng đầu một phong trào lớn. Năm 1911, ông 15 tuổi phong trào ấy chỉnh đốn hàng ngũ để tôn ông lên làm người lãnh đạo tinh thần. Một thảm kịch xảy ra năm 1927, và năm 1929 có việc đốt phá đền đài. Những biến cố ấy có nhiều tiếng vang, hai mươi năm sau ở Madras, năm 1947, người ta còn chất vấn ông: "Hội Thông Thiên Học đã loan báo rằng ông sẽ là Đấng Cứu Thế và vị Đại sư của thế gian. Tại sao ông rời khỏi hội Thông Thiên Học và từ khước bức thông điệp cứu thế của ông?"
Krishnamurti trả lời:
"Người ta đã hỏi tôi nhiều về vấn đề ấy, tôi cho rằng có bổn phận phải trả lời. Tuy lời chất vấn không quan trọng lắm nhưng chúng tôi cũng nhận thấy nó đặt ra cho chúng tôi vấn đề tổ chức. Tôi xin kể một câu chuyện rất thú vị. Một người đi ngoài phố, đi sau là hai người lạ. Đi đường, ông ta trong thấy một vật sáng bèn nhặt lấy ngắm nhìn rồi bỏ túi. Hai người đi theo để ý đến ông, người nọ bảo người kia: "Đây là một việc xấu lắm phải không anh?". Nhưng người kia là thằng quỉ, y trả lời: "Không, cái ông ta vừa lượm được là chân lí, tôi sẽ giúp ông ta tổ chức". Các bạn sẽ thấy câu chuyện ấy có ý nghĩa gì: chân lí có thể tổ chức được chăng? Chúng ta có thể tìm ra chân lí bằng một tổ chức chăng? Hay chúng ta phải vượt lên trên những tổ chức để tìm ra chân lí? Tại sao lại có những tổ chức tôn giáo? Tổ chức tôn giáo có dựa vào những sự tin tưởng khác nhau không? Chúng ta tin tưởng cái gì, người khác cũng tin tưởng như ta, thế là xung quanh sự tin tưởng hình thành một tổ chức. Kết quả sẽ như thế nào? Tin tưởng và tổ chức sẽ li gián người ta mãi mãi. Bạn theo đạo Bà la môn, tôi theo đạo Hồi, bạn theo Thiên chúa giáo, tôi theo Phật giáo. Trải qua lịch sử chúng ta đã thấy tín ngưỡng dựng lên những thành trì ngăn cách người này với người kia. Tổ chức nào căn cứ vào một tin tưởng cũng không tránh được gây ra chiến tranh như đã xảy ra bao nhiêu lần rồi. Chúng ta nói đến tình huynh đệ, nhưng nếu tín ngưỡng của người khác không phải là tín ngưỡng của ta là ta sẵn sàng để cắt cổ họ. Chúng ta thấy không ngớt những chuyện như thế.
Chúng ta cần tổ chức nọ, tổ chức kia không? Hẳn bạn cũng hiểu rằng tôi không nói đến những tổ chức lập ra để giúp ích cho loài người trong cuộc sống hằng ngày. Tôi muốn nói những tổ chức có tính cách tâm lí gọi là tổ chức tâm linh. Những tổ chức ấy có cần thiết không? Người ta đã căn cứ vào giả thiết rằng những tổ chức ấy cứu giúp con người thể hiện chân lí và còn là một phương tiện tuyên truyền. Bạn có muốn cho người khác biết ý nghĩ của bạn, điều gì bạn đã học được, điều gì có vẻ cụ thể. Nhưng chân lí có cái gì chung với sự tuyên truyền không? Có phải rằng cái cái gì là chân lí đối với ta, nếu ta đem tuyên truyền thì nó không còn là chân lí đối với người khác không? Sự thật, Thượng đế, dù bạn muốn gọi bằng danh từ nào, cũng không phải là cái để tuyên truyền, nhưng mỗi người chúng ta phải tự kinh nghiệm mà lãnh hội được, kinh nghiệm ấy không thể tổ chức được. Từ khi người ta tổ chức và truyền đạo, sự thật không còn là chân lí, nó trở thành dối trá và cản trở chân lí. Bởi vì, dẫu sao thì cái chân thực, cái vô cùng không thể lập ngôn được, không có ngôn từ nào nói ra được hết. Cái bất tri không thể đo lường bằng cái khả tri, bằng danh từ. Đem ra đo lường nó không còn là sự thật nữa, sự thật trở thành dối trá, thậm chí nói chung thì sự tuyên truyền trở thành sự dối trá, và những tổ chức lập ra để suy tầm chân lí sẽ trở thành những công cụ của người tuyên truyền, nghĩa là mất hết ý nghĩa. Không những chúng tôi chỉ nói đến tổ chức đặc biệt trên đây mà thôi, tất cả các tổ chức tâm linh đều là phương tiện để khai thác. Những tổ chức ấy sẽ tạo lấy những đặc tính, và đặc tính ấy sẽ trở thành quan trọng. Người ta tìm hội viên và tín đồ, thế là bắt đầu có sự khai thác. Hội viên không thể tìm ra chân lí vì lẽ hiển nhiên là tổ chức trở nên quan trọng hơn sự suy tầm chân lí. Không thể dùng một tổ chức nào để tìm đến chân lí, chân lí sẽ xuất hiện nếu có tự do. Tự do không thể có được nếu có ý muốn cầu an. Con người bị giam hãm trong sự cầu an không bao giờ khám phá ra sự thật.
Đối với vấn đề cứu thế, câu trả lời rất giản dị. Chưa bao giờ tôi phủ nhận điều ấy và tôi không cho rằng tôi cần phải phủ nhận hay không phủ nhận. Điều quan trọng đối với tôi là xét xem những điều tôi nói có thực hay không. Các bạn đừng để cho nghi thức dẫn dắt mình, đừng cho một danh từ nào là quan trọng. Mặc dầu tôi là thầy thiên hạ hay là cái gì khác, điều đó không có gì là quan trọng. Nếu điều đó quan trọng đối với bạn, bạn chỉ đi qua bên cạnh sự thật mà tôi nói, bởi vì bạn xét định theo một nghi thức mà nghi thức thì bao giờ cũng mong manh! Kẻ này nói rằng tôi là người cứu thế, kẻ khác nói rằng không phải, như vậy họ là gì? Họ cùng mắc vào một sự hỗn độn, một sự khốn đốn, một cuộc xung đột. Hẳn bạn thấy điều đó thật là vô nghĩa. Tôi biết rằng bạn đã để mất thời giờ với vấn đề ấy. Tôi có là người cứu thế hay không, điều đó không mấy quan trọng. Điều quan trọng là khám phá ra điều tôi nói có phải là sự thật hay không, người ta chỉ có thể biết được nếu người ta để ý xem xét, ý thức được điều tôi nói lúc này người ta sẽ tìm hiểu xem nó có thể hiện trong đời sống hằng ngày hay không. Điều tôi nói không có gì là khó hiểu cả. Người trí thức nhận thấy khó hiểu chỉ vì trí óc họ bị thiên lệch. Người sùng đạo cũng nhận thấy cực kì khó hiểu. Nhưng người thành tâm tìm hiểu thì không cho nó là khó khăn vì tôi chỉ nói những điều rất giản dị. Tôi không thể nói vắn tắt bằng vài câu, bởi vậy tôi cũng không nói vắn tắt như vậy. Những câu trả lời của tôi và cuộc đàm luận này sẽ trình bày với các bạn những điều được các bạn lưu ý."
Những câu hỏi: "Ông có phải là Đấng Cứu Thế không?" – "Ông đã từ bỏ sứ mạng của ông rồi sao?" – "Ông có phải là người mà thiên hạ đã báo trước cho chúng tôi biết chăng?" – những câu hỏi ấy đều có vết tích xúc động tôn giáo; những câu trả lời của Krishnamurti về việc phân tích những tổ chức tâm linh, nghĩa là tôn giáo, đều rất đáng chú ý. Nhưng năm 1927, Krishnamurti còn ở xa sự thư thái khách quan ấy. Chúng ta hãy nghe ông nói vào thời ấy:
"Suốt trong đời sống này, mà có lẽ từ những kiếp trước, tôi chỉ có thiết tha có một điều: vượt ra ngoài sự thống khổ, ngoài những giới hạn, khám phá ra cái đáng yêu nhất của mình, cái đáng yêu nhất của mỗi người thì người nào cũng có, hòn đá cũng có, ngọn cỏ ta dẫm lên cũng có. Ý muốn của tôi, ước vọng mãnh liệt của tôi là kết hợp với cái đáng yêu nhất của tôi để tôi không đến nỗi lẻ loi, cái Ngã của tôi không đến nỗi tách biệt. Khi tôi đã tiêu hủy được hoàn toàn cái Ngã, tôi có thể phối hợp với cái đáng yêu nhất của tôi, vì tôi đã thấy nó – chân lí của tôi – tôi muốn đem cống hiến bạn."
Qua những hình ảnh, những huyền tượng, những chủ thuyết đè nặng xuống vai ông; mặc dầu có lời khuyên bảo của những người che chở cho ông, địa vị cao sang của họ, tà thuật của họ; mặc dầu bị kiềm tỏa bởi huyền tục, mê tín, thành kiến, lòng tín đạo mờ mịt; ông vẫn là người cô độc bướng bỉnh, ông biết con đường đi đến giải thoát, không bao giờ do dự.
Qua những tác phẩm mà chúng tôi biết, trở nên quá khứ xa xôi của ông, chúng tôi đều nhận thấy ông cương quyết dùng phương tiện riêng của mình để khám phá ra yếu tính của mình, và ông biết rằng yếu tính ấy là yếu tính của vạn vật.
Từ năm 1926, trước khi ông tự thực hiện, ông đã nói:
"Hẳn các bạn đều biết rằng người ta muốn sống thì phải sáng tạo, mà muốn sáng tạo thì phải vật lộn và không bằng lòng cái gì cả.
Muốn vật lộn và bất bình có kết quả thì mỗi người phải khai triển quan điểm riêng của mình, khuynh hướng và năng lực của mình; chính vì mục đích ấy mà tôi muốn đánh thức vị quan tòa nghiêm khắc trong người các bạn, người đưa đường chỉ nẻo duy nhất có thể giúp các bạn sáng tạo. Nhưng đáng tiếc rằng hầu hết các bạn chỉ thích chép lại và làm theo người khác vì con đường này dễ đi hơn… Khi gợi lên tiếng nói nghiêm khắc đến thành một bạo chúa, tiếng gọi duy nhất mà các bạn có thể nghe theo, chúng ta cũng phải biết mục đích mình theo đuổi và cố gắng không ngừng để đạt tới đích. Mục đích ấy là gì? Đối với tôi, tôi biết rằng tôi muốn đạt tới sự thật cuối cùng. Tôi muốn đạt được một tình trạng nào tôi có thể biết chắc chắn rằng tôi đã chinh phục được chân lí, đã sáp nhập chân lí vào mình… Đó, mục đích của tôi là như thế. Việc thứ nhất phải làm là làm sao cho tiếng nói thỉnh thoảng mới nghe được đó trở thành tiếng nói liên tục… muốn như vậy thì phải sống theo quan niệm của mình… Đó là những điểm chính yếu. Tôi không nghe lời ai khi tôi chưa có cảm tưởng rằng người ấy có lí mặc dù họ là ai. Tôi không muốn nấp sau tấm bình phong che lấp sự thực…
"…Nếu bạn có hứng khởi thì trực giác của bạn sẽ có tiếng nói mà ai cũng muốn nghe, sẽ trở thành ông thầy của bạn, thẩm quyền duy nhất chỉ đạo đời sống của bạn…
"…Tôi vẫn tự chủ: trong đời tôi, tôi không muốn gì hơn có thể từ bỏ được cái Ngã ngăn cách…"
Như vậy, Krishnamurti không những đã biết mình muốn gì mà còn biết cách làm thế nào để đạt được ý muốn: thức tỉnh tiếng nói nội tâm, trực giác sáng tạo, để chúng ta trở nên "hơn những thần khí tầm thường", tiếng gọi ấy không thể cưỡng được, nó sẽ ra lệnh cho ta trút bỏ hết mà nghe theo nó. Tóm lại, Krishnamurti dùng một phương pháp tự động hấp thu rất sáng suốt, ông đặt mục đích ở tại bản thân ông, đó là người bạo chúa không ngừng day dứt ông, chính vì thế mà ông tạo ra bạo chúa, rồi ông dùng ngay mục đích ấy làm phương tiện để đạt tới nó! Dùng cứu cánh làm phương tiện! Sau này ông còn khơi động sự sáng tạo ấy cho người khác.
Ông đã có sự quyết tâm ấy từ hồi nhỏ, từ hồi ông tuyệt thực đến gần chết, ông chỉ ước vọng có một điều, ước vọng đạt được sự thật tuyệt đối không nhờ cậy bất cái gì, không chịu phục tòng, không chịu dừng lại giữa đường! Đến tuổi lên mười, xu hướng tuyệt đối đã vò xé ông. Sau khi ông đã đi tới đích thì ông không cần bận tâm đến cái gì nữa. Đặt cho cái toàn thể tên gọi nào cũng vậy! "Bạn hỏi tôi: Anh là ai? Tôi là bất cứ cái gì, vì tôi là đời sống", chúng ta có nên hiểu rằng cái "tôi" mà ông nói đó không còn là một thực thể, Krishnamurti không còn ở đây nữa."
"Tôi nói rằng tôi là một với Cái Thân Yêu của tôi vì tôi cảm thấy tôi như thế, vì tôi biết như thế. Tôi đã thấy cái tôi hằng mơ ước, tôi và Cái Thân Yêu của tôi hòa hợp với nhau, từ lúc này không còn sự chia rẽ, bởi vì tư tưởng, thị dục, ước vọng của tôi – của cái Ngã riêng tôi – đều tiêu hủy hết.
Như vậy tôi có thể nói rằng tôi là một với Cái Thân Yêu, dù bạn muốn gọi nó bằng tên nào, gọi là Thích Ca, Thế Tôn, Shri Krishna hay Ki tô."
Từ lúc thơ ấu, ông đã học tôn thờ hình ảnh, nhưng ý muốn duy nhất của ông là tiêu hủy cái mình tìm kiếm bằng cách đồng nhất hóa:
"Tôi tự nhủ: tôi còn đứng ngoài nhìn vào như nhìn một bức ảnh, như một vật khách quan, tôi còn xa cách, tôi còn ở xa trung tâm, nhưng khi đã có năng lực, có sức mạnh, có quyết tâm, khi tôi đã hết ô trọc, đã thanh tịnh thì những bức tường ngăn cách ấy sẽ biến mất. Nếu tôi còn không nói được một cách chắc chắn, nếu tôi còn những xúc động giả tạo hay còn nói thêm nói bớt để làm người khác tin tôi, thì thực ra tôi chưa nói được gì. Tôi chỉ nói được những cái tầm thường mờ mịt để vừa lòng cả mọi người."
Như vậy ý muốn đạt tới đạt tới sự thật cuối cùng của ông không làm ông thất vọng mà làm ông sáng suốt. Không thất vọng và đạt tới sự thật là hai sự kiện đồng nghĩa.
"Khi tôi bắt đầu suy tư mà chỉ trông cậy vào chính mình cách đây vài năm, tôi đang ở trong tình trạng nổi loạn. Tôi không thỏa mãn với sự giáo huấn nào, với giáo quyền nào. Tôi muốn tự khám phá ra người đáng là bậc sư của thiên hạ sẽ như thế nào dưới hình thức ấy còn tàng ẩn chân lí nào. Nhưng trước hết, trước khi có khả năng tự mình suy tư mà thông đạt, tôi cho rằng tôi là môi giới của bậc sư thiên hạ, bởi vì rất nhiều người cho tôi biết như vậy. Khi tôi bắt đầu suy tư, tôi muốn biết người ta hiểu chữ bậc sư thiên hạ như thế nào, người ta hiểu chữ làm môi giới cho bậc chân sư như thế nào, người ta hiểu chữ bậc sư giáng thế như thế nào.
"Tôi muốn nói một cách đại quát; tôi có thể nói tường tận hơn nhưng tôi không có ý ấy. Bởi vì khi người ta định nghĩa cái gì thì cái ấy chỉ còn một vật đã chết. Khi người ta làm một sự kiện được định nghĩa đích xác quá – ít ra đây là điều tôi khẳng định – người ta sẽ gán cho nó một ý nghĩa, ý nghĩa đó sẽ có hình tướng nhất định trong tâm trí người khác, họ sẽ bị cột chặt vào với hình tướng ấy, sau này họ lại cần phải cởi bỏ…"
"Tôi không nhân danh một uy tín nào để nói với các bạn. Các bạn không cần phải nghe tôi, các bạn chỉ cần hiểu. Đây không phải là uy quyền, giáo điều để nghe theo một cách mù quáng, tuy rằng các bạn muốn như thế. Các bạn muốn tôi đưa ra những luật lệ, các bạn muốn tôi là nhân vật này, nhân vật kia để các bạn có thể làm việc cho tôi. Nhưng không phải vì mục đích ấy mà tôi nói, tôi nói là để chúng ta có thể hiểu nhau và giúp đỡ nhau…
"Khi tôi còn nhỏ, tôi thấy Shri Krishna với cái sáo của ông như người Ấn độ vẫn hình dung ra ông bởi vì mẹ tôi là người tôn thờ Shri Krishna. Mẹ tôi nói đến ông làm cho tôi tự tạo lấy một hình ảnh của ông, một người mộ đạo từ bi, ca hát trong một bầu không khí hân hoan – các bạn khó mà hiểu được cảnh tượng ấy có ý nghĩa gì đối với trẻ con Ấn độ."
Rồi người ta cho ông biết những hình ảnh khác, sau cùng là hình ảnh đức Thế tôn.
"Đối với tôi là một cuộc tranh đấu không ngừng để tìm chân lí, bởi vì tôi không thể thỏa mãn uy quyền, sự bó buộc, sự khuyến khích của bất kì ai. Tôi muốn tự tôi tìm ra chân lí, dĩ nhiên tôi phải khổ hạnh mới tìm được…"
Chân lí đó là cái gì? Đó là tất cả: tất cả cái gì tiềm ẩn đằng sau hình ảnh, cái gì hơn hình ảnh.
"Tôi tự nhủ: bao giờ tôi chưa là một với các bậc sư thì tôi chưa cần biết họ khác nhau, hay Shri Krishna, Ki tô, Thế tôn chỉ là một người… Tôi tôn thờ một hình ảnh, nhưng tôi không được thỏa mãn, và vì bất mãn, áy náy, lo âu, tôi có thể tự đồng nhất hóa với hình ảnh ấy, trở thành hình ảnh ấy… Năm trước tôi không thể nói được rằng tôi là bậc sư như tôi nói bây giờ; bởi vì nói vậy tôi không thành thực, nói vậy không đúng. Vì lúc ấy tôi chưa kết hợp được nguồn gốc với mục tiêu, cho nên tôi không thể nói được tôi là bậc sư. Nhưng bây giờ tôi nói ra. Tôi trở thành một với Cái Thân Yêu, tôi trở thành người giản dị."
Ở Ấn độ, có khi cái kì diệu ở ngay cuộc sống hàng ngày. Những hình ảnh mà người ta dạy ông tôn thờ, Shri Krishna với cái sáo mà mẹ ông thường nói đến, mà trẻ con Ấn độ tôn thờ, rồi đến những ông thầy khác, sau cùng là đức Thế Tôn; lúc thiếu thời Krishnamurti trông thấy thật sự, sống những hình ảnh ấy thật sự, nhưng đến sau ông muốn khám phá ra sự thật, che khuất đằng sau những hình ảnh ấy, ông bèn đi xuyên qua hình ảnh, ông tự đồng nhất hóa với hình ảnh. Mãi sau này, khi sự đồng nhất hóa đã thành tựu, sự kết hợp đã thực hiện, ông mới hiểu rằng những hình ảnh ấy chính là chính ông đã đem ngoại giác hóa nội tâm của ông, yếu tính của ông.
Ông kể lại câu chuyện đại khái như sau:
"Một hôm một môn đệ tìm đến một vị tì khưu mà xin dạy cho biết chân lí. Vị tì khưu nhốt người sa di vào một cái hầm.
"Ngươi ở đây mà tu luyện, độ một năm nữa ngươi sẽ thấy Thầy."
"Một năm sau vị tì khưu hỏi người sa di đã thấy Thầy chưa?"
"Con thấy rồi."
"Ở đấy một năm nữa người sẽ được nghe lời thầy nói."
"Sau một năm nữa, Thầy nói: Bây giờ ngươi hãy nghe Thầy nói gì trong một năm." Trong một năm nữa, người sadi nghe lời Thầy chỉ bảo. Hết ba năm ấy, vị tì khưu lại đến mà rằng:
"Bây giờ người đã sống với Thầy, Thầy đã nói với ngươi, ngươi đã thụ huấn Thầy, ngươi hãy suy tư cho đến khi không còn Thầy nữa. Bấy giờ ngươi sẽ biết chân lí."
Sự khác biệt giữa Krishnamurti một mình khám phá ra chân lí, Thầy không khác nào chính mình. Ông gặp gỡ hình ảnh cuối cùng, ông thấu suốt hình ảnh tôn kính của đức Thế Tôn, ông sống thật sự hình ảnh ấy, ông đạt được sự cực lạc.
" …Tôi mơ màng, tôi sống trong một căn phòng tĩnh mịch. Bình minh yên lặng, không một ngọn gió. Núi cao xanh rờn đứng sừng sững, lạnh lùng tươi sáng trên nền trời u ám. Xung quanh căn lều gỗ tối om, đàn chim đen và vàng chào đón mặt trời.
"Tôi ngồi dưới đất, chân xếp bằng, tôi suy tư. Tôi quên cả núi xanh dưới ánh sáng mặt trời, quên cả chim chóc, sự yên lặng mênh mang và mặt trời đỏ ối.
"Tôi mất cả cảm giác về thân xác tôi. Chân tay tôi bất động, thoải mái, thư thái. Niềm cực lạc thăm thẳm tràn vào trái tim tôi. Tôi tập trung tâm trí, tôi khích động tâm trí. Từ bỏ được thế giới vô thường tôi có đầy đủ sức lực.
"Không khác nào ngọn Đông Dương nổi lên giũ sạch bụi đời ô trọc, bậc Thầy của các Thầy xuất hiện giản dị và cao đẹp, mình mặc áo vàng, ngồi kiết già như đời người thường thấy…"
Hình ảnh ấy sống mãi với anh, ở bên mình ông. Tuy ông thấy được niềm cực lạc nhưng ông không dừng chân ở đấy. Ông vẫn đi tìm. Ông vẫn hồ ngư. Ông muốn đập tan hình ảnh, đi xuyên qua hình ảnh. Ông muốn thấu đến tinh túy sự vật. Ông muốn đạt tới tuyệt đối. Một hôm…
"… Thầy tiến về phía tôi và đứng yên. Trái tim và linh hồn tôi đều cương nghị. Cây cối và chim muông yên lặng lắng tai nghe. Trong bầu trời có tiếng sấm sét, rồi yên tịnh hoàn toàn.
"Tôi thấy Thầy nhìn tôi, nhãn quang của tôi mở rộng, mắt tôi nhìn và trí tôi hiểu hết. Trái tim tôi hôn hết mọi sự vật, vì mối tình mới đã chớm nở trong tôi.
"Một vinh dự mới làm toàn thân tôi rung động, vì Thầy đi trước, tôi theo sau, mặt ngẩng cao. Tôi trông thấu qua Thầy, thấy cây cối lớn rung động, lá cành ra vẻ chào đón, tôi trông thấy lá cây rụng, đất bùn, nước long lanh và cành cây khô. Dân quê vai nặng gánh gồng đi xuyên qua Thầy mà không thấy Thầy, họ vẫn cười cười nói nói. Chó chạy qua Thầy đến gần tôi mà sủa. Mấy cái nhà nhỏ biến thành động tiên mái ngói đỏ như nóng chảy ra dưới ánh chiều tà. Cái vườn là chuyện thần tiên, và tiên chính là hoa.
"Tôi trông thấy Thầy đứng in hình lên nền trời đen buổi tối, rựng rỡ trong vinh quang vĩnh cửu. Thầy đi trước mặt tôi trên con đường nhỏ, mắt vẫn nhìn theo tôi trong khi tôi theo thầy.
"Thầy đến gần phòng tôi, tôi đi ngang qua người Thầy.
"Tôi đã được giải thoát, một điệu nhạc mới vang lên trong tim tôi.
"Thầy vẫn ở trước mặt tôi. Tôi nhìn ra đâu cũng thấy Thầy. Vinh quang của Thầy tràn đầy người tôi, chưa bao giờ tôi từng biết vinh quang như vậy. Tôi được thấy vĩnh cửu an nhiên tự tại. Thầy đem lại vinh quang cho mọi sự, Thầy vẫn đứng trước mặt tôi."
Ông đồng nhất với hình ảnh, hình ảnh ở trong ông, tràn đầy ông, nhưng như thế vẫn chưa đủ. Sự nghi ngờ vẫn chưa dịu bớt. Ông chưa suy tư, ông còn tìm tòi. Ông muốn là tinh túy của ông. Rồi một ngày kia chân lí bộc lộ không chút bợn. Mọi hình ảnh đều biến mất. Tinh túy của sự vật tự nó xuất hiện. Trái tim ông tràn đầy niềm hoan lạc và yêu thương. Một niềm vui khôn tả đã đến với ông và ông có lòng từ ái vô bờ đối với những người không có được tình yêu vô lượng như thế. Tình yêu vô lượng ấy là tất cả. Nhưng đồng thời cũng là sự cô đơn. Ông muốn hỉ xả cho tất cả mọi người, ông muốn đem lại cho hết thảy mọi người, ai cũng có tình yêu vĩnh cửu. Sự biến thái đốt cháy người ông, lửa cháy làm ông rung động mãnh liệt đến nỗi tấm thân nhỏ bé và cao nhã của ông mỗi lúc như muốn gẫy vụn. Tuy nhiên đồng thời ông chế ngự được sức mãnh liệt ấy khiến cho ông được thư thái an nhiên vô cùng. Xung quanh ông người ta nghe ông, người ta xúc động một cách mơ hồ hay người ta nhún vai không tin. Người ta không hiểu. Ông đã ra người xa lạ. Nhưng điều đó có làm chi!
"Từ khi tôi tìm thấy Cái Thân Yêu của tôi không bao giờ tôi thấy cô độc.
"Tôi là người xa lạ giữa các dân tộc, giữa các quốc gia. Giữa biết bao người xa lại tôi thấy như hương hoa nhài. Người lạ bao quanh tôi nhưng tôi không thấy cô đơn.
"Tôi khóc cho những người xa lạ ấy; họ sống thật là cô đơn! Họ hãi hùng vì cô đơn mênh mang. Họ phải lôi kéo người khác đến với họ, những người khác cũng cô đơn như họ.
"Tôi là người khách qua đường giữa nơi trần thế vạn vật phù du, tôi thoát khỏi những ràng buộc rắc rối. Tôi không còn là người xứ nào, không bị giới hạn bởi một biên giới nào.
"Bạn ơi, tôi khóc cho bạn. Bạn xây đắp những nền móng kiên cố nhưng cái nhà của bạn đến ngày mai sẽ sụp đổ.
"Bạn ơi, hãy đến với tôi, đến ở ngôi nhà thân yêu nhất của bạn là cái Thân Yêu. Tuy bạn lang thang trên cõi đất này không có gì làm của riêng, nhưng bạn được trọng vọng như một mùa xuân rực rỡ bởi vì bạn đưa đến đây người bạn của mọi người.
"Bạn ơi, hãy sống với tôi. Cái Thân Yêu với tôi là một."
Và rồi tiếng hát của mối tình ấy dâng lên ngập tràn tất cả. Cái Thân yêu của ông không còn ở trong tim ông nữa mà tỏa khắp thế gian, còn ông, ông ở khắp cả mọi nơi, ông đã thoát ra khỏi thân xác ông, ra ngoài trung tâm của ông.
"Bạn hãy nghe,
"Tôi hát cho bạn nghe tiếng hát của cái Thân yêu.
"Ở nơi triền núi xanh yên lặng.
"Gặp gỡ mặt biển xanh lóng lánh như gương.
"Ở nơi suối nước cuồn cuộn gào thét niềm hoan lạc.
"Ở nơi hồ nước lặng phản chiếu nền trời êm,
"Bạn sẽ gặp cái Thân yêu.
o0o
"Trong thung lũng mây cô đơn treo lơ lửng,
"Đang tìm ngọn núi trú thân
"Trong làn khói bay thẳng tắp lên trời
"Trong xóm làng vào lúc chiều tà,
"Trong dải mây mỏng mảnh đang lan tỏa,
"Bạn sẽ gặp cái Thân yêu.
o0o
"Trên ngọn cây cao đang nhảy múa,
"Giữa hàng cây cổ thụ,
"Giữa bụi gai sợ sệt bám chặt lấy mặt đất,
"Giữa những thân dây leo đong đưa lười biếng
"Bạn sẽ gặp cái Thân yêu.
o0o
"Trong thửa ruộng cầy chim muông bới tìm sâu bọ,
"Trên con đường mòn dưới bóng hàng cây uốn khúc dọc theo bờ sông,
"Hai bên bờ dòng nước chảy róc rách,
"Ở giữa rừng bạch dương cao vút ngả nghiêng theo chiều gió
"Trong thân cây vừa bị sét đánh mùa hạ mới đây,
"Bạn sẽ gặp cái Thân yêu.
o0o
"Trong bầu không khí yên lặng màu lam
"Chỗ trời đất gặp nhau,
"Trong buổi mai thơm phức mùi nhang,
"Trong bóng râm mát hàng cây giữa buổi trưa,
"Trong bóng dài đêm tối,
"Trong đám mây rực rỡ lúc chiều tà,
"Trên con đường mòn bên dòng nước lúc chiều tà,
"Bạn sẽ gặp cái Thân yêu.
o0o
"Dưới ánh sao mờ,
"Trong đêm trường tịch mịch,
"Trong ánh trăng phản chiếu dưới mặt nước lặng,
"Trong sự yên lặng mênh mang trước buổi bình minh,
"Giữa tiếng thì thầm hàng cây tỉnh giấc
"Trong tiếng ríu rít chim kêu buổi sáng,
"Giữa bóng tối tái sinh,
"Trên đỉnh non xa tắm nắng,
"Trên khuôn mặt đời sống thiêm thiếp mơ màng,
"Bạn sẽ gặp cái Thân yêu,
o0o
"Hỡi nước rung rinh, hãy dừng lại,
"Hãy nghe tiếng nói của cái Thân yêu.
o0o
"Trong tiếng cười vui sướng của trẻ con,
“Bạn có thể nghe thấy tiếng nói của cái Thân yêu
“Tiếng sáo véo von
“Là tiếng nói của Cái Thân yêu
“Tiếng kêu sợ hãi của con chim cô độc.
“Rung động trái tim làm cho ta rơi lệ
“Bởi vì đó là tiếng nói của cái Thân yêu
“Biển cả gào thét
“Gây niềm nhớ
“Nhưng cái Thân yêu vỗ về ru ngủ
“Con gió nhẹ nhàng
“Khẽ lướt ngọn cây cao
“Đưa lại tiếng nói của cái Thân yêu.
o0o
"Tiếng sấm vang giữa núi rừng
“Làm cho linh hồn tràn ngập tiếng nói mãnh liệt của cái Thân yêu
“Trong sự ồn ào chốn thị thành
“Trong tiếng động inh ỏi của xe cộ vùn vụt.
“Trong tiếng nức nở máy chạy nơi xa
“Qua tiếng nói của đêm trường,
“Tiếng kêu đau đớn, tiếng kêu vui sướng
“Vẻ xấu xa của sự tức giận,
“Tiếng nói của cái Thân yêu sẽ đến với ta.
o0o
"Trên hải đảo xanh rờn nơi xa xăm
“Trên hạt sương long lanh
“Trên sóng bạc nhấp nhô
“Trên mặt nước sáng như gương
“Trên cánh chim đang bay
“Trên chiếc lá mơn mởn dưới trời xuân,
“Bạn sẽ thấy khuôn mặt của cái Thân yêu.
o0o
"Trong ngôi đền thiêng liêng,
“Trong phòng khiêu vũ,
“Trên khuôn mặt thánh Sanyasi
“Trong tiếng lè nhè của anh say rượu
“Trong người thiếu nữ trinh bạch cũng như trong người cô gái điếm đàng
“Bạn sẽ gặp cái Thân yêu.
o0o
"Trong cánh đồng hoa
“Trong chốn thị thành buồn thảm xấu xa
“Trong người trong sạch và trong người ô trọc,
“Trong đóa hoa che khuất thần linh
“Đều có cái Thân yêu.
o0o
"A! Biển cả đã vào trái tim tôi,
“Trong một ngày tôi thấy trăm mùa hạ
“Hỡi bạn, tôi ngắm nhìn khuôn mặt tôi trong bạn,
“Khuôn mặt của cái Thân yêu.
o0o
"Bài tình ca của tôi là như thế!"
Trong thời kì ấy, Krishnamurti ngẫm lại những đoạn đường mình đã đi qua, ông tìm hiểu và mô tả. Ông rút ra bài học và đem công bố nhưng thế nhân ít ai hiểu được; những giai đoạn phải qua đều phù phiếm, vô ích; tìm cách đi hết đoạn đường thì thật là phi lí; chẳng phải đi đâu cả; chỉ có chân lí trong sự tri giác cái gì hiện hữu; chỉ có con đường giải thoát là sự tự tri.
Dần dần bản tình ca của ông tập trung lại, cô đọng lại nhưng vẫn còn hiệu lực và bắt đầu xuất hiện ý nghĩa.
"Qua hình tướng bề ngoài, ta trông thấy ngươi chính là ta hiển hiện. Tuy rằng núi có thung lũng nhưng ta không thể lên núi được. Đêm tối bí hiểm làm xuất hiện tinh tú nhưng ngày sinh ra đêm. Ta yêu đời sống. Tình ta như hồ nước trên núi cao tích tụ nước suối nguồn rồi đưa xuống dòng sông lớn, nhưng hồ không cho ai biết đáy sâu, thanh lặng như núi về sáng, tư tưởng của ta thoát ra từ tình yêu. Vui sướng thay người ta tìm thấy được nhịp điệu của đời sống, vì họ sáng tạo dưới bóng vĩnh cửu."
Giọng nói bắt đầu thay đổi, hình ảnh xa dần, rồi sau không trở lại nữa. Thời kì ảo giác đã chấm dứt. Tư tưởng thanh lặng thoát ra từ tình yêu. Bây giờ chúng ta sẽ thấy tư tưởng ấy đánh bại triết học, siêu hình học, tâm lí học và cấu tạo dễ dàng những giá trị của sự tự tri.
Bản tình ca trở thành tiếng gọi người đời trở nên sáng suốt. Con người sẽ từ bỏ được những hình ảnh cuối cùng. Ngôn từ được thanh lọc vì thêm phong phú.
"Tôi đã sống với thiện ác của loài người chân trời từ ái của tôi tối sầm lại,
“Tôi đã trải qua những gì là đạo đức và vô luân của người đời và tư tưởng hỗn loạn của tôi trở nên độc ác.
“Tôi đã chia sẻ lòng tín ngưỡng và sự vô đạo của loài người, gánh nặng cuộc đời càng thêm nặng.
“Tôi đã cùng người theo đuổi danh vọng, vinh quang ở đời trở nên phù phiếm.
“Và bây giờ tôi ước lượng chiều sâu của đối tượng thị dục bí hiểm."
Sau hết, đây là giai đoạn cuối cùng. Từ ái phối hợp với trí tuệ đã từ bỏ mọi đối tượng. Lòng từ ái không nhân tính như vậy có thể gọi là từ ái theo đúng nghĩa của danh từ ấy chăng? Không, khi đã hủy diệt thực thể tâm lí thì từ ái sẽ trở thành cái gì? Tự nó là mục đích, lí do tồn tại, khởi điểm và chung cục của nó. Nó là khoảnh khắc hiện tại. Từ ái là sự vĩnh tồn của chính nó.
“Bạn để cho vật giới phản ảnh đời sống lôi cuốn mình theo, bạn chạy theo cái bóng, bạn không biết được đời sống. Hiểu rõ đời sống là suy tưởng và rung cảm với từ tâm vô lượng là thoát bỏ ý thức và bản ngã. Nếu bạn còn tùy thuộc vào danh thì bạn không nắm được ý nghĩa toàn diện của đời sống. Như vậy, khi bạn yêu ai, bạn thân thiết với người ấy hơn với tình yêu. Nhưng khi ta yêu hết lòng thì người và ta không còn thực nữa.”
Tình yêu của ông đã đạt được trong sáng, nhưng người đời còn để cho biết bao xúc động lôi cuốn mình theo, họ phải thất vọng và bất bình. Nhiều người kinh hãi. Sao? Người này không thân thiết với ai? Làm sao mà người ta có thể tha thiết với tình yêu hơn là với người mình yêu? Còn như nói đến tình yêu không đối tượng thì đó chỉ là lãnh vực trừu tượng. Xưa nay vẫn thế, người ta nghĩ đến hai trường hợp: tình yêu ràng buộc và tình yêu ảo vọng trốn tránh mọi người quay vào tháp ngà ích kỉ. Nhưng câu trả lời sẽ đến, câu trả lời thật giản dị, quá giản dị, bởi vì nó không xuất phát từ một nơi ngăn cách của lương tâm, nó không có nét gì chung với thế giới lương tâm ngăn cách.
“Đối với tôi thì quan niệm về sự thân hữu của bạn thật là sai lầm. Con người mà tâm lí bưng bít chỉ có tình yêu đối với một vài người; một người như thế cần có bạn, bởi vì họ trông mong có bạn để ấm lòng, an ủi và thỏa mãn. Tôi không cần có bạn hữu một cách nồng nhiệt, bởi vì tôi không dự trữ trong người tôi cái gì để cống hiến một số ít người trong khi không mang lại người khác được cái gì."
Những cái "tôi" đã giác ngộ đều tiêu hủy. Nhưng nếu ai cũng thoát li được cái tôi thì họ sẽ thấy trong tình yêu chính là vĩnh cữu của họ một điểm giống như một mũi kim, trong suốt, sáng chói không thể thăm dò được, không thể ước lượng được, không có chung mà cũng không có thủy.
Từ tâm đã vượt khỏi khúc tình ca.
★
★
★
★
★
0