Phải chăng Truyện Kiều chỉ là một bản sao "dịch"?
Hữu Ngọc
(Trò chuyện giữa Hữu Ngọc và Nguyễn Quảng Tuân ở Huế)
Hữu Ngọc (H.N): Ngày nay, mọi người kể cả người nước ngoài, đều công nhận Truyện Kiều của Nguyễn Du là một áng văn kiệt tác, tinh hoa của Việt Nam. Vậy mà vẫn có ý kiến cho là chẳng qua đó chỉ là bản sao đem dịch lại "Kim Vân Kiều truyện" của tác giả Trung Quốc Thanh Tâm Tài Nhân. Cũng có một vài sinh viên Việt Nam thắc mắc một cách thành thật, cho đó là "Tầu", không phải là ta. ý kiến của anh, một nhà chuyên nghiên cứu về Truyện Kiều, thế nào?
Nguyễn Quảng Tuân (N.Q.T): Những thắc mắc đó xuất phát từ một nhận xét hời hợt. Đúng là nhìn chung, về cốt truyện, triết lý, luân lý, có những chi tiết Nguyễn Du dựa vào gốc "Tầu", nhưng để sáng tạo ra một cái mới vượt cái cũ.
H.N: Ta hãy tạm gác vấn đề sáng tạo lại đã. Cái thắc mắc đầu tiên là gốc Tầu. Về vấn đề này, cần làm sáng tỏ một quan điểm của "nhân học văn hoá": Tất cả các nền văn hoá đều vay mượn của nhau, không có một nền văn hoá nào thuần nhất cả. Mỗi cộng đồng tự xây dựng cho mình một nền văn hoá để mình sử dụng, vì vậy, khi nền văn học dân tộc A đã mượn mà biến một số yếu tố của văn học dân tộc B để tạo ra một tác phẩm cho chính A thưởng thức thì đó là tác phẩm của A, phản ánh những đặc điểm của dân tộc A.
N.Q.T: Điều này thấy rõ ở những vở kịch của Sếch-xpia, gốc từ nhiều dân tộc. Người ta thưởng thức kịch của một nhà viết kịch Anh chứ không cần biết gốc là ai viết.
H.N: Có lẽ thí dụ điển hình nhất là kịch Le cid của nhà viết kịch Pháp Corueille, thế kỷ 17. Sinh thời, có lúc ông đã bị phê phán là "đạo văn" vì ông đã mượn đề tài, triết lý, chi tiết của tác giả Tây Ban Nha Guilhem de Castro. Nhưng từ hơn 300 năm nay, Le Cid được coi là tác phẩm rất Pháp, phản ánh tư duy, tình cảm, xã hội Pháp. ít ai biết đến tên Guillhem de Castro trừ một số người nghiên cứu.
N.Q.T: Một thắc mắc nữa là: Nguyễn Du chẳng qua chỉ là một dịch giả. Có những câu, từ ngữ, hình ảnh được trích dịch nguyên. Hiểu đơn giản như vậy là chưa biết đánh giá đúng nghệ thuật dịch. Ai chẳng thấy bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm theo sát Đặng Trần Côn mà vượt bản gốc xa.
H.N: Khuynh hướng chung trên thế giới nay coi dịch là nghệ thuật sáng tạo cao. Chuyển ngữ là chuyển cả một nền văn hoá này sang một nền văn hoá khác, không phải đơn thuần là vấn đề "chữ".
N.Q.T: Cứ coi như Nguyễn Du chỉ làm công việc dịch nguyên văn Thanh Tâm Tài Nhân thì Truyện Kiều cũng là một thành công lớn như bà Điểm dịch Chinh phụ ngâm. Giá trị nghệ thuật Truyện Kiều hơn xa Kim Vân Kiều truyện.
Không phải do tinh thần sô vanh, đề cao dân tộc ta, mà chúng ta nhận định như vậy. Một kiệt tác thì phải được dân tộc mình và cả thế giới công nhận. Truyện Kiều đáp ứng tiêu chuẩn này, còn Kim Vân Kiều truyện (Tầu) thì không.
Mặc dù có mạo đề do Thánh Thán bình luận, Kim Vân Kiều truyện ở Trung Quốc cho đến nay ít người biết đến, chỉ là một cuốn tiểu thuyết tầm thường. Tác giả là Thanh Tâm Tài Nhân vẫn chưa biết đích xác là ai, chỉ biết xuất hiện vào đầu nhà Thanh. Đại Liên đồ thư quán lưu giữ được hai bản Kim Vân Kiều truyện không được in lại. Hai lần tái bản về sau, năm 1982 (Nhà xuất bản Xuân Phong văn nghệ ở Liên Ninh) và năm 1993 (Nhà xuất bản Hoa Hạ, Bắc Kinh, trong bộ Minh Thanh Ngôn Tỉnh tiểu thuyết đại quan) đều không có tiếng vang.
Trái lại, Truyện Kiều của Nguyễn Du được phổ biến bằng chữ, bằng miệng, đi vào tâm khảm dân tộc ta.
H.N: Thế còn quốc tế đánh giá hai bản thế nào?
N.Q.T: Kim Vân Kiều truyện chỉ mới được dịch sang tiếng Việt qua hai bản của Nguyễn Đức Vân và Nguyễn Khắc Hạnh (Hà Nội, 1962) và Tô Nam Nguyễn Đỉnh Diệm, Sài Gòn, 1971). Đây là loại sách nghiên cứu ít phổ biến. Kim Vân Kiều truyện không được dịch ra tiếng nước ngoài nào khác, lại ít được biết trong nước thì làm sao có tiếng vang quốc tế được.
H.N: Truyện Kiều của Nguyễn Du may mắn hơn… Nói cho đúng là tác phẩm hay người ta mới dịch và đánh giá cao.
N.Q.T: Truyện Kiều đã được dịch sang tiếng Pháp (7 lần), tiếng Anh (4 lần), tiếng Nga, tiếng Đức, tiếng Tiệp, tiếng Ba Lan… Dịch giả Pháp R.Crayssac viết: "Tác phẩm của Nguyễn Du có thể so sánh mà không thua kém gì các kiệt tác của bất cứ thời đại nào, bất cứ nơi nào…"
H.N: Nghe nói, Truyện Kiều có được dịch sang Hán văn?
N.Q.T: Năm 1954, ở Chợ Lớn, ông Lý Văn Hùng có dịch theo từng đoạn thơ thất ngôn tuyệt cú, nhưng câu chuyện rời rạc, lời thơ không hay… Năm 1958, giáo sư Hoàng Dật Cầu cũng có dịch, nhưng không sao thể hiện được nhịp điệu du dương của lục bát.
Hai nhà nghiên cứu Trung Quốc là Lưu Thế Đức và Lý Tu Chương đánh giá Nguyễn Du như sau: "Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã vận dụng thể lục bát một cách nhuần nhuyễn. Cả tập thơ viết một mạch từ đầu đến cuối, có tung có hứng, lưu loát tự nhiên. Sự xuất hiện Truyện Kiều chứng tỏ nghệ thuật thơ lục bát trong thi ca cổ điển Việt Nam đã đạt tới đỉnh cao của tuyệt mỹ và hoàn thiện".
H.N: Có lẽ một cái hay tuyệt vời, thể hiện hồn Việt, là thể thơ lục bát của riêng người Việt. Nó như tiếng đàn bầu, không tài nào mượn một cây đàn nước ngoài mà thể hiện được. Tôi đã đọc các bản Kiều dịch sang tiếng Pháp, Anh, Đức nhưng quả thật không so được với gốc Việt qua lục bát. Sử dụng ngôn ngữ Việt tài tình qua nhịp điệu lục bát khiến cho Kiều là hơi thở của nhân dân Việt, không thể nói là "sao" của "Tầu". Chỉ riêng thiếu chất ngữ và nhạc Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân đã không đi được vào lòng dân Trung Quốc. Về sáng tạo của Nguyễn Du, so sánh với gốc Trung Quốc, hẳn có nhiều điều khác phải nói.
N.Q.T: Chuyển từ một tiểu thuyết văn xuôi sang thơ, Nguyễn Du lược bỏ nhiều chi tiết dài dòng, vô ích cho sự diễn tiến của câu chuyện. Ông cắt bỏ nhiều đoạn văn thiển thô trong Kim Vân Kiều truyện.
H.N: Bỏ cả những bài thơ đã xen vào giữa truyện, làm đứt mạch kể, khiến người đọc ngày nay rất khó chịu. Nguyễn Thạch Giang, một nhà chuyên nghiên cứu Kiều, tính là Nguyễn Du lược đi 142 trang, tức là hai phần ba Kim Vân Kiều truyện. Nguyễn Du không chia sách thành 20 hồi nữa, chỉ giữ lại 72 trang gốc để viết lại thành 1313 câu trong số 3254 câu của Đoạn trường tân thanh. Số 1941 câu còn lại là do công lao Nguyễn Du viết ra. Như vậy không phải là sách dịch. Nguyễn Du, theo tôi, đã "hiện đại hoá" câu chuyện bằng nghệ thuật sáng tác của mình.
N.Q.T: Anh dùng từ "hiện đại hoá" theo nghĩa nào?
H.N: ấy là tôi chơi chữ thôi! ý tôi muốn nói là thiên tài Nguyễn Du đã xây dựng đươc một tác phẩm đến nay 200 tuổi mà vẫn không "già", đúng "Gout" hiện đại.
Ông nhào nặn lại 1/3 Kim Vân Kiều truyện, thêm vào 2/3, biến một câu chuyện khô khan, lề mề thành một truyện thơ cấu trúc chặt chẽ, có hồn, sinh động, có bề sâu xã hội tâm lý và triết học. Tác phẩm của Nguyễn Du hiện đại ở chỗ cơ bản nó là một tiểu thuyết tâm lý… Những chỗ ông thêm vào là để tả tâm trạng nhân vật, tả tình… Còn "hiện đại" ở chỗ hiện thực tả chân dung và tả cảnh để làm cho rõ nét tâm trạng và tâm lý nhân vật, khắc hoạ tính cách. Thạch Giang nhận xét là Nguyễn Du 15 lần nhắc đến sắc mùa thu, nhưng mỗi lần một vẻ, phản ánh tâm trạng nhân vật mỗi lúc một khác. Tổng thống Mỹ Bill Clinton sang thăm Việt Nam cũng trích dẫn hai câu Kiều tả "thiên nhiên chuyển mùa", từ đông sang xuân, để phản ánh quan hệ Việt - Mỹ, như vậy đủ thấy tính "hiện đại" và quốc tế của Kiều. Tâm lý và hiện thực mà lại lãng mạn, có sắc thái nổi loạn (gái giang hồ Kiều, lục lâm Từ Hải) phải chăng do đó mà Kiều đáp ứng được sở thích của các lứa tuổi và các khuynh hướng văn học của ta. Nguyễn Du còn "hiện đại" ở chỗ dám tả phụ nữ khoả thân, và miêu tả nỗi băn khoăn ám ảnh Kiều suốt 15 năm, một thứ băn khoăn dường như siêu hình về "phận người" (Condition humaire), khá gần nỗi lo âu vô cớ (angoisse) xuất hiện trong nền văn học của cái vô lý (absurde) ở Châu Âu vào đầu thế kỷ 20.
N.Q.T: Kiều của Nguyễn Du không phải chỉ là cái bóng như ở bản gốc. Vì Nguyễn Du gắn tâm trạng của mình vào tâm trạng Kiều, nên xây dựng một tính cách Kiều thật sâu sắc. Kiều của ông có lòng độ lượng, khoan dung, nàng tha cho Hoạn Thư không sai lột trần ra đánh 100 trượng cho đến khi chết ngất như trong bản gốc. Nàng không thích nhìn cảnh hành hình đốt người, đầu rơi máu chảy.
H.N: Kiều của Nguyễn Du không thể thế được. Tài Mệnh tương đố vị chữ nghiệp bàng bạc trong bản Kiều Trung Quốc - được thể hiện một cách độc đáo và sâu sắc trong bản Kiều Việt Nam. Nỗi băn khoăn về nhân thế chỉ được giải quyết sau khi Kim - Kiều tái hợp, "do phép màu nhiệm của cửa Thiền" (Theo Nguyễn Thạch Giang). Vĩnh Sinh (Canada) cũng nhận xét là "sự giải thoát khỏi nghiệp chướng" này thể hiện trong "tiếng đàn sum họp", ấm áp vui vẻ khác hẳn với tiếng đàn não nùng ngày trước. Anh cũng nhấn mạnh cái tài "Việt Nam hoá" của Nguyễn Du trong đoạn tả cảnh đánh đàn: Nguyễn Du đã chuyển 4 câu thơ buồn trong bài thơ Cẩm sắt (không phải Cầm sắt) của Lý Thương ẩn(1) sang 6 câu lục bát vui tươi để tả tác động của "chữ Tâm và Thiện căn". Quả là tiếp biến văn hoá (acculturation) đầy sáng tạo, điều này đúng cho toàn bộ tác phẩm.
1. Nguyễn Du thêm vào, bản gốc không có.
Hữu Ngọc
(Trò chuyện giữa Hữu Ngọc và Nguyễn Quảng Tuân ở Huế)
Hữu Ngọc (H.N): Ngày nay, mọi người kể cả người nước ngoài, đều công nhận Truyện Kiều của Nguyễn Du là một áng văn kiệt tác, tinh hoa của Việt Nam. Vậy mà vẫn có ý kiến cho là chẳng qua đó chỉ là bản sao đem dịch lại "Kim Vân Kiều truyện" của tác giả Trung Quốc Thanh Tâm Tài Nhân. Cũng có một vài sinh viên Việt Nam thắc mắc một cách thành thật, cho đó là "Tầu", không phải là ta. ý kiến của anh, một nhà chuyên nghiên cứu về Truyện Kiều, thế nào?
Nguyễn Quảng Tuân (N.Q.T): Những thắc mắc đó xuất phát từ một nhận xét hời hợt. Đúng là nhìn chung, về cốt truyện, triết lý, luân lý, có những chi tiết Nguyễn Du dựa vào gốc "Tầu", nhưng để sáng tạo ra một cái mới vượt cái cũ.
H.N: Ta hãy tạm gác vấn đề sáng tạo lại đã. Cái thắc mắc đầu tiên là gốc Tầu. Về vấn đề này, cần làm sáng tỏ một quan điểm của "nhân học văn hoá": Tất cả các nền văn hoá đều vay mượn của nhau, không có một nền văn hoá nào thuần nhất cả. Mỗi cộng đồng tự xây dựng cho mình một nền văn hoá để mình sử dụng, vì vậy, khi nền văn học dân tộc A đã mượn mà biến một số yếu tố của văn học dân tộc B để tạo ra một tác phẩm cho chính A thưởng thức thì đó là tác phẩm của A, phản ánh những đặc điểm của dân tộc A.
N.Q.T: Điều này thấy rõ ở những vở kịch của Sếch-xpia, gốc từ nhiều dân tộc. Người ta thưởng thức kịch của một nhà viết kịch Anh chứ không cần biết gốc là ai viết.
H.N: Có lẽ thí dụ điển hình nhất là kịch Le cid của nhà viết kịch Pháp Corueille, thế kỷ 17. Sinh thời, có lúc ông đã bị phê phán là "đạo văn" vì ông đã mượn đề tài, triết lý, chi tiết của tác giả Tây Ban Nha Guilhem de Castro. Nhưng từ hơn 300 năm nay, Le Cid được coi là tác phẩm rất Pháp, phản ánh tư duy, tình cảm, xã hội Pháp. ít ai biết đến tên Guillhem de Castro trừ một số người nghiên cứu.
N.Q.T: Một thắc mắc nữa là: Nguyễn Du chẳng qua chỉ là một dịch giả. Có những câu, từ ngữ, hình ảnh được trích dịch nguyên. Hiểu đơn giản như vậy là chưa biết đánh giá đúng nghệ thuật dịch. Ai chẳng thấy bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm theo sát Đặng Trần Côn mà vượt bản gốc xa.
H.N: Khuynh hướng chung trên thế giới nay coi dịch là nghệ thuật sáng tạo cao. Chuyển ngữ là chuyển cả một nền văn hoá này sang một nền văn hoá khác, không phải đơn thuần là vấn đề "chữ".
N.Q.T: Cứ coi như Nguyễn Du chỉ làm công việc dịch nguyên văn Thanh Tâm Tài Nhân thì Truyện Kiều cũng là một thành công lớn như bà Điểm dịch Chinh phụ ngâm. Giá trị nghệ thuật Truyện Kiều hơn xa Kim Vân Kiều truyện.
Không phải do tinh thần sô vanh, đề cao dân tộc ta, mà chúng ta nhận định như vậy. Một kiệt tác thì phải được dân tộc mình và cả thế giới công nhận. Truyện Kiều đáp ứng tiêu chuẩn này, còn Kim Vân Kiều truyện (Tầu) thì không.
Mặc dù có mạo đề do Thánh Thán bình luận, Kim Vân Kiều truyện ở Trung Quốc cho đến nay ít người biết đến, chỉ là một cuốn tiểu thuyết tầm thường. Tác giả là Thanh Tâm Tài Nhân vẫn chưa biết đích xác là ai, chỉ biết xuất hiện vào đầu nhà Thanh. Đại Liên đồ thư quán lưu giữ được hai bản Kim Vân Kiều truyện không được in lại. Hai lần tái bản về sau, năm 1982 (Nhà xuất bản Xuân Phong văn nghệ ở Liên Ninh) và năm 1993 (Nhà xuất bản Hoa Hạ, Bắc Kinh, trong bộ Minh Thanh Ngôn Tỉnh tiểu thuyết đại quan) đều không có tiếng vang.
Trái lại, Truyện Kiều của Nguyễn Du được phổ biến bằng chữ, bằng miệng, đi vào tâm khảm dân tộc ta.
H.N: Thế còn quốc tế đánh giá hai bản thế nào?
N.Q.T: Kim Vân Kiều truyện chỉ mới được dịch sang tiếng Việt qua hai bản của Nguyễn Đức Vân và Nguyễn Khắc Hạnh (Hà Nội, 1962) và Tô Nam Nguyễn Đỉnh Diệm, Sài Gòn, 1971). Đây là loại sách nghiên cứu ít phổ biến. Kim Vân Kiều truyện không được dịch ra tiếng nước ngoài nào khác, lại ít được biết trong nước thì làm sao có tiếng vang quốc tế được.
H.N: Truyện Kiều của Nguyễn Du may mắn hơn… Nói cho đúng là tác phẩm hay người ta mới dịch và đánh giá cao.
N.Q.T: Truyện Kiều đã được dịch sang tiếng Pháp (7 lần), tiếng Anh (4 lần), tiếng Nga, tiếng Đức, tiếng Tiệp, tiếng Ba Lan… Dịch giả Pháp R.Crayssac viết: "Tác phẩm của Nguyễn Du có thể so sánh mà không thua kém gì các kiệt tác của bất cứ thời đại nào, bất cứ nơi nào…"
H.N: Nghe nói, Truyện Kiều có được dịch sang Hán văn?
N.Q.T: Năm 1954, ở Chợ Lớn, ông Lý Văn Hùng có dịch theo từng đoạn thơ thất ngôn tuyệt cú, nhưng câu chuyện rời rạc, lời thơ không hay… Năm 1958, giáo sư Hoàng Dật Cầu cũng có dịch, nhưng không sao thể hiện được nhịp điệu du dương của lục bát.
Hai nhà nghiên cứu Trung Quốc là Lưu Thế Đức và Lý Tu Chương đánh giá Nguyễn Du như sau: "Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã vận dụng thể lục bát một cách nhuần nhuyễn. Cả tập thơ viết một mạch từ đầu đến cuối, có tung có hứng, lưu loát tự nhiên. Sự xuất hiện Truyện Kiều chứng tỏ nghệ thuật thơ lục bát trong thi ca cổ điển Việt Nam đã đạt tới đỉnh cao của tuyệt mỹ và hoàn thiện".
H.N: Có lẽ một cái hay tuyệt vời, thể hiện hồn Việt, là thể thơ lục bát của riêng người Việt. Nó như tiếng đàn bầu, không tài nào mượn một cây đàn nước ngoài mà thể hiện được. Tôi đã đọc các bản Kiều dịch sang tiếng Pháp, Anh, Đức nhưng quả thật không so được với gốc Việt qua lục bát. Sử dụng ngôn ngữ Việt tài tình qua nhịp điệu lục bát khiến cho Kiều là hơi thở của nhân dân Việt, không thể nói là "sao" của "Tầu". Chỉ riêng thiếu chất ngữ và nhạc Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân đã không đi được vào lòng dân Trung Quốc. Về sáng tạo của Nguyễn Du, so sánh với gốc Trung Quốc, hẳn có nhiều điều khác phải nói.
N.Q.T: Chuyển từ một tiểu thuyết văn xuôi sang thơ, Nguyễn Du lược bỏ nhiều chi tiết dài dòng, vô ích cho sự diễn tiến của câu chuyện. Ông cắt bỏ nhiều đoạn văn thiển thô trong Kim Vân Kiều truyện.
H.N: Bỏ cả những bài thơ đã xen vào giữa truyện, làm đứt mạch kể, khiến người đọc ngày nay rất khó chịu. Nguyễn Thạch Giang, một nhà chuyên nghiên cứu Kiều, tính là Nguyễn Du lược đi 142 trang, tức là hai phần ba Kim Vân Kiều truyện. Nguyễn Du không chia sách thành 20 hồi nữa, chỉ giữ lại 72 trang gốc để viết lại thành 1313 câu trong số 3254 câu của Đoạn trường tân thanh. Số 1941 câu còn lại là do công lao Nguyễn Du viết ra. Như vậy không phải là sách dịch. Nguyễn Du, theo tôi, đã "hiện đại hoá" câu chuyện bằng nghệ thuật sáng tác của mình.
N.Q.T: Anh dùng từ "hiện đại hoá" theo nghĩa nào?
H.N: ấy là tôi chơi chữ thôi! ý tôi muốn nói là thiên tài Nguyễn Du đã xây dựng đươc một tác phẩm đến nay 200 tuổi mà vẫn không "già", đúng "Gout" hiện đại.
Ông nhào nặn lại 1/3 Kim Vân Kiều truyện, thêm vào 2/3, biến một câu chuyện khô khan, lề mề thành một truyện thơ cấu trúc chặt chẽ, có hồn, sinh động, có bề sâu xã hội tâm lý và triết học. Tác phẩm của Nguyễn Du hiện đại ở chỗ cơ bản nó là một tiểu thuyết tâm lý… Những chỗ ông thêm vào là để tả tâm trạng nhân vật, tả tình… Còn "hiện đại" ở chỗ hiện thực tả chân dung và tả cảnh để làm cho rõ nét tâm trạng và tâm lý nhân vật, khắc hoạ tính cách. Thạch Giang nhận xét là Nguyễn Du 15 lần nhắc đến sắc mùa thu, nhưng mỗi lần một vẻ, phản ánh tâm trạng nhân vật mỗi lúc một khác. Tổng thống Mỹ Bill Clinton sang thăm Việt Nam cũng trích dẫn hai câu Kiều tả "thiên nhiên chuyển mùa", từ đông sang xuân, để phản ánh quan hệ Việt - Mỹ, như vậy đủ thấy tính "hiện đại" và quốc tế của Kiều. Tâm lý và hiện thực mà lại lãng mạn, có sắc thái nổi loạn (gái giang hồ Kiều, lục lâm Từ Hải) phải chăng do đó mà Kiều đáp ứng được sở thích của các lứa tuổi và các khuynh hướng văn học của ta. Nguyễn Du còn "hiện đại" ở chỗ dám tả phụ nữ khoả thân, và miêu tả nỗi băn khoăn ám ảnh Kiều suốt 15 năm, một thứ băn khoăn dường như siêu hình về "phận người" (Condition humaire), khá gần nỗi lo âu vô cớ (angoisse) xuất hiện trong nền văn học của cái vô lý (absurde) ở Châu Âu vào đầu thế kỷ 20.
N.Q.T: Kiều của Nguyễn Du không phải chỉ là cái bóng như ở bản gốc. Vì Nguyễn Du gắn tâm trạng của mình vào tâm trạng Kiều, nên xây dựng một tính cách Kiều thật sâu sắc. Kiều của ông có lòng độ lượng, khoan dung, nàng tha cho Hoạn Thư không sai lột trần ra đánh 100 trượng cho đến khi chết ngất như trong bản gốc. Nàng không thích nhìn cảnh hành hình đốt người, đầu rơi máu chảy.
H.N: Kiều của Nguyễn Du không thể thế được. Tài Mệnh tương đố vị chữ nghiệp bàng bạc trong bản Kiều Trung Quốc - được thể hiện một cách độc đáo và sâu sắc trong bản Kiều Việt Nam. Nỗi băn khoăn về nhân thế chỉ được giải quyết sau khi Kim - Kiều tái hợp, "do phép màu nhiệm của cửa Thiền" (Theo Nguyễn Thạch Giang). Vĩnh Sinh (Canada) cũng nhận xét là "sự giải thoát khỏi nghiệp chướng" này thể hiện trong "tiếng đàn sum họp", ấm áp vui vẻ khác hẳn với tiếng đàn não nùng ngày trước. Anh cũng nhấn mạnh cái tài "Việt Nam hoá" của Nguyễn Du trong đoạn tả cảnh đánh đàn: Nguyễn Du đã chuyển 4 câu thơ buồn trong bài thơ Cẩm sắt (không phải Cầm sắt) của Lý Thương ẩn(1) sang 6 câu lục bát vui tươi để tả tác động của "chữ Tâm và Thiện căn". Quả là tiếp biến văn hoá (acculturation) đầy sáng tạo, điều này đúng cho toàn bộ tác phẩm.
1. Nguyễn Du thêm vào, bản gốc không có.
Love mickey,