Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Nữ Sĩ Ngân Giang

0 trả lời, 420 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-11 19:40:45ct.ly>
Nữ sĩ Ngân Giang thượng thọ ở Sài Gòn

Nhân ngày giỗ lần thứ hai nữ sĩ Ngân Giang, một trong số các nữ sĩ rất hiếm hoi trong phong trào Thơ Mới, tôi xin ghi lại một kỷ niệm, một lần may mắn được gặp gỡ và trò chuyện thân mật với nữ sĩ tại TP Sài Gòn. Tình cờ, đó cũng là dịp nữ sĩ lên tuổi thượng thọ!

Thật ngẫu nhiên, trong lúc làm giám khảo một cuộc thi ngâm - đọc thơ ở TP, một cô thí sinh đến báo với tôi rằng: "Mẹ em vừa từ Hà Nội vào thành phố !". Hoá ra cô gái trẻ ấy là con út của nữ sĩ Ngân Giang.


Ngân Giang nữ sĩ

Một buổi chiều cuối tuần đầu tháng sáu tôi dò tìm đến thăm người nữ sĩ lừng lẫy một thời. Đón tôi là một bà cụ người Bắc, vui vẻ, dáng thấp và trông da dẻ còn khoẻ mạnh lắm. Đó là người nữ sĩ mà những ai yêu thơ Việt Nam từ tiền chiến đến nay hẳn đều biết tiếng. Hai mẹ con nữ sĩ Ngân Giang quên cả thì giờ, mẹ đọc thơ, con ngâm thơ cho khách nghe rất hào hứng.

Nhà thơ Ngân Giang (Đỗ Thị Quế) sinh năm 1916 tại Hà Nội, gia đình dòng dõi nho học, bên Nội gốc nhà nho, bên ngoại trực hệ với Chúa Trịnh. Nếu tính theo âm lịch, năm nay (tức 1995) nữ sĩ vừa tròn 80, tuổi thượng thọ! Trên văn đàn Việt Nam hiện đại, Ngân Giang nữ sĩ là một hiện tượng, trong phong trào Thơ Mới, bà lại rất nổi tiếng về... thơ Đường! Những tác phẩm chính của bà: "Giọt lệ xuân" (nhật ký và thơ dưới bút danh Hạnh Liên) - NXB Tân Dân 1932. "Tiếng vọng sông Ngân" - NXB Lê Cường 1944. "Những ngày trong hiến binh Nhật" - NXB Đức Trí 1946. "Những người sống mãi" - NXB Sự Thật 1973. Ba tập "Thơ Ngân Giang" - NXB Phụ Nữ 1989 - NXB Trẻ 1991 - NXB Phụ Nữ 1994. Bà vào Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957.

Tôi đã trao đổi với nữ sĩ:

- Thưa bác Ngân Giang, bài thơ đầu tiên của bác được viết vào năm nào?

- À, lâu quá rồi... Anh cho tôi nhớ lại một chút... Đấy là bài thơ "Vịnh Kiều" được đăng trên báo Đông Pháp lúc tôi vừa 8 tuổi.

- Vậy là... đã hơn 70 năm! Thưa bác, bác vô Sài Gòn lần này là lần thứ mấy?

- Mới lần thứ ba thôi anh ạ! Lần đầu tiên tôi đặt chân lên đất Sài Gòn là vào tháng 5 năm 1937. Hồi đó, cũng như bây giờ, tôi có thói quen làm những câu thơ để lại nơi đang ở trước lúc ra đi. Năm 1937, trước khi vào Sài Gòn, tôi đã để lại Hà Nội hai câu thơ: "Đi cho biết đó biết đây. Sông kia biết mặt, núi này biết tên". Hồi ấy báo giới Sài Gòn tiếp đón tôi rất trọng vọng. Anh chị văn nghệ sĩ, báo chí Sài Gòn thấy tôi trẻ tuổi mà dáng người lại nhỏ nên hay gọi tôi là "nữ sĩ tí hon". Lần ấy tôi ở lại Sài Gòn được khoảng nửa năm. Trước khi rời Sài Gòn trở về Hà Nội, tôi cũng đã để lại hai câu thơ: "Ta về bỏ cảnh lại đây. Sông kia ngơ ngác, núi này bâng khuâng". Bốn mươi ba năm sau, năm 1980 - 1981 được lời mời của nhiều thi hữu, thân hữu Sài Gòn tôi lại vào lần thứ hai.

- Thưa bác Ngân Giang, xin phép được hỏi bài thơ đầu tiên bác đăng trên báo chí ở Sài Gòn là vào năm nào?

- Đó là bài thơ "Lạc nhà" đăng trên tuần báo Mai dưới bút danh Hạnh Liên, đăng ngay khi đặt chân đến Sài Gòn vào năm 1937. Sau đó, báo Điện Tín đăng liên tiếp mười bài thơ Đường của tôi. Thời gian sau, nhuận bút được gởi ra Hà Nội cho tôi là hai mươi đồng. Hai muơi đồng lớn lắm đấy anh ạ, còn nhớ lúc ấy một tạ gạo chỉ có năm đồng!

- Nhà thơ hẳn phải có tâm trạng gì chứ làm sao vô Sài Gòn được đón tiếp nồng nhiệt mà lại gọi "lạc nhà"?

- À, thế này anh ạ, lúc ấy phong trào thanh niên của chúng tôi bị đàn áp nhiều, tôi mới bôn ba vào Nam lánh nạn, chẳng "lạc nhà" thì cũng tha hương !

- Bác là nữ sĩ nổi tiếng về thơ Đường luật cổ phong, vậy bác thấy thơ Đường ngày nay ra sao? Còn sống nổi không?

- Thơ Đường bây giờ à? Tôi nghĩ đã là thơ Đường thì phải chuẩn xác về niêm luật. Bây giờ nhiều người sáng tác loại "thơ Đường" kỳ cục lắm, quên hết nghệ thuật vốn có của thể thơ này. Làm sao thơ Đường có thể chết được nhỉ ! Đấy là thể thơ luôn khơi gợi tình cảm dân tộc đậm đà, rất Á Đông. Anh biết không, những năm tháng trước đây ở Hà Nội, tôi chẳng có được lương hưu đâu, tôi sống bằng thơ Đường đấy. Nghĩa là tôi biên tập, sửa thơ, dạy thơ Đường cho nhiều người, thậm chí, nói anh đừng cười, từng có lúc tôi làm thơ giúp cho người khác. Thế đấy, thơ Đường đã nuôi tôi và tôi lại làm thơ Đường. Tôi nhớ có lần anh Nguyễn Tuân nói: "Đọc mỗi bài thơ Ngân Giang có thể vẽ được một bức tranh!".

- Thưa nhà thơ, vậy là bác chỉ có làm thơ Đường...

- Ấy, tôi cũng làm nhiều ca dao. Trước khi về hưu, tôi làm công tác cổ động ở Sở Văn hoá Hà Nội, mỗi ngày phải viết hàng trăm câu ca dao, tôi ký tên là Ánh Quê. Anh nghe thử vài câu cho vui:

Ai làm cho vỏ nhớ trầu
Cho thuyền nhớ bến cho cầu nhớ ao
Ai làm nắng nhớ mưa rào
Rượu thơ nhớ bạn hoa đào nhớ xuân

Hay là:

Đi gặt nhớ hái chàng ơi
Ra vườn nhớ cuốc, về xuôi nhớ đò
Ngày nắng hãy nhớ ngày mưa
Phơi rơm gẫy rạ cho vừa lòng nhau
Ngõ gần chẳng đợi trăng thâu
Nhà thôn mát sạch thương nhau thì về

- Ca dao của bác Ngân Giang rất tình cảm!

- Vào năm 1950 tôi còn là người phụ trách mục nói chuyện với nhi đồng trên nhật báo Công Tội (Hà Nội) và ký bút danh là "Chị Mến".

- À bác vào lần này, thấy Sài Gòn ra sao?

- Trước khi vào, ở Hà Nội tôi bị ngả bảy bậc thang gác, gảy xương sườn, may mà lại lành lặn. Vào đây lại bị cúm, chưa đi đâu nhiều. Sài Gòn thay đổi nhiều, nhưng thú thật với anh, tôi là con người của quê hương, nên rất nhớ Hà Nội . À mà thế này nhé, để cháu Hoài Anh ngâm thơ cho chúng ta nghe...

Buổi chiều tối giữa mùa hè Sài Gòn trời chuyển mưa vần vũ, trong một ngôi nhà nhỏ kề khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, một nữ sĩ "thượng thọ" và hai người trẻ ngồi ngâm thơ bên cốc rượu quý của nữ sĩ vừa rót ra đãi khách. Cô gái út cất giọng ngâm bài thơ "Cung đàn hai ngả" mà mẹ cô viết từ năm 1945, khi cô chưa ra đời:

Gối kiếm đêm dài khách nhớ quê
Ngừng kim chinh phụ thấy ai về
Chao ôi ! Cũng tiếng đàn mưa gió
Cả bốn phương trời khóc biệt ly

Tháng 6.1995 – 8.2004
HỒ THI CA

Nữ sĩ Ngân Giang tự bạch



Tuổi cầm bút của tôi gần bằng tuổi đời. Những truân chuyên, điêu đứng của tôi lại hơn cả tuổi đời và tuổi cầm bút. Tôi yêu nhân dân, dân tộc và xã hội vô cùng. Tôi thường có suy nghĩ: nếu đã là nhà thơ, nhà văn, nhà sáng tác... thì khi cầm bút phải biết phục vụ cho dân tộc, cho xã hội, sẵn sàng quật khởi chống lại giai cấp thống trị và bạo lực; tha thiết hy sinh cho xã hội, dân tộc và hòa bình nhân loại. Chính vì vậy, khi một bài thơ, một sáng tác ra đời đó chính là tiếng nói từ tình cảm từ tâm huyết của chính mình trong từng giai đoạn. Do đó phải được chuẩn xác từng từ, từng điển tích, điển cố phải được chọn lọc. Bài thơ, bài văn phải có một bố cục chặt chẽ như một bức tranh có chủ đề rõ ràng để người đọc, người xem có một cảm xúc thật bất ngờ; để mãi mãi được lưu giữ trong kho tàng văn học của dân tộc và của cả nhân loại.

Nếu vậy nhà thơ, nhà văn, các nghệ sĩ phải biết tránh xa quyền và lợi. Chỉ có vậy nhà văn, nhà nghệ sĩ mới đạt được mục đích làm đẹp cho dân tộc và nhân loại.

Nhận định

Làm sao có thể quên được một dòng sông Ngân đầy khát vọng ấy trong văn học Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám với những bài thơ thành công về nhiều mặt, đặc biệt là đề cao tinh thần dân tộc, lòng yêu nước của Ngân Giang? Vẻ như nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã có phần "bất công" khi không xếp Ngân Giang vào "Thi nhân Việt Nam" trong khi cả Mộng Tuyết, Vân Đài, Hằng Phương được lựa chọn... Âu đó cũng là số phận của Ngân Giang vì nửa đời phía sau của bà còn gặp nhiều bất hạnh hơn nữa. Suốt mấy chục năm bà sống bằng nghề bán chè chén bên căn nhà lụp xụp ngoài bãi sông Hồng nhưng bà vẫn sống với một niềm tin mãnh liệt vào thơ ca. Quả thật nói như một câu thơ Phùng Quán, bà cũng luôn phải "vịn vào thơ để đứng dậy". (báo Lao Động)

Chùm thơ nữ sĩ Ngân Giang

Trưng Nữ Vương

Thù hận đôi lần chau khoé hạnh,
Một trời loáng thoáng bóng sao rơi.
Dồn sương vó ngựa xa non thẳm,
Gạt gió chim bằng vượt dậm khơi.
Ngang dọc non sông đường kiếm mã,
Huy hoàng cung điện nếp cân đai.
Bốn phương gió bãi lùa chân ngựa,
Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai.
Máu đỏ cốt xong thù vạn cổ,
Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai.
Hồn người chín suối cười an ủi,
Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi.
Lạc tướng quên đâu lời tuyết hận,
Non Hồng quét sạch bụi trần ai.
Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận,
Gót ngọc gieo hoa ngát mấy trời...
* * *

Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa,
Giáp vàng, khăn trở lạnh đầu voi,
Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá,
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi...

1939

Tiếng vọng sông Ngân

Gió lên chạm đường tơ,
Trăng lên hồn vào thơ.
Những ai qua xứ trăng vàng đấy,
Có thấy muôn hương dậy trái mùa?
Dương cầm dâng nửa khúc,
Năm hướng hoa xô đến một bờ.
Tay ngà buông, bắt ngẩn ngơ
Con thuyền lạc nẻo bơ vơ sông Tần.
Trầm xây khói biếc,
Mộng nhắc tiền thân,
Lối đào vô hạn mấy lần hoa rơi...
Tám nẻo sông Ngân sao lấp lánh,
Một vùng trăng nước sóng chơi vơi...
Hương xưa ngát đến tuyệt vời,
Năm giây: một tiếng than dài nghìn thu...
Quán nước bên đường
Một quán bên sông cuối phố nghèo
Miếng trầu bát nước có bao nhiêu
Sự đời hay dở khoan bàn đến
Lá rụng quanh thềm gió hắt hiu
Hoa rụng không về một nẻo sương
Ngồi đây quán vắng, vắng bên đường
Gió đông hắt lạnh đôi gò má
Chiều quạnh buông dài những giọt sương
Sớm tối vài ba đồng vốn liếng
Tháng ngày dăm bảy khách văn chương
Ôi năm cứ hết, xuân không hẹn
Vục cát chân cầu bỗng xót thương.
1936





📎 Ngan Giang
Đăng nhập để trả lời
0