📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Câu “thần chú” dưới rặng trâm bầu

0 trả lời, 14 lượt xem — Trang 1 / 1
Câu “thần chú” dưới rặng trâm bầu

Lê Giang

Tác giả ca khúc nổi tiếng “Rặng trâm bầu” - nhạc sĩ Thái Cơ - vừa mất ngày 1-4-2004 tại quê nhà (Làng Đông Cao, xã Tây Tiến, Tiền Hải, Thái Bình). Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài viết sau đây của nhà thơ Nam Bộ Lê Giang về một vài kỷ niệm với nhạc sĩ Thái Cơ.

…A đây rồi! Số 828 đường Trương Định, Hà Nội(1) trang báo hiện lên tấm ảnh nhạc sĩ Thái Cơ đang ở, và ảnh anh đang cười. Nụ cười chơn chất quá thể, nụ cười giống như ngày đầu giải phóng vào Sài Gòn, bắt bạn anh “chở mình đi xem cho biết mặt mũi cây trâm bầu”. Không biết anh nghĩ gì khi đã nhìn thấy mặt mũi thật của cây trâm bầu hoang dã với những chùm bông tiệp màu xanh như lá, thân thể đầy gai sắc nhọn!? Chắc là anh tự phục mình tưởng tượng giỏi nhỉ? Trữ tình và yêu thương lãng mạn nhỉ?(2).

Chớ còn gì nữa! Ngày gặp anh lần đầu, tôi mải lo cơm nước đãi khách Hà thành nên chưa kịp kể anh nghe. Nay đã trải qua gần 30 năm, chợt nghe bệnh tình đã khiến anh vô tâm, hờ hững với tất cả những giai điệu nồng nàn thơ mộng anh gởi vô phương Nam thời kỳ chiến tranh giữ từng tấc đất trắng với giặc. Anh quên cả những dãy điện lung linh khi Hà Nội đã lên đèn mà một thời tuổi thanh xuân của con trai con gái miền Nam hát vang trên đất Bắc!?(3). Có lẽ anh không còn hơi sức đâu mà nhớ nữa. Hay là anh nhường cho bạn bè nhớ, anh nhường cho bọn trẻ thi nhau hát về Rặng trâm bầu của anh. Trời ạ! Biết đâu khi nghe lại tự đáy lòng mình anh sẽ không còn vô tâm hờ hững nữa, anh sẽ nhớ ra từng giai điệu hiền hoà của anh!?… Trong cuộc sống của chúng ta, đã có những người tự dưng không nói được cả 20 năm trời; không còn nhìn thấy ánh sáng cả chục năm trời - lại bộc phát nói ra, lại bán tín bán nghi hình như mình đã nhìn thấy chéo áo ai phất phơ trong vườn!

Cầu cho cuộc sống ban phúc lành cho anh Thái Cơ!

… Có một ngày tưởng như đã rất xa. Chúng tôi vừa trồi lên từ một cái trấp. May quá, không ai bị chìm nghỉm xuống cái chảo sình khổng lồ không đáy. Anh biết không, nếu bốn năm người không cùng nắm tay với động tác bơi lội thì sẽ lún sâu trong bùn như một con kiến té trong tô bột. Những cái trấp trớ trêu ấy là cái bẫy cho những loạt pháo bầy của kẻ thù tìm diệt chúng tôi.

- Điểm danh! Đủ!

Chúng tôi lăn trong bùn như những con tôm tẩm bột, và cứ thế hành quân lụi đụi, ì ạch lê bước ngứa ngáy, ròng rã tới tờ mờ sáng. Vừa lóp ngóp đói lả, vừa bị sốt rét run bần bật, vừa bị những cơn đau tái phát do đòn độc hiểm trong các nhà tù… Thì, chàng giao liên có đuôi mắt xếch con nhà tướng khoát tay ra dấu dừng lại rồi phát lệnh qua kẽ răng:

- Ta nghỉ ở đây tới mặt trời khuất mình. Đề nghị từ giờ này mấy cô mấy chú án binh bất động dưới… các gốc trâm bầu. Phía trước là sông, tàu giặc tuần tiễu suốt ngày, có thể bất ngờ đổ quân lên bờ tìm hốt gọn chúng ta. Một lát nữa đây, đầm già sẽ thay phiên lên quần đảo phát hiện dấu vết. Cháu nhắc lại mấy cô mấy chú không được động tịnh, vì nơi đây không có cây gì khác ngoài cây trâm bầu còn sống sót, nhưng mùa này sâu ăn hết lá không che kín nổi số quân ta. Địa hình ta sắp trú quân giống như một cái “Giò heo”: bên trái có mương rau muống mọc lan, khi múc nước uống không được khoả nước rung rinh, không được thò chân tay hay khoát nước rửa mặt, mấy ngày trước có cặp cá bông hượn lên cắn một chú đi đời hết ngón chân cái. (Chẳng có ai xì xào hoặc tỏ ra hãi hùng gì, chắc là ngán ngẩm một nỗi là cái gì cũng không được… không được!)… Bên phải chúng ta là bãi rú đã cháy khô, không có gì để kiếm ăn. Cháu xin nhắc lại, cái “Giò heo” như một cái bờ đắp, cũng là địa hình hờ cơ cho giặc không sinh nghi, tuyệt đối không được nhóm lửa, xúm xít hút thuốc. Suốt ngày nay chỉ ăn gạo rang và cơm nắm hôm qua. Chiều tối sẽ có người đến đón. Hành trình ngày nào biết ngày đó. Chúc mấy cô mấy chú nghỉ lấy sức, thượng lộ bình an!

Chàng trai nói có lớp có lang như đinh đóng cột, như đang kể chuyện “đi tìm kho báu”, xong giụm chân giơ tay chào cái rụp.

Giờ thì trong sắc trời tang tảng mờ sương, chúng tôi - như bao ngày hành quân đã qua, mỗi người tự chọn cho mình một gốc cây với bầu kinh nghiệm nắng chiều nắng sáng, mưa đông gió tây…

ý! Một loạt súng F.M. nổ giòn trong khi chúng tôi vừa lắp đầy thân thể hết xí quách của chúng tôi lên cái “Giò heo - Rặng trâm bầu”. Chẳng ai hó hé một lời nào, chúng tôi nhìn nhau: hay là chàng trai đi với chúng ta suốt đêm qua đụng biệt kích rồi!? Chúng tôi nhìn nhau dáo dác như ai cũng đang tìm!

Anh Thái Cơ!

Đoàn người đang đi về miền Tây của Tổ quốc, phần lớn là những anh chị em của chúng ta vừa chiến thắng từ các nhà tù Mỹ - Ngụy trở về, chắc chắn không một thân thể nào còn nguyên vẹn. Vừa tung cánh sổ lồng, họ nhìn bầu trời mặt đất, đâu đâu cũng biểu lộ tình yêu thương và hết lời trầm trồ. Vì vậy, sá chi bị nhét vô cả ngày trên cái “Giò heo” quái đản. Họ cũng không hơi đâu để ý suy ngẫm nọ kia. Họ tuyên bố, khi đã nhìn thấy sông nước quê nhà rồi thì “chơi kiểu nào tao cũng tới bến!”. Đường về đã gần lắm rồi, sợ gì mình mẩy áo bùn, tay chân lem luốc, ở sạch chi cho cá bông sực ngón cẳng… Hà… hà… hà!

Chỉ có ba chúng tôi! Vâng! Ba đứa chúng tôi thuộc cánh chim trời từng bay liệng tự do, chưa nếm trải đòn thù, thân thể hãy còn đầy đủ dáng vóc cha mẹ sinh thành. Chúng tôi nhổ neo giong buồm cùng họ do một cơn gió giật chớp giăng mà bỗng chốc hoá thành loài chùm gởi bám vào những cây phong ba. Nhứt là tôi! Là tôi - bao giờ cũng rên rỉ tệ hại! Ba chúng tôi: một cặp vợ chồng và một người bạn tay chân nguều ngoào, vì vốn là biên đạo múa!

Chúng tôi cùng ngồi bên nhau dưới một gốc trâm bầu chia ngăn chằng chịt rễ. Như “chơi nhà chòi”, chúng tôi chọn mỗi ngăn để nón và giày dép, trải nilon làm phòng ngủ trên ngăn rễ nào ít cộm, rồi treo lên cháng ba như gác lửng nào bồng, nào bình toong, súng ống. Xong “nhà cửa” lại “án binh bất động” ngồi bên nhau, buồn tay gỡ cho nhau những mảng bùn bám khô trên tóc, trong lỗ tai… tẳn mẳn tằn mằn như vô thẩm mỹ viện. Giây phút lãng mạn đó cũng chẳng là bao, ngoài sông bo bo giặc đã lên ù u ù u gió đưa gió đẩy, trên đầu mấy con mẹ đầm già cũng bắt đầu sàng qua sàng lại kêu réo đầu hàng. Còn trên cái “Giò heo” thì những người chiến thắng vẫn màu đất bết khô mốc thít đang kê đầu lên vai nhau mà thực hiện điều lịnh của anh chàng giao liên có đuôi mắt xếch con nhà tướng.

“Cho em hỏi rằng có ở nơi đâu? Bát ngát xa trông những rặng trâm bầu. Rặng trâm bầu như nơi quê hương em yêu dấu… Rung rinh lá ngụy trang xanh xanh thẳm một màu…”(*).

Nỗi cao hứng vô cùng lãng mạn tưởng như ru hồn tôi bay lên từ cái chảo sình suýt bỏ mạng tối qua, tưởng như bài ca “Rặng trâm bầu” vẫn sẽ thầm thì to nhỏ với tôi… nhưng:

- Ê! Trực thăng lên rồi đó nghen! Đừng động đậy mấy cha mấy mẹ ơi! Coi chừng nó đổ quân, có xe tăng ngoài trảng rú. Nhớ không được động mặt nước mương rau muống. Lịnh truyền dài dằng dặc từ mấy cái “móng heo” cho tới mút cái “Giò heo”, cứ xì xào, rì rào khiến tôi từng chặp, từng chặp bủn rủn tay chân. Lòng hoang mang sợ chúng nhảy dù và M.113 sẽ chận khắp như giậm cù bắt chuột. Tôi ôn lại những cực hình mà các nữ tù trên đường đi đã thuật lại cho tôi nghe, tôi nhớ mấy chị em mình bị tra điện, khi trời sấm sét chuyển mưa, các cô gái trẻ giãy đành đạch trên các vũng nước dọc đường hành quân…

… “Cây trâm bầu cắm sâu vào lòng đất, ôm ấp bờ kênh dài, sóng dồi mà cây vẫn hát”(*).

Không! Tôi hát chớ không phải cây hát. Tự nhiên lòng tôi bỗng hát. Tôi hát cho mình được vuốt ve, cho tiếng phành phạch của mụ phù thủy trên đầu tôi và tiếng bo bo ù u ngoài sông Cái không doạ dẫm tinh thần tôi. “Hơ! Mưa nắng dãi dầu thêm trăm quý ngàn yêu” (*). Và, nghe lòng hiu hiu sảng khoái tôi ngước nhìn lên cái gọi là “Rung rinh lá ngụy tang xanh xanh thẳm một màu”(*). Ôi trời đất thánh thần ơi! Tôi chạy đâu bây giờ? Chúng ngó tôi lom lom, mình trắng như vôi, hai mắt đen xì. Tôi quíu hết chân tay, nằm vật xuống như một kẻ đầu hàng vô điều kiện. Bạn đời tôi hốt hoảng nói hình như em lên cơn sốt, nằm lên đùi anh nè, anh đắp lại cho! Tôi vừa chỉ lên trời vừa đánh bò cạp nói anh đắp kín hết cho em, em sợ lắm! Anh vừa lấy tấm vải dù pháo sáng vừa tấn ém cho tôi vừa lầm thầm như đọc kinh sám hối - Tay chân lạnh ngắt đây nè, em có bị sốt rét bao giờ đâu, sao nay em xuống tinh thần quá vậy? Tôi lại tòi cái tay ra và chỉ lên trời. Anh nói ờ thì đầm già, mọi khi B.52 em còn chạy ngờ ngờ trên mặt đất… chỗ mình ém quân địa thế hờ cơ… Tôi lại chỉ lên trời và hình như tôi thút thít khóc: Bộ anh không thấy sao!? Anh bỗng vội vã trùm lên tôi kín hơn và nghiêng sát tấm ngực xương xẩu như thể che bom đỡ đạn… (Mấy ngày sau, được mắc võng trên ngọn cây Tràm Dưỡng, anh cười ngất khi lần đầu tiên thấy người đàn bà của mình xuống tinh thần tồi tệ chưa từng có). Tôi dặn anh khi nào có con sâu trợt chân té xuống… anh đừng cho em biết… anh làm thinh… anh bắt nó liệng xuống mương cho cá bông táp nó. Chắc là anh đang cười, kiểu cười ê chề, khổ ải chỉ mình anh có. Có lẽ vì vậy mà tôi bám riết đời anh…

Còn anh Thái Cơ! Chắc anh cũng cười tôi phải không? Anh đã nghe ra rồi chớ gì? Vâng! Thì anh cứ cười thích thú nhé!

… “Rung rinh lá ngụy trang tươi xanh giữ vẹn màu…”(*). Tôi bực bội - Cha căng chú kiết, dóc tổ! Tôi vừa cằn nhằn vừa co rúm lọt thỏm trong lòng anh, chẳng cần ý tứ cái con khỉ gió trước ba quân. ở đời, mỗi một người đều có một cái gì để khiếp hãi. Tôi sợ sâu có tiếng, đã lẫy lừng trong làng chiến đấu chống ngoại xâm… Vậy mà hết nửa đời tôi đã mải mê ở rừng. Thuở nhỏ, mỗi mùa má tôi tát đìa làm mắm, tôi sợ dòi đến nỗi bị đòn bị bọng liên miên vì cái tật tôi đi lòng vòng tránh né những dãy lu hũ, mái đầm mái vú muối cá lúc nhúc dòi. Vậy mà cho đến bây giờ, dân Cà Mau như tôi vẫn không biết ăn mắm!

Vâng! Cái thân hình bồ tượng của tôi đã bị thun lại còn nhỏ xíu đủ gọn lỏn trong lòng anh như con chim én bị gãy cánh nằm trong lô cốt. Anh dở mí võng đưa cho tôi mấy cọng mì ăn liền. Tôi xô tay anh ra, muốn oà lên một cơn khóc cho đã nư oán trách cho số phận con người. Anh an ủi em hãy ráng lên, chúng là loài sâu bọ, bất quá nó chạm vào da ngứa ngáy. Trời đã đứng bóng rồi, bo bo đầm già đã về ăn cơm trưa…

… “Mênh mông biển rộng gió lộng từ nơi đâu? Gió mát xa đưa tắm rặng trâm bầu. Cây trâm bầu che sương che nắng…”(*).

Tôi cựa mình, mỏi tê, rên ê ẩm sau cơn bị chúng rượt đuổi khủng bố tinh thần: một bầy ngo ngoe trắng móc, ú na ú núc bằng ngón tay cái. Chúng đang đo đạc nhau, búng rẩy, quấn quýt xà nẹo. Chúng cỡi nhau đánh đu toòng teng doạ dẫm tôi. Tôi chống xuồng ào ào rẽ nước chạy khỏi mương rau muống. Tôi vọt ra sông Cái. Ôi, mát quá, gió quá! Mùi bom xăng khét lẹt - Những con sâu trâm bầu trắng muốt bị giặc Mỹ bỏ bom napan xuống cái “Giò heo” đã thui chúng.

… “Mưa nắng dãi dầu thêm trăm quý ngàn thương”.(*)

- Dậy em! Bộ chiêm bao thấy dữ tợn lắm hả? Mặt trời lặn rồi. Chuẩn bị đêm nay vượt lộ. Anh vừa nói vừa lau mồ hôi đầm đìa trên trán trên mặt tôi. Tôi để cho anh lau như tôi lau mặt cho cháu tôi khi chúng ở nhà trẻ về. Tôi bể nghể nhìn lên tàng lá rặng trâm bầu, chắc là chúng đã đi ngủ, chỉ còn lại từng chấm, từng chấm thưa thớt động đậy vài ánh lân tinh.

Tôi đứng lên, nai nịt, xăn quần, chống gậy nghe lịnh mới:

- Các đồng chí chú ý! Đêm nay bằng mọi giá, ta phải vượt lộ Cái Sắn. Xe giặc tuần tiễu “con kiến chui qua không lọt!”. Các đồng chí không được ho (Bỗng có tiếng ho). Không được giũ nilon sột soạt, va chạm bình toong, súng ống. Giờ ta bắt đầu lên đường, ém quân trong vườn nhà dân. Khi nào có “tiếng chim gõ kiến 3+2” thì đồng loạt băng qua.

Vâng! Chẳng ai thấy rõ “tướng trời” nào ra lịnh, chỉ nghe tiếng lào xào của đàn lạc đà lầm lũi thiện chiến vô song.

… “Tổ quốc yêu thương. Đất Mẹ thơm hương. Luyện nên ý chí”(*).

Chúng tôi đã ra khỏi cái móng “Giò heo” cuối cùng. Mùi trái cây chín bói trong vườn toả ra thơm ngọt khoẻ khoắn làm sao. Chúng tôi bước từng bước rón rén lên nền lá cây mềm ướt ẩm mục hơi sương, mùi chua chát, mùi cỏ dại… Mùi của khu vườn bỏ hoang đã chứa chấp che chở chúng tôi - Cái “mùi đời” nói sao cho hết.

Anh Thái Cơ! Tôi lẩm nhẩm bài hát của anh như đọc một tràng dài câu thần chú phù hộ độ trì.

Một loạt đèn pha tuần tiễu quét sáng khắp khu vườn. Một chú chim giật mình vỗ cánh, một loạt súng R.15 giòn tan. Anh em ta vụt biến thành một dãy gò mối mọc lên từ lòng đất im ắng bất động. Rồi những cái gò mối vụt tung lên khỏi mương vườn, bay lên mặt lộ khi nghe tiếng “chim gõ kiến 3+2”.

Anh Thái Cơ! Anh đã nghe tất cả rồi chớ gì! Chuyện này hay lắm phải không anh? Anh không được phớt lờ tỉnh bơ đâu nhé!n

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng Giêng 2002



(1) Bài nhạc sĩ Thái Cơ của Phạm Khải - báo An ninh thế giới cuối tuần, 6-1-2002.

(2) Bài hát “Rặng trâm bầu” của nhạc sĩ Thái Cơ sáng tác 1973.

(3) Bài hát “Khi thành phố lên đèn nhạc sĩ Thái Cơ sáng tác năm 1972.

(*) Tất cả các hoa thị là lời của bài hát “Rặng trâm bầu”.

(Phụ bản thơ báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0