Thường dân của Nguyễn Long
Đỗ Trọng Khơi
Dẫu đi cuối đất cùng trời/ Về làng ta vẫn là người nhà quê... Chuyên chú với mối lòng ấy, dù tác giả là người từng trải cuộc sống đó đây, cả ở nước ngoài nhiều năm, điều này cho thấy câu thơ trên như một tuyên xưng quan niệm tình yêu và cung cách sống. Và cho thấy dù anh có ra đi bao xa, bao lâu thì vẫn canh cánh nhăm nhăm cho sự trở về. Tất nhiên, cuộc trở về không chỉ để chứng minh tình thuỷ chung với cội rễ sinh thành mà là trở về với sự trưởng thành qua dâu bể cuộc đời cho sự hoá thân nhập phận với quê hương sâu sắc và triệt để hơn. Qua đó cho thấy tình thuỷ chung, tha thiết với làng quê trong thơ Nguyễn Long vừa mang tính cội rễ tự thân vừa có tính lý tưởng. Nguyễn Long đã mang hết năng lực thơ ca để ngợi ca xây dựng cho cuộc tình này.
Cái làng quê - đối tượng tình yêu, đề tài nguyên nhất của thơ Nguyễn Long ở đâu? Là làng An Để quê sinh anh? Làng An Để là một cụ thể khởi nguồn, và chắc chắn nó chỉ là một tượng trưng cụ thể hoá cho một không gian làng quê rộng lớn và thẳm sâu nguồn cội. Văn hoá - làng là cơ sở cho tâm hồn thơ ca của anh. Thơ lục bát Nguyễn Long mang khá rõ cái cốt cách, nếp nghĩ và cách ứng xử với cuộc sống của người nhà quê. Những con người sống kham nhẫn mà thật thà, mộc mạc... tâm cách người nhà quê có thể hoạ hình qua hạt thóc, củ khoai, thứ sản vật cốt tử đời đời của họ. ấy là thứ tâm cách trong vóc dáng khiêm nhường mà thô ráp. Nhưng đó là một vóc dáng tích chứa trong nó bao nắng mưa cùng với nước mắt mồ hôi cho cuộc tạo vần thời gian mùa vụ. Từ góc thi ảnh làng quê này mà quy chiếu, mà khái quát sẽ nhìn ra những sự thật - giả, còn - mất của lịch sử đời sống mùa màng. “Mảnh mai cây lúa cũ càng/ Vẫn làm cột trụ chống làng ngàn năm...”. Hình ảnh “cây lúa” ở đây, sự thực đó cũng là hình ảnh “con người - làng”. Một sự “mảnh mai” mang vị thế cột trụ. Một vị thế xót xa mà có tầm vóc lớn lao.
Lấy chất liệu làng quê làm nền và tạo giọng cho thơ là một lựa chọn thuỷ chung và dũng cảm của Nguyễn Long. Rất mừng giọng thơ lục bát Nguyễn Long đã vượt qua tính thuần tuý tự nhiên của tình cảm và tính khuôn thước của mô hình để vươn tới tính lý tưởng thế cuộc và suy nghiệm nhân sinh. Đặc điểm này đã tạo cho thơ anh một giải pháp nghệ thuật, làm cơ sở khám phá tiểu sử - thân phận con người cá thể cho việc xây dựng một lịch sử của thời gian tình yêu và làm cho việc khơi lộ bản chất tự nhiên trong tính bản ngã con người. Hành trạng tinh thần này được thể hiện khá rõ, xuất phát từ điểm trụ: Khổ quen rồi hoá như đùa/ Hội làng nhộn nhịp như chưa đói nghèo... (Làng vào vụ gặt) tới nhận thức có tính lý tưởng: Về quê chỉ một con đường/Từ quê đi được chín phương đất trời... (Xuân sang) và rồi dẫn đến suy nghiệm có tính siêu thoát vượt lên khuôn thước mô hình và tính lý tưởng thế cuộc: Trải bao dâu bể cuộc đời/ Chân mòn trong cõi khóc cười nhân gian/ Bão hoà vinh nhục hèn sang/ Ta ngồi mơ cõi niết bàn tuổi thơ... (Bao giờ)... Giấc mơ trở lại tuổi thơ con người, sau những trầm luân dâu bể là một phát biểu về bản thể sâu sắc, do vậy, nó đã vượt qua tính lý tưởng thế cuộc. Tất nhiên, cõi tuổi thơ trong ước mơ trở lại ở đây là cõi tuổi thơ đã trưởng thành qua dâu bể, nhưng nó vẫn giữ vẹn sự nguyên khôi trong sáng mà nó vẫn tươi sức đời.
Từ cơ sở trải nghiệm: Mơ giấc về tuổi thơ con người, tập Thường dân mang hai khuynh hướng tiếp cận tới bản chất đời sống. Một là mảng thơ về đời sống hiện thực, hai là mảng thơ đậm dấu vết lão thực, siêu thoát trở về với hồn nhiên ban sơ.
ở hướng thể hiện đời sống dân tình thực tại thơ Nguyễn Long tâm huyết với những lo toan khắc khoải và trách nhiệm dựng xây. “Từ ngày còn ở rừng sâu/ Đã mong ước sẽ làm giàu cho quê...” (Bạn về trụ lại ở làng)... Trách nhiệm dựng xây quê hương còn xuất hiện cả trong ý niệm sáng tạo nghệ thuật: “Mong manh thơ giữa dòng đời/Cố làm khô bớt mồ hôi đất này...” (Bạn thơ). Nỗi lo toan và ý thức trách nhiệm có khi trĩu nặng... “ở đâu tiền nọ tỷ kia/ Làng giờ hạt thóc vẫn chia mấy phần...” (Làng vào vụ gặt)... và từ thẳm sâu có tính truyền kiếp cõi người: Kiếp làng trĩu chiếc đòn cong/ Đời con gánh tiếp lưng còng đời cha... (Kiếp làng). Hướng thơ này đã đưa hồn thơ Nguyễn Long gặp gỡ, chia sẻ tới từng số phận con người cụ thể. Những số phận người thường dân nhỏ bé như những người thím, người bạn lính, em gái đi làm ô sin... Và ở hướng tiếp cận này, khi tả về cây cỏ - thứ cây cỏ vun trồng lên từ con người và nó đã trở thành “cột trụ” cho ngôi nhà - làng, tình thơ Nguyễn Long cũng đã thể hiện được sức tương tác cộng sinh với niềm nghĩa ân chân thực và xúc động. Mảng đề tài về làng quê trong thơ Nguyễn Long, do vậy, được thể hiện cụ thể ngay ở hình thức tiêu đề và số lượng bài. Tập có 25 bài, thì có 8 bài tiêu đề có chữ “làng”. Và hơn thế, hình ảnh “làng” trong thơ anh còn biểu hiện với quan niệm tôn giáo: Kiếp làng. Cái “kiếp” trong cuộc luân hồi ngàn năm những phận người bùn két bàn chân bốn mùa; Còn mong tới được kiếp sau/ Gặp con người sống với nhau nhân từ... Và cái “kiếp” trong cuộc xoay vần thời cuộc có khi xảy ra ngay trong cảnh đương kiếp: Chửa trăm năm đã đảo xoay mấy lần hay Chưa qua một kiếp hồn thay mấy lần... Viết về người làng quê của thơ Nguyễn Long có một yếu tố cấu thành, thể hiện về con người cụ thể khiêm nhường, hay việc sử dụng chi tiết đời sống câu thơ vẫn mang trong nó rất rõ tâm trạng xã hội. Sức khái quát ở thơ anh do vậy đã có được tầm vóc.
Hướng bút thứ hai trong tập Thường dân là hướng mang tinh thần trở về với cội nguồn ấu thơ, tính hồn nhiên của tuổi người: “Học làm thằng bé cỏn con/ Trải bao mưa nắng vẫn còn vô tư...” (Học) tinh thần trở về với tuổi thơ để được hồn nhiên vô tư, thanh thản trước cảnh “Trắng đen thế thái nhân tình” không phải là một tinh thần phó mặc, chán chường tiêu cực, mà nó được phát hiện và phát triển mạnh mẽ do có nhận thức chân lý và tính quy luật bản thể - tinh thần sống. Loạt bài thể hiện hướng thơ này là Về làng, Xuân sang, Học, May mà, Bao giờ... bằng giọng lục bát giản dị (và có phần đơn sơ) dễ lưu vào trí nhớ bạn đọc ở tình thấm thía suy ngẫm qua những câu thơ như những định đề, kiểu: “May mà còn có dòng sông/ Chảy xuôi đi những cái không là đời...” (May mà), hay, Trăm lần triết lý nông sâu/ Để ta về lại với câu thật thà... (Về làng)... Tuy nhiên với quan niệm sáng tác này thơ Nguyễn Long cũng đã mắc phải điểm hạn chế do chính mình đặt ra. Sự “thật thà” trong cảm xúc, sáng tạo luôn có nguy cơ tạo ra một khuôn thức hẹp cho biên độ biểu tượng và trong cái “khuôn thức” này tính ảo của thơ rất ít có vùng cư trú. Mở rộng biên độ biểu tượng, tạo không gian ảo, tính ẩn dụ cho thơ là một đòi hỏi cần có trong thơ Nguyễn Long ở chặng đường sáng tác tiếp theo.
Bài thơ kết hợp trọn vẹn trong nó cả hai hướng bút ra đi hoà nhập vào đời sống hiện thực và hướng trở về - mơ giấc mơ tuổi hồn nhiên siêu thoát, là bài Thường dân. Thơ viết về lớp người thường dân, vị trí sống thì đơn hẹp mà khả năng tạo lập cuộc đời thì lớn lao. ở đây tính hiện thức, thân phận, và biên biểu tượng, ẩn dụ được kết hợp hài hoà. Lớp người thường dân được thể hiện đúng vị thế, tầm vóc của họ. Khi ra đi - nhập cuộc thì làm cây mác cây chông, thành biển cả...; khi trở về với làng quê quên điều thế sự thì “Thấp cao đâu có làm chi/ Ngàn năm cỏ vẫn xanh rì đó thôi...” Và tiến tới lựa chọn cuối cùng trong quan niệm nhân duyên “Hoà vào trời đất mà xanh/ Vô tư mấy kiếp mới thành thường dân...” Sự ẩn dụ, biểu tượng trong bài thơ có chỗ còn được thể hiện, cài đặt rất sâu và tinh vi chỉ qua một chữ, ở câu thơ “tác tao sau những vũ vần bão giông”, đó là chữ SAU. Luật tự nhiên thiên nhiên “sau - bão giông” còn là mưa đền cây cơ mà?! Bài Thường dân quả là bài thơ hay nhất của tập thơ và nó là bài tiêu biểu cho phong cách thơ Nguyễn Long.
Trong cuộc ra đi hoà mình vào đời sống xã hội “Học làm người của bốn phương” với mục đích rốt ráo để trở về “Sống giữa đời thường là ta”, sống đúng mình, thật mình hơn. Đây là một hành trình ra đi để rồi trở lại của một thường dân - Lão nông đậm màu lão thực. ấy là cuộc hành trình nhằm đến sự trưởng thành hơn tuổi thơ - tính hồn nhiên con người. ấy cũng là đòi hỏi trở lại đạt đến sự hồn nhiên, bình dị của chân lý nghệ thuật.n
21-6-2004
Đ.T.K
(Phụ bản thơ báo Văn nghệ)
Đỗ Trọng Khơi
Dẫu đi cuối đất cùng trời/ Về làng ta vẫn là người nhà quê... Chuyên chú với mối lòng ấy, dù tác giả là người từng trải cuộc sống đó đây, cả ở nước ngoài nhiều năm, điều này cho thấy câu thơ trên như một tuyên xưng quan niệm tình yêu và cung cách sống. Và cho thấy dù anh có ra đi bao xa, bao lâu thì vẫn canh cánh nhăm nhăm cho sự trở về. Tất nhiên, cuộc trở về không chỉ để chứng minh tình thuỷ chung với cội rễ sinh thành mà là trở về với sự trưởng thành qua dâu bể cuộc đời cho sự hoá thân nhập phận với quê hương sâu sắc và triệt để hơn. Qua đó cho thấy tình thuỷ chung, tha thiết với làng quê trong thơ Nguyễn Long vừa mang tính cội rễ tự thân vừa có tính lý tưởng. Nguyễn Long đã mang hết năng lực thơ ca để ngợi ca xây dựng cho cuộc tình này.
Cái làng quê - đối tượng tình yêu, đề tài nguyên nhất của thơ Nguyễn Long ở đâu? Là làng An Để quê sinh anh? Làng An Để là một cụ thể khởi nguồn, và chắc chắn nó chỉ là một tượng trưng cụ thể hoá cho một không gian làng quê rộng lớn và thẳm sâu nguồn cội. Văn hoá - làng là cơ sở cho tâm hồn thơ ca của anh. Thơ lục bát Nguyễn Long mang khá rõ cái cốt cách, nếp nghĩ và cách ứng xử với cuộc sống của người nhà quê. Những con người sống kham nhẫn mà thật thà, mộc mạc... tâm cách người nhà quê có thể hoạ hình qua hạt thóc, củ khoai, thứ sản vật cốt tử đời đời của họ. ấy là thứ tâm cách trong vóc dáng khiêm nhường mà thô ráp. Nhưng đó là một vóc dáng tích chứa trong nó bao nắng mưa cùng với nước mắt mồ hôi cho cuộc tạo vần thời gian mùa vụ. Từ góc thi ảnh làng quê này mà quy chiếu, mà khái quát sẽ nhìn ra những sự thật - giả, còn - mất của lịch sử đời sống mùa màng. “Mảnh mai cây lúa cũ càng/ Vẫn làm cột trụ chống làng ngàn năm...”. Hình ảnh “cây lúa” ở đây, sự thực đó cũng là hình ảnh “con người - làng”. Một sự “mảnh mai” mang vị thế cột trụ. Một vị thế xót xa mà có tầm vóc lớn lao.
Lấy chất liệu làng quê làm nền và tạo giọng cho thơ là một lựa chọn thuỷ chung và dũng cảm của Nguyễn Long. Rất mừng giọng thơ lục bát Nguyễn Long đã vượt qua tính thuần tuý tự nhiên của tình cảm và tính khuôn thước của mô hình để vươn tới tính lý tưởng thế cuộc và suy nghiệm nhân sinh. Đặc điểm này đã tạo cho thơ anh một giải pháp nghệ thuật, làm cơ sở khám phá tiểu sử - thân phận con người cá thể cho việc xây dựng một lịch sử của thời gian tình yêu và làm cho việc khơi lộ bản chất tự nhiên trong tính bản ngã con người. Hành trạng tinh thần này được thể hiện khá rõ, xuất phát từ điểm trụ: Khổ quen rồi hoá như đùa/ Hội làng nhộn nhịp như chưa đói nghèo... (Làng vào vụ gặt) tới nhận thức có tính lý tưởng: Về quê chỉ một con đường/Từ quê đi được chín phương đất trời... (Xuân sang) và rồi dẫn đến suy nghiệm có tính siêu thoát vượt lên khuôn thước mô hình và tính lý tưởng thế cuộc: Trải bao dâu bể cuộc đời/ Chân mòn trong cõi khóc cười nhân gian/ Bão hoà vinh nhục hèn sang/ Ta ngồi mơ cõi niết bàn tuổi thơ... (Bao giờ)... Giấc mơ trở lại tuổi thơ con người, sau những trầm luân dâu bể là một phát biểu về bản thể sâu sắc, do vậy, nó đã vượt qua tính lý tưởng thế cuộc. Tất nhiên, cõi tuổi thơ trong ước mơ trở lại ở đây là cõi tuổi thơ đã trưởng thành qua dâu bể, nhưng nó vẫn giữ vẹn sự nguyên khôi trong sáng mà nó vẫn tươi sức đời.
Từ cơ sở trải nghiệm: Mơ giấc về tuổi thơ con người, tập Thường dân mang hai khuynh hướng tiếp cận tới bản chất đời sống. Một là mảng thơ về đời sống hiện thực, hai là mảng thơ đậm dấu vết lão thực, siêu thoát trở về với hồn nhiên ban sơ.
ở hướng thể hiện đời sống dân tình thực tại thơ Nguyễn Long tâm huyết với những lo toan khắc khoải và trách nhiệm dựng xây. “Từ ngày còn ở rừng sâu/ Đã mong ước sẽ làm giàu cho quê...” (Bạn về trụ lại ở làng)... Trách nhiệm dựng xây quê hương còn xuất hiện cả trong ý niệm sáng tạo nghệ thuật: “Mong manh thơ giữa dòng đời/Cố làm khô bớt mồ hôi đất này...” (Bạn thơ). Nỗi lo toan và ý thức trách nhiệm có khi trĩu nặng... “ở đâu tiền nọ tỷ kia/ Làng giờ hạt thóc vẫn chia mấy phần...” (Làng vào vụ gặt)... và từ thẳm sâu có tính truyền kiếp cõi người: Kiếp làng trĩu chiếc đòn cong/ Đời con gánh tiếp lưng còng đời cha... (Kiếp làng). Hướng thơ này đã đưa hồn thơ Nguyễn Long gặp gỡ, chia sẻ tới từng số phận con người cụ thể. Những số phận người thường dân nhỏ bé như những người thím, người bạn lính, em gái đi làm ô sin... Và ở hướng tiếp cận này, khi tả về cây cỏ - thứ cây cỏ vun trồng lên từ con người và nó đã trở thành “cột trụ” cho ngôi nhà - làng, tình thơ Nguyễn Long cũng đã thể hiện được sức tương tác cộng sinh với niềm nghĩa ân chân thực và xúc động. Mảng đề tài về làng quê trong thơ Nguyễn Long, do vậy, được thể hiện cụ thể ngay ở hình thức tiêu đề và số lượng bài. Tập có 25 bài, thì có 8 bài tiêu đề có chữ “làng”. Và hơn thế, hình ảnh “làng” trong thơ anh còn biểu hiện với quan niệm tôn giáo: Kiếp làng. Cái “kiếp” trong cuộc luân hồi ngàn năm những phận người bùn két bàn chân bốn mùa; Còn mong tới được kiếp sau/ Gặp con người sống với nhau nhân từ... Và cái “kiếp” trong cuộc xoay vần thời cuộc có khi xảy ra ngay trong cảnh đương kiếp: Chửa trăm năm đã đảo xoay mấy lần hay Chưa qua một kiếp hồn thay mấy lần... Viết về người làng quê của thơ Nguyễn Long có một yếu tố cấu thành, thể hiện về con người cụ thể khiêm nhường, hay việc sử dụng chi tiết đời sống câu thơ vẫn mang trong nó rất rõ tâm trạng xã hội. Sức khái quát ở thơ anh do vậy đã có được tầm vóc.
Hướng bút thứ hai trong tập Thường dân là hướng mang tinh thần trở về với cội nguồn ấu thơ, tính hồn nhiên của tuổi người: “Học làm thằng bé cỏn con/ Trải bao mưa nắng vẫn còn vô tư...” (Học) tinh thần trở về với tuổi thơ để được hồn nhiên vô tư, thanh thản trước cảnh “Trắng đen thế thái nhân tình” không phải là một tinh thần phó mặc, chán chường tiêu cực, mà nó được phát hiện và phát triển mạnh mẽ do có nhận thức chân lý và tính quy luật bản thể - tinh thần sống. Loạt bài thể hiện hướng thơ này là Về làng, Xuân sang, Học, May mà, Bao giờ... bằng giọng lục bát giản dị (và có phần đơn sơ) dễ lưu vào trí nhớ bạn đọc ở tình thấm thía suy ngẫm qua những câu thơ như những định đề, kiểu: “May mà còn có dòng sông/ Chảy xuôi đi những cái không là đời...” (May mà), hay, Trăm lần triết lý nông sâu/ Để ta về lại với câu thật thà... (Về làng)... Tuy nhiên với quan niệm sáng tác này thơ Nguyễn Long cũng đã mắc phải điểm hạn chế do chính mình đặt ra. Sự “thật thà” trong cảm xúc, sáng tạo luôn có nguy cơ tạo ra một khuôn thức hẹp cho biên độ biểu tượng và trong cái “khuôn thức” này tính ảo của thơ rất ít có vùng cư trú. Mở rộng biên độ biểu tượng, tạo không gian ảo, tính ẩn dụ cho thơ là một đòi hỏi cần có trong thơ Nguyễn Long ở chặng đường sáng tác tiếp theo.
Bài thơ kết hợp trọn vẹn trong nó cả hai hướng bút ra đi hoà nhập vào đời sống hiện thực và hướng trở về - mơ giấc mơ tuổi hồn nhiên siêu thoát, là bài Thường dân. Thơ viết về lớp người thường dân, vị trí sống thì đơn hẹp mà khả năng tạo lập cuộc đời thì lớn lao. ở đây tính hiện thức, thân phận, và biên biểu tượng, ẩn dụ được kết hợp hài hoà. Lớp người thường dân được thể hiện đúng vị thế, tầm vóc của họ. Khi ra đi - nhập cuộc thì làm cây mác cây chông, thành biển cả...; khi trở về với làng quê quên điều thế sự thì “Thấp cao đâu có làm chi/ Ngàn năm cỏ vẫn xanh rì đó thôi...” Và tiến tới lựa chọn cuối cùng trong quan niệm nhân duyên “Hoà vào trời đất mà xanh/ Vô tư mấy kiếp mới thành thường dân...” Sự ẩn dụ, biểu tượng trong bài thơ có chỗ còn được thể hiện, cài đặt rất sâu và tinh vi chỉ qua một chữ, ở câu thơ “tác tao sau những vũ vần bão giông”, đó là chữ SAU. Luật tự nhiên thiên nhiên “sau - bão giông” còn là mưa đền cây cơ mà?! Bài Thường dân quả là bài thơ hay nhất của tập thơ và nó là bài tiêu biểu cho phong cách thơ Nguyễn Long.
Trong cuộc ra đi hoà mình vào đời sống xã hội “Học làm người của bốn phương” với mục đích rốt ráo để trở về “Sống giữa đời thường là ta”, sống đúng mình, thật mình hơn. Đây là một hành trình ra đi để rồi trở lại của một thường dân - Lão nông đậm màu lão thực. ấy là cuộc hành trình nhằm đến sự trưởng thành hơn tuổi thơ - tính hồn nhiên con người. ấy cũng là đòi hỏi trở lại đạt đến sự hồn nhiên, bình dị của chân lý nghệ thuật.n
21-6-2004
Đ.T.K
(Phụ bản thơ báo Văn nghệ)
Love mickey,