Nhân Thánh Thán bình thơ Đường
Xin chọn mấy bài thơ Đường tương đối quen thuộc với độc giả Việt Nam để tiện theo dõi.
I. Hoàng Hạc lâu
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư hoàng hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tịch xuyên lịch lịch Hán dương thụ
Phương thảo thê thê Anh vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
Thôi Hiệu
Lầu Hạc Vàng
Người xưa đã cỡi hạc vàng bay đi
Nơi đây chỉ còn trơ lầu Hạc vàng
Hạc một đi rồi không trở lại nữa
Mây trắng ngàn năm man mác trôi
Dòng sông quang tạnh rực rỡ hàng cây
đất Hán dương
Cỏ thơm mọc tươi tốt trên bãi Anh vũ
Chiều tối quê nhà ở nơi đâu?
Khói sóng trên sông khiến người buồn bã.
Kim Thánh Thán phê bình *
Có bản chép Tích nhân dĩ thừa bạch vân khứ thực là lầm lớn! Không biết rằng bài thơ này dùng bút lớn bao la tả liền ba chữ Hoàng Hạc lâu, chỗ kỳ lạ là ở đó. Giả sử người xưa mà cỡi bạch vân thì lầu này tại sao lại có tên là hoàng hạc? Lý này thật rất rõ ràng. Còn như câu 4 chợt thêm vào bạch vân diệu ở chỗ có ý không ý, có nói không nói (hữu ý vô ý, hữu vị vô vị). Nếu thoạt tiên chưa tả hoàng hạc mà trước đã tả bạch vân thì là hoàng hạc, bạch vân đối chọi nhau: Hoàng Hạc vốn là tên lầu, còn bạch vân thì do điển nào mà ra? Bạch vân đã được người xưa cỡi đi mà đến nay hãy còn du du trên đời này há có thiên tải bạch vân sao? Thực không đáng một cái cười. Làm thơ không nhiều mà có thể khiến Thái Bạch công phải gác bút thì đúng là bậc đại trượng phu trong rừng bút mực vậy. Hãy xem bọn nho mọn ô uế suốt đời rên rỉ khổ ngâm, đến cái ngày đậy nắp áo quan người ta góp nhặt lại cũng được mấy trăm ngàn lời thế nhưng không từng được cả một đứa trẻ nít trong làng tạm thời để mắt vào, thực đáng đau xót lắm.
Lê Đạt lạm bàn:
Lý giải minh triết, lời lẽ tung hoành, sát phạt như những đường gươm tuyệt mệnh đúng là loại người xưa nay hiếm trong cõi phê bình. Thể loại phê bình thường bị một số nhà sáng tác xem khinh 15 phút như thể loại ký sinh, thằng còng làm thằng ngay ăn, viết đến mức Thánh Thán ai dám bảo thua sáng tác? (Tôi e rằng phần Thánh Thán phê bình Tây sương ký có chỗ còn vượt cả bút lực của tác giả Vương Thừa Phủ).
Trong lúc không ít nhà sáng tác phải xuất trình chứng minh thư độc giả mới biết là của ai, chỉ cần lướt mấy dòng trên, dù chưa xem đến tên tác giả cũng biết ngay là của ông họ Kim. Lời thật độc! Trộn không lẫn.
Không có thể loại dở. Chỉ có người dở.
Kim Thánh Thán phê bình tiếp:
Phàm cổ nhân mà có một lời, một hàng, một câu, một chữ đủ để bước một mình trong một thời, chiếm cứ cả ngàn năm thì ta cần phải tin rằng không gì là không đều do đọc ở sách, dưỡng khí mà ra.
Như dải thơ này ta phải tin rằng rõ ràng là do đọc sách. Các câu l, 2: chính là ông đọc Thiên Thiên đạo, sách Trang tử, lời của Luân Biện nói về Tề Hoàn công... ông liền thuận tay sửa bớt, dùng rất thích đáng. Các câu 3,4 chính là ông đọc được câu ca Dịch thuỷ trong Kinh Kha liệt truyện.
Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn
(Gió vi vu hề sông Dịch lạnh lùng ghê
Tráng sĩ một ra đi hề không trở về)
Cuốn sách ai cũng đọc thế mà chỉ riêng ông có sự sẵn đối cảnh liền dùng, ngay cả chính mình rốt cuộc cũng không biết nữa thế thì rõ ràng phải tin đó là cái sức dưỡng khí.
Tiền dải tả người xưa, hậu dải tả người nay tuyệt nhiên không tả đến lầu! Dải này lại diệu ở chỗ không dính liền gì với đoạn trên, chỉ nhất ý tựa cao trông xa, riêng thổ lộ hoài bão của mình, mặc cho đời sau muốn hiểu ra sao thì hiểu thực đúng là bậc đại gia vậy.
Lê Đạt lạm bàn
Thánh Thán viết lời bình trên đã 300 năm mà tưởng đâu mới viết hôm qua, hôm kia gì đó trên một tạp chí phê bình mới tại Pháp những thập niên 60.
Nghĩ đến thuyết bản viết nhiều tầng (e’criture plurrielle) của Rôlăng Báctờ hay của trường phái ngữ nghĩa phân học (sémanalyse) quan niệm bất cứ một nguyên cảo nào cũng được viết trên một palimxet, tức là một miếng da cừu. đã viết rồi được cạo sạch đi để viết mới nhưng vẫn ẩn hiện bản văn cũ. Một câu thơ hay là câu thơ ký thác được lịch sử thi ca nhân loại, nó đi qua các tầng văn hóa như con tàu Du hành II vượt quỹ đạo Thái dương hệ đi vào cõi vô cùng.
Đọc sách, dưỡng khí là quá trình tích tụ, sinh thành trong ý thức lẫn vô thức con người, do đó một nhà thơ có thể xuất khẩu thành chương nhưng câu thơ vẫn mang sức hàm dưỡng hàng nghìn năm công lực mà ngay chính nhà thơ rút cuộc cũng không biết. Không có câu thơ hay mà lại ở trình độ cấp I.
Thơ theo cấu trúc gián đoạn - Không cần những chuyển câu dông dài có tính chất lý giải hai năm rõ mười - Nhà thơ cố gắng tạo nên một liên kết chữ phức hợp bất định và đa nghĩa mặc cho người đời sau (cả đời nay nữa) muốn hiểu ra sao thì hiểu khuyến khích khả năng tự do tạo nghĩa của họ với tư cách đồng tác giả của bài thơ.
Cố gắng sáng giá nhất của nhà thơ là dò tìm miền chưa biết, mở mang bờ cõi diễn đạt của ngôn ngữ và cảm thụ của người đọc. Đó là trọng chữ, trọng người, đâu phải trò ú tim, cố tình làm khó, làm bí hiểm, coi thường người đọc.
Trong phong trào thơ hiện đại cuối thế kỷ XX, Thánh Thán “tam bách dư niên hậu” vẫn còn là một bạn đường đồ sộ.
Thánh Thán phê bình:
Thái Bạch Công phê bình bài thơ này cũng chỉ nói rằng:
Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu
Trước mắt có cảnh không nói được
Thôi Hiệu đề thơ ở trên đầu
… Bây giờ mình muốn mệnh ý thì họ Thôi đã mệnh ý hết rồi, nếu muốn thẩm cách thì họ Thôi đã thẩm cách xong rồi, nếu muốn tranh phát bút thì họ Thôi phát bút đã là không tiền khoáng hậu, không chiếu cố đến kẻ khác, dù cho mình có cảnh đẹp đầy mắt có thể soạn mấy trăm ngàn liên chăng nữa thì cũng chỉ là tự nhả hết tâm huyết ra uổng phí thôi., chớ còn đặt tay vào đâu được, vì thế bất giác cúi mình sát đất thổ lộ thực rằng có cảnh nói không được. Than ôi! Thái Bạch Công sở dĩ hư tâm phục thiện như thế chỉ vì chính mình hiểu rõ luật thi cam khổ. Còn các ông đời sau thì bất chấp có người nào đề thơ rồi, chẳng ngần ngại gì mà không tức thì đề lại tám câu.
Lê Đạt lạm bàn:
Đúng là Lý Bạch qua hai câu thơ trên có tỏ lòng trọng thị Thôi Hiệu. Nhưng nói rằng bất giác cúi mình sát đất thì có phần quá đáng. Thánh Thán là một nhà phê bình cực đoan. Đó là ưu điểm, cũng là nhược điểm của ông.
Vì mải đề cao Thôi Hiệu, ông chỉ thấy khía cạnh cúi mình sát đất của Lý Bạch mà không nhìn thấy thái độ tự tại bình tâm của một đại thi hào không lấy việc hơn thua làm trọng mà chỉ một lòng cảm thụ thơ hay. Thơ anh làm về lầu Hoàng Hạc thế là diệu, của anh hoặc của ta, ta hơn hay anh kém việc đó có quan trọng gì, anh làm đã đạt rồi thì ta ngâm thơ của anh hà tất phải làm thêm một bài để thi đấu, con trẻ nó chẳng cười cho sao? Đó là tâm sáng của bậc thượng đẳng.
Thánh Thán viết: Than ôi! Thái Bạch Công sở dĩ hư tâm phục thiện như vậy chỉ vì chính mình hiểu rõ luật thi cam khổ.
Tôi cũng biết ý Kim tiên sinh muốn dùng Lý Bạch để dạy một bài học cho các ông thơ thẩn đời sau... của trường phái thơ con cóc!
Nhưng tôi e tiên sinh còn có điều hạn hẹp khác:
ở một phần khác Thánh Thán viết: Ôi luật thi đời Đường chẳng phải chỉ là sự cấu tạo tốt đẹp của một thời mà vốn là tuyệt xướng của ngàn bậc thánh.
Luật thơ dù tuyệt vời đến đâu cũng chỉ là bước đầu. Người làm thơ cao thủ không thể không thuần thục nó nhưng thành thục rồi nên quên nó đi, biến nó thành một phản xạ. Luật thơ dù là thơ Đường, chỉ là điều kiện cần, không phải là điều kiện đủ.
Lý Bạch không làm không phải vì hiểu rõ luật thi cam khổ, ông không làm vì không thích làm, thế thôi.
Thánh Thán thừa hiểu rằng hai nhà thơ lớn nhất đời Đường là Đỗ Phủ và Lý Bạch.
Đỗ Phủ hoạt động trong cõi luật.
Lý Bạch hoạt động trong cõi siêu luật
Đỗ Phủ là tuyệt đỉnh của thơ luật Đường.
Lý Bạch là chân trời của thơ Đường.
Sao lại lấy những tiêu chuẩn của cõi luật áp đặt cho cõi siêu luật?
Một điểm nữa, tại sao lại khăng khăng kết luận, rằng Lý Bạch cúi mình sát đất không dám làm thơ về lầu Hoàng Hạc nữa? Thật ra Lý Bạch đã làm. Nhưng không làm như Thôi Hiệu. Hai câu thơ:
Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu
có thể coi là một bài kiểu khác của Lý về Hoàng Hạc Lâu. Nó cũng nổi tiếng không kém gì bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu.
Đó chính là phép hiện diện bằng khuyết diện của bậc đại trí.
II. Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài
Phụng hoàng đài thượn phụng hoàng du
Phụng khứ đài không giang tự lưu
Ngô cung hoa thảo mai u kính
Tấn đại y quan thành cổ khâu
Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại
Nhị thuỷ trung phân Bạch lộ châu
Tổng vị phù vân năng tế nhật
Trường An bất kiến sử nhân sầu.
Lý Bạch
Lên lầu Phụng hoàng tại Kim Lăng
Lên lầu Phụng hoàng (xưa) phụng hoàng dạo chơi
Phụng hoàng đi rồi lầu không nước sông vẫn trôi
Trong cung Ngô hoa cỏ vùi chôn đường nhỏ tối tăm
áo mũ đời Tấn thành ra gò đất
Núi Tam Sơn rơi một nửa ra ngoài trời xanh
Sông Nhị phân đôi ở giữa bãi Cò Trắng
Tất cả chỉ vì đám mây nổi hay che mặt trời
Không thấy thành Trường An, người buồn bã.
Thánh Thán phê bình:
Trong thơ đời Đường, một dải gồm 4 câu 7 chữ là 28 chữ rõ rệt đó chính là 28 ngôi sao, ngôi nào cũng đều có duyên cớ cả, trong số đó quyết không có ngôi sao nào không duyên cớ. Nay trong ba câu dải thứ nhất bài thơ này tôi kiếm cái duyên cớ tất phải tả phụng du (phượng dạo chơi) mà không tìm được. Như vậy Lý tiên sinh ngày ấy hẳn nên cắt đứt ái dục mà nhường cho họ Thôi độc bộ, thế mà tại sao lại cũng giống như bọn văn nhân nhỏ mọn đời sau cứ phải muốn hơn hớn không xá, cam làm như vậy...
Giang tự lưu cũng chỉ là đổi vân du du. Diệu là diệu ở hai câu Ngô cung, Tấn đại lập tức một khóc một cười?
Ta muốn kiếm cung Ngô mà chỉ có cỏ hoa vùi lối như thế há không muốn khóc thất thanh ư? Nhưng ta nghe nói kẻ đánh Ngô là Tấn, do đó đi kiếm triều đại Tấn thì cũng đã mũ áo thành gò rồi, như thế há không muốn cười ra nước mắt ư?
Lê Đạt lạm bàn:
Trước hết cần nói Phụng hoàng đài không phải một bài thơ kiệt xuất của Lý Bạch.
Lấy một bài trong số ngàn bài thơ của Lý để so với bài thơ kiệt xuất nhất của Thôi Hiệu là một việc làm e không công bằng.
Nhưng thôi, ta cứ chấp nhận coi đó như kết quả của một cuộc bốc thăm phân bảng các đội bóng tranh giải Mundial.
Ngay câu mở đầu, Thánh Thán viết:
Tương truyền đây là bài thơ bắt chước Hoàng hạc lâu (của Thôi Hiệu). Như vậy là Thánh Thán đã tôn Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu lên làm một mô thức và lấy nó làm chuẩn đánh giá bài Phụng Hoàng Đài.
Đó là cách phê bình khép kín nhìn về phía sau chứ không phải mở nhìn ra phía trước.
Trong thơ, làm lại một bài thơ của người khác đã viết không phải chuyện lạ. Vấn đề chính là biến hoá cái của người khác thành của mình như thế nào.
Lấy một ví dụ cho dễ hiểu. Đọc câu thơ của Nguyễn Du:
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
Ai cũng biết Nguyễn Du mượn một câu thơ Đường:
Đào hoa y cựu tiếu đông phong
Hoa đào như cũ còn cười gió đông
Nhưng hai chữ năm ngoái tuyệt bút hàng ngàn lần so với hai chữ y cựu, nó gợi lên bao nhiêu nuối tiếc bâng khuâng và ngơ ngác, nó làm sóng sánh cả câu thơ... khiến câu thơ gần như trở thành của Nguyễn Du chứ không thể nói là đơn thuần bắt chước thơ Đường.
Thánh Thán căn cứ vào luật thơ Đường (lại luật!!!) 4 câu 7 chữ là 28 chữ, rõ rệt chính là 28 ngôi sao (biết rồi khổ lắm nói mãi!) rồi đi đến nhận xét Nay trong ba câu của dải thứ nhất bài thơ này tôi tìm kiếm cái duyên cớ tất phải tả “phụng du” mà không kiếm được.
Không kiếm được là phải vì có đâu mà kiếm. Tôi nhắc lại: Lý Bạch hoạt động ở cõi siêu luật (một cõi luật khác).
Câu thứ nhất trong bài của Thôi Hiệu.
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Là nói một sự kiện Thôi cho là trọng đại nó khơi nguồn cảm khái của nhà thơ, mới vào bài thơ đã bộc lộ tính hoài cổ trang trọng một cách rõ rệt.
Câu mở đầu của Lý Bạch:
Phụng hoàng đài thượng phụng hoàng du
Dung dị và phóng khoáng, hai chữ phụng hoàng lặp lại cho câu thơ dáng dấp nhẹ nhõm của một cuộc chơi (du). Cái ý du này quán triệt cả bài thơ.
Đã chơi thì tả hay không tả nào có quan trọng gì? Vả lại, xét đến cùng, chơi tự nó chẳng phải là duyên cớ sao? Lý Bạch là một nhà thơ điêu luyện đến mức tự nhiên. Trong lúc mọi người yên trí rằng phụng du là bất túc, là không có duyên cớ, Lý Bạch thủng thẳng gẩy nhẹ, nhẹ nhưng vào lưới.
Đó là câu 7 của bài thơ, trở lại ý chơi và nâng nó lên một tầng khái quát mới.
Tất cả chỉ vì đám mây nổi hay che mặt trời
Tổng vị phù vân năng tế nhật
Cả phụng du cả Ngô lẫn Tấn, tất cả cũng chỉ do trò chơi của đám mây nổi (mây nổi tan hợp bất thường phù du chứ không phải mây trắng u hoài, man mác) với mặt trời mà thôi.
Bất giác nghĩ đến lời bình của Trang Tử về con gà gỗ trong Nam Hoa kinh.
Để nói cái lai láng, cái trầm buồn, Thôi Hiệu có một cách. Để nói cái tiêu sái, cái thích thảng Lý Bạch có một cách. Sao Kim nhạc trưởng lại bắt hai người diễn tấu giống nhau?
Hai câu thơ được Thánh Thán khen:
Trong cung Ngô hoa cỏ vùi chôn đường nhỏ tối tăm
áo mũ đời Tấn thành gò đất.
Đúng là những câu thơ hay, nhưng cũng là hay theo chuẩn của mô thức Hoàng hạc lâu, của thông lệ.
Theo tôi hai câu xuất sắc nhất trong bài là hai câu mà Thánh Thán bỏ qua:
Núi Tam Sơn rơi một nửa ra ngoài trời xanh
Sông Nhị Thuỷ phân đôi ở giữa bãi Cò Trắng
Xuất sắc vì tân kỳ.
Hai câu thơ như bứt khỏi sức hút của hạ giới bay lên quỹ đạo vũ trụ.
Người làm thơ có cái bút lực muôn trượng của một tâm hồn siêu phàm ngoại cỡ hàng ngày làm bạn với Núi Kính Đình với sông Hoàng Hà đổ xuống từ lưng trời.
Một người như thế không thể nào lấy luật, dù là luật của thánh nhân để giới hạn được.
Ai cũng biết Đỗ Phủ suốt đời lao tâm khổ tứ làm một câu thơ quỷ thần chưa khiếp kinh, chết không nhắm mắt, đó là bận tâm lớn của bậc thi bá.
Lý Bạch hình như đã bứt được ra khỏi bận tâm ấy, ông làm thơ như bình sinh khi đói ta ăn, khi mệt ta nghỉ, như con cá Kình dọc ngang vùng nước cả, con chim bằng vùng vẫy đỉnh Thiên Sơn, đó là cái hư tâm hay nói theo các nhà phê bình mới, cái hồn nhiên cấp hai, của bậc chân thi.
Suốt đời Đỗ Phủ kính trọng Lý Bạch như một người anh lớn không phải vì tuổi tác, mà chính vì cái hư tâm này.
Nó không khỏi nhắc ta nghĩ đến thái độ kính trọng của Khổng Tử đối với Lão Tử.
Nhà quy tắc vĩ đại của nhân loại nói với học trò:
Loài chim ta biết nó hay bay, loài cá ta biết nó hay bơi, loài thú ta biết nó hay chạy. Loài chạy thì có thể đánh bằng cạm bẫy, loài bơi thì có thể đánh bằng chài lưới, loài bay thì có thể đánh bằng lưới giập, còn như loài rồng thì ta không biết nó cưỡi mây gió lên trời như thế nào. Nay ta gặp Lão Tử, người ấy cũng như con rồng vậy.
Kim tiên sinh,
Ông là bậc tiền bối, uyên bác, bụng chứa hàng kho sách, tôi là kẻ đến sau kiến thức đơn sơ - dùng lời một nhà thơ Pháp, - chỉ vừa đủ để tự vệ - tiếp ông rượu e rượu dỏm không mua, nhà chật ở chung, trầm không gây, e bất tiện hàng xóm, tri âm riêng có tấc lòng với thơ, mấy lời lạm bàn, mong ông lượng thứ.
Lê Đạt
(Phụ bản thơ báo Văn nghệ)
Xin chọn mấy bài thơ Đường tương đối quen thuộc với độc giả Việt Nam để tiện theo dõi.
I. Hoàng Hạc lâu
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư hoàng hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tịch xuyên lịch lịch Hán dương thụ
Phương thảo thê thê Anh vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
Thôi Hiệu
Lầu Hạc Vàng
Người xưa đã cỡi hạc vàng bay đi
Nơi đây chỉ còn trơ lầu Hạc vàng
Hạc một đi rồi không trở lại nữa
Mây trắng ngàn năm man mác trôi
Dòng sông quang tạnh rực rỡ hàng cây
đất Hán dương
Cỏ thơm mọc tươi tốt trên bãi Anh vũ
Chiều tối quê nhà ở nơi đâu?
Khói sóng trên sông khiến người buồn bã.
Kim Thánh Thán phê bình *
Có bản chép Tích nhân dĩ thừa bạch vân khứ thực là lầm lớn! Không biết rằng bài thơ này dùng bút lớn bao la tả liền ba chữ Hoàng Hạc lâu, chỗ kỳ lạ là ở đó. Giả sử người xưa mà cỡi bạch vân thì lầu này tại sao lại có tên là hoàng hạc? Lý này thật rất rõ ràng. Còn như câu 4 chợt thêm vào bạch vân diệu ở chỗ có ý không ý, có nói không nói (hữu ý vô ý, hữu vị vô vị). Nếu thoạt tiên chưa tả hoàng hạc mà trước đã tả bạch vân thì là hoàng hạc, bạch vân đối chọi nhau: Hoàng Hạc vốn là tên lầu, còn bạch vân thì do điển nào mà ra? Bạch vân đã được người xưa cỡi đi mà đến nay hãy còn du du trên đời này há có thiên tải bạch vân sao? Thực không đáng một cái cười. Làm thơ không nhiều mà có thể khiến Thái Bạch công phải gác bút thì đúng là bậc đại trượng phu trong rừng bút mực vậy. Hãy xem bọn nho mọn ô uế suốt đời rên rỉ khổ ngâm, đến cái ngày đậy nắp áo quan người ta góp nhặt lại cũng được mấy trăm ngàn lời thế nhưng không từng được cả một đứa trẻ nít trong làng tạm thời để mắt vào, thực đáng đau xót lắm.
Lê Đạt lạm bàn:
Lý giải minh triết, lời lẽ tung hoành, sát phạt như những đường gươm tuyệt mệnh đúng là loại người xưa nay hiếm trong cõi phê bình. Thể loại phê bình thường bị một số nhà sáng tác xem khinh 15 phút như thể loại ký sinh, thằng còng làm thằng ngay ăn, viết đến mức Thánh Thán ai dám bảo thua sáng tác? (Tôi e rằng phần Thánh Thán phê bình Tây sương ký có chỗ còn vượt cả bút lực của tác giả Vương Thừa Phủ).
Trong lúc không ít nhà sáng tác phải xuất trình chứng minh thư độc giả mới biết là của ai, chỉ cần lướt mấy dòng trên, dù chưa xem đến tên tác giả cũng biết ngay là của ông họ Kim. Lời thật độc! Trộn không lẫn.
Không có thể loại dở. Chỉ có người dở.
Kim Thánh Thán phê bình tiếp:
Phàm cổ nhân mà có một lời, một hàng, một câu, một chữ đủ để bước một mình trong một thời, chiếm cứ cả ngàn năm thì ta cần phải tin rằng không gì là không đều do đọc ở sách, dưỡng khí mà ra.
Như dải thơ này ta phải tin rằng rõ ràng là do đọc sách. Các câu l, 2: chính là ông đọc Thiên Thiên đạo, sách Trang tử, lời của Luân Biện nói về Tề Hoàn công... ông liền thuận tay sửa bớt, dùng rất thích đáng. Các câu 3,4 chính là ông đọc được câu ca Dịch thuỷ trong Kinh Kha liệt truyện.
Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn
(Gió vi vu hề sông Dịch lạnh lùng ghê
Tráng sĩ một ra đi hề không trở về)
Cuốn sách ai cũng đọc thế mà chỉ riêng ông có sự sẵn đối cảnh liền dùng, ngay cả chính mình rốt cuộc cũng không biết nữa thế thì rõ ràng phải tin đó là cái sức dưỡng khí.
Tiền dải tả người xưa, hậu dải tả người nay tuyệt nhiên không tả đến lầu! Dải này lại diệu ở chỗ không dính liền gì với đoạn trên, chỉ nhất ý tựa cao trông xa, riêng thổ lộ hoài bão của mình, mặc cho đời sau muốn hiểu ra sao thì hiểu thực đúng là bậc đại gia vậy.
Lê Đạt lạm bàn
Thánh Thán viết lời bình trên đã 300 năm mà tưởng đâu mới viết hôm qua, hôm kia gì đó trên một tạp chí phê bình mới tại Pháp những thập niên 60.
Nghĩ đến thuyết bản viết nhiều tầng (e’criture plurrielle) của Rôlăng Báctờ hay của trường phái ngữ nghĩa phân học (sémanalyse) quan niệm bất cứ một nguyên cảo nào cũng được viết trên một palimxet, tức là một miếng da cừu. đã viết rồi được cạo sạch đi để viết mới nhưng vẫn ẩn hiện bản văn cũ. Một câu thơ hay là câu thơ ký thác được lịch sử thi ca nhân loại, nó đi qua các tầng văn hóa như con tàu Du hành II vượt quỹ đạo Thái dương hệ đi vào cõi vô cùng.
Đọc sách, dưỡng khí là quá trình tích tụ, sinh thành trong ý thức lẫn vô thức con người, do đó một nhà thơ có thể xuất khẩu thành chương nhưng câu thơ vẫn mang sức hàm dưỡng hàng nghìn năm công lực mà ngay chính nhà thơ rút cuộc cũng không biết. Không có câu thơ hay mà lại ở trình độ cấp I.
Thơ theo cấu trúc gián đoạn - Không cần những chuyển câu dông dài có tính chất lý giải hai năm rõ mười - Nhà thơ cố gắng tạo nên một liên kết chữ phức hợp bất định và đa nghĩa mặc cho người đời sau (cả đời nay nữa) muốn hiểu ra sao thì hiểu khuyến khích khả năng tự do tạo nghĩa của họ với tư cách đồng tác giả của bài thơ.
Cố gắng sáng giá nhất của nhà thơ là dò tìm miền chưa biết, mở mang bờ cõi diễn đạt của ngôn ngữ và cảm thụ của người đọc. Đó là trọng chữ, trọng người, đâu phải trò ú tim, cố tình làm khó, làm bí hiểm, coi thường người đọc.
Trong phong trào thơ hiện đại cuối thế kỷ XX, Thánh Thán “tam bách dư niên hậu” vẫn còn là một bạn đường đồ sộ.
Thánh Thán phê bình:
Thái Bạch Công phê bình bài thơ này cũng chỉ nói rằng:
Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu
Trước mắt có cảnh không nói được
Thôi Hiệu đề thơ ở trên đầu
… Bây giờ mình muốn mệnh ý thì họ Thôi đã mệnh ý hết rồi, nếu muốn thẩm cách thì họ Thôi đã thẩm cách xong rồi, nếu muốn tranh phát bút thì họ Thôi phát bút đã là không tiền khoáng hậu, không chiếu cố đến kẻ khác, dù cho mình có cảnh đẹp đầy mắt có thể soạn mấy trăm ngàn liên chăng nữa thì cũng chỉ là tự nhả hết tâm huyết ra uổng phí thôi., chớ còn đặt tay vào đâu được, vì thế bất giác cúi mình sát đất thổ lộ thực rằng có cảnh nói không được. Than ôi! Thái Bạch Công sở dĩ hư tâm phục thiện như thế chỉ vì chính mình hiểu rõ luật thi cam khổ. Còn các ông đời sau thì bất chấp có người nào đề thơ rồi, chẳng ngần ngại gì mà không tức thì đề lại tám câu.
Lê Đạt lạm bàn:
Đúng là Lý Bạch qua hai câu thơ trên có tỏ lòng trọng thị Thôi Hiệu. Nhưng nói rằng bất giác cúi mình sát đất thì có phần quá đáng. Thánh Thán là một nhà phê bình cực đoan. Đó là ưu điểm, cũng là nhược điểm của ông.
Vì mải đề cao Thôi Hiệu, ông chỉ thấy khía cạnh cúi mình sát đất của Lý Bạch mà không nhìn thấy thái độ tự tại bình tâm của một đại thi hào không lấy việc hơn thua làm trọng mà chỉ một lòng cảm thụ thơ hay. Thơ anh làm về lầu Hoàng Hạc thế là diệu, của anh hoặc của ta, ta hơn hay anh kém việc đó có quan trọng gì, anh làm đã đạt rồi thì ta ngâm thơ của anh hà tất phải làm thêm một bài để thi đấu, con trẻ nó chẳng cười cho sao? Đó là tâm sáng của bậc thượng đẳng.
Thánh Thán viết: Than ôi! Thái Bạch Công sở dĩ hư tâm phục thiện như vậy chỉ vì chính mình hiểu rõ luật thi cam khổ.
Tôi cũng biết ý Kim tiên sinh muốn dùng Lý Bạch để dạy một bài học cho các ông thơ thẩn đời sau... của trường phái thơ con cóc!
Nhưng tôi e tiên sinh còn có điều hạn hẹp khác:
ở một phần khác Thánh Thán viết: Ôi luật thi đời Đường chẳng phải chỉ là sự cấu tạo tốt đẹp của một thời mà vốn là tuyệt xướng của ngàn bậc thánh.
Luật thơ dù tuyệt vời đến đâu cũng chỉ là bước đầu. Người làm thơ cao thủ không thể không thuần thục nó nhưng thành thục rồi nên quên nó đi, biến nó thành một phản xạ. Luật thơ dù là thơ Đường, chỉ là điều kiện cần, không phải là điều kiện đủ.
Lý Bạch không làm không phải vì hiểu rõ luật thi cam khổ, ông không làm vì không thích làm, thế thôi.
Thánh Thán thừa hiểu rằng hai nhà thơ lớn nhất đời Đường là Đỗ Phủ và Lý Bạch.
Đỗ Phủ hoạt động trong cõi luật.
Lý Bạch hoạt động trong cõi siêu luật
Đỗ Phủ là tuyệt đỉnh của thơ luật Đường.
Lý Bạch là chân trời của thơ Đường.
Sao lại lấy những tiêu chuẩn của cõi luật áp đặt cho cõi siêu luật?
Một điểm nữa, tại sao lại khăng khăng kết luận, rằng Lý Bạch cúi mình sát đất không dám làm thơ về lầu Hoàng Hạc nữa? Thật ra Lý Bạch đã làm. Nhưng không làm như Thôi Hiệu. Hai câu thơ:
Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu
có thể coi là một bài kiểu khác của Lý về Hoàng Hạc Lâu. Nó cũng nổi tiếng không kém gì bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu.
Đó chính là phép hiện diện bằng khuyết diện của bậc đại trí.
II. Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài
Phụng hoàng đài thượn phụng hoàng du
Phụng khứ đài không giang tự lưu
Ngô cung hoa thảo mai u kính
Tấn đại y quan thành cổ khâu
Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại
Nhị thuỷ trung phân Bạch lộ châu
Tổng vị phù vân năng tế nhật
Trường An bất kiến sử nhân sầu.
Lý Bạch
Lên lầu Phụng hoàng tại Kim Lăng
Lên lầu Phụng hoàng (xưa) phụng hoàng dạo chơi
Phụng hoàng đi rồi lầu không nước sông vẫn trôi
Trong cung Ngô hoa cỏ vùi chôn đường nhỏ tối tăm
áo mũ đời Tấn thành ra gò đất
Núi Tam Sơn rơi một nửa ra ngoài trời xanh
Sông Nhị phân đôi ở giữa bãi Cò Trắng
Tất cả chỉ vì đám mây nổi hay che mặt trời
Không thấy thành Trường An, người buồn bã.
Thánh Thán phê bình:
Trong thơ đời Đường, một dải gồm 4 câu 7 chữ là 28 chữ rõ rệt đó chính là 28 ngôi sao, ngôi nào cũng đều có duyên cớ cả, trong số đó quyết không có ngôi sao nào không duyên cớ. Nay trong ba câu dải thứ nhất bài thơ này tôi kiếm cái duyên cớ tất phải tả phụng du (phượng dạo chơi) mà không tìm được. Như vậy Lý tiên sinh ngày ấy hẳn nên cắt đứt ái dục mà nhường cho họ Thôi độc bộ, thế mà tại sao lại cũng giống như bọn văn nhân nhỏ mọn đời sau cứ phải muốn hơn hớn không xá, cam làm như vậy...
Giang tự lưu cũng chỉ là đổi vân du du. Diệu là diệu ở hai câu Ngô cung, Tấn đại lập tức một khóc một cười?
Ta muốn kiếm cung Ngô mà chỉ có cỏ hoa vùi lối như thế há không muốn khóc thất thanh ư? Nhưng ta nghe nói kẻ đánh Ngô là Tấn, do đó đi kiếm triều đại Tấn thì cũng đã mũ áo thành gò rồi, như thế há không muốn cười ra nước mắt ư?
Lê Đạt lạm bàn:
Trước hết cần nói Phụng hoàng đài không phải một bài thơ kiệt xuất của Lý Bạch.
Lấy một bài trong số ngàn bài thơ của Lý để so với bài thơ kiệt xuất nhất của Thôi Hiệu là một việc làm e không công bằng.
Nhưng thôi, ta cứ chấp nhận coi đó như kết quả của một cuộc bốc thăm phân bảng các đội bóng tranh giải Mundial.
Ngay câu mở đầu, Thánh Thán viết:
Tương truyền đây là bài thơ bắt chước Hoàng hạc lâu (của Thôi Hiệu). Như vậy là Thánh Thán đã tôn Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu lên làm một mô thức và lấy nó làm chuẩn đánh giá bài Phụng Hoàng Đài.
Đó là cách phê bình khép kín nhìn về phía sau chứ không phải mở nhìn ra phía trước.
Trong thơ, làm lại một bài thơ của người khác đã viết không phải chuyện lạ. Vấn đề chính là biến hoá cái của người khác thành của mình như thế nào.
Lấy một ví dụ cho dễ hiểu. Đọc câu thơ của Nguyễn Du:
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
Ai cũng biết Nguyễn Du mượn một câu thơ Đường:
Đào hoa y cựu tiếu đông phong
Hoa đào như cũ còn cười gió đông
Nhưng hai chữ năm ngoái tuyệt bút hàng ngàn lần so với hai chữ y cựu, nó gợi lên bao nhiêu nuối tiếc bâng khuâng và ngơ ngác, nó làm sóng sánh cả câu thơ... khiến câu thơ gần như trở thành của Nguyễn Du chứ không thể nói là đơn thuần bắt chước thơ Đường.
Thánh Thán căn cứ vào luật thơ Đường (lại luật!!!) 4 câu 7 chữ là 28 chữ, rõ rệt chính là 28 ngôi sao (biết rồi khổ lắm nói mãi!) rồi đi đến nhận xét Nay trong ba câu của dải thứ nhất bài thơ này tôi tìm kiếm cái duyên cớ tất phải tả “phụng du” mà không kiếm được.
Không kiếm được là phải vì có đâu mà kiếm. Tôi nhắc lại: Lý Bạch hoạt động ở cõi siêu luật (một cõi luật khác).
Câu thứ nhất trong bài của Thôi Hiệu.
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Là nói một sự kiện Thôi cho là trọng đại nó khơi nguồn cảm khái của nhà thơ, mới vào bài thơ đã bộc lộ tính hoài cổ trang trọng một cách rõ rệt.
Câu mở đầu của Lý Bạch:
Phụng hoàng đài thượng phụng hoàng du
Dung dị và phóng khoáng, hai chữ phụng hoàng lặp lại cho câu thơ dáng dấp nhẹ nhõm của một cuộc chơi (du). Cái ý du này quán triệt cả bài thơ.
Đã chơi thì tả hay không tả nào có quan trọng gì? Vả lại, xét đến cùng, chơi tự nó chẳng phải là duyên cớ sao? Lý Bạch là một nhà thơ điêu luyện đến mức tự nhiên. Trong lúc mọi người yên trí rằng phụng du là bất túc, là không có duyên cớ, Lý Bạch thủng thẳng gẩy nhẹ, nhẹ nhưng vào lưới.
Đó là câu 7 của bài thơ, trở lại ý chơi và nâng nó lên một tầng khái quát mới.
Tất cả chỉ vì đám mây nổi hay che mặt trời
Tổng vị phù vân năng tế nhật
Cả phụng du cả Ngô lẫn Tấn, tất cả cũng chỉ do trò chơi của đám mây nổi (mây nổi tan hợp bất thường phù du chứ không phải mây trắng u hoài, man mác) với mặt trời mà thôi.
Bất giác nghĩ đến lời bình của Trang Tử về con gà gỗ trong Nam Hoa kinh.
Để nói cái lai láng, cái trầm buồn, Thôi Hiệu có một cách. Để nói cái tiêu sái, cái thích thảng Lý Bạch có một cách. Sao Kim nhạc trưởng lại bắt hai người diễn tấu giống nhau?
Hai câu thơ được Thánh Thán khen:
Trong cung Ngô hoa cỏ vùi chôn đường nhỏ tối tăm
áo mũ đời Tấn thành gò đất.
Đúng là những câu thơ hay, nhưng cũng là hay theo chuẩn của mô thức Hoàng hạc lâu, của thông lệ.
Theo tôi hai câu xuất sắc nhất trong bài là hai câu mà Thánh Thán bỏ qua:
Núi Tam Sơn rơi một nửa ra ngoài trời xanh
Sông Nhị Thuỷ phân đôi ở giữa bãi Cò Trắng
Xuất sắc vì tân kỳ.
Hai câu thơ như bứt khỏi sức hút của hạ giới bay lên quỹ đạo vũ trụ.
Người làm thơ có cái bút lực muôn trượng của một tâm hồn siêu phàm ngoại cỡ hàng ngày làm bạn với Núi Kính Đình với sông Hoàng Hà đổ xuống từ lưng trời.
Một người như thế không thể nào lấy luật, dù là luật của thánh nhân để giới hạn được.
Ai cũng biết Đỗ Phủ suốt đời lao tâm khổ tứ làm một câu thơ quỷ thần chưa khiếp kinh, chết không nhắm mắt, đó là bận tâm lớn của bậc thi bá.
Lý Bạch hình như đã bứt được ra khỏi bận tâm ấy, ông làm thơ như bình sinh khi đói ta ăn, khi mệt ta nghỉ, như con cá Kình dọc ngang vùng nước cả, con chim bằng vùng vẫy đỉnh Thiên Sơn, đó là cái hư tâm hay nói theo các nhà phê bình mới, cái hồn nhiên cấp hai, của bậc chân thi.
Suốt đời Đỗ Phủ kính trọng Lý Bạch như một người anh lớn không phải vì tuổi tác, mà chính vì cái hư tâm này.
Nó không khỏi nhắc ta nghĩ đến thái độ kính trọng của Khổng Tử đối với Lão Tử.
Nhà quy tắc vĩ đại của nhân loại nói với học trò:
Loài chim ta biết nó hay bay, loài cá ta biết nó hay bơi, loài thú ta biết nó hay chạy. Loài chạy thì có thể đánh bằng cạm bẫy, loài bơi thì có thể đánh bằng chài lưới, loài bay thì có thể đánh bằng lưới giập, còn như loài rồng thì ta không biết nó cưỡi mây gió lên trời như thế nào. Nay ta gặp Lão Tử, người ấy cũng như con rồng vậy.
Kim tiên sinh,
Ông là bậc tiền bối, uyên bác, bụng chứa hàng kho sách, tôi là kẻ đến sau kiến thức đơn sơ - dùng lời một nhà thơ Pháp, - chỉ vừa đủ để tự vệ - tiếp ông rượu e rượu dỏm không mua, nhà chật ở chung, trầm không gây, e bất tiện hàng xóm, tri âm riêng có tấc lòng với thơ, mấy lời lạm bàn, mong ông lượng thứ.
Lê Đạt
(Phụ bản thơ báo Văn nghệ)
Love mickey,