Lạm bàn với Trần Đăng Khoa: Từ “Hai câu thơ của Xuân Diệu”…
Hoàng Hữu Quế
Nói “Về hai câu thơ của Xuân Diệu”, ông Trần Đăng Khoa viết: “Tôi đặc biệt kính phục hai câu thơ của ông:
Trái đất ba phần tư nước mắt
Đi như giọt lệ giữa không trung
Hồn vía của hai câu thơ rất tuyệt vời nằm trong một chữ. Đó là chữ “đi”… “Đi” là ở thế chủ động, và phải đi thì trái đất mới là một sinh linh, mới ra một thân phận. Còn “trôi” (nếu được thay cho chữ “đi” như độc giả hỏi - H.H.Q chú thích) thì thành nước thật mất rồi, trái đất hoá vô cảm như dòng nước vô tri, câu thơ dễ dãi và lười nhác. Chữa thế là hỏng mất cả câu thơ. Đây là câu thơ hay một cách đột xuất, bay ra ngoài quỹ đạo thơ quen thuộc của thơ Xuân Diệu. Câu thơ rất giản dị và kỳ vĩ… Thi sĩ Xuân Diệu của chúng ta chỉ ở một vị trí rất khiêm nhường, nếu đặt ông bên cạnh Lý Bạch, Đỗ Phủ, R.Tagor, Nguyễn Du, A.Puskin, Gớt v.v… Nhưng nếu mỗi thi sĩ chỉ được chọn ra hai câu thơ và chỉ hai câu thơ thôi, thì tôi ngờ rằng, có lẽ tất cả các bậc thiên tài kia đều phải ngả mũ trước hai câu thơ đó của Xuân Diệu”.
Đây là lời đáp của ông Khoa cho một độc giả của ông là ông Vũ Trung Nguyên (hòm thư 1095 N.A Dams Street Arlington, VA 24204) trong mục “Nhà văn - Nghề văn” (Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 570 tháng 3-2003. Trang 101 và 102). Ông Khoa còn kể rằng, nói như trên vì ông ngờ rằng câu thơ không hẳn của Xuân Diệu mà mang cái không khí thơ Huy Cận nên “bay ra ngoài” quen thuộc thơ Xuân Diệu. Và “linh cảm” ấy của ông đã được khẳng định khi ông trực tiếp gặp Huy Cận vào lần nào đó. Huy Cận xác nhận đích thực đó là 2 câu thơ của ông viết năm 1940 rồi Xuân Diệu thích và Huy Cận “cho luôn” Xuân Diệu để sau này ông dùng trong một sáng tác khác của mình. Tưởng như “thần đồng thi ca ấu thơ Trần Đăng Khoa quá mẫn cảm và đúng đắn” trong thưởng ngoạn phát hiện nghi hoặc đó…(!?)
Có khá nhiều việc khoa học của nguyên lý nghệ thuật cần bàn ở đây với ông Khoa!
Nguyên 2 câu thơ trên của Xuân Diệu ở trong một bài thơ đánh dấu thời kỳ ông đi theo cách mạng sau 1945. Khi đó Xuân Diệu hào hứng tham gia với nhận thức mới khác trước. Ông nêu lên sự khổ ải của đất nước, nhân dân trong nô lệ xâm lược. Lại cũng là ý niệm xưa nay của người đời nói tự rất lâu, rằng chúng sinh đau khổ nước mắt tràn thế gian có thể ví với thực tế trái đất 3/4 là nước, còn lại mới là đất gồm núi và đồng bằng. Cách mạng đến, dường như đời sống nhân dân - đất nước sẽ thay đổi đối lập với trước đó, không còn vậy nữa, Nêu thêm điều này mà ông Khoa tạm bỏ qua trong bài viết để hiểu rõ câu thơ hơn! Đơn giản, một phần ý nghĩa, câu thơ “hay” này để nói sự khổ ải của con người đất nước trước cách mạng.
Cái “tuyệt vời” như ý ông Khoa phân tích, bác bỏ ý kiến độc giả?
Cứ như nguyên ý, nghệ thuật… 2 câu thơ với hoàn cảnh trong bài thơ của nó, theo tôi chữ “trôi” nếu được thay cho chữ “đi” cũng rất có lý. Vì, để nói nỗi khổ nhân dân - nhân loại, bằng hình tượng như thế, chữ “trôi” sẽ nhấn mạnh, có thế mạnh một cách khác sâu sắc hơn chữ “đi”. Chữ “đi”… có thể “chủ động” hơn nên cái khổ ải của họ chưa sâu nặng bằng chữ “trôi”. “Trôi” thì mệt mỏi nặng nề tới mức vật vờ giữa cuộc đời nửa chủ động nửa không, vô định miên man không biết về đâu và bao giờ thoát được! Còn “đi” thì tựa như sự vất vả khổ ải chưa đoạ đày họ hết sức lực…!? Chữ “đi” và chữ “trôi” thì đều đảm bảo mức diễn tả trái đất - để nói nhân gian - là sinh linh sự sống với thân phận như thế… Chứ nói như ông Khoa thì, ý của ông cũng cần được tôn trọng, nhưng quá chủ quan, thiếu chính xác dù đã dẫn cả lời Xuân Diệu mà tôi không hề nghi ngờ độ chính xác của người trích. Nhưng để hiểu cõi lòng sâu kín Xuân Diệu cùng thi tứ của ông trong đó thì không hẳn thế! Chữ “đi” chưa thể có “độc quyền” hơn chữ “trôi” để nói sự sống sinh linh, thân phận. Lập luận của ông Khoa lại như cho đó là chân lý thì không vững chút nào, sai nguyên tắc. Một phần hé mở độ miêu tả đời sống vất vả con người ở trên đã chứng minh điều đó. Ông Khoa gợi như thế thêm tôn lý biện minh của ông cũng chưa thể đúng được. Đó là một lẽ.
Nhưng vượt lên trên hay ra ngoài việc này sẽ hanh thông hơn. ấy là sự thật, Xuân Diệu trứ danh viết thế, có thể nếu còn sống, được nghe phân tích cảm nhận ông lại đồng ý sửa chữ “đi” thành chữ “trôi”, hoặc cố tình giữ nguyên đều chỉ là một vẻ giản dị sáng tác. Chỉ nên ghi nhận mà không nên suy diễn quá ư “thông minh” lắm khi rất nguy hiểm! Thế thôi. Có gì mà nhiêu khê? Thực tế lắm khi cả những thiên tài cầm bút, người ta chỉ giản dị là cảm hứng hồn nhiên. Không quá đặc biệt hay kém cỏi thì như vậy là đủ, là hơn, không nhiễu sự.
Việc “linh cảm” của ông Khoa được chính người “trong cuộc” xác minh (tôi không rõ khi Xuân Diệu còn sống hay đã khuất?) cũng chẳng có gì là kỳ bí cả. Nếu luật nhân loại cao viễn ghi tự nền dân chủ A - ten cách nay trên dưới 2000 năm rằng: “Mọi người đều được coi là vô tội cho đến tận trước lúc toà án tuyên bố là có tội”, thì hiện đại họ sánh ngang thiên nhiên đã tuyệt vời nhận biết thành luật bổ sung: “Lời khai chưa thể căn cứ chứng minh tội trạng hay không mà chứng cớ hiển nhiên mới có sức xác thực quy kết”! Nhắc ra vì đời sống có quá nhiều ẩn tàng khó minh bạch mà cũng không cần quá bận lòng như thế khi không cần thiết! Trường hợp Huy Cận nói với tác giả xác minh như trên, xét về nguyên lý vừa nêu cũng chỉ là thường tình: “Anh nói vậy, tôi biết vậy”. Nghĩa là tôi không bác bỏ, chỉ nghe, càng chưa thể đồng tình coi là đúng đắn! Có gì độc đắc đâu?
Cũng trong đáp từ ông Khoa viết: Xuân Diệu có 2 chặng đường thơ rõ ràng “trước cách mạng là rạo rực yêu đương, và sống cuống quýt vội vàng. Sau cách mạng, ông kéo thơ về mặt đất cần lao và cố gắng đưa nhiều thực tế đời sống vào thơ”(sđd).
Xuân Diệu dễ nhận biết là rất nhiệt tình, nhất là với thơ, cả đời vì thơ và ngất ngưởng không yên. Cũng như nhiều nhà thơ khác, quả đời sống Xuân Diệu có 2 giai đoạn. Còn về thơ, mạch văn “tạng viết” cũng hoàn toàn không đơn giản, không thể như ông Khoa kết luận quá ư “sách vở” quen thuộc cũ mòn chẳng có gì khám phá xác thực. Chứng cớ cho điều này cũng dễ thấy chẳng khó khăn gì! Đằng sau những “rạo rực, vội vàng…”
Cái cơ bản nền tảng là chánh kiến, khẩu khí và tư tưởng hồn - thơ Xuân Diệu. Khiến những “mau lên chứ”, cuống quýt chỉ là hình thức, cái vỏ thêm tuyệt vời ở thơ ông mà thôi. Có thể qua nhiều trang viết hơn nửa thế kỷ, người đời đã hời hợt và quá nhầm lẫn điều này ở ông. Ví như câu thơ nổi tiếng bị đem làm gán ghép: “Mau lên chứ vội vàng lên với chứ”… thì trong đó ông chẳng đã bộc lộ và viết tiếp: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”. Nó khác chi sự bùng nổ quyết liệt cả một trận chiến rung chuyển bất ngờ cả thế giới vừa qua?! Câu thơ hoàn toàn chứng tỏ lối khẩu khí dữ dội, ngang tàng mạnh mẽ Xuân Diệu. Nó quyết liệt, không nhờ nhờ, nó quá dứt khoát như oanh tạc ra với mình và cuộc đời, nhuốm màu tráng sĩ hảo hớn đậm chất “Đồ Nghệ - Tĩnh” hằn rõ máu huyết ông. Nó lớn hơn rất nhiều, đáng trân trọng và đáng nói hơn rất nhiều những “rạo rực”… bề ngoài và ngay cả cái bề ấy trong thơ! Với: “Ta là một, là riêng, là duy nhất/ Ta quên đời mà đời cũng quên ta” thì ngay thời thanh xuân lừng danh cũng đã hoàn toàn bộc lộ tư chất này của ông. Hình tượng núi non biểu diễn khát vọng và con người Xuân Diệu rõ ràng khẩu khí, cao ngạo, yêng hùng chân thành hồn nhiên. Cũng có thể ông không hề giấu cả niềm riêng của mình đến tột cùng. Tất cả đều bị đẩy đến chót vót cảm hứng suy tư thành tư tưởng. Chính nó mới làm nên hình thức bóng bẩy thơ Xuân Diệu thêm mê ly. Điều mà xưa nay ít ai thấy và lưu ý từ tư chất “đồ Nghệ” kiểu Nguyễn Công Trứ… của thi sĩ trăng gió vào bậc nhất đời này?!
Ngày nay, khi sang tuổi 47 “trẻ như qua, già chưa tới” ông lại viết: “Ước được ngàn năm nghe giọng ấy/ Đèo em đi mãi cuối không gian” (Giọng nói). Hay trong “Biển” thua kém hơn cũng vẫn Xuân Diệu dễ sợ: “Cũng có khi ào ạt/ Như nghiến nát bờ em”, “Đến tan cả đất trời/ Anh mới thôi rào rạt”. Quả là khẩu khí, tư tưởng dữ dội, vô cùng cảm hứng với sức lực khát vọng ghê gớm?!
Rồi khi chín chắn lắm, qua trường đời đằng đẵng mấy mươi năm “đời sống thực cần lao ùa vào thơ” ông, cũng chẳng mấy ai nhớ thơ ấy của ông. Ngay cả bản đặc sắc, thật hay, thành công, là “Ngói mới” thì sau một thời diễn thuyết biện minh hầu như chính ông cũng không nhắc đến nữa. Cái tuyệt vời thi ca cống hiến của ông để người đời nhớ mãi vẫn là đời sống thăng hoa nghệ thuật… từ “mạch tạng gốc nền” thi sĩ: “… thương xanh núi/ Chiều vọng chân mây nhớ tím trời”, một Xuân Diệu tài danh - rất ổn định. Nói cho ngay, chỉ chừng đó mà nói cho đủ trăm vẻ vốn có của nguyên lý thi ca - sự sống cũng đã vô cùng mênh mông. Thuở mới trình làng “thần đồng” thơ trẻ măng - 17 tuổi Xuân Diệu (chữ của giáo sư Dương Quảng Hàm) thơ ông là sự thăng hoa cuộc sống, cũng có phải là xa rời hay thoát ly hiện thực cuộc đời đâu? Trên thế gian xưa nay có lẽ chưa ai sinh ra, thiên tài thi tứ, mà có thể bay thoát khỏi đời sống được? Thoát được có chăng chỉ mấy vị tham thiền đại định thành công, xuất cả hồn vía nhập vào đại ngã mà thôi ông Khoa ạ!
Còn câu thơ kia của Xuân Diệu (nếu dùng cả là Huy Cận) “kỳ vĩ”… mức nào so với tài danh nhân loại cổ kim? Ví như Trần Bích San kỷ 19, Phạm Ngũ Lão kỷ 13, Quảng Nghiêm và Không Lộ thiền sư kỷ 12… với những “Văn phi sơn thuỷ vô kỳ khí/ Nhân bất phong sương vị lão tài”; “Hoành sáo giang sơn cáp kỷ thu. Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu?, “Nam nhi tự hữu xung thiên khí/ Hà hướng như lai hành xứ hành”, “Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh/ Tràng khiếu nhất thanh hàn thái hư”, hoặc Lý bạch “Phi lưu trực hạ tam thiên xích/ Nghi thị ngân hà lạc cửu thiên”, hay Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương v.v… cũng đạt thành cao cả. Nhiều vô kể. Đâu chỉ Xuân Diệu trứ danh ở đó?
Xuân Diệu cũng có nhiều ngây thơ thô kệch cả trong thơ và chính cuộc đời. Điều đó là tất nhiên. Riêng với thơ, ông đã nhanh chóng trở về chủ đạo vững vàng. Đời có lắm cái dị dạng đáng quý, có cái quẩn trí bác học, những ngốc nghếch thiên tài… Xuân Diệu hơn ai hết là một con người xác thực bật lên khẩu khí, tư tưởng - thi ca. Viết mà chưa đến đó thường khó kỳ ngôn kỳ khí mê đắm.
Xem ra ông Khoa tri ân với thơ Xuân Diệu mà cao hứng hùng biện ý tứ chữ nghĩa khá bóng bẩy. Nhưng hùng biện và bóng bẩy… không thể bào chữa hay bảo lãnh cho chân lý được. Càng không thể lồng chập nó làm chân lý!!!
Trên đây, tôi cũng chỉ mới vài điều cảm hiểu phân tích sơ sài…
(Bên sông Sài Gòn tiết Xuân phân - Giữa Xuân - Quý Mùi)
(Báo Văn nghệ)
Hoàng Hữu Quế
Nói “Về hai câu thơ của Xuân Diệu”, ông Trần Đăng Khoa viết: “Tôi đặc biệt kính phục hai câu thơ của ông:
Trái đất ba phần tư nước mắt
Đi như giọt lệ giữa không trung
Hồn vía của hai câu thơ rất tuyệt vời nằm trong một chữ. Đó là chữ “đi”… “Đi” là ở thế chủ động, và phải đi thì trái đất mới là một sinh linh, mới ra một thân phận. Còn “trôi” (nếu được thay cho chữ “đi” như độc giả hỏi - H.H.Q chú thích) thì thành nước thật mất rồi, trái đất hoá vô cảm như dòng nước vô tri, câu thơ dễ dãi và lười nhác. Chữa thế là hỏng mất cả câu thơ. Đây là câu thơ hay một cách đột xuất, bay ra ngoài quỹ đạo thơ quen thuộc của thơ Xuân Diệu. Câu thơ rất giản dị và kỳ vĩ… Thi sĩ Xuân Diệu của chúng ta chỉ ở một vị trí rất khiêm nhường, nếu đặt ông bên cạnh Lý Bạch, Đỗ Phủ, R.Tagor, Nguyễn Du, A.Puskin, Gớt v.v… Nhưng nếu mỗi thi sĩ chỉ được chọn ra hai câu thơ và chỉ hai câu thơ thôi, thì tôi ngờ rằng, có lẽ tất cả các bậc thiên tài kia đều phải ngả mũ trước hai câu thơ đó của Xuân Diệu”.
Đây là lời đáp của ông Khoa cho một độc giả của ông là ông Vũ Trung Nguyên (hòm thư 1095 N.A Dams Street Arlington, VA 24204) trong mục “Nhà văn - Nghề văn” (Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 570 tháng 3-2003. Trang 101 và 102). Ông Khoa còn kể rằng, nói như trên vì ông ngờ rằng câu thơ không hẳn của Xuân Diệu mà mang cái không khí thơ Huy Cận nên “bay ra ngoài” quen thuộc thơ Xuân Diệu. Và “linh cảm” ấy của ông đã được khẳng định khi ông trực tiếp gặp Huy Cận vào lần nào đó. Huy Cận xác nhận đích thực đó là 2 câu thơ của ông viết năm 1940 rồi Xuân Diệu thích và Huy Cận “cho luôn” Xuân Diệu để sau này ông dùng trong một sáng tác khác của mình. Tưởng như “thần đồng thi ca ấu thơ Trần Đăng Khoa quá mẫn cảm và đúng đắn” trong thưởng ngoạn phát hiện nghi hoặc đó…(!?)
Có khá nhiều việc khoa học của nguyên lý nghệ thuật cần bàn ở đây với ông Khoa!
Nguyên 2 câu thơ trên của Xuân Diệu ở trong một bài thơ đánh dấu thời kỳ ông đi theo cách mạng sau 1945. Khi đó Xuân Diệu hào hứng tham gia với nhận thức mới khác trước. Ông nêu lên sự khổ ải của đất nước, nhân dân trong nô lệ xâm lược. Lại cũng là ý niệm xưa nay của người đời nói tự rất lâu, rằng chúng sinh đau khổ nước mắt tràn thế gian có thể ví với thực tế trái đất 3/4 là nước, còn lại mới là đất gồm núi và đồng bằng. Cách mạng đến, dường như đời sống nhân dân - đất nước sẽ thay đổi đối lập với trước đó, không còn vậy nữa, Nêu thêm điều này mà ông Khoa tạm bỏ qua trong bài viết để hiểu rõ câu thơ hơn! Đơn giản, một phần ý nghĩa, câu thơ “hay” này để nói sự khổ ải của con người đất nước trước cách mạng.
Cái “tuyệt vời” như ý ông Khoa phân tích, bác bỏ ý kiến độc giả?
Cứ như nguyên ý, nghệ thuật… 2 câu thơ với hoàn cảnh trong bài thơ của nó, theo tôi chữ “trôi” nếu được thay cho chữ “đi” cũng rất có lý. Vì, để nói nỗi khổ nhân dân - nhân loại, bằng hình tượng như thế, chữ “trôi” sẽ nhấn mạnh, có thế mạnh một cách khác sâu sắc hơn chữ “đi”. Chữ “đi”… có thể “chủ động” hơn nên cái khổ ải của họ chưa sâu nặng bằng chữ “trôi”. “Trôi” thì mệt mỏi nặng nề tới mức vật vờ giữa cuộc đời nửa chủ động nửa không, vô định miên man không biết về đâu và bao giờ thoát được! Còn “đi” thì tựa như sự vất vả khổ ải chưa đoạ đày họ hết sức lực…!? Chữ “đi” và chữ “trôi” thì đều đảm bảo mức diễn tả trái đất - để nói nhân gian - là sinh linh sự sống với thân phận như thế… Chứ nói như ông Khoa thì, ý của ông cũng cần được tôn trọng, nhưng quá chủ quan, thiếu chính xác dù đã dẫn cả lời Xuân Diệu mà tôi không hề nghi ngờ độ chính xác của người trích. Nhưng để hiểu cõi lòng sâu kín Xuân Diệu cùng thi tứ của ông trong đó thì không hẳn thế! Chữ “đi” chưa thể có “độc quyền” hơn chữ “trôi” để nói sự sống sinh linh, thân phận. Lập luận của ông Khoa lại như cho đó là chân lý thì không vững chút nào, sai nguyên tắc. Một phần hé mở độ miêu tả đời sống vất vả con người ở trên đã chứng minh điều đó. Ông Khoa gợi như thế thêm tôn lý biện minh của ông cũng chưa thể đúng được. Đó là một lẽ.
Nhưng vượt lên trên hay ra ngoài việc này sẽ hanh thông hơn. ấy là sự thật, Xuân Diệu trứ danh viết thế, có thể nếu còn sống, được nghe phân tích cảm nhận ông lại đồng ý sửa chữ “đi” thành chữ “trôi”, hoặc cố tình giữ nguyên đều chỉ là một vẻ giản dị sáng tác. Chỉ nên ghi nhận mà không nên suy diễn quá ư “thông minh” lắm khi rất nguy hiểm! Thế thôi. Có gì mà nhiêu khê? Thực tế lắm khi cả những thiên tài cầm bút, người ta chỉ giản dị là cảm hứng hồn nhiên. Không quá đặc biệt hay kém cỏi thì như vậy là đủ, là hơn, không nhiễu sự.
Việc “linh cảm” của ông Khoa được chính người “trong cuộc” xác minh (tôi không rõ khi Xuân Diệu còn sống hay đã khuất?) cũng chẳng có gì là kỳ bí cả. Nếu luật nhân loại cao viễn ghi tự nền dân chủ A - ten cách nay trên dưới 2000 năm rằng: “Mọi người đều được coi là vô tội cho đến tận trước lúc toà án tuyên bố là có tội”, thì hiện đại họ sánh ngang thiên nhiên đã tuyệt vời nhận biết thành luật bổ sung: “Lời khai chưa thể căn cứ chứng minh tội trạng hay không mà chứng cớ hiển nhiên mới có sức xác thực quy kết”! Nhắc ra vì đời sống có quá nhiều ẩn tàng khó minh bạch mà cũng không cần quá bận lòng như thế khi không cần thiết! Trường hợp Huy Cận nói với tác giả xác minh như trên, xét về nguyên lý vừa nêu cũng chỉ là thường tình: “Anh nói vậy, tôi biết vậy”. Nghĩa là tôi không bác bỏ, chỉ nghe, càng chưa thể đồng tình coi là đúng đắn! Có gì độc đắc đâu?
Cũng trong đáp từ ông Khoa viết: Xuân Diệu có 2 chặng đường thơ rõ ràng “trước cách mạng là rạo rực yêu đương, và sống cuống quýt vội vàng. Sau cách mạng, ông kéo thơ về mặt đất cần lao và cố gắng đưa nhiều thực tế đời sống vào thơ”(sđd).
Xuân Diệu dễ nhận biết là rất nhiệt tình, nhất là với thơ, cả đời vì thơ và ngất ngưởng không yên. Cũng như nhiều nhà thơ khác, quả đời sống Xuân Diệu có 2 giai đoạn. Còn về thơ, mạch văn “tạng viết” cũng hoàn toàn không đơn giản, không thể như ông Khoa kết luận quá ư “sách vở” quen thuộc cũ mòn chẳng có gì khám phá xác thực. Chứng cớ cho điều này cũng dễ thấy chẳng khó khăn gì! Đằng sau những “rạo rực, vội vàng…”
Cái cơ bản nền tảng là chánh kiến, khẩu khí và tư tưởng hồn - thơ Xuân Diệu. Khiến những “mau lên chứ”, cuống quýt chỉ là hình thức, cái vỏ thêm tuyệt vời ở thơ ông mà thôi. Có thể qua nhiều trang viết hơn nửa thế kỷ, người đời đã hời hợt và quá nhầm lẫn điều này ở ông. Ví như câu thơ nổi tiếng bị đem làm gán ghép: “Mau lên chứ vội vàng lên với chứ”… thì trong đó ông chẳng đã bộc lộ và viết tiếp: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”. Nó khác chi sự bùng nổ quyết liệt cả một trận chiến rung chuyển bất ngờ cả thế giới vừa qua?! Câu thơ hoàn toàn chứng tỏ lối khẩu khí dữ dội, ngang tàng mạnh mẽ Xuân Diệu. Nó quyết liệt, không nhờ nhờ, nó quá dứt khoát như oanh tạc ra với mình và cuộc đời, nhuốm màu tráng sĩ hảo hớn đậm chất “Đồ Nghệ - Tĩnh” hằn rõ máu huyết ông. Nó lớn hơn rất nhiều, đáng trân trọng và đáng nói hơn rất nhiều những “rạo rực”… bề ngoài và ngay cả cái bề ấy trong thơ! Với: “Ta là một, là riêng, là duy nhất/ Ta quên đời mà đời cũng quên ta” thì ngay thời thanh xuân lừng danh cũng đã hoàn toàn bộc lộ tư chất này của ông. Hình tượng núi non biểu diễn khát vọng và con người Xuân Diệu rõ ràng khẩu khí, cao ngạo, yêng hùng chân thành hồn nhiên. Cũng có thể ông không hề giấu cả niềm riêng của mình đến tột cùng. Tất cả đều bị đẩy đến chót vót cảm hứng suy tư thành tư tưởng. Chính nó mới làm nên hình thức bóng bẩy thơ Xuân Diệu thêm mê ly. Điều mà xưa nay ít ai thấy và lưu ý từ tư chất “đồ Nghệ” kiểu Nguyễn Công Trứ… của thi sĩ trăng gió vào bậc nhất đời này?!
Ngày nay, khi sang tuổi 47 “trẻ như qua, già chưa tới” ông lại viết: “Ước được ngàn năm nghe giọng ấy/ Đèo em đi mãi cuối không gian” (Giọng nói). Hay trong “Biển” thua kém hơn cũng vẫn Xuân Diệu dễ sợ: “Cũng có khi ào ạt/ Như nghiến nát bờ em”, “Đến tan cả đất trời/ Anh mới thôi rào rạt”. Quả là khẩu khí, tư tưởng dữ dội, vô cùng cảm hứng với sức lực khát vọng ghê gớm?!
Rồi khi chín chắn lắm, qua trường đời đằng đẵng mấy mươi năm “đời sống thực cần lao ùa vào thơ” ông, cũng chẳng mấy ai nhớ thơ ấy của ông. Ngay cả bản đặc sắc, thật hay, thành công, là “Ngói mới” thì sau một thời diễn thuyết biện minh hầu như chính ông cũng không nhắc đến nữa. Cái tuyệt vời thi ca cống hiến của ông để người đời nhớ mãi vẫn là đời sống thăng hoa nghệ thuật… từ “mạch tạng gốc nền” thi sĩ: “… thương xanh núi/ Chiều vọng chân mây nhớ tím trời”, một Xuân Diệu tài danh - rất ổn định. Nói cho ngay, chỉ chừng đó mà nói cho đủ trăm vẻ vốn có của nguyên lý thi ca - sự sống cũng đã vô cùng mênh mông. Thuở mới trình làng “thần đồng” thơ trẻ măng - 17 tuổi Xuân Diệu (chữ của giáo sư Dương Quảng Hàm) thơ ông là sự thăng hoa cuộc sống, cũng có phải là xa rời hay thoát ly hiện thực cuộc đời đâu? Trên thế gian xưa nay có lẽ chưa ai sinh ra, thiên tài thi tứ, mà có thể bay thoát khỏi đời sống được? Thoát được có chăng chỉ mấy vị tham thiền đại định thành công, xuất cả hồn vía nhập vào đại ngã mà thôi ông Khoa ạ!
Còn câu thơ kia của Xuân Diệu (nếu dùng cả là Huy Cận) “kỳ vĩ”… mức nào so với tài danh nhân loại cổ kim? Ví như Trần Bích San kỷ 19, Phạm Ngũ Lão kỷ 13, Quảng Nghiêm và Không Lộ thiền sư kỷ 12… với những “Văn phi sơn thuỷ vô kỳ khí/ Nhân bất phong sương vị lão tài”; “Hoành sáo giang sơn cáp kỷ thu. Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu?, “Nam nhi tự hữu xung thiên khí/ Hà hướng như lai hành xứ hành”, “Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh/ Tràng khiếu nhất thanh hàn thái hư”, hoặc Lý bạch “Phi lưu trực hạ tam thiên xích/ Nghi thị ngân hà lạc cửu thiên”, hay Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương v.v… cũng đạt thành cao cả. Nhiều vô kể. Đâu chỉ Xuân Diệu trứ danh ở đó?
Xuân Diệu cũng có nhiều ngây thơ thô kệch cả trong thơ và chính cuộc đời. Điều đó là tất nhiên. Riêng với thơ, ông đã nhanh chóng trở về chủ đạo vững vàng. Đời có lắm cái dị dạng đáng quý, có cái quẩn trí bác học, những ngốc nghếch thiên tài… Xuân Diệu hơn ai hết là một con người xác thực bật lên khẩu khí, tư tưởng - thi ca. Viết mà chưa đến đó thường khó kỳ ngôn kỳ khí mê đắm.
Xem ra ông Khoa tri ân với thơ Xuân Diệu mà cao hứng hùng biện ý tứ chữ nghĩa khá bóng bẩy. Nhưng hùng biện và bóng bẩy… không thể bào chữa hay bảo lãnh cho chân lý được. Càng không thể lồng chập nó làm chân lý!!!
Trên đây, tôi cũng chỉ mới vài điều cảm hiểu phân tích sơ sài…
(Bên sông Sài Gòn tiết Xuân phân - Giữa Xuân - Quý Mùi)
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,