AI còn đọc thơ?
Inrasara
1. Những dự báo sai lầm
Ngay từ những năm sau thế chiến thứ hai, thi ca là thể loại văn chương luôn được đặt trong tình trạng dự báo tuyệt chủng. Câu nói nổi tiếng của Theodor W.Adorno: “Làm một bài thơ sau Auschwitz là điều dã man” vang lên như một ám ảnh. Nhưng hơn nửa thế kỉ qua, thơ cứ sống, và sống khỏe nữa. Rồi khi văn hóa nghe-nhìn phát triển lấn át văn hóa-đọc, lần nữa các nhà tiên tri giả chộp lấy cơ hội lại lớn tiếng tuyên bố tiếng chuông đưa tang thi ca đang được đánh tới hồi cuối.
Cũng phải thôi: có bài thơ nào trong vài chục năm qua gây chấn động dư luận bằng cái chết của công nương Diana? Chưa nói sự chênh lệch cả một hố thẳm tỷ lệ người đọc Y. Bonnefoy với các fan mê cái chân trái đầy ma thuật của Maradona! Tiếp: văn hóa computer xuất hiện, làm thay đổi cả hệ thống thẩm mĩ văn chương, từ cách viết đến cách tiếp nhận, in ấn lẫn phát hành, lần nữa đặt thi ca nói riêng và văn chương nói chung trước một thách thức mới! Năng khiếu nghệ thuật của cá thể cũng chịu sự thách thức dễ gây chán nản cho những đầu óc ngoan cố nhất: qua lập trình phức tạp, máy vi tính có thể soạn nhạc, làm được cả thơ, hơn thế – chưa hẳn là thơ tồi!
Vậy mà thơ cứ sống nhăn!
2. Số lượng thơ và sự giao động của công chúng thơ
Các nhà thơ Anh, Mỹ hay Pháp than phiền đã đành, ngay nước Việt Nam tự hào là đất nước thơ, một dân tộc yêu thơ ca, các nhà thơ ta cũng than thơ in ra không bán được mà chỉ biếu tặng là… chạy! Do cơ chế, số lượng in tập thơ mới 30 năm nay thôi lên con số vạn, nay lèo tèo dăm ba trăm mà cũng không hiệu sách nào nhận kí gởi, dẫu đã chịu một tỉ lệ chiết khấu trên trời. Không nói các nhà sách ở các tỉnh lẻ, ngay các hiệu sách lớn tại trung tâm như thành phố Hồ Chí Minh: Nguyễn Huệ, Xuân Thu, Nguyễn Văn Cừ,… dẫu nhiệt tình với thơ tới đâu cũng cho quầy thơ vào một góc cực kì khiêm tốn. Và thơ được trưng bày chủ yếu là các tác gia cổ điển hay tác phẩm được dùng dạy trong nhà trường; thơ đương đại xuất hiện lác đác vài ba người.
Vậy mà hàng năm, các tập thơ cứ đều đều ra lò. Năm 1996: 600 tập thơ được in, con số này cứ tăng lên đều đặn, đến năm 2002 là 1000 đầu sách! Phỏng thế.
Đó là thơ in thành tập, thơ đăng báo thì không ai làm nổi cái thống kê dù ước chừng. Độc giả văn hóa-giấy chủ yếu đọc các mục tin chính, đụng đến trang thơ đa số họ vội vã lật qua, hoặc đọc hờ hững để biết có tên nhà thơ quen biết đang có mặt ở báo này. Thế thôi, nghỉ! Coi như xong một ngày (tuần, tháng) báo.
Còn các tuyển tập thơ cũng không nặng cân hơn là bao. Ai cũng có thể tuyển: nhà xuất bản tuyển đã đành, nhà giáo tuyển, hội phụ nữ tuyển, dân tộc thiểu số tuyển, câu lạc bộ thơ phường tuyển, cá nhân cũng tranh thủ tuyển... Có khi vẫn lại vài bài đó của tác giả đó, nhưng được tuyển cả chục lần chả ai thèm quan tâm. Người sau ung dung tuyển lại từ nhà tuyển trước. (Ví dụ bài thơ Tháp nắng của người viết bài này được/bị tuyển đến 17 lần!). Rất ít người chịu bỏ tiền ra mua tuyển, may ra những nhà nằm trong tuyển mua lại để tặng bạn bè, lắm lúc cả các nhà này cũng không thèm mua nữa. Tội hơn cả là – rất ít người đọc!
bởi thơ đang thay đổi
thế nhưng hiếm người chịu
ghi nhận (…)
các tuyển tập hầu hết như nhau
mở đọc bạn ít thấy điều chuyển
lay truyền thống
thật tiện vì người ta có thể mua và
không đọc
không nghĩ
cũng không xét lại điều gì
và có lẽ các tạp chí không cần thảo luận
(Hazel Smith, Cuộc xuất kích của thơ)
Đó là thân phận của thơ in giấy, còn thì không ít nhà thơ thích bắn sáng tác lên mạng, nó rất thích hợp với văn hóa tiêu dùng của thời hiện đại: có và xài liền, không qua kiểm duyệt hay rù rì qua các khâu in ấn. Nhanh, rẻ. Đọc rồi quên ngay. Người kĩ tính, thích thì down xuống, nhập dữ liệu hay in ra cất giữ để đọc lại.
Cơn lũ thơ tạo cho công chúng nỗi vô cảm và lạnh nhạt với thơ. Từ đó, thơ chỉ được xem như một thứ gia vị, còn hơn thế – một bộ phận thừa của tờ báo (hãy xem Tuổi trẻ chủ nhật, xưa trân trọng với thơ là thế, 4 năm qua gạt hẳn thơ không chút tiếc thương). Độc giả không ai lên tiếng, đúng thôi: nó không còn là thứ cần thiết nữa. Các nhà thơ quay về đọc của nhau, loanh quanh trong đám ruộng nhỏ bé của mình; đôi khi họ không đọc của nhau nữa mà chỉ đọc chính mình: tâm thế tự yêu rất nguy hiểm!
3. Thử nhìn sang bên ngoài
Nhưng có phải thơ đang rơi vào tình thế bi quan như thế trong phạm vi rộng toàn cầu? Thử lượm nhặt sơ bộ vài thông tin, ngẫu hứng:
– Những tập thơ của nhà thơ nữ Ulla Hahn (sinh ở Rhimeland – Đức) từ năm 1981 đến 1997, bán được bốn vạn bản mỗi tập (Văn hóa-thể thao, 26-10-1999).
– Thơ Allen Ginsberg bị chính phủ Mỹ cấm truyền qua làn sóng phát thanh quốc gia với lí do chúng dày đặc “ngôn từ khiếm nhã” mãi 1993 lệnh mới được dở bỏ; tuy vậy tất cả vần thơ bị cấm này được bày bán công khai tại các cửa hiệu sách, đã không ít người tìm mua.
– Năm 2003, hơn 110.000 người tham gia học các khóa viết văn tại Anh. Con số tương tự như ở Mỹ vào các thập niên 1970, 1980. Trong 12 năm qua, các trường đại học Anh mở khóa viết văn sau đại học (MA) đã tăng từ 8 lên tới 85 trường. Hiện trên toàn nước Anh có tổng cộng 11.000 khóa dạy viết văn, gồm các khóa dạy ngắn hạn (khoảng 1 học kỳ) và các khóa dạy ngoài giờ. Vậy mà tại Việt Nam một đất nước thơ có mỗi Trường viết văn Nguyễn Du mà đã có vị đã giơ tay ý kiến đóng cửa! (theo eVan, 4-2004).
– Theo điều tra của báo Figaro, 86% người Pháp sử dụng Internet cho biết họ có đọc thơ, hơn nữa phần lớn trong số họ có làm thơ (eVan, 2004).
– Poetry Magazine (một tạp chí thơ tại Mỹ) bất ngờ được hưởng gia tài 100 triệu đô la của bà Ruth Lilly – một nhà thơ tầm tầm – khi bà qua đời (tapchitho, 2003). Đáng nói hơn là bà này đã tặng tiền sau khi chủ bút tờ Tạp chí trả lại tất cả bài thơ bà từng gởi đăng với lời lẽ rõ ràng: không đăng.
– Trong 4 năm qua, giải thưởng Georg Bychner, giải văn học uy tín nhất nước Đức, ba lần rơi vào tay các nhà thơ (Văn hóa-thể thao, 26-10-1999).
– Hôm thứ sáu, hai trăm năm mươi ngàn thiếu nhi đã xướng to câu thơ nổi tiếng “I wandered lonely as a cloud...” (tạm dịch: Tôi lang thang một mình như thể đám mây).
Những vần thơ của William Wordsworth đã vang lên trên khắp nước Anh trong một hoạt động đọc thơ tập thể hầu kỷ niệm 200 ngày ra đời bài thơ nổi tiếng, lấy cảm hứng từ loài hoa thủy tiên vàng (tiếng Anh: daffodil). (eVan, 03-2004)
– Jean-Pierre Siméon, giám đốc nghệ thuật chương trình Mùa xuân của thi nhân, cho biết trước kia mỗi buổi đọc thơ chỉ có 10 đến 20 người tham dự, nay lên tới từ 50 đến 100 người. Năm ngoái, ở Mutualité, có tới 2.000 người đến nghe thơ! (Figaro,2-3-2004).
Ngoài kia, bao nhiêu là tin lành, thế nhưng…
4. Tại sao thơ Việt không đến được với công chúng?
Chẳng thời nào là thời của thơ cả. Hãy dẹp tâm lí tô hồng quá khứ qua bên. Cũng chính báo Figaro cho biết: ngày xưa Alcools của Apollinaire chỉ in nổi 241 cuốn trong năm xuất bản đầu tiên, thế mà ngày nay tổng số sách bán được của ông đã vượt con số một triệu bản. Cũng hãy quên cái huy hoàng (đâu riêng gì) của thơ thời bao cấp đi. ở đây chúng ta đi thẳng vào vấn đề của hôm nay.
“Thơ bán không chạy thì phải hỏi lại người làm thơ!”. Nguyễn Trọng Tạo khẳng định thế trong một cuộc trao đổi. Theo tôi, vừa hỏi nhà thơ đồng thời hỏi luôn nhiều thứ khác nữa. Ta thử tìm ra một số nguyên do.
– Nguyên nhân nội tại nơi nhà thơ:
Quá khích trong sáng tạo, mà quan niệm của Alain Robbe-Grillet (người sáng lập và nhà lý thuyết chính của nhóm Tiểu thuyết mới) trong cuộc Trò chuyện với phóng viên tạp chí Nga (Văn học nước ngoài) thường được dẫn ra làm ví dụ: “Các tác giả trẻ hiện nay muốn người ta đọc họ, đó là ý muốn rất nguy hiểm”. Đấy là phát biểu của nhà tiền phong trong giai đoạn văn học bị phân ranh dứt khoát giữa bình dân và tinh hoa, bị hiểu một cách lệch lạc. ý hướng tiền phong và thái độ bất cần công chúng, khiến thi sĩ tự nhốt mình trong tháp ngà cô độc. Nhưng hôm nay đã khác rồi: Trào lưu Hậu hiện đại (Post-modernism) nỗ lực xóa nhòa ranh giới ấy!
Sự phân ranh rõ rệt đến có người chia thơ tự do ở Việt Nam một cách sơ giản thành: thơ tự do khó hiểu và thơ tự do dễ hiểu. Phong trào Tân hình thức (New Formanism) được khởi động vài năm qua tại Mỹ không gì hơn mục đích đưa thơ trở lại với ngôn ngữ đời thường. Gần quần chúng hơn.
– Nguyên do từ thông tin đại chúng và người đọc:
Thông tin không chính thức, tại Mỹ mỗi năm có hàng ngàn tờ báo, tạp chí thơ ra đời rồi… chết. Vậy mà ta đến mùa Thu năm 1994, Tạp chí Thơ bằng tiếng Việt mới ra mắt số đầu tiên tận… Mỹ. Để mãi tháng 4-2004 báo Thơ mới làm lễ sinh nhật đầu tại Tòa soạn Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam.
ở trường Đại học Xã hội Nhân văn trong nước, các lý thuyết hay trào lưu thơ đương đại không được giảng dạy, cả khi các câu lạc bộ sáng tác mời các vị nói chuyện về thơ với sinh viên, vẫn khuôn mặt cũ đăng đàn. Thì làm sao giọng thơ cách tân hôm nay có thể đến với thế hệ bạn đọc tương lai. Chúng ta hãy nhớ: Thơ Mới (tiếp nhận trào lưu Hiện thực và Lãng mạn Pháp), dù gặp phải vài trở ngại từ phía các nhà nho bảo thủ, vừa xuất hiện đã dễ dàng đến với công chúng, bởi họ đã được chuẩn bị đón nhận nó. Lớp độc giả tương lai thời ấy đã biết đến Lamartine, V. Hugo, Verlaine, Rimbaud... từ những lớp ở cấp trung học. Trong khi đại học chúng ta có sinh viên nào hiểu thấu đáo Thơ Tân hình thức – New Formalism, Thơ Mở rộng – Expansive Poetry, Thơ Tân truyện kể – New Narrative Poetry… nảy nở và phát triển rầm rộ ở phương Tây mấy thập niên qua?
Hệ quả là công chúng thơ rất dị ứng với cái mới. Từ đó trang thơ của các tờ báo – cả chuyên lẫn không chuyên – từ chối các thể nghiệm. Thơ chúng ta dậm chân tại chỗ, đang rất lạc hậu với thế giới. Báo giấy đã vậy, báo hình với báo tiếng cũng thôi mặn mà với thơ, không là chuyện lạ.
Thơ ra bát ngát, bao nhiêu là hệ thẩm mỹ khác nhau, thậm chí đối lập nhau ra đời qua những thể nghiệm vừa nghiêm túc vừa méo mó lập dị, nhưng nhìn tới nhìn lui không thấy bóng dáng nhà phê bình đâu cả! Bài viết về các tập thơ được đăng báo luôn bị than phiền chỉ dừng lại trình độ bài điểm sách, tán tụng nhau hay tự tán tụng. Người đọc không được chuẩn bị, cả không nhà phê bình uy tín hướng dẫn, đành phó mặc. Từ đó, quay lưng với thơ.
Rồi cả nhà thơ-độc giả nữa! Kì thi thơ ở báo Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh đầu những năm 90 có tới gần chục ngàn người tham dự, nhưng Thơ Bonnefoy được Huỳnh Phan Anh dịch rất công phu, in 1500 bản bán hơn 5 năm vẫn không hết: người làm thơ cũng không thèm đọc thơ!
5. Thử tìm lối thoát cho thơ hôm nay
– Một cách tồn tại khác:
Thời thế thay đổi, thơ thay đổi đã đành; khoa học kĩ thuật thay đổi, thơ cũng phải thay đổi. Thích ứng để tồn tại, nếu không nó sẽ chết. Không thể cứ mãi in thành sách rồi nằm ngửa đọc. “Thơ đang cần cách tồn tại khác. Chính cách thức và đi tìm cách thức tồn tại khác, mới là cái thiếu thực sự của thơ hiện nay”. (Lý Đợi, Tác phẩm thơ: thừa & thiếu, tham luận tại: Gặp mặt những người viết viết văn trẻ Tp. HCM lần 1, 2003). Nó có thể xuất hiện nhiều hơn trên màn hình vi tính, rất hiện đại. Cũng có thể trở lại buổi sơ khai, như nhiều nhà thơ phương Tây đang làm:
“Thierry Renard một thi sĩ chuyên đọc thơ rong, đồng thời là một chủ xuất bản ở Lyon, trong một cuộc trình diễn thơ, đã có mặt và trình bày về những văn bản thơ của anh ta được treo trên một cây dẻ” (L’Express, Phạm Xuân Thạch dịch, Văn nghệ, 21-9-2002).
Có thể đọc thơ đính kèm người mẫu thời trang trình diễn model mới nhất, cũng có thể xướng thơ trên đường phố, trong quán nhậu bình dân; thơ trên sân khấu nông thôn hay thơ ở Hội trường hội thảo khoa học; thơ dán trong toalet công cộng, trên xe buýt, thơ báo tường và cả thơ giấy gói bánh mì,…
Thế nào cũng được miễn là nó phải thay đổi cách tồn tại, để mà tồn tại.
Đây đó đã có nhiều tín hiệu tốt lành:
Khắp nơi đều thấy các dấu hiệu hồi sinh thơ: Chợ thơ ở Saint-Sulpice sôi động chưa từng có; các Tòa nhà Thi ca (Maison de la Poésie) được dựng lên khắp nước Pháp; các liên hoan Mùa xuân của thi nhân luôn luôn thành công; các site dành cho thơ ngày một nhiều trên Internet (Figaro, số đã dẫn).
Và, Việt Nam cũng đã qua Ngày hội Thơ lần hai.
Mặc cho bao nhiêu dự báo về ngày cáo chung của thơ, Thơ mãi sống!
Sài Gòn, 07-06-2004.
(Phụ bản thơ báo Văn nghệ)
Inrasara
1. Những dự báo sai lầm
Ngay từ những năm sau thế chiến thứ hai, thi ca là thể loại văn chương luôn được đặt trong tình trạng dự báo tuyệt chủng. Câu nói nổi tiếng của Theodor W.Adorno: “Làm một bài thơ sau Auschwitz là điều dã man” vang lên như một ám ảnh. Nhưng hơn nửa thế kỉ qua, thơ cứ sống, và sống khỏe nữa. Rồi khi văn hóa nghe-nhìn phát triển lấn át văn hóa-đọc, lần nữa các nhà tiên tri giả chộp lấy cơ hội lại lớn tiếng tuyên bố tiếng chuông đưa tang thi ca đang được đánh tới hồi cuối.
Cũng phải thôi: có bài thơ nào trong vài chục năm qua gây chấn động dư luận bằng cái chết của công nương Diana? Chưa nói sự chênh lệch cả một hố thẳm tỷ lệ người đọc Y. Bonnefoy với các fan mê cái chân trái đầy ma thuật của Maradona! Tiếp: văn hóa computer xuất hiện, làm thay đổi cả hệ thống thẩm mĩ văn chương, từ cách viết đến cách tiếp nhận, in ấn lẫn phát hành, lần nữa đặt thi ca nói riêng và văn chương nói chung trước một thách thức mới! Năng khiếu nghệ thuật của cá thể cũng chịu sự thách thức dễ gây chán nản cho những đầu óc ngoan cố nhất: qua lập trình phức tạp, máy vi tính có thể soạn nhạc, làm được cả thơ, hơn thế – chưa hẳn là thơ tồi!
Vậy mà thơ cứ sống nhăn!
2. Số lượng thơ và sự giao động của công chúng thơ
Các nhà thơ Anh, Mỹ hay Pháp than phiền đã đành, ngay nước Việt Nam tự hào là đất nước thơ, một dân tộc yêu thơ ca, các nhà thơ ta cũng than thơ in ra không bán được mà chỉ biếu tặng là… chạy! Do cơ chế, số lượng in tập thơ mới 30 năm nay thôi lên con số vạn, nay lèo tèo dăm ba trăm mà cũng không hiệu sách nào nhận kí gởi, dẫu đã chịu một tỉ lệ chiết khấu trên trời. Không nói các nhà sách ở các tỉnh lẻ, ngay các hiệu sách lớn tại trung tâm như thành phố Hồ Chí Minh: Nguyễn Huệ, Xuân Thu, Nguyễn Văn Cừ,… dẫu nhiệt tình với thơ tới đâu cũng cho quầy thơ vào một góc cực kì khiêm tốn. Và thơ được trưng bày chủ yếu là các tác gia cổ điển hay tác phẩm được dùng dạy trong nhà trường; thơ đương đại xuất hiện lác đác vài ba người.
Vậy mà hàng năm, các tập thơ cứ đều đều ra lò. Năm 1996: 600 tập thơ được in, con số này cứ tăng lên đều đặn, đến năm 2002 là 1000 đầu sách! Phỏng thế.
Đó là thơ in thành tập, thơ đăng báo thì không ai làm nổi cái thống kê dù ước chừng. Độc giả văn hóa-giấy chủ yếu đọc các mục tin chính, đụng đến trang thơ đa số họ vội vã lật qua, hoặc đọc hờ hững để biết có tên nhà thơ quen biết đang có mặt ở báo này. Thế thôi, nghỉ! Coi như xong một ngày (tuần, tháng) báo.
Còn các tuyển tập thơ cũng không nặng cân hơn là bao. Ai cũng có thể tuyển: nhà xuất bản tuyển đã đành, nhà giáo tuyển, hội phụ nữ tuyển, dân tộc thiểu số tuyển, câu lạc bộ thơ phường tuyển, cá nhân cũng tranh thủ tuyển... Có khi vẫn lại vài bài đó của tác giả đó, nhưng được tuyển cả chục lần chả ai thèm quan tâm. Người sau ung dung tuyển lại từ nhà tuyển trước. (Ví dụ bài thơ Tháp nắng của người viết bài này được/bị tuyển đến 17 lần!). Rất ít người chịu bỏ tiền ra mua tuyển, may ra những nhà nằm trong tuyển mua lại để tặng bạn bè, lắm lúc cả các nhà này cũng không thèm mua nữa. Tội hơn cả là – rất ít người đọc!
bởi thơ đang thay đổi
thế nhưng hiếm người chịu
ghi nhận (…)
các tuyển tập hầu hết như nhau
mở đọc bạn ít thấy điều chuyển
lay truyền thống
thật tiện vì người ta có thể mua và
không đọc
không nghĩ
cũng không xét lại điều gì
và có lẽ các tạp chí không cần thảo luận
(Hazel Smith, Cuộc xuất kích của thơ)
Đó là thân phận của thơ in giấy, còn thì không ít nhà thơ thích bắn sáng tác lên mạng, nó rất thích hợp với văn hóa tiêu dùng của thời hiện đại: có và xài liền, không qua kiểm duyệt hay rù rì qua các khâu in ấn. Nhanh, rẻ. Đọc rồi quên ngay. Người kĩ tính, thích thì down xuống, nhập dữ liệu hay in ra cất giữ để đọc lại.
Cơn lũ thơ tạo cho công chúng nỗi vô cảm và lạnh nhạt với thơ. Từ đó, thơ chỉ được xem như một thứ gia vị, còn hơn thế – một bộ phận thừa của tờ báo (hãy xem Tuổi trẻ chủ nhật, xưa trân trọng với thơ là thế, 4 năm qua gạt hẳn thơ không chút tiếc thương). Độc giả không ai lên tiếng, đúng thôi: nó không còn là thứ cần thiết nữa. Các nhà thơ quay về đọc của nhau, loanh quanh trong đám ruộng nhỏ bé của mình; đôi khi họ không đọc của nhau nữa mà chỉ đọc chính mình: tâm thế tự yêu rất nguy hiểm!
3. Thử nhìn sang bên ngoài
Nhưng có phải thơ đang rơi vào tình thế bi quan như thế trong phạm vi rộng toàn cầu? Thử lượm nhặt sơ bộ vài thông tin, ngẫu hứng:
– Những tập thơ của nhà thơ nữ Ulla Hahn (sinh ở Rhimeland – Đức) từ năm 1981 đến 1997, bán được bốn vạn bản mỗi tập (Văn hóa-thể thao, 26-10-1999).
– Thơ Allen Ginsberg bị chính phủ Mỹ cấm truyền qua làn sóng phát thanh quốc gia với lí do chúng dày đặc “ngôn từ khiếm nhã” mãi 1993 lệnh mới được dở bỏ; tuy vậy tất cả vần thơ bị cấm này được bày bán công khai tại các cửa hiệu sách, đã không ít người tìm mua.
– Năm 2003, hơn 110.000 người tham gia học các khóa viết văn tại Anh. Con số tương tự như ở Mỹ vào các thập niên 1970, 1980. Trong 12 năm qua, các trường đại học Anh mở khóa viết văn sau đại học (MA) đã tăng từ 8 lên tới 85 trường. Hiện trên toàn nước Anh có tổng cộng 11.000 khóa dạy viết văn, gồm các khóa dạy ngắn hạn (khoảng 1 học kỳ) và các khóa dạy ngoài giờ. Vậy mà tại Việt Nam một đất nước thơ có mỗi Trường viết văn Nguyễn Du mà đã có vị đã giơ tay ý kiến đóng cửa! (theo eVan, 4-2004).
– Theo điều tra của báo Figaro, 86% người Pháp sử dụng Internet cho biết họ có đọc thơ, hơn nữa phần lớn trong số họ có làm thơ (eVan, 2004).
– Poetry Magazine (một tạp chí thơ tại Mỹ) bất ngờ được hưởng gia tài 100 triệu đô la của bà Ruth Lilly – một nhà thơ tầm tầm – khi bà qua đời (tapchitho, 2003). Đáng nói hơn là bà này đã tặng tiền sau khi chủ bút tờ Tạp chí trả lại tất cả bài thơ bà từng gởi đăng với lời lẽ rõ ràng: không đăng.
– Trong 4 năm qua, giải thưởng Georg Bychner, giải văn học uy tín nhất nước Đức, ba lần rơi vào tay các nhà thơ (Văn hóa-thể thao, 26-10-1999).
– Hôm thứ sáu, hai trăm năm mươi ngàn thiếu nhi đã xướng to câu thơ nổi tiếng “I wandered lonely as a cloud...” (tạm dịch: Tôi lang thang một mình như thể đám mây).
Những vần thơ của William Wordsworth đã vang lên trên khắp nước Anh trong một hoạt động đọc thơ tập thể hầu kỷ niệm 200 ngày ra đời bài thơ nổi tiếng, lấy cảm hứng từ loài hoa thủy tiên vàng (tiếng Anh: daffodil). (eVan, 03-2004)
– Jean-Pierre Siméon, giám đốc nghệ thuật chương trình Mùa xuân của thi nhân, cho biết trước kia mỗi buổi đọc thơ chỉ có 10 đến 20 người tham dự, nay lên tới từ 50 đến 100 người. Năm ngoái, ở Mutualité, có tới 2.000 người đến nghe thơ! (Figaro,2-3-2004).
Ngoài kia, bao nhiêu là tin lành, thế nhưng…
4. Tại sao thơ Việt không đến được với công chúng?
Chẳng thời nào là thời của thơ cả. Hãy dẹp tâm lí tô hồng quá khứ qua bên. Cũng chính báo Figaro cho biết: ngày xưa Alcools của Apollinaire chỉ in nổi 241 cuốn trong năm xuất bản đầu tiên, thế mà ngày nay tổng số sách bán được của ông đã vượt con số một triệu bản. Cũng hãy quên cái huy hoàng (đâu riêng gì) của thơ thời bao cấp đi. ở đây chúng ta đi thẳng vào vấn đề của hôm nay.
“Thơ bán không chạy thì phải hỏi lại người làm thơ!”. Nguyễn Trọng Tạo khẳng định thế trong một cuộc trao đổi. Theo tôi, vừa hỏi nhà thơ đồng thời hỏi luôn nhiều thứ khác nữa. Ta thử tìm ra một số nguyên do.
– Nguyên nhân nội tại nơi nhà thơ:
Quá khích trong sáng tạo, mà quan niệm của Alain Robbe-Grillet (người sáng lập và nhà lý thuyết chính của nhóm Tiểu thuyết mới) trong cuộc Trò chuyện với phóng viên tạp chí Nga (Văn học nước ngoài) thường được dẫn ra làm ví dụ: “Các tác giả trẻ hiện nay muốn người ta đọc họ, đó là ý muốn rất nguy hiểm”. Đấy là phát biểu của nhà tiền phong trong giai đoạn văn học bị phân ranh dứt khoát giữa bình dân và tinh hoa, bị hiểu một cách lệch lạc. ý hướng tiền phong và thái độ bất cần công chúng, khiến thi sĩ tự nhốt mình trong tháp ngà cô độc. Nhưng hôm nay đã khác rồi: Trào lưu Hậu hiện đại (Post-modernism) nỗ lực xóa nhòa ranh giới ấy!
Sự phân ranh rõ rệt đến có người chia thơ tự do ở Việt Nam một cách sơ giản thành: thơ tự do khó hiểu và thơ tự do dễ hiểu. Phong trào Tân hình thức (New Formanism) được khởi động vài năm qua tại Mỹ không gì hơn mục đích đưa thơ trở lại với ngôn ngữ đời thường. Gần quần chúng hơn.
– Nguyên do từ thông tin đại chúng và người đọc:
Thông tin không chính thức, tại Mỹ mỗi năm có hàng ngàn tờ báo, tạp chí thơ ra đời rồi… chết. Vậy mà ta đến mùa Thu năm 1994, Tạp chí Thơ bằng tiếng Việt mới ra mắt số đầu tiên tận… Mỹ. Để mãi tháng 4-2004 báo Thơ mới làm lễ sinh nhật đầu tại Tòa soạn Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam.
ở trường Đại học Xã hội Nhân văn trong nước, các lý thuyết hay trào lưu thơ đương đại không được giảng dạy, cả khi các câu lạc bộ sáng tác mời các vị nói chuyện về thơ với sinh viên, vẫn khuôn mặt cũ đăng đàn. Thì làm sao giọng thơ cách tân hôm nay có thể đến với thế hệ bạn đọc tương lai. Chúng ta hãy nhớ: Thơ Mới (tiếp nhận trào lưu Hiện thực và Lãng mạn Pháp), dù gặp phải vài trở ngại từ phía các nhà nho bảo thủ, vừa xuất hiện đã dễ dàng đến với công chúng, bởi họ đã được chuẩn bị đón nhận nó. Lớp độc giả tương lai thời ấy đã biết đến Lamartine, V. Hugo, Verlaine, Rimbaud... từ những lớp ở cấp trung học. Trong khi đại học chúng ta có sinh viên nào hiểu thấu đáo Thơ Tân hình thức – New Formalism, Thơ Mở rộng – Expansive Poetry, Thơ Tân truyện kể – New Narrative Poetry… nảy nở và phát triển rầm rộ ở phương Tây mấy thập niên qua?
Hệ quả là công chúng thơ rất dị ứng với cái mới. Từ đó trang thơ của các tờ báo – cả chuyên lẫn không chuyên – từ chối các thể nghiệm. Thơ chúng ta dậm chân tại chỗ, đang rất lạc hậu với thế giới. Báo giấy đã vậy, báo hình với báo tiếng cũng thôi mặn mà với thơ, không là chuyện lạ.
Thơ ra bát ngát, bao nhiêu là hệ thẩm mỹ khác nhau, thậm chí đối lập nhau ra đời qua những thể nghiệm vừa nghiêm túc vừa méo mó lập dị, nhưng nhìn tới nhìn lui không thấy bóng dáng nhà phê bình đâu cả! Bài viết về các tập thơ được đăng báo luôn bị than phiền chỉ dừng lại trình độ bài điểm sách, tán tụng nhau hay tự tán tụng. Người đọc không được chuẩn bị, cả không nhà phê bình uy tín hướng dẫn, đành phó mặc. Từ đó, quay lưng với thơ.
Rồi cả nhà thơ-độc giả nữa! Kì thi thơ ở báo Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh đầu những năm 90 có tới gần chục ngàn người tham dự, nhưng Thơ Bonnefoy được Huỳnh Phan Anh dịch rất công phu, in 1500 bản bán hơn 5 năm vẫn không hết: người làm thơ cũng không thèm đọc thơ!
5. Thử tìm lối thoát cho thơ hôm nay
– Một cách tồn tại khác:
Thời thế thay đổi, thơ thay đổi đã đành; khoa học kĩ thuật thay đổi, thơ cũng phải thay đổi. Thích ứng để tồn tại, nếu không nó sẽ chết. Không thể cứ mãi in thành sách rồi nằm ngửa đọc. “Thơ đang cần cách tồn tại khác. Chính cách thức và đi tìm cách thức tồn tại khác, mới là cái thiếu thực sự của thơ hiện nay”. (Lý Đợi, Tác phẩm thơ: thừa & thiếu, tham luận tại: Gặp mặt những người viết viết văn trẻ Tp. HCM lần 1, 2003). Nó có thể xuất hiện nhiều hơn trên màn hình vi tính, rất hiện đại. Cũng có thể trở lại buổi sơ khai, như nhiều nhà thơ phương Tây đang làm:
“Thierry Renard một thi sĩ chuyên đọc thơ rong, đồng thời là một chủ xuất bản ở Lyon, trong một cuộc trình diễn thơ, đã có mặt và trình bày về những văn bản thơ của anh ta được treo trên một cây dẻ” (L’Express, Phạm Xuân Thạch dịch, Văn nghệ, 21-9-2002).
Có thể đọc thơ đính kèm người mẫu thời trang trình diễn model mới nhất, cũng có thể xướng thơ trên đường phố, trong quán nhậu bình dân; thơ trên sân khấu nông thôn hay thơ ở Hội trường hội thảo khoa học; thơ dán trong toalet công cộng, trên xe buýt, thơ báo tường và cả thơ giấy gói bánh mì,…
Thế nào cũng được miễn là nó phải thay đổi cách tồn tại, để mà tồn tại.
Đây đó đã có nhiều tín hiệu tốt lành:
Khắp nơi đều thấy các dấu hiệu hồi sinh thơ: Chợ thơ ở Saint-Sulpice sôi động chưa từng có; các Tòa nhà Thi ca (Maison de la Poésie) được dựng lên khắp nước Pháp; các liên hoan Mùa xuân của thi nhân luôn luôn thành công; các site dành cho thơ ngày một nhiều trên Internet (Figaro, số đã dẫn).
Và, Việt Nam cũng đã qua Ngày hội Thơ lần hai.
Mặc cho bao nhiêu dự báo về ngày cáo chung của thơ, Thơ mãi sống!
Sài Gòn, 07-06-2004.
(Phụ bản thơ báo Văn nghệ)
Love mickey,