Hai chiều của mỹ học vận động
Phương Lựu
Bélinsky đã định nghĩa phê bình văn học “là Mỹ học vận động, nó trung thành với một số nguyên tắc, nhưng dẫn dắt anh đến những nguyên tắc ấy bằng những con đường và phương diện khác nhau” (Bàn về phê bình cùng những ý kiến về văn học trên “Người quan sát Mátxcơva”. Có nghĩa là xuất phát từ những nguyên tắc, nhưng không dừng lại ở những nguyên tắc trong dạng khái quát tĩnh tại, mà là triển khai, vận dụng nó trên những bình diện, phương hướng và con đường cụ thể. Quả vậy không giống với các phân môn nghiên cứu văn học khác, phê bình văn học tác động trực tiếp đến dòng chảy trước mắt của văn học, uốn nắn dòng chảy đó không để rơi vào tình trạng xô bồ tự phát, bằng cách ra sức nhiệt tình cổ vũ, khuyến khích biểu dương, phát huy những hiện tượng văn học này, thẳng thắn phê phán những hiện tượng văn học khác theo những quan điểm mỹ học nhất định.
Đã xuất phát từ mỹ học, tất yếu trong đó có lý luận văn học, bởi vì trên một ý nghĩa nhất định, thì lý luận văn học chính là mỹ học của nghệ thuật ngôn từ. Nhưng trở lên mới chỉ là chiều xuôi, có nghĩa là lý luận văn học cung cấp những quan điểm và kiến thức chung nhất cho phê bình mổ xẻ những hiện tượng văn học cụ thể, bởi vì như Lênin đã từng nói cái chung nào cũng rộng hơn cái riêng. Nhưng trái lại, Lênin còn đặc biệt lưu ý bất kỳ cái riêng nào cũng rộng hơn cái chung, cho nên ở đây còn có thể diễn ra một chiều ngược lại là phản tác động của phê bình đối với lý luận văn học. Bằng sự mổ xẻ tỉ mỉ những hiện tượng văn học cụ thể vô cùng phong phú về thực thể cũng như quá trình, phê bình có khả năng phát hiện những điểm mới để khái quát bổ sung cho hệ thống vốn có của lý luận. Và điều này cũng đã manh nha trong quan niệm của Bélinsky. Cũng trong bài báo trên, ông có viết: “Lý luận là sự thống nhất hài hoà có hệ thống về những quy luật của cái thẩm mỹ, nhưng nó có chỗ bất lợi, vì chỉ bao hàm trong hạn độ nhất định của thời gian, còn phê bình thì không ngừng tiến triển, hướng tới trước, thu thập được những tố chất và tư liệu mới cho khoa học”. ý hướng ở đây cũng đã rõ, nhưng hơi bị tiếc là về ngôn từ, ông chưa diễn đạt cho rõ hơn rằng từ những tố chất và tư liệu mới đó, có thể nảy ra những khái quát mới về lý luận.
Quy luật phê bình tác động đến lý luận càng nổi rõ qua những trường hợp có phần đặc biệt. Dân tộc chúng ta vốn không giàu truyền thống triết học, tư duy lý thuyết hạn chế, cho nên trong nền văn học trung đại của ta hầu như vắng bóng những văn bản thi học. Cho dù ở dạng sơ khai như lời bàn về “gốc của nhạc” của Nguyễn Trãi, hay tương đối có hệ thống hơn như mục Văn nghệ chí trong Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Trong tình hình đó, những lời tựa, lời bạt, lời bình, lời dẫn hay thư tín trao đổi về những hiện tượng văn học cụ thể, nghĩa là những tư liệu về phê bình văn học lại cần phải và có thể hàm chứa nhiều quan điểm và kiến thức lý luận văn học khá phong phú, hiển nhiên là với những lối diễn đạt hết sức độc đáo. Như về đặc trưng thẩm mỹ kỳ diệu của thơ văn, thì trong lời tựa Trích diễm thi tập, Hoàng Đức Lương viết: “Đối với thơ, người xưa hoặc ví như giò chả, hoặc ví như gấm thêu. Giò chả là vị ngon nhất trên đời, hễ ai có mắt, có miệng, đều biết quý trọng, không dám khinh thường. Đến như thơ, thì lại là sắc ở ngoài mọi sắc, mắt thường không thể nhìn được, là vị ở ngoài mọi vị, miệng thường không thể nếm được”. Văn thơ kỳ diệu như vậy, nhưng không đơn nhất, mà thường bị phân đôi. Trong Thư gửi người bạn học là Ngô Hy Phan ở Bải Dương, Nguyễn Văn Siêu đã phân loại tổng quát văn chương như sau: “Có loại đáng thờ. Có loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là chỉ nguyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở con người... Sinh ở thời đại sùng thượng văn chương này, mà anh lại là một kẻ sĩ, thế thì sự tích luỹ của anh có gì đáng lấy, học thuật của anh có gì đáng truyền, hay anh chỉ đem khoa cử để che tai lấp mắt người đời”. Về đặc chất nghệ sĩ của nhà văn, thì trong lời tựa Quế Đường thi tập, Phan Huy Chú đã phân biệt họ với các học giả nói chung: “Các nhà trước thuật... cô đọng, sâu suốt, bao quát, xa rộng, cốt ở tính mực thước và hệ thống”, nhưng “phần lớn lại kém ở lời văn hoa mỹ”. Còn nhà văn nhà thơ thì “diễn đạt tình cảm đến tột mức và thu lượm được mọi cảnh hay việc lạ…, mà nhà học giả giỏi về điển chương không rỗi đâu để tâm đến, cũng không có tài làm ra”. Nếu học giả “có cái uyên bác”, thì nhà văn “có cả nguồn cảm hứng bay bổng”, vv… Tất nhiên nhà văn, nhà thơ cũng phải có vốn sống dồi dào và vốn văn hoá sâu rộng. Trong lời bình về thơ của Phan Lương Khê, Phạm Phú Thứ cho rằng: “Không đọc hết muôn vạn cuốn sách, không xem xét tám cõi, thì không thể đạt đến chỗ sâu rộng để cho văn thơ làm ra có thể lưu truyền đời sau được”. Và “phong cách là người”, “văn như kỳ nhân” đâu phải chỉ có bên Tây, bên Tàu. Đề tựa Cẩn Trai thi tập của Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Địch Cát đã viết: “Người nào trội về nhân cách thì làm thơ hay trang nhã; người nào trội về khí phách thì làm thơ hay hùng hồn; người nào giỏi dùng chữ đặt câu, thì làm thơ hay hoa mỹ... Xem thơ thì có thể mường tượng mà thấy được người”. Khi đã hình thành phong cách thật độc đáo, thì sẽ tác động đến đối tượng mô tả. Trong lời ghi ở sau tập thơ Rừng chuối, Cao Bá Quát viết: “Cúc được họ Đào để mắt tới, nên cúc đã trở thành người ẩn dật của hoa. Sen được họ Chu để mắt tới, nên sen đã trở thành người quân tử của hoa. Chuối được họ Hủ để mắt tới, nên chuối đã trở thành rừng của thơ”. Nhưng người ta chỉ sáng tác dù với bất cứ đề tài gì khi nào tình cảm dồi dào mãnh liệt trong lòng. Trong thư trả lời Hải phái Đoàn hầu, Ngô Thời Nhậm viết: “Tình cảm dồi dào thì thơ nảy sinh. Hoặc là tình nam nữ thương nhau. Hoặc là tình vợ chồng nhớ nhau... Niềm vui thích của ta ở triều chính, thì ta cùng triều chính có cái tình nam nữ. Nỗi nhớ mong của ta ở ruộng vườn, thì ta cùng ruộng vườn có cái tình vợ chồng”. Kết quả của sáng tác là một văn bản ngôn từ với kết cấu chặt chẽ, nhưng ý nghĩa của nó khi nào cũng vượt ra bên ngoài. Nhữ Bá Sĩ viết: “Loại văn chương tột bậc của thiên hạ, đúng là không ở trong cái giới hạn của đóng mở kết cấu, nhưng không đóng mở kết cấu thì cũng không thành văn chương” (Phi điểu nguyên âm). Nhưng sáng tác thơ với tiểu thuyết khác nhau. Thơ chủ yếu là lời thơ phải sâu sắc. Trong lời dẫn bài thơ gửi Mạc Thiên Tích, Nguyễn Cư Trinh viết: “Lòng người rất khó lường, phát ra bài thơ, thành ra lời nói, đến nỗi một chữ mà nghĩ ba năm mới xong, giảng ngàn năm chưa xong”. Tiểu thuyết chủ yếu là ở người và việc, cho dù có bịa, cũng phải rất chân thực. Trong lời bình Đào hoa mộng ký, Tương Giang Mai Cát viết: “Xem tiểu thuyết phải thấy có điều chân thực của nó, mới là tầm mắt của người biết cách đọc... Hoặc nhà vắng buồn bã, mà vui đùa với bút mực, hoặc hoài tài bất ngộ mà lưu lạc giang hồ, bất đắc chí đành phải dựa vào nhân vật không đâu, để biểu hiện cái sự nghiệp kê vàng của mình. Vị tất đã có thật người ấy, việc ấy, thế mà vẫn khảng khái ngọn bút, lâm ly trang giấy, nhưng những người và việc đó vẫn chân tình thực cảm, kích động và cổ vũ được ý chí và tinh thần của người xem” v.v...
Trở lên chẳng qua là một lát cắt nhằm liên kết lại một số vấn đề phần nào hơi ngẫu nhiên, chỉ cốt minh chứng trong nền văn học trung đại của ta tuy chưa có được một hệ thống lý luận toàn diện, nhưng từ những thể văn phê bình đã hình thành nên những quan điểm và kiến thức mang tính chất lý luận thật đáng quý. Nhưng có khi tư duy lý thuyết rất phát triển, vẫn diễn ra vai trò phản tác động của phê bình đối với lý luận văn học. Đó là trường hợp của các tác gia kinh điển chủ nghĩa Mác Lênin. Mác và Ănghen thừa hưởng dồi dào truyền thống tư duy tư biện của dân tộc Đức, nhưng bình sinh hai vị, không phải chuyên sâu về mỹ học và lý luận nghệ thuật. Ngoài việc xác lập những nguyên tắc tối cơ bản ra, thì những vấn đề cụ thể trên lĩnh vực nghệ thuật thường được toát lên trong các bài phê bình tác phẩm cụ thể, tất nhiên vẫn mang ý nghĩa lôgic khái quát mà người ta hay viện dẫn đến như: “Sile - hoá là biến các nhân vật thành những người phát ngôn đơn thuần cho tinh thần thời đại”; “Không nên chạy theo Sile, mà quên mất Sêcxpia”; “Sự thống nhất hoàn toàn giữa bề sâu về mặt tư tưởng và nội dung lịch sử đã được nhận thức.. của ngành kịch Đức với tính sinh động và hữu hiệu theo kiểu Sêcxpia, thì chắc chắn là sau này mới đạt được”; “Đặc trưng của nhân vật không những thể hiện ở việc mà nhân vật làm, mà còn ở cách mà nhân vật làm việc ấy”; “Xung đột bi kịch là ở giữa yêu sách tất yếu về mặt lịch sử với tình trạng không thể nào thực hiện được điều đó trong thực tế”; “Tiêu chuẩn rất cao về mặt thẩm mỹ và lịch sử,... thậm chí là yêu cầu cao nhất có thể được”v.v… chính là thoát thai từ những bài phê bình của Mác và Ănghen đối với vở bi kịch Xickingen của Latxan. Còn những mệnh đề lý luận như: “Mỗi nhân vật là một điển hình, nhưng đồng thời lại là một cá nhân hoàn toàn cụ thể, là con người này”; “Bản thân khuynh hướng phải toát ra từ tình thế và hành động, chứ không nên nhấn mạnh nó một cách đặc biệt, và nhà văn không bắt buộc phải đưa ra trước người đọc sẵn sàng đâu đấy giải pháp lịch sử tương lai về các xung đột xã hội mà nhà văn miêu tả”; “Một tiểu thuyết có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa sẽ làm tròn nhiệm vụ, nếu nó miêu tả đúng đắn những quan hệ hiện thực” v.v... là thoát thai từ bài phê bình của Ănghen về cuốn tiểu thuyết Cũ và mới của M. Caoxky. Còn như định nghĩa nổi tiếng về chủ nghĩa hiện thực: “Ngoài sự chân thực của chi tiết ra, còn phải tái hiện một cách chân thực tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình”, cũng như các luận điểm quan trọng khác như: “Các quan điểm của tác giả càng kín đáo bao nhiêu thì lại càng tốt cho tác phẩm nghệ thuật bấy nhiêu”, v.v... là hình thành từ trong bài phê bình của Ănghen đối với tiểu thuyết Cô gái thành thị của nữ văn sĩ Anh M. Hacơnéx. v.v... Thời đại Lênin đã tiến hành thêm “sự phê phán bằng vũ khí”, và sau cách mạng Người đã bổ sung khá nhiều những nguyên tắc lý tồi cơ bản cho văn nghệ. Tuy nhiên những vấn đề lý luận cụ thể cũng được gửi gắm qua các bài phê bình về các nhà văn Nga, đặc biệt là L.Tônxtôi. Nhưng ngay đối với những nhà văn bình thường, như bà I.Acman, thì bài phê bình của Lênin cũng toát lên những vấn đề lý thuyết: “Nếu chọn đề tài từ một sự việc ngẫu nhiên, một trường hợp cá biệt của những cái hôn bẩn thỉu trong hôn nhân và cái hôn trong mối quan hệ thoáng qua lại trong sạch, thì phải nghiên cứu kỹ đề tài đó trong tiểu thuyết, vì rằng ở đây tất cả mấu chốt là hoàn cảnh cá biệt, ở việc phân tích tính cách và tâm lý của những điển hình này” v.v... Có thể thấy, qua những bài phê bình, các tác gia kinh điển đã đề cập đến các vấn đề điển hình hoá, chủ nghĩa hiện thực, tính khuynh hướng và xung đột bi kịch v.v...
Từ hiện tượng phê bình trong văn học trung đại nước nhà đến phê bình văn học của các tác gia kinh điển MácLênin, vô hình trung cũng đủ sắc thái cổ kim, Đông Tây, cả trong lẫn ngoài nước, nhưng cốt là muốn nói tính chất phổ biến của quy luật phản tác động của phê bình đối với mỹ học và lý luận nghệ thuật. Đứng trước thực trạng phê bình còn nhiều nhức nhối trước mắt, mà nêu thêm thiên chức phê bình là phải góp phần làm giàu có cho lý luận, nếu không phải hơi xa xỉ, thì cũng là ảo tưởng. Không phải, tôi luôn luôn tâm niệm “không vì lý tưởng mà quên mất hiện thực” (Ănghen), nhưng chính là vì để góp phần giải quyết những gây cấn dai dẳng trong hiện thực, lại rất cần nhắc đến lý tưởng. Bây giờ tham nhũng gian trá đã thành quốc nạn, mà “sản xuất vật chất đã thế, thì sản xuất tinh thần cũng sẽ không kém phần như thế” (Tuyên ngôn Cộng sản) cho nên không dễ dàng nhanhchóng gây dựng lại được sự ngay thẳng, trung thực, tức là “tính chính trực trí thức” (probité intellectuelle) trên văn đàn. Nhưng đây không hề là định mệnh để đành phải bó tay, không những cần phải mà còn có thể khôi phục dần. Trên con đường chắc chắn là còn lâu dài gian khổ đó, tôi muốn qua bài viết này, để cùng nhau lưu ý thêm rằng “phê bình quan trọng... và đầy uy danh đến thế” (Bélinsky). Phê bình chân chính cao sang biết dường nào, cho nên nhà phê bình chính trực không những nên tránh xa những thứ phi luân và vô bổ, và cho dù đã tôi luyện được cái đức khen chê đúng mực, thì chân trời vẫn còn rộng mở với bao nhiêu đất dụng võ mà trong đó có thiên chức góp phần làm giàu có thêm cho lý luận, một trong những món nợ lớn không dễ hoàn trả cho công cuộc hiện đại hoá văn học hiện nay.
(Báo Văn nghệ)
Phương Lựu
Bélinsky đã định nghĩa phê bình văn học “là Mỹ học vận động, nó trung thành với một số nguyên tắc, nhưng dẫn dắt anh đến những nguyên tắc ấy bằng những con đường và phương diện khác nhau” (Bàn về phê bình cùng những ý kiến về văn học trên “Người quan sát Mátxcơva”. Có nghĩa là xuất phát từ những nguyên tắc, nhưng không dừng lại ở những nguyên tắc trong dạng khái quát tĩnh tại, mà là triển khai, vận dụng nó trên những bình diện, phương hướng và con đường cụ thể. Quả vậy không giống với các phân môn nghiên cứu văn học khác, phê bình văn học tác động trực tiếp đến dòng chảy trước mắt của văn học, uốn nắn dòng chảy đó không để rơi vào tình trạng xô bồ tự phát, bằng cách ra sức nhiệt tình cổ vũ, khuyến khích biểu dương, phát huy những hiện tượng văn học này, thẳng thắn phê phán những hiện tượng văn học khác theo những quan điểm mỹ học nhất định.
Đã xuất phát từ mỹ học, tất yếu trong đó có lý luận văn học, bởi vì trên một ý nghĩa nhất định, thì lý luận văn học chính là mỹ học của nghệ thuật ngôn từ. Nhưng trở lên mới chỉ là chiều xuôi, có nghĩa là lý luận văn học cung cấp những quan điểm và kiến thức chung nhất cho phê bình mổ xẻ những hiện tượng văn học cụ thể, bởi vì như Lênin đã từng nói cái chung nào cũng rộng hơn cái riêng. Nhưng trái lại, Lênin còn đặc biệt lưu ý bất kỳ cái riêng nào cũng rộng hơn cái chung, cho nên ở đây còn có thể diễn ra một chiều ngược lại là phản tác động của phê bình đối với lý luận văn học. Bằng sự mổ xẻ tỉ mỉ những hiện tượng văn học cụ thể vô cùng phong phú về thực thể cũng như quá trình, phê bình có khả năng phát hiện những điểm mới để khái quát bổ sung cho hệ thống vốn có của lý luận. Và điều này cũng đã manh nha trong quan niệm của Bélinsky. Cũng trong bài báo trên, ông có viết: “Lý luận là sự thống nhất hài hoà có hệ thống về những quy luật của cái thẩm mỹ, nhưng nó có chỗ bất lợi, vì chỉ bao hàm trong hạn độ nhất định của thời gian, còn phê bình thì không ngừng tiến triển, hướng tới trước, thu thập được những tố chất và tư liệu mới cho khoa học”. ý hướng ở đây cũng đã rõ, nhưng hơi bị tiếc là về ngôn từ, ông chưa diễn đạt cho rõ hơn rằng từ những tố chất và tư liệu mới đó, có thể nảy ra những khái quát mới về lý luận.
Quy luật phê bình tác động đến lý luận càng nổi rõ qua những trường hợp có phần đặc biệt. Dân tộc chúng ta vốn không giàu truyền thống triết học, tư duy lý thuyết hạn chế, cho nên trong nền văn học trung đại của ta hầu như vắng bóng những văn bản thi học. Cho dù ở dạng sơ khai như lời bàn về “gốc của nhạc” của Nguyễn Trãi, hay tương đối có hệ thống hơn như mục Văn nghệ chí trong Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Trong tình hình đó, những lời tựa, lời bạt, lời bình, lời dẫn hay thư tín trao đổi về những hiện tượng văn học cụ thể, nghĩa là những tư liệu về phê bình văn học lại cần phải và có thể hàm chứa nhiều quan điểm và kiến thức lý luận văn học khá phong phú, hiển nhiên là với những lối diễn đạt hết sức độc đáo. Như về đặc trưng thẩm mỹ kỳ diệu của thơ văn, thì trong lời tựa Trích diễm thi tập, Hoàng Đức Lương viết: “Đối với thơ, người xưa hoặc ví như giò chả, hoặc ví như gấm thêu. Giò chả là vị ngon nhất trên đời, hễ ai có mắt, có miệng, đều biết quý trọng, không dám khinh thường. Đến như thơ, thì lại là sắc ở ngoài mọi sắc, mắt thường không thể nhìn được, là vị ở ngoài mọi vị, miệng thường không thể nếm được”. Văn thơ kỳ diệu như vậy, nhưng không đơn nhất, mà thường bị phân đôi. Trong Thư gửi người bạn học là Ngô Hy Phan ở Bải Dương, Nguyễn Văn Siêu đã phân loại tổng quát văn chương như sau: “Có loại đáng thờ. Có loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là chỉ nguyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở con người... Sinh ở thời đại sùng thượng văn chương này, mà anh lại là một kẻ sĩ, thế thì sự tích luỹ của anh có gì đáng lấy, học thuật của anh có gì đáng truyền, hay anh chỉ đem khoa cử để che tai lấp mắt người đời”. Về đặc chất nghệ sĩ của nhà văn, thì trong lời tựa Quế Đường thi tập, Phan Huy Chú đã phân biệt họ với các học giả nói chung: “Các nhà trước thuật... cô đọng, sâu suốt, bao quát, xa rộng, cốt ở tính mực thước và hệ thống”, nhưng “phần lớn lại kém ở lời văn hoa mỹ”. Còn nhà văn nhà thơ thì “diễn đạt tình cảm đến tột mức và thu lượm được mọi cảnh hay việc lạ…, mà nhà học giả giỏi về điển chương không rỗi đâu để tâm đến, cũng không có tài làm ra”. Nếu học giả “có cái uyên bác”, thì nhà văn “có cả nguồn cảm hứng bay bổng”, vv… Tất nhiên nhà văn, nhà thơ cũng phải có vốn sống dồi dào và vốn văn hoá sâu rộng. Trong lời bình về thơ của Phan Lương Khê, Phạm Phú Thứ cho rằng: “Không đọc hết muôn vạn cuốn sách, không xem xét tám cõi, thì không thể đạt đến chỗ sâu rộng để cho văn thơ làm ra có thể lưu truyền đời sau được”. Và “phong cách là người”, “văn như kỳ nhân” đâu phải chỉ có bên Tây, bên Tàu. Đề tựa Cẩn Trai thi tập của Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Địch Cát đã viết: “Người nào trội về nhân cách thì làm thơ hay trang nhã; người nào trội về khí phách thì làm thơ hay hùng hồn; người nào giỏi dùng chữ đặt câu, thì làm thơ hay hoa mỹ... Xem thơ thì có thể mường tượng mà thấy được người”. Khi đã hình thành phong cách thật độc đáo, thì sẽ tác động đến đối tượng mô tả. Trong lời ghi ở sau tập thơ Rừng chuối, Cao Bá Quát viết: “Cúc được họ Đào để mắt tới, nên cúc đã trở thành người ẩn dật của hoa. Sen được họ Chu để mắt tới, nên sen đã trở thành người quân tử của hoa. Chuối được họ Hủ để mắt tới, nên chuối đã trở thành rừng của thơ”. Nhưng người ta chỉ sáng tác dù với bất cứ đề tài gì khi nào tình cảm dồi dào mãnh liệt trong lòng. Trong thư trả lời Hải phái Đoàn hầu, Ngô Thời Nhậm viết: “Tình cảm dồi dào thì thơ nảy sinh. Hoặc là tình nam nữ thương nhau. Hoặc là tình vợ chồng nhớ nhau... Niềm vui thích của ta ở triều chính, thì ta cùng triều chính có cái tình nam nữ. Nỗi nhớ mong của ta ở ruộng vườn, thì ta cùng ruộng vườn có cái tình vợ chồng”. Kết quả của sáng tác là một văn bản ngôn từ với kết cấu chặt chẽ, nhưng ý nghĩa của nó khi nào cũng vượt ra bên ngoài. Nhữ Bá Sĩ viết: “Loại văn chương tột bậc của thiên hạ, đúng là không ở trong cái giới hạn của đóng mở kết cấu, nhưng không đóng mở kết cấu thì cũng không thành văn chương” (Phi điểu nguyên âm). Nhưng sáng tác thơ với tiểu thuyết khác nhau. Thơ chủ yếu là lời thơ phải sâu sắc. Trong lời dẫn bài thơ gửi Mạc Thiên Tích, Nguyễn Cư Trinh viết: “Lòng người rất khó lường, phát ra bài thơ, thành ra lời nói, đến nỗi một chữ mà nghĩ ba năm mới xong, giảng ngàn năm chưa xong”. Tiểu thuyết chủ yếu là ở người và việc, cho dù có bịa, cũng phải rất chân thực. Trong lời bình Đào hoa mộng ký, Tương Giang Mai Cát viết: “Xem tiểu thuyết phải thấy có điều chân thực của nó, mới là tầm mắt của người biết cách đọc... Hoặc nhà vắng buồn bã, mà vui đùa với bút mực, hoặc hoài tài bất ngộ mà lưu lạc giang hồ, bất đắc chí đành phải dựa vào nhân vật không đâu, để biểu hiện cái sự nghiệp kê vàng của mình. Vị tất đã có thật người ấy, việc ấy, thế mà vẫn khảng khái ngọn bút, lâm ly trang giấy, nhưng những người và việc đó vẫn chân tình thực cảm, kích động và cổ vũ được ý chí và tinh thần của người xem” v.v...
Trở lên chẳng qua là một lát cắt nhằm liên kết lại một số vấn đề phần nào hơi ngẫu nhiên, chỉ cốt minh chứng trong nền văn học trung đại của ta tuy chưa có được một hệ thống lý luận toàn diện, nhưng từ những thể văn phê bình đã hình thành nên những quan điểm và kiến thức mang tính chất lý luận thật đáng quý. Nhưng có khi tư duy lý thuyết rất phát triển, vẫn diễn ra vai trò phản tác động của phê bình đối với lý luận văn học. Đó là trường hợp của các tác gia kinh điển chủ nghĩa Mác Lênin. Mác và Ănghen thừa hưởng dồi dào truyền thống tư duy tư biện của dân tộc Đức, nhưng bình sinh hai vị, không phải chuyên sâu về mỹ học và lý luận nghệ thuật. Ngoài việc xác lập những nguyên tắc tối cơ bản ra, thì những vấn đề cụ thể trên lĩnh vực nghệ thuật thường được toát lên trong các bài phê bình tác phẩm cụ thể, tất nhiên vẫn mang ý nghĩa lôgic khái quát mà người ta hay viện dẫn đến như: “Sile - hoá là biến các nhân vật thành những người phát ngôn đơn thuần cho tinh thần thời đại”; “Không nên chạy theo Sile, mà quên mất Sêcxpia”; “Sự thống nhất hoàn toàn giữa bề sâu về mặt tư tưởng và nội dung lịch sử đã được nhận thức.. của ngành kịch Đức với tính sinh động và hữu hiệu theo kiểu Sêcxpia, thì chắc chắn là sau này mới đạt được”; “Đặc trưng của nhân vật không những thể hiện ở việc mà nhân vật làm, mà còn ở cách mà nhân vật làm việc ấy”; “Xung đột bi kịch là ở giữa yêu sách tất yếu về mặt lịch sử với tình trạng không thể nào thực hiện được điều đó trong thực tế”; “Tiêu chuẩn rất cao về mặt thẩm mỹ và lịch sử,... thậm chí là yêu cầu cao nhất có thể được”v.v… chính là thoát thai từ những bài phê bình của Mác và Ănghen đối với vở bi kịch Xickingen của Latxan. Còn những mệnh đề lý luận như: “Mỗi nhân vật là một điển hình, nhưng đồng thời lại là một cá nhân hoàn toàn cụ thể, là con người này”; “Bản thân khuynh hướng phải toát ra từ tình thế và hành động, chứ không nên nhấn mạnh nó một cách đặc biệt, và nhà văn không bắt buộc phải đưa ra trước người đọc sẵn sàng đâu đấy giải pháp lịch sử tương lai về các xung đột xã hội mà nhà văn miêu tả”; “Một tiểu thuyết có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa sẽ làm tròn nhiệm vụ, nếu nó miêu tả đúng đắn những quan hệ hiện thực” v.v... là thoát thai từ bài phê bình của Ănghen về cuốn tiểu thuyết Cũ và mới của M. Caoxky. Còn như định nghĩa nổi tiếng về chủ nghĩa hiện thực: “Ngoài sự chân thực của chi tiết ra, còn phải tái hiện một cách chân thực tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình”, cũng như các luận điểm quan trọng khác như: “Các quan điểm của tác giả càng kín đáo bao nhiêu thì lại càng tốt cho tác phẩm nghệ thuật bấy nhiêu”, v.v... là hình thành từ trong bài phê bình của Ănghen đối với tiểu thuyết Cô gái thành thị của nữ văn sĩ Anh M. Hacơnéx. v.v... Thời đại Lênin đã tiến hành thêm “sự phê phán bằng vũ khí”, và sau cách mạng Người đã bổ sung khá nhiều những nguyên tắc lý tồi cơ bản cho văn nghệ. Tuy nhiên những vấn đề lý luận cụ thể cũng được gửi gắm qua các bài phê bình về các nhà văn Nga, đặc biệt là L.Tônxtôi. Nhưng ngay đối với những nhà văn bình thường, như bà I.Acman, thì bài phê bình của Lênin cũng toát lên những vấn đề lý thuyết: “Nếu chọn đề tài từ một sự việc ngẫu nhiên, một trường hợp cá biệt của những cái hôn bẩn thỉu trong hôn nhân và cái hôn trong mối quan hệ thoáng qua lại trong sạch, thì phải nghiên cứu kỹ đề tài đó trong tiểu thuyết, vì rằng ở đây tất cả mấu chốt là hoàn cảnh cá biệt, ở việc phân tích tính cách và tâm lý của những điển hình này” v.v... Có thể thấy, qua những bài phê bình, các tác gia kinh điển đã đề cập đến các vấn đề điển hình hoá, chủ nghĩa hiện thực, tính khuynh hướng và xung đột bi kịch v.v...
Từ hiện tượng phê bình trong văn học trung đại nước nhà đến phê bình văn học của các tác gia kinh điển MácLênin, vô hình trung cũng đủ sắc thái cổ kim, Đông Tây, cả trong lẫn ngoài nước, nhưng cốt là muốn nói tính chất phổ biến của quy luật phản tác động của phê bình đối với mỹ học và lý luận nghệ thuật. Đứng trước thực trạng phê bình còn nhiều nhức nhối trước mắt, mà nêu thêm thiên chức phê bình là phải góp phần làm giàu có cho lý luận, nếu không phải hơi xa xỉ, thì cũng là ảo tưởng. Không phải, tôi luôn luôn tâm niệm “không vì lý tưởng mà quên mất hiện thực” (Ănghen), nhưng chính là vì để góp phần giải quyết những gây cấn dai dẳng trong hiện thực, lại rất cần nhắc đến lý tưởng. Bây giờ tham nhũng gian trá đã thành quốc nạn, mà “sản xuất vật chất đã thế, thì sản xuất tinh thần cũng sẽ không kém phần như thế” (Tuyên ngôn Cộng sản) cho nên không dễ dàng nhanhchóng gây dựng lại được sự ngay thẳng, trung thực, tức là “tính chính trực trí thức” (probité intellectuelle) trên văn đàn. Nhưng đây không hề là định mệnh để đành phải bó tay, không những cần phải mà còn có thể khôi phục dần. Trên con đường chắc chắn là còn lâu dài gian khổ đó, tôi muốn qua bài viết này, để cùng nhau lưu ý thêm rằng “phê bình quan trọng... và đầy uy danh đến thế” (Bélinsky). Phê bình chân chính cao sang biết dường nào, cho nên nhà phê bình chính trực không những nên tránh xa những thứ phi luân và vô bổ, và cho dù đã tôi luyện được cái đức khen chê đúng mực, thì chân trời vẫn còn rộng mở với bao nhiêu đất dụng võ mà trong đó có thiên chức góp phần làm giàu có thêm cho lý luận, một trong những món nợ lớn không dễ hoàn trả cho công cuộc hiện đại hoá văn học hiện nay.
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,