Tình xứ sở đất đai trong thơ đấu tranh thống nhất nước nhà
Vũ Quần Phương
Lòng thương nhớ đất đai quê hương xứ sở, thời nào chả có trong thơ. Nhưng sâu đậm da diết, trở thành tình cảm chủ đạo của cả nền thơ thì chỉ có trong thời đất đai chia cắt. Bất hạnh của lịch sử dội vào những thân phận người tạo nên một khao khát tình cảm. Nửa thế kỷ đã trôi qua, hôm nay đọc lại những bài thơ đấu tranh cho đất nước thống nhất, thấy rõ hai mảng cảm xúc: nhớ thương đất đai xứ sở và đấu tranh chống xâm lược. Mảng thứ hai lẫn vào thơ kháng chiến nói chung. Riêng biệt, đặc thù và xao xác lòng người lại ở mảng thứ nhất.
Đấu tranh chính trị trở thành tình cảm, thuần khiết tình cảm của lòng người, nhiều khi chỉ là một nỗi nhớ, như nhớ một con sông quê hương đằm bao kỷ niệm ấu thơ
Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu
Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy
Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy
Bày chim non bơi lội trên sông
Tôi giơ tay ôm nước vào lòng
Sông mở nước ôm tôi vào dạ
Ký ức trỗi dậy từ một con sông quê thời tuổi nhỏ thông thường chỉ tạo nên một bài thơ hoài niệm, bâng khuâng tâm trí, nhưng với Tế Hanh, nhà thơ miền Nam tập kết ra Bắc, con sông quê đã được mang một tình cảm lớn hơn: thống nhất đất nước:
Quê hương ơi! Lòng tôi cũng như sông
Tình Bắc Nam chung chảy một dòng
Không ghềnh thác nào ngăn cản đuợc
Tôi sẽ lại nơi tôi hằng mong ước
Tôi sẽ về sông nuơc của quê hương
Tôi sẽ về sông nước của tình thương.
Trước cách mạng 1945, buổi đầu làm thơ, trong thuở Hoa niên, Tế Hanh đã là nhà thơ của tình cảm quê hương đằm thắm Làng tôi vốn làm nghề chài lưới. Ông đã tinh tế nghe được hồn quê đầu thai vào cánh buồm căng gió những con thuyền đánh cá Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng, đầu thai vào con đường quê u ẩn kéo nỗi buồn không dạo khắp làng, đầu thai vào một không gian thân thuộc mà xao xác Âm thầm cửa hé trông xa vắng Như lúc đầu thu những buổi trưa. Trong kháng chiến chống Pháp, Tế Hanh tạm gác hồn quê lại, ông làm thơ về những thực tế kháng chiến mà ông tham gia. Những bài thơ ấy ghi nhận chuyển biến quan niệm nghệ thuật của Tế Hanh nhưng chưa ghi nhận được thành công nghệ thuật. Đất nước đau chia cắt, mỗi lòng dân Việt đều đau, nhưng với các nhà thơ tập kết nỗi xa quê chưa hẹn được ngày về thường tấy lên thành nỗi xót xa đòi đoạn. Tế Hanh trở về với tình cảm quê hương như xưa, nhưng khác xưa, tình cảm thành vũ khí đấu tranh chính trị. Và cũng chính từ mạch tình cảm này, Tế Hanh đã tìm lại được tạng cảm xúc của chính mình. Có thể nói thơ đấu tranh thống nhất những năm cuối thập niên 50, đầu 60 là thành tựu tiêu biểu của Tế Hanh, nhuần nhuyễn hai giai đoạn sáng tác trước và sau cách mạng.
Dạng thức này cũng đúng với Lưu Trọng Lư, nhà thơ con nai vàng ngơ ngác của tình và mộng (ý Hoài Thanh). Trong kháng chiến chống Pháp, ông chuyển cả tình lẫn mộng sang người thực, việc thực. Tình riêng, mộng ảo nếu có thì dấu đi, bỏ đi. Thơ ông cố để giản dị nhưng lại rơi vào nôm na, có ích động viên kháng chiến, chúng ta cảm động trước cố gắng của ông trước đòi hỏi của thời cuộc, nhưng quả là rất tiếc một hồn thơ thổn thức đắm đuối. May mắn, có thể coi là may mắn được chăng, dù chỉ với riêng ông, khi đứng ở bờ bắc con sông tuyến cắt chia Sương thấm cả áo ngoài/ Sương ướt cả hai vai/ Mà tay sờ không thấy ướt... Nhìn mải miết tận miền Nam. Nỗi nhớ thương miền đất gắn bó với tuổi trẻ của ông khi ấy ở nơi ấy, đã thành niềm thổn thức. Lưu Trọng Lư trở về với sở trường của chính mình. Thơ đấu tranh thống nhất thời Toả sáng đôi bờ theo tôi, vẫn là chùm thơ hay nhất của ông sau cách mạng.
Một nhà thơ Nam Bộ, quê ở Gò Công, độc giả miền Bắc trước đó còn ít biết, Hoàng Tố Nguyên, đã mang nỗi nhớ của riêng lòng mình với quê hương Gò Me vào những câu thơ đầy hoài niệm, tạo nên niềm thương nhớ của nửa nước ngoài này thường nhớ phần đất thịt xương mình trong ấy. Với Hoàng Tố Nguyên, độc giả phía bắc được sống với bao tập tục hội hè đình đám, tết nhất vừa quen vừa lạ của Nam Bộ, được cảm nghe trong hồn mình tình cảm thiêng liêng dân nước cố cựu tự bao đời. Hoàng Tố Nguyên giúp ta truy lĩnh, đòi hỏi truy lĩnh, phần hồn Nam bộ của chúng ta:
Đâu những nhịp trống chầu đổ hồi rộn rã
Tiếng chuông rè vang bốn vách chùa xiêu
Câu chuyện tiếu lâm có canh mục ngư tiều
Nâng mi mắt đêm giao thừa giữ trộm
Nhưng lòng tôi chỉ khát thèm vô hạn
những làn roi mẹ đánh cuối năm
Những làn roi mẹ dấu mặt khóc thầm
những làn roi giơ cao đánh khẽ
Ôi tay người mẹ thương con nén chặt trong lòng
Chưa có thời kỳ nào trong văn mạch dân tộc, tình cảm với đất đai sông núi lại sâu thấm phổ biến như thời kỳ này. Trinh Đường nhà thơ tập kết quê Quảng Nam, mỗi khi chạm vào mốc thời gian, lúc năm hết tết đến, hoặc chạm vào mốc không gian, cột cây số 728 đường xuyên Việt những câu thơ tức tưởi lại ào ra:
Ai từng ngồi trên xe
đương phóng nhanh vụt hãm
ai đã thấy dòng sông cuồn cuộn
bỗng chiếc cầu đổ xuống cắt ngang
sẽ hiểu lòng tôi
khi đến đây đứng sững bên đường.
Hiện thực lúc ấy không phải dễ lạc quan cho một ngày thống nhất, nhưng thơ tin tưởng, tin tưởng có tính nguyên tắc của đạo lý, của quy luật lịch sử, của trái tim con người. Trinh Đường bao lần tết đến vẫn têm trầu nhớ mẹ, đốt pháo nhớ con, nhưng không khỏi bàng hoàng. Tin tưởng ngày đoàn tụ nhưng còn năm tháng, nó có chừa ai. Hai năm theo hiệp định, nhưng đã gần 10 lần như thế rồi. Ông cầu nguyện:
Mẹ ơi xin mẹ đừng già
Chờ xem cháu mẹ về sà lòng tay.
Hôm nay, đất nước thống nhất đã ngót 30 năm, đọc lại cảm xúc này mà thương trở lại những nỗi niềm năm tháng ấy.
Nguyễn Viết Lãm, năm 1959, nằm trong bệnh viện, trưa khó ngủ, thao thức một nỗi niềm:
Tôi nằm đây lòng khát quê hương,
Thiếu tiếng bờ tre trưa gió nồng
Trà Khúc vẫn nguyên lòng sỏi trắng
Mưa chiều nắng quái xế ngang sông.
Những năm 55, 56, 57... quanh hồ Hoàn Kiếm, ngày chủ nhật, đông lắm những bà con tập kết, ra đây tìm gặp nhau, ra đây ngóng tin nhà, Trinh Đường có câu thơ Lo thiếu ghế quanh hồ Tìm Kiếm. Hình như mỗi chi tiết của đời sống hiện thực đương đại đều làm dội lên trong lòng thơ, nhất là ở những nhà thơ tập kết, những hoài niệm, những khát khao. Có khi chi tiết không đâu mà nỗi nhớ ùn ùn. Khương Hữu Dụng, nhà thơ quê Hội An Quảng Nam, thoáng một cây kè mà nhớ cây cọ rồi nhớ đến cây dừa, tình cảm thống nhất đất nước xuất hiện, bất chợt hay thường trực, khẽ đụng vào là rung lên:
Một rừng kè rất cọ
Nghe mà Phú Thọ
Nghe mà Tam Quan
Chế Tan Viên, tỉnh quê Quảng Trị của ông mang trên mình con sông tuyến Hiền Lương, làng ông ở bờ nam sông tuyến. Những tháp Chàm đổ bóng xuống những trang thơ đầu tạo nên một vị rất riêng ông trong thơ Việt. Chế Lan Viên có nhiều kiểu thơ đấu tranh thống nhất sắc sảo, bề thế, nhưng tôi nhớ nhất cảm, bài thơ Sông Cầu:
Có gì đâu? Gì đâu?
Sông Cầu!
Thành phố nhỏ không một lần dừng lại
Dăm dãy phố còn lèo tèo gạch ngói
Không hương hoa và không tình ái
Có gì đâu? Gì dâu?
Một trưa bình thường mắt không ngó tới
Một đất bình thường xe ta qua mau
Trả thù ta
Bắt lòng ta nhớ mãi
Sông Cầu ơi ! Sông Cầu!
Ruộng nghìn ô muối trắng
Trời xanh xanh thăm thẳm
Bể xa xa một màu
Có gì đâu miền Nam!
Một đại danh, một khung cảnh không mấy quan tâm, bỗng trưa nay, có lẽ do cái nắng cháy trưa hè này nhắc nhở, nó tấy lên nỗi nhớ như một vết thương không gì chữa được. Có gì đâu? Gì đâu? Chẳng có gì cả nếu chỉ nhìn vào khung cảnh của dĩ vãng. Hãy nhìn vào tâm trạng. Thì có đấy: Miền Nam. Có gì đâu, miền Nam. Cái có ấy là sông Cầu thuộc miền Nam, thuộc cái chỗ chân ta không đến được. Nỗi nhức buốt của tình cảm thống nhất ở đây thật tinh vi. Tinh vi nên thấm thía. Nó là dấu vết riêng của một thời kỳ lịch sử. Bài thơ này làm nhớ tới bút pháp bài Trưa đơn giản ông viết trước cách mạng. Sau ngày thống nhất đất nước, trong một bài tứ tuyệt phong vị Đường thi, tặng Yến Lan, cũng là một nhà thơ tập kết, Chế Lan Viên còn đau lại nỗi đau dâu bể thuở cắt chia:
Trở lại An Nhơn. Tuổi lớn rồi
Bạn chơi ngày nhỏ chả còn ai
Nền nhà nay dựng cơ quan mới
Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người!
Xuân Diệu, cha ở đàng ngoài Nghệ An, mẹ ở đàng trong Bình Định, tâm hồn ông có một tư thế riêng để làm thơ đấu tranh thống nhất. Ông có những cơn nhớ quê má, nhớ quê Nam, ông lấy cái thật của lòng làm thành nỗi cồn cào của lòng khát khao thống nhất đất nước:
Ôi bao giờ, bao giờ
Ta tắm vào da thịt
Con sông nhỏ Gò Bồi,
Quy Nhơn về ngụp biển
Muối đởng vành tai
Từ trước ngực sau vai
Cũng ngập đầy quê má?
Xuân Diệu rất hay đưa giác quan vào thơ, cũng là một thủ pháp để thực hoá những hư cấu. Cái cảm giác hai hàm răng tuổi trẻ cắn ngập vào trái soài xanh, với ông, người đã có những năm làm việc ở Mỹ Tho trước cách mạng, bỗng gợi hoài niệm miệt vườn Nam bộ. Tứ thơ thống nhất đất nước kết tinh từ cảm giác ấy chỉ có thể hình thành từ tình thế lịch sử ấy. Cảm giác thành tình cảm rồi thành ý chí nhờ hai câu kết thắt buộc bài thơ rất tâm trạng:
Miền Nam ơi ta nhớ mình thế nớ
Cớ sao mà cách trở bấy nhiêu năm?
Những cảm xúc địa dư năm tháng ấy thật nhiều khơi gợi, câu thơ Hoài Vũ cất lên tự miền Nam:
ở tận sông Hồng em có biết
Quê huơng anh cũng có dòng sông
Vàm Cỏ Đông! ớ Vàm Cỏ Đông!
Tên hai con sông Nam Bắc vang vọng trong nhau, bỗng có âm hưởng xa thẳm như từ cõi thực vọng vào cõi ảo, làm xao xuyến, mênh mang cả lòng người, chính vì chúng cộng hưởng từ tình thế đất đai chia cắt.
Tình cảm thương sông nhớ núi, yêu mến quê hương sẽ luôn luôn được thơ tìm đến. Nhưng thương nhớ đến uất ức, đến xót xa u ẩn như những bài thơ thuở ngày Bắc đêm Nam ấy thì chắc chắn một đi không trở lại Nó là một cống hiến riêng của chặng lịch sử đau đớn ấy vào gia sản thơ dân tộc.
(Báo Văn nghệ)
Vũ Quần Phương
Lòng thương nhớ đất đai quê hương xứ sở, thời nào chả có trong thơ. Nhưng sâu đậm da diết, trở thành tình cảm chủ đạo của cả nền thơ thì chỉ có trong thời đất đai chia cắt. Bất hạnh của lịch sử dội vào những thân phận người tạo nên một khao khát tình cảm. Nửa thế kỷ đã trôi qua, hôm nay đọc lại những bài thơ đấu tranh cho đất nước thống nhất, thấy rõ hai mảng cảm xúc: nhớ thương đất đai xứ sở và đấu tranh chống xâm lược. Mảng thứ hai lẫn vào thơ kháng chiến nói chung. Riêng biệt, đặc thù và xao xác lòng người lại ở mảng thứ nhất.
Đấu tranh chính trị trở thành tình cảm, thuần khiết tình cảm của lòng người, nhiều khi chỉ là một nỗi nhớ, như nhớ một con sông quê hương đằm bao kỷ niệm ấu thơ
Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu
Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy
Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy
Bày chim non bơi lội trên sông
Tôi giơ tay ôm nước vào lòng
Sông mở nước ôm tôi vào dạ
Ký ức trỗi dậy từ một con sông quê thời tuổi nhỏ thông thường chỉ tạo nên một bài thơ hoài niệm, bâng khuâng tâm trí, nhưng với Tế Hanh, nhà thơ miền Nam tập kết ra Bắc, con sông quê đã được mang một tình cảm lớn hơn: thống nhất đất nước:
Quê hương ơi! Lòng tôi cũng như sông
Tình Bắc Nam chung chảy một dòng
Không ghềnh thác nào ngăn cản đuợc
Tôi sẽ lại nơi tôi hằng mong ước
Tôi sẽ về sông nuơc của quê hương
Tôi sẽ về sông nước của tình thương.
Trước cách mạng 1945, buổi đầu làm thơ, trong thuở Hoa niên, Tế Hanh đã là nhà thơ của tình cảm quê hương đằm thắm Làng tôi vốn làm nghề chài lưới. Ông đã tinh tế nghe được hồn quê đầu thai vào cánh buồm căng gió những con thuyền đánh cá Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng, đầu thai vào con đường quê u ẩn kéo nỗi buồn không dạo khắp làng, đầu thai vào một không gian thân thuộc mà xao xác Âm thầm cửa hé trông xa vắng Như lúc đầu thu những buổi trưa. Trong kháng chiến chống Pháp, Tế Hanh tạm gác hồn quê lại, ông làm thơ về những thực tế kháng chiến mà ông tham gia. Những bài thơ ấy ghi nhận chuyển biến quan niệm nghệ thuật của Tế Hanh nhưng chưa ghi nhận được thành công nghệ thuật. Đất nước đau chia cắt, mỗi lòng dân Việt đều đau, nhưng với các nhà thơ tập kết nỗi xa quê chưa hẹn được ngày về thường tấy lên thành nỗi xót xa đòi đoạn. Tế Hanh trở về với tình cảm quê hương như xưa, nhưng khác xưa, tình cảm thành vũ khí đấu tranh chính trị. Và cũng chính từ mạch tình cảm này, Tế Hanh đã tìm lại được tạng cảm xúc của chính mình. Có thể nói thơ đấu tranh thống nhất những năm cuối thập niên 50, đầu 60 là thành tựu tiêu biểu của Tế Hanh, nhuần nhuyễn hai giai đoạn sáng tác trước và sau cách mạng.
Dạng thức này cũng đúng với Lưu Trọng Lư, nhà thơ con nai vàng ngơ ngác của tình và mộng (ý Hoài Thanh). Trong kháng chiến chống Pháp, ông chuyển cả tình lẫn mộng sang người thực, việc thực. Tình riêng, mộng ảo nếu có thì dấu đi, bỏ đi. Thơ ông cố để giản dị nhưng lại rơi vào nôm na, có ích động viên kháng chiến, chúng ta cảm động trước cố gắng của ông trước đòi hỏi của thời cuộc, nhưng quả là rất tiếc một hồn thơ thổn thức đắm đuối. May mắn, có thể coi là may mắn được chăng, dù chỉ với riêng ông, khi đứng ở bờ bắc con sông tuyến cắt chia Sương thấm cả áo ngoài/ Sương ướt cả hai vai/ Mà tay sờ không thấy ướt... Nhìn mải miết tận miền Nam. Nỗi nhớ thương miền đất gắn bó với tuổi trẻ của ông khi ấy ở nơi ấy, đã thành niềm thổn thức. Lưu Trọng Lư trở về với sở trường của chính mình. Thơ đấu tranh thống nhất thời Toả sáng đôi bờ theo tôi, vẫn là chùm thơ hay nhất của ông sau cách mạng.
Một nhà thơ Nam Bộ, quê ở Gò Công, độc giả miền Bắc trước đó còn ít biết, Hoàng Tố Nguyên, đã mang nỗi nhớ của riêng lòng mình với quê hương Gò Me vào những câu thơ đầy hoài niệm, tạo nên niềm thương nhớ của nửa nước ngoài này thường nhớ phần đất thịt xương mình trong ấy. Với Hoàng Tố Nguyên, độc giả phía bắc được sống với bao tập tục hội hè đình đám, tết nhất vừa quen vừa lạ của Nam Bộ, được cảm nghe trong hồn mình tình cảm thiêng liêng dân nước cố cựu tự bao đời. Hoàng Tố Nguyên giúp ta truy lĩnh, đòi hỏi truy lĩnh, phần hồn Nam bộ của chúng ta:
Đâu những nhịp trống chầu đổ hồi rộn rã
Tiếng chuông rè vang bốn vách chùa xiêu
Câu chuyện tiếu lâm có canh mục ngư tiều
Nâng mi mắt đêm giao thừa giữ trộm
Nhưng lòng tôi chỉ khát thèm vô hạn
những làn roi mẹ đánh cuối năm
Những làn roi mẹ dấu mặt khóc thầm
những làn roi giơ cao đánh khẽ
Ôi tay người mẹ thương con nén chặt trong lòng
Chưa có thời kỳ nào trong văn mạch dân tộc, tình cảm với đất đai sông núi lại sâu thấm phổ biến như thời kỳ này. Trinh Đường nhà thơ tập kết quê Quảng Nam, mỗi khi chạm vào mốc thời gian, lúc năm hết tết đến, hoặc chạm vào mốc không gian, cột cây số 728 đường xuyên Việt những câu thơ tức tưởi lại ào ra:
Ai từng ngồi trên xe
đương phóng nhanh vụt hãm
ai đã thấy dòng sông cuồn cuộn
bỗng chiếc cầu đổ xuống cắt ngang
sẽ hiểu lòng tôi
khi đến đây đứng sững bên đường.
Hiện thực lúc ấy không phải dễ lạc quan cho một ngày thống nhất, nhưng thơ tin tưởng, tin tưởng có tính nguyên tắc của đạo lý, của quy luật lịch sử, của trái tim con người. Trinh Đường bao lần tết đến vẫn têm trầu nhớ mẹ, đốt pháo nhớ con, nhưng không khỏi bàng hoàng. Tin tưởng ngày đoàn tụ nhưng còn năm tháng, nó có chừa ai. Hai năm theo hiệp định, nhưng đã gần 10 lần như thế rồi. Ông cầu nguyện:
Mẹ ơi xin mẹ đừng già
Chờ xem cháu mẹ về sà lòng tay.
Hôm nay, đất nước thống nhất đã ngót 30 năm, đọc lại cảm xúc này mà thương trở lại những nỗi niềm năm tháng ấy.
Nguyễn Viết Lãm, năm 1959, nằm trong bệnh viện, trưa khó ngủ, thao thức một nỗi niềm:
Tôi nằm đây lòng khát quê hương,
Thiếu tiếng bờ tre trưa gió nồng
Trà Khúc vẫn nguyên lòng sỏi trắng
Mưa chiều nắng quái xế ngang sông.
Những năm 55, 56, 57... quanh hồ Hoàn Kiếm, ngày chủ nhật, đông lắm những bà con tập kết, ra đây tìm gặp nhau, ra đây ngóng tin nhà, Trinh Đường có câu thơ Lo thiếu ghế quanh hồ Tìm Kiếm. Hình như mỗi chi tiết của đời sống hiện thực đương đại đều làm dội lên trong lòng thơ, nhất là ở những nhà thơ tập kết, những hoài niệm, những khát khao. Có khi chi tiết không đâu mà nỗi nhớ ùn ùn. Khương Hữu Dụng, nhà thơ quê Hội An Quảng Nam, thoáng một cây kè mà nhớ cây cọ rồi nhớ đến cây dừa, tình cảm thống nhất đất nước xuất hiện, bất chợt hay thường trực, khẽ đụng vào là rung lên:
Một rừng kè rất cọ
Nghe mà Phú Thọ
Nghe mà Tam Quan
Chế Tan Viên, tỉnh quê Quảng Trị của ông mang trên mình con sông tuyến Hiền Lương, làng ông ở bờ nam sông tuyến. Những tháp Chàm đổ bóng xuống những trang thơ đầu tạo nên một vị rất riêng ông trong thơ Việt. Chế Lan Viên có nhiều kiểu thơ đấu tranh thống nhất sắc sảo, bề thế, nhưng tôi nhớ nhất cảm, bài thơ Sông Cầu:
Có gì đâu? Gì đâu?
Sông Cầu!
Thành phố nhỏ không một lần dừng lại
Dăm dãy phố còn lèo tèo gạch ngói
Không hương hoa và không tình ái
Có gì đâu? Gì dâu?
Một trưa bình thường mắt không ngó tới
Một đất bình thường xe ta qua mau
Trả thù ta
Bắt lòng ta nhớ mãi
Sông Cầu ơi ! Sông Cầu!
Ruộng nghìn ô muối trắng
Trời xanh xanh thăm thẳm
Bể xa xa một màu
Có gì đâu miền Nam!
Một đại danh, một khung cảnh không mấy quan tâm, bỗng trưa nay, có lẽ do cái nắng cháy trưa hè này nhắc nhở, nó tấy lên nỗi nhớ như một vết thương không gì chữa được. Có gì đâu? Gì đâu? Chẳng có gì cả nếu chỉ nhìn vào khung cảnh của dĩ vãng. Hãy nhìn vào tâm trạng. Thì có đấy: Miền Nam. Có gì đâu, miền Nam. Cái có ấy là sông Cầu thuộc miền Nam, thuộc cái chỗ chân ta không đến được. Nỗi nhức buốt của tình cảm thống nhất ở đây thật tinh vi. Tinh vi nên thấm thía. Nó là dấu vết riêng của một thời kỳ lịch sử. Bài thơ này làm nhớ tới bút pháp bài Trưa đơn giản ông viết trước cách mạng. Sau ngày thống nhất đất nước, trong một bài tứ tuyệt phong vị Đường thi, tặng Yến Lan, cũng là một nhà thơ tập kết, Chế Lan Viên còn đau lại nỗi đau dâu bể thuở cắt chia:
Trở lại An Nhơn. Tuổi lớn rồi
Bạn chơi ngày nhỏ chả còn ai
Nền nhà nay dựng cơ quan mới
Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người!
Xuân Diệu, cha ở đàng ngoài Nghệ An, mẹ ở đàng trong Bình Định, tâm hồn ông có một tư thế riêng để làm thơ đấu tranh thống nhất. Ông có những cơn nhớ quê má, nhớ quê Nam, ông lấy cái thật của lòng làm thành nỗi cồn cào của lòng khát khao thống nhất đất nước:
Ôi bao giờ, bao giờ
Ta tắm vào da thịt
Con sông nhỏ Gò Bồi,
Quy Nhơn về ngụp biển
Muối đởng vành tai
Từ trước ngực sau vai
Cũng ngập đầy quê má?
Xuân Diệu rất hay đưa giác quan vào thơ, cũng là một thủ pháp để thực hoá những hư cấu. Cái cảm giác hai hàm răng tuổi trẻ cắn ngập vào trái soài xanh, với ông, người đã có những năm làm việc ở Mỹ Tho trước cách mạng, bỗng gợi hoài niệm miệt vườn Nam bộ. Tứ thơ thống nhất đất nước kết tinh từ cảm giác ấy chỉ có thể hình thành từ tình thế lịch sử ấy. Cảm giác thành tình cảm rồi thành ý chí nhờ hai câu kết thắt buộc bài thơ rất tâm trạng:
Miền Nam ơi ta nhớ mình thế nớ
Cớ sao mà cách trở bấy nhiêu năm?
Những cảm xúc địa dư năm tháng ấy thật nhiều khơi gợi, câu thơ Hoài Vũ cất lên tự miền Nam:
ở tận sông Hồng em có biết
Quê huơng anh cũng có dòng sông
Vàm Cỏ Đông! ớ Vàm Cỏ Đông!
Tên hai con sông Nam Bắc vang vọng trong nhau, bỗng có âm hưởng xa thẳm như từ cõi thực vọng vào cõi ảo, làm xao xuyến, mênh mang cả lòng người, chính vì chúng cộng hưởng từ tình thế đất đai chia cắt.
Tình cảm thương sông nhớ núi, yêu mến quê hương sẽ luôn luôn được thơ tìm đến. Nhưng thương nhớ đến uất ức, đến xót xa u ẩn như những bài thơ thuở ngày Bắc đêm Nam ấy thì chắc chắn một đi không trở lại Nó là một cống hiến riêng của chặng lịch sử đau đớn ấy vào gia sản thơ dân tộc.
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,