📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Tình xứ sở đất đai trong thơ đấu tranh thống nhất nước nhà

0 trả lời, 23 lượt xem — Trang 1 / 1
Tình xứ sở đất đai trong thơ đấu tranh thống nhất nước nhà

Vũ Quần Phương

Lòng thương nhớ đất đai quê hương xứ sở, thời nào chả có trong thơ. Nhưng sâu đậm da diết, trở thành tình cảm chủ đạo của cả nền thơ thì chỉ có trong thời đất đai chia cắt. Bất hạnh của lịch sử dội vào những thân phận người tạo nên một khao khát tình cảm. Nửa thế kỷ đã trôi qua, hôm nay đọc lại những bài thơ đấu tranh cho đất nước thống nhất, thấy rõ hai mảng cảm xúc: nhớ thương đất đai xứ sở và đấu tranh chống xâm lược. Mảng thứ hai lẫn vào thơ kháng chiến nói chung. Riêng biệt, đặc thù và xao xác lòng người lại ở mảng thứ nhất.

Đấu tranh chính trị trở thành tình cảm, thuần khiết tình cảm của lòng người, nhiều khi chỉ là một nỗi nhớ, như nhớ một con sông quê hương đằm bao kỷ niệm ấu thơ

Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu

Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy

Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy

Bày chim non bơi lội trên sông

Tôi giơ tay ôm nước vào lòng

Sông mở nước ôm tôi vào dạ

Ký ức trỗi dậy từ một con sông quê thời tuổi nhỏ thông thường chỉ tạo nên một bài thơ hoài niệm, bâng khuâng tâm trí, nhưng với Tế Hanh, nhà thơ miền Nam tập kết ra Bắc, con sông quê đã được mang một tình cảm lớn hơn: thống nhất đất nước:

Quê hương ơi! Lòng tôi cũng như sông

Tình Bắc Nam chung chảy một dòng

Không ghềnh thác nào ngăn cản đuợc

Tôi sẽ lại nơi tôi hằng mong ước

Tôi sẽ về sông nuơc của quê hương

Tôi sẽ về sông nước của tình thương.

Trước cách mạng 1945, buổi đầu làm thơ, trong thuở Hoa niên, Tế Hanh đã là nhà thơ của tình cảm quê hương đằm thắm Làng tôi vốn làm nghề chài lưới. Ông đã tinh tế nghe được hồn quê đầu thai vào cánh buồm căng gió những con thuyền đánh cá Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng, đầu thai vào con đường quê u ẩn kéo nỗi buồn không dạo khắp làng, đầu thai vào một không gian thân thuộc mà xao xác Âm thầm cửa hé trông xa vắng Như lúc đầu thu những buổi trưa. Trong kháng chiến chống Pháp, Tế Hanh tạm gác hồn quê lại, ông làm thơ về những thực tế kháng chiến mà ông tham gia. Những bài thơ ấy ghi nhận chuyển biến quan niệm nghệ thuật của Tế Hanh nhưng chưa ghi nhận được thành công nghệ thuật. Đất nước đau chia cắt, mỗi lòng dân Việt đều đau, nhưng với các nhà thơ tập kết nỗi xa quê chưa hẹn được ngày về thường tấy lên thành nỗi xót xa đòi đoạn. Tế Hanh trở về với tình cảm quê hương như xưa, nhưng khác xưa, tình cảm thành vũ khí đấu tranh chính trị. Và cũng chính từ mạch tình cảm này, Tế Hanh đã tìm lại được tạng cảm xúc của chính mình. Có thể nói thơ đấu tranh thống nhất những năm cuối thập niên 50, đầu 60 là thành tựu tiêu biểu của Tế Hanh, nhuần nhuyễn hai giai đoạn sáng tác trước và sau cách mạng.

Dạng thức này cũng đúng với Lưu Trọng Lư, nhà thơ con nai vàng ngơ ngác của tình và mộng (ý Hoài Thanh). Trong kháng chiến chống Pháp, ông chuyển cả tình lẫn mộng sang người thực, việc thực. Tình riêng, mộng ảo nếu có thì dấu đi, bỏ đi. Thơ ông cố để giản dị nhưng lại rơi vào nôm na, có ích động viên kháng chiến, chúng ta cảm động trước cố gắng của ông trước đòi hỏi của thời cuộc, nhưng quả là rất tiếc một hồn thơ thổn thức đắm đuối. May mắn, có thể coi là may mắn được chăng, dù chỉ với riêng ông, khi đứng ở bờ bắc con sông tuyến cắt chia Sương thấm cả áo ngoài/ Sương ướt cả hai vai/ Mà tay sờ không thấy ướt... Nhìn mải miết tận miền Nam. Nỗi nhớ thương miền đất gắn bó với tuổi trẻ của ông khi ấy ở nơi ấy, đã thành niềm thổn thức. Lưu Trọng Lư trở về với sở trường của chính mình. Thơ đấu tranh thống nhất thời Toả sáng đôi bờ theo tôi, vẫn là chùm thơ hay nhất của ông sau cách mạng.

Một nhà thơ Nam Bộ, quê ở Gò Công, độc giả miền Bắc trước đó còn ít biết, Hoàng Tố Nguyên, đã mang nỗi nhớ của riêng lòng mình với quê hương Gò Me vào những câu thơ đầy hoài niệm, tạo nên niềm thương nhớ của nửa nước ngoài này thường nhớ phần đất thịt xương mình trong ấy. Với Hoàng Tố Nguyên, độc giả phía bắc được sống với bao tập tục hội hè đình đám, tết nhất vừa quen vừa lạ của Nam Bộ, được cảm nghe trong hồn mình tình cảm thiêng liêng dân nước cố cựu tự bao đời. Hoàng Tố Nguyên giúp ta truy lĩnh, đòi hỏi truy lĩnh, phần hồn Nam bộ của chúng ta:

Đâu những nhịp trống chầu đổ hồi rộn rã

Tiếng chuông rè vang bốn vách chùa xiêu

Câu chuyện tiếu lâm có canh mục ngư tiều

Nâng mi mắt đêm giao thừa giữ trộm

Nhưng lòng tôi chỉ khát thèm vô hạn

những làn roi mẹ đánh cuối năm

Những làn roi mẹ dấu mặt khóc thầm

những làn roi giơ cao đánh khẽ

Ôi tay người mẹ thương con nén chặt trong lòng

Chưa có thời kỳ nào trong văn mạch dân tộc, tình cảm với đất đai sông núi lại sâu thấm phổ biến như thời kỳ này. Trinh Đường nhà thơ tập kết quê Quảng Nam, mỗi khi chạm vào mốc thời gian, lúc năm hết tết đến, hoặc chạm vào mốc không gian, cột cây số 728 đường xuyên Việt những câu thơ tức tưởi lại ào ra:

Ai từng ngồi trên xe

đương phóng nhanh vụt hãm

ai đã thấy dòng sông cuồn cuộn

bỗng chiếc cầu đổ xuống cắt ngang

sẽ hiểu lòng tôi

khi đến đây đứng sững bên đường.

Hiện thực lúc ấy không phải dễ lạc quan cho một ngày thống nhất, nhưng thơ tin tưởng, tin tưởng có tính nguyên tắc của đạo lý, của quy luật lịch sử, của trái tim con người. Trinh Đường bao lần tết đến vẫn têm trầu nhớ mẹ, đốt pháo nhớ con, nhưng không khỏi bàng hoàng. Tin tưởng ngày đoàn tụ nhưng còn năm tháng, nó có chừa ai. Hai năm theo hiệp định, nhưng đã gần 10 lần như thế rồi. Ông cầu nguyện:

Mẹ ơi xin mẹ đừng già

Chờ xem cháu mẹ về sà lòng tay.

Hôm nay, đất nước thống nhất đã ngót 30 năm, đọc lại cảm xúc này mà thương trở lại những nỗi niềm năm tháng ấy.

Nguyễn Viết Lãm, năm 1959, nằm trong bệnh viện, trưa khó ngủ, thao thức một nỗi niềm:

Tôi nằm đây lòng khát quê hương,

Thiếu tiếng bờ tre trưa gió nồng

Trà Khúc vẫn nguyên lòng sỏi trắng

Mưa chiều nắng quái xế ngang sông.

Những năm 55, 56, 57... quanh hồ Hoàn Kiếm, ngày chủ nhật, đông lắm những bà con tập kết, ra đây tìm gặp nhau, ra đây ngóng tin nhà, Trinh Đường có câu thơ Lo thiếu ghế quanh hồ Tìm Kiếm. Hình như mỗi chi tiết của đời sống hiện thực đương đại đều làm dội lên trong lòng thơ, nhất là ở những nhà thơ tập kết, những hoài niệm, những khát khao. Có khi chi tiết không đâu mà nỗi nhớ ùn ùn. Khương Hữu Dụng, nhà thơ quê Hội An Quảng Nam, thoáng một cây kè mà nhớ cây cọ rồi nhớ đến cây dừa, tình cảm thống nhất đất nước xuất hiện, bất chợt hay thường trực, khẽ đụng vào là rung lên:

Một rừng kè rất cọ

Nghe mà Phú Thọ

Nghe mà Tam Quan

Chế Tan Viên, tỉnh quê Quảng Trị của ông mang trên mình con sông tuyến Hiền Lương, làng ông ở bờ nam sông tuyến. Những tháp Chàm đổ bóng xuống những trang thơ đầu tạo nên một vị rất riêng ông trong thơ Việt. Chế Lan Viên có nhiều kiểu thơ đấu tranh thống nhất sắc sảo, bề thế, nhưng tôi nhớ nhất cảm, bài thơ Sông Cầu:

Có gì đâu? Gì đâu?

Sông Cầu!

Thành phố nhỏ không một lần dừng lại

Dăm dãy phố còn lèo tèo gạch ngói

Không hương hoa và không tình ái

Có gì đâu? Gì dâu?



Một trưa bình thường mắt không ngó tới

Một đất bình thường xe ta qua mau

Trả thù ta

Bắt lòng ta nhớ mãi

Sông Cầu ơi ! Sông Cầu!

Ruộng nghìn ô muối trắng

Trời xanh xanh thăm thẳm

Bể xa xa một màu

Có gì đâu miền Nam!

Một đại danh, một khung cảnh không mấy quan tâm, bỗng trưa nay, có lẽ do cái nắng cháy trưa hè này nhắc nhở, nó tấy lên nỗi nhớ như một vết thương không gì chữa được. Có gì đâu? Gì đâu? Chẳng có gì cả nếu chỉ nhìn vào khung cảnh của dĩ vãng. Hãy nhìn vào tâm trạng. Thì có đấy: Miền Nam. Có gì đâu, miền Nam. Cái có ấy là sông Cầu thuộc miền Nam, thuộc cái chỗ chân ta không đến được. Nỗi nhức buốt của tình cảm thống nhất ở đây thật tinh vi. Tinh vi nên thấm thía. Nó là dấu vết riêng của một thời kỳ lịch sử. Bài thơ này làm nhớ tới bút pháp bài Trưa đơn giản ông viết trước cách mạng. Sau ngày thống nhất đất nước, trong một bài tứ tuyệt phong vị Đường thi, tặng Yến Lan, cũng là một nhà thơ tập kết, Chế Lan Viên còn đau lại nỗi đau dâu bể thuở cắt chia:

Trở lại An Nhơn. Tuổi lớn rồi

Bạn chơi ngày nhỏ chả còn ai

Nền nhà nay dựng cơ quan mới

Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người!

Xuân Diệu, cha ở đàng ngoài Nghệ An, mẹ ở đàng trong Bình Định, tâm hồn ông có một tư thế riêng để làm thơ đấu tranh thống nhất. Ông có những cơn nhớ quê má, nhớ quê Nam, ông lấy cái thật của lòng làm thành nỗi cồn cào của lòng khát khao thống nhất đất nước:

Ôi bao giờ, bao giờ

Ta tắm vào da thịt

Con sông nhỏ Gò Bồi,

Quy Nhơn về ngụp biển

Muối đởng vành tai

Từ trước ngực sau vai

Cũng ngập đầy quê má?

Xuân Diệu rất hay đưa giác quan vào thơ, cũng là một thủ pháp để thực hoá những hư cấu. Cái cảm giác hai hàm răng tuổi trẻ cắn ngập vào trái soài xanh, với ông, người đã có những năm làm việc ở Mỹ Tho trước cách mạng, bỗng gợi hoài niệm miệt vườn Nam bộ. Tứ thơ thống nhất đất nước kết tinh từ cảm giác ấy chỉ có thể hình thành từ tình thế lịch sử ấy. Cảm giác thành tình cảm rồi thành ý chí nhờ hai câu kết thắt buộc bài thơ rất tâm trạng:

Miền Nam ơi ta nhớ mình thế nớ

Cớ sao mà cách trở bấy nhiêu năm?

Những cảm xúc địa dư năm tháng ấy thật nhiều khơi gợi, câu thơ Hoài Vũ cất lên tự miền Nam:

ở tận sông Hồng em có biết

Quê huơng anh cũng có dòng sông

Vàm Cỏ Đông! ớ Vàm Cỏ Đông!

Tên hai con sông Nam Bắc vang vọng trong nhau, bỗng có âm hưởng xa thẳm như từ cõi thực vọng vào cõi ảo, làm xao xuyến, mênh mang cả lòng người, chính vì chúng cộng hưởng từ tình thế đất đai chia cắt.

Tình cảm thương sông nhớ núi, yêu mến quê hương sẽ luôn luôn được thơ tìm đến. Nhưng thương nhớ đến uất ức, đến xót xa u ẩn như những bài thơ thuở ngày Bắc đêm Nam ấy thì chắc chắn một đi không trở lại Nó là một cống hiến riêng của chặng lịch sử đau đớn ấy vào gia sản thơ dân tộc.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0