📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Nghĩa khí công dân trong tùy bút Nguyễn Tuân

0 trả lời, 16 lượt xem — Trang 1 / 1
Nghĩa khí công dân trong tùy bút Nguyễn Tuân

Nguyễn Thị Hồng Hà

Tinh thần dân tộc, huyệt thần kinh nhạy cảm nhất của Nguyễn Tuân, mang ánh sắc và sự nhạy cảm riêng hướng về văn hoá, hoà quyện với văn hoá, từ văn hoá mà tỏ bày mọi cảm phẫn, đam mê của mình; có thể gọi đó là nghĩa khí công dân. Trong tuỳ bút Nguyễn Tuân, nghĩa khí công dân này sáng lên ở rất nhiều sắc độ, trong cả hai giai đoạn sáng tác trước và sau Cách mạng.

Tâm sự yêu nước bộc lộ từ rất sớm, trong những trang viết đầu tiên của Nguyễn Tuân. Khi Chơi thành Cổ Loa (1932), lúc này chỉ còn là một đống đất cao độ hơn hai thước tây, xa trông có thể nhầm với khúc đê bị vỡ, nhà văn khi ấy mới hăm hai tuổi đã ngậm ngùi “biết quay về phương nao mà gọi hồn người thiên cổ”. Trước Cách mạng, Nguyễn Tuân đã đánh thức dậy trong sâu thẳm hồn ta bóng dáng mát rượi của những cảnh vật quê hương: “một lòng ngõ làng um tùm luỹ tre xanh…, một cái rốn phố cũ nặng trĩu bóng đa bóng đề bóng sấu bóng bàng” (Trang hoa).

Sau này, khi đất nước bị cắt chia, ông hy vọng vào Nam sẽ được “no nê nhiều nữa về sông vàm kênh rạch”, ra Bắc sẽ được “chiêu đãi cung cấp suốt bốn mùa là mây cao ngũ sắc và núi dựng thành xanh” (Vẫn cái tiếng dội Cà Mau ấy). Ông “nhớ vô hạn đến cái hơi thu đè trên những mái lâu đài của các thành thị đất Bắc”. Ông than thở với anh bạn nhà văn trẻ như cần chia sẻ nỗi hận lòng: “Thế là mất đứt cái anh sương xuân bảng lảng.(…) Thiếu nó, Tết Việt Nam nghèo đi, mà không chỉ nghèo đi một chút đâu nhá, anh hiểu không?”. Ông nghĩ đến câu Kiều “Khi về hỏi liễu Chương Đài…” và trách móc: “Đã có những nhà văn Việt Nam nào đem được cây ta vào sách để bóng cây sóng với bóng nhân vật” (Cây Hà Nội). Ông không chịu nổi một cái tên Tây đặt cho sông ta, và giọng văn lời văn của ông như nổi đoá với cái chữ “láo lếu” nọ xúc phạm đến thiên nhiên đất nước mình: “Chưa hề bao giờ tôi thấy dòng sông Đà là đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra mà đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây láo lếu, rồi cứ thế mà phiết vào bản đồ lai chữ” (Người lái đò trên Sông Đà). Ông hình dung Tổ quốc còn như một bàn chân đang đạp tới ở biên giới Nam với mũi Cà Mau như ngón chân cái chưa khô bùn vạn dặm mà ông có một cảm giác xót xa da thịt “mỗi lần đà chân mình đưa mình lên cầu Hiền Lương không qua được, là thấy chân mình đang ướm ướm vào cái bàn chân bị thương của Tổ quốc (…) như mình vừa vấp mố cầu (…) bật máu tươi” (Cầu ma).

Với thiên nhiên địa lý của Tổ quốc, Nguyễn Tuân còn gắn bó như thế, tất nhiên với quê hương đất nước trải bao thử thách xoay vần khắc nghiệt của lịch sử, nhà văn càng tha thiết gửi gắm nỗi lòng, thể hiện một thái độ văn hoá công dân ngày càng có trách nhiệm hơn với Tổ quốc mình. Ông buồn bực trước cái buổi Tây Tàu nhố nhăng làm lạc mất cả quan niệm cũ, làm tiêu mất bao nhiêu giá trị tinh thần. ở Phong vị tỉnh xép, Nguyễn Tuân ngán ngẩm với một số bạn cũ nay đã trở thành những kẻ chiêu hồi ngoan ngoãn với thực dân, đến nỗi “bây giờ cái quý hoá ở người họ đã chết cả rồi”. Viết về Tản Đà sau ngày nhà thơ mất, Nguyễn Tuân đã dám viết thẳng ra cái điều hồi đó rất dễ đưa người viết vào tù: “Không cho người bây giờ khóc Tản Đà, thì định bắt người bây giờ phải khóc những tên bán nước ở cái buổi giao thời còn kéo dài mãi này hay sao?”. Ông nhạy cảm trước thời cuộc Thế chiến II dồn dập đưa vào, thấy như một sự “nhắc nhỏm các lớp người ở đây phải nghĩ đến một cái gì, phải tính làm một cái gì để định lấy phận mình và giữ lấy giá mình(…) mà làm chứng cho thời đại(…). Những lúc này người ta nên giữ đủ sức khoẻ để nhận lấy một cái sứ mệnh gì” (Có một người không muốn ốm nữa). Ông tự thống trách mình đã buông mình vào cảnh “ăn ở với ả Phiền”, để nên nỗi “vì nàng, tôi đã hy sinh bao nhiêu là thứ tình thiêng liêng. Tình vợ, tình bạn… tình của một công dân trai tráng đối với đất nước giữa những giờ trọng đại”(*) (Ngọn đèn dầu lạc). Nguyễn rất nhạy cảm trước cái Đẹp của nhạc điệu thơ, nhưng càng nhạy cảm hơn với trách nhiệm trước số phận cộng đồng: “Ngồi thẩm âm mấy lời nhẹ nhàng, đi sâu vào lòng như tiếng đàn ma luyện, tôi vẫn thấy không đoạn tuyệt được với thú nghe bình thơ làm thơ. Nhưng ở vào phút nghiêm trọng này của một thế hệ, tôi muốn người ta ngồi lên yên con ngựa chiến ô lĩnh”. Tâm sự ấy sau đó mấy năm đã khiến nhà văn chủ động hăm hở dấn thân - không phải trên lưng ngựa, mà bằng đôi chân của mình, “mình cưỡi lên mình mà trườn qua núi sông đẫm mùi thuốc súng”, suốt từ chiến trường Nam Trung Bộ, những con đường lưu diễn khu Bốn, những ngả đường đi theo các chiến dịch Việt Bắc…

Nguyễn Tuân nhạy cảm và gắn bó với phong tục, màu sắc, ca nhạc dân tộc và nhiều vùng văn hoá đặc trưng của đất nước - những Hà Nội, Tây Bắc, Huế, Cà Mau… nhiều trang tuỳ bút Nguyễn Tuân còn trao ta năng lực và niềm vui thưởng ngoạn thiên nhiên trước những thắng cảnh kỳ thú, những di tích lịch sử, những nét đặc sắc của mỗi vùng đất nước.

Cuối năm nơi đất khách, ông nhớ mùi khói củi đun bánh chưng ngày Tết, thấy thiếu mất những phong vị êm dịu của quê hương là “một sự bất hạnh lớn trong đời một người An Nam”. Ông cảm phục công phu tìm tòi của tiền nhân đã sáng tạo được trên tranh tố nữ dân gian “một thứ màu đen rất Việt Nam… không pha bằng thuốc khoáng chất mà lại luyện bằng bột than của những chất liệu gợi nhắc tha thiết đến đồng quê đất nước: than của rơm nếp, than của cói chiếu và than của lá tre mùa thu rụng lá”. Ông say mê những làn điệu dân gian trên sông nước Thừa Thiên, dừng lại giữa núi rừng hiểm trở Tây Bắc để lượm lặt những bài dân ca địa phương. Trong tâm tưởng của Nguyễn Tuân, Hà Nội đâu chỉ là nơi đầu não chính trị, kinh tế; mà còn là đất thiêng, là cái đại tập thành của cả đất nước tú khí non sông tụ lại.

Cũng lại một nét độc đáo, khi Nguyễn Tuân phát hiện vẻ đẹp bất ngờ ở cây - không phải chỉ ở lúc ra hoa; mà còn ở lúc “trăm cây ra lộc”, vì mỗi loại cây khác nhau nhất lúc ra lọc. Ông đón nhận ở những mầm chồi “một lời chào sự sống…, một cái nõn vui”, say mê ngắm cả dãy dài long não nẩy lộc cứ “xanh nhẹ lung linh rờn rờn mơn mởn” (Cây Hà Nội). Rồi bức tranh những hàng sấu “một thứ cây có tình” của Hà Nội “vẫn thầm thì cái tiếng chào kín đáo của lá sấu gại trên mặt đường nhựa” và giữa đám lá sấu đang chuyển nhanh sang màu xanh đen “rồi sẽ ngân lên cái tiếng thở dài đầu tiên của con ve sầu hát ngao trong nắng non”. Ngay từ những năm 40 của thế kỷ trước, Nguyễn đã lưu ý cần “gần nguồn tự nhiên, để cho mình đừng xa gốc quá”. Cho đến khi tả Cô Tô, nhà văn càng đắm say hơn với “sóng cứ kế tiếp cái xanh muôn vẻ mới, và nắng chiều luôn luôn thay màu cho sóng” cùng “cánh hải âu Cô Tô huyền diệu trong sương thu vầng hồng” lúc mặt trời ban mai mọc lên trên đảo.

Nguyễn Tuân trân trọng từ món cốm Vòng “rờn lên một niềm vui bất tận xanh”, những bức tranh Nguyễn Phan Chánh “khả ái ở điểm hoàn toàn Việt Nam”, cho đến một mảnh tường tất niên “hồn nhiên trắng nõn… ông bà tổ tiên mình viết lên đấy những nguyện vọng ghi bằng câu đối đỏ”. Nguyễn Tuân cảm phẫn đến mức rên lên trước cái dư vị chính trị dữ dội của đoản thiên Ngô Tất Tố; cũng như Nguyễn Tuân tin rằng cái “tiếng u hoài Tú Xương gọi đò trên sông lấp” sẽ “còn vang hưởng… trong lòng những người Việt Nam của năm 2000, của năm hai nghìn lẻ mấy chục chi đó” mai sau. Chính cái vang âm dân tộc đó đã tạo nên không chỉ trong những trang tuỳ bút Nguyễn Tuân, mà trong toàn bộ hoạt động nghệ thuật của ông một nét sâu đằm của phong vị rất dân tộc.

Tập tuỳ bút Sông Đà là một kỳ tích văn chương của Nguyễn Tuân. Từ tập sách tượng hình lên không khí phục hưng văn hoá trong làm ăn xây dựng qua một quang cảnh công trường ngùn ngụt khí thế lao động của những người lao động chủ nhân. Ta gặp một “tỉnh lỵ Sơn La sớm chiều rừng rực thứ bụi đỏ, phấn gạch bay lên như sương hồng”, một tấm lòng hồ hởi náo nức muốn làm “một viên gạch mới, một hòn ngói giòn giã góp vào tỉnh mới”.

Nguyễn Tuân đặc biệt rất nhạy cảm khi những vẻ đẹp lưu giữ hồn dân tộc bị giày xéo. Ông căm phẫn mãnh liệt khi giặc Mỹ ném bom Hà Nội, Khâm Thiên, ông gọi đó là hành động B52 vào tiếng hát ả đào. Giữa bom đạn ác liệt, Nguyễn Tuân đã ở lại Hà Nội, dù mọi người khuyên ông nhiều tuổi, bệnh hoài, nên đi sơ tán. Ông tâm sự với Mai Văn Tạo bằng một giọng trầm trầm cương quyết: “Tôi thấy tôi đúng. Mình là người viết văn, nhà văn Việt Nam. Trong khi Thủ đô - trái tim của cả nước - lâm nguy mà bỏ Hà Nội mình đi, thì còn viết cái gì, mình còn ra gì nữa ông?”. Nguyễn Tuân vạch tội ác thực dân đối với văn hoá dân tộc trong Bến Hồ và làng tranh: “Nó thường che ván khắc ra làm củi thui chó, đun nước!” Nguyễn Tuân xót xa căm giận tưởng lại cái cảnh man rợ tàn phá văn hoá đó: “Tôi ngồi mà hình dung ra được cái tiếng của tội ác giặc đang kêu vù vù trên lửa; nó kêu vù vù đến đâu thì gỗ mộc bản rực đỏ lên, và những khuôn mặt vui hát của tố nữ đang méo dần đi, đang tàn úa dần đi với đống than vạc”. Nguyễn Tuân đã đánh bọn xâm lược, cả thực dân Pháp trước kia, và nhất là đế quốc Mỹ sau này những đòn đích đáng, qua những Đường vui, Tình chiến dịch, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi.

Đất nước chia đôi, nhà văn canh cánh suốt nhiều năm đề tài Sông Tuyến. Ông đau xót, phẫn uất “cầu nguyện cho khắp các dòng chảy trên lục địa, không một cửa sông ngọn nguồn nào phải có một cây cầu - bàn mổ, một cái cầu - bù nhìn, một cái cầu giả vờ như cái cầu ở vĩ tuyến 17 giữa quê hương tôi”. Đứng bên này cầu Hiền Lương, ông “thấy nhớ Huế quá... Thấy nhớ Huế, nhớ những cây sầu đông bờ sông Hương quá... Tổ quốc bị cắt làm hai mảnh, máu tươi vết thương ấy đang chảy ở trong tôi” (Con sông tuyến Hiền Lương).

Trên hành trình giải toả đầy hào hùng của một công dân - trí thức - nghệ sĩ muốn đóng góp cho đất nước, Nguyễn Tuân ngày càng hoà nhập hơn với nhân dân, dấn thân tích cực hơn vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Ông sung sướng chia sẻ với bạn bè nghệ sĩ, cũng là nao nức tự nhủ chính mình: “Trước hát cho dăm bảy kẻ nghe trong một khung cảnh ích kỷ ốm yếu. Giờ hát cho cả một quê hương đang vi vu gió mới và lồng lộng một trời cao rộng chói loà” (Chùa Đàn). Đúng là ông đã nhập cuộc với thái độ một công dân yêu nước đầy nhiệt tình trong cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ thời đầu chống Pháp. Những nẻo đường vui của cuộc đi lớn đẹp này đã giải toả bao nỗi hổ thẹn, bao điều tủi nhục vốn uất kết trong tâm hồn nhà văn. Tinh thần dân tộc và khát vọng văn hoá được đồng thời đáp ứng ở nhà văn, đã kết tinh nên những trang tuỳ bút lung linh giàu sức sống và đậm trữ tình nhất, Nguyễn Tuân nhất.

Không chỉ nhiệt thành vun vào những trái ngọt hoa thơm trên đất nước, trách nhiệm công dân ở nhà văn còn thể hiện ở nỗi buồn bực, ở thái độ dũng cảm phê phán, chỉ ra những cành sâu lá úa ở cuộc sống hôm nay trong Cây Hà Nội, Tình rừng… Quan hệ với rừng không chỉ là một vấn đề môi trường, vấn đề khí hậu, liên quan đến những thiên tai khủng khiếp, mà thực sự còn là một thách thức đối với văn hoá; vì thái độ đối với thiên nhiên đã thành vấn đề đạo đức, vấn đề nhân phẩm, thành thước đo trình độ văn hoá của con người, của xã hội. Hai mươi năm có lẻ rồi mà những điều nhà văn bức bối vẫn là thời sự. Càng thấy ngòi bút nhà văn thể hiện một nghĩa khí công dân mạnh mẽ trong cái nhìn phê phán sáng suốt từ rất sớm.

Nguyễn Tuân cũng là người nhạy cảm lạ thường về vấn đề môi trường, từ lâu trước những hội nghị quốc tế về vấn đề này. Trong tuỳ bút Cửa Đại, ông ca tụng bãi biển nghỉ mát này còn rất lương thiện, chỉ có cát vàng, cây xanh, sóng trắng đầu chứ chưa bị hoen ố bởi những tấm biển quảng cáo, chưa biết đến việc mãi dâm. ở đây, “Tạo vật được kính trọng đến cả trong những tiếng động. Ngoài cái bản đàn của sóng khơi và gió ngàn thông, tịnh không có tiếng âm nhạc hỗn xược của nhà khiêu vũ” hay đủ loại âm thanh rậm rật, giật gân đánh vào bản năng như ở những xứ sở “cơ khí hoá đến cả tấm lòng”. Một lần nữa, ta ngạc nhiên trước những trang viết vượt thời gian đến thế của Nguyễn Tuân.

Theo giáo sư Steiner(**) - một nhà nhân văn học lớn - thì thế kỷ XX là “thế kỷ mà con người tỏ ra dã man nhất với đồng loại của mình!”. Ông viết: “Sau năm mươi hai năm dạy học, bây giờ tôi tự hỏi(…): Liệu chúng ta có thể thực sự tạo được mối liên kết giữa một nền văn hoá cao với cách xử sự nhân bản không?”. Câu hỏi ấy được đặt ra, vì Steiner đã chứng kiến những nghệ sĩ hoà nhạc trình diễn các tác phẩm Debussy trong lúc vang lên tiếng la thảm thiết của những nạn nhân đang bị đưa đến lò thiêu Dachau cách đấy không xa, vậy mà không ai ngừng biểu diễn, không ai đứng lên tuyên bố: “Tôi không thể biểu diễn được nữa, vì như thế sẽ làm nhục chính mình, làm nhục Debussy(***), làm nhục âm nhạc”. Steiner thất vọng, vì những nghệ sĩ ấy đã không dám nói: Không!

Nhưng, ở Việt Nam, cùng giai đoạn lịch sử ấy, có một đại biểu văn hoá, trên sách báo công khai (ngoài những tiếng nói khác trên báo chí cách mạng bí mật) đã dám nói lên tiếng “Không!” ấy - theo cung cách phương Đông, bằng giọng điệu riêng của mình. Đó là tiếng nói của Nguyễn Tuân, với tư cách nhà văn, trong bài tuỳ bút dài Võng ngô đồng (đăng trên báo Thanh Nghị những số 8, 9 - 1944). Trước không khí nặng nề u ám của thời cuộc lúc ấy, ông nói rõ: “Cầm đến bút định viết thì chữ không chịu ra”. ông không giấu rằng “xưa kia, mỗi khi cầm bút(…) tôi thấy sung sướng đến chảy nước mắt ra(…) Bây giờ khác lắm. Nó ngang trái hết”. Và ông nói thẳng: “không viết được”. Nhà văn còn nhạy cảm, dự báo trước sự biến lớn trong xã hội, khi nghe ra tiếng sóng triều “sao mà giống cái tiếng dứt của cuối hồi trống tuồng thúc rền khi sân khấu có những cảnh ra quân”. Dưới hai tầng ách thực dân phát xít căng thẳng khủng bố cuối năm 1944 ấy, mà nói rõ ràng dứt khoát - mặc dù bằng lối diễn đạt khiêm nhường của phương Đông - được như thế này: “Tôi đã nghe theo lời chỉ giáo đó”, là “Nghỉ hẳn đi, “Đứng im hẳn”; mà có được một tiếng “Không!” công khai như vậy, nhà văn đã thể hiện một nghĩa khí công dân dũng cảm.

Thành phố Hồ Chí Minh 7-2004



(*) Những chữ in nghiêng trong trích dẫn tác phẩm Nguyễn Tuân: người viết nhấn mạnh.

(**) Theo Người trí thức trong thiên niên kỷ mới - Đỗ Minh Tuấn - Việt Nam số 11-2002.

(***) Claude Debussy (1862-1918), nhạc sĩ người Pháp.



(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0