📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Con người, sản phẩm cao nhất của văn hoá

0 trả lời, 18 lượt xem — Trang 1 / 1
Con người, sản phẩm cao nhất của văn hoá

Tương Lai

Xét đến cùng, cái mà “văn hoá… đã hun đúc nên” đó là gì nếu không phải là con người. Khi nghị quyết khẳng định “văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”, lấy đó làm “quan điểm chỉ đạo cơ bản” trong phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa, thì phải chăng có thể hiểu rằng, vẻ đẹp tinh thần của con người, phẩm chất và bản lĩnh của con người, sản phẩm cao nhất của văn hoá, phải là chỉ báo tập trung nhất của cái nền tảng đó.

Bởi lẽ, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội.

Nói như vậy vì tôi hiểu rằng, văn hoá không phải là một hệ thống đóng kín những giá trị loại biệt mà là một tổng hợp đang phát triển của các thành tựu vật chất và tinh thần của một dân tộc. Trong ý nghĩa đó, ở mỗi giai đoạn của sự phát triển, văn hoá được biểu hiện như một dạng hoạt động thực tiễn của con người. Vì thế, tôi hiểu văn hóa là một cấu trúc có bề sâu. Cuộc sống xã hội được phản chiếu ở bề mặt, dưới bề mặt đó, văn hóa được phân chia theo những tầng khác nhau, thường tiềm ẩn và vô thức. ở độ sâu này, ta thấy có một sự sắp xếp của các quy tắc văn hóa điều chỉnh bề mặt ở bên trên. Nói đến “sức mạnh văn hoá”, “bản lĩnh văn hoá”, “bản sắc văn hoá”, theo cách hiểu của tôi, chính là nói đến sự tiềm ẩn và vô thức này nằm chìm trong đời sống của dân tộc. Khi Nguyễn Trãi khẳng định rằng tổ quốc của chúng ta “vốn xưng văn hiến đã lâu” thì theo cảm nhận của tôi, ý tưởng đó đã chạm đến được chỗ sâu thẳm trong tâm hồn Việt Nam, con người Việt Nam, nhân tố làm nên sức mạnh Việt Nam.

Tôi hiểu trong khái niệm văn hiến thì “văn hoá” và “hiền tài” vừa là nguyên nhân vừa là kết quả. “Văn hóa” hun đúc nên “hiền tài”, và “hiền tài” góp phần xây đắp và nâng cao “văn hoá”. Khi xác định “hiền tài là nguyên khí quốc gia”, ông cha ta đã nhìn nhận “hiền tài” là cái quý nhất của đất nước. Phạm Văn Đồng đã nhắc lại ý ấy trong “Văn hoá và Đổi mới”: “Trọng nhân tài, vì đó là của quý không gì có thể thay thế được của một nước, một dân tộc. Có nó thì có tất cả, thiếu nó, thì cái còn lại còn gì là đáng giá”.

ấy vậy mà, trong những biểu hiện xuống cấp về đạo đức xã hội đang là sự lo ngại không của riêng ai đó, thì sự hư hỏng khá nặng nề và phổ biến của một bộ phận không nhỏ những con người, nhất là người có chức có quyền, đã có tác động nặng nề đến diện mạo tinh thần của đời sống xã hội. Không nhận cho ra sự xuống cấp của đạo đức xã hội, hệ quả trực tiếp của sự nghiệp văn hoá, “nền tảng tinh thần của xã hội”, trong đó có vấn đề về đội ngũ những nhà khoa học thì không thể có sự phát triển bền vững của kinh tế, xã hội trong bối cảnh của hội nhập quốc tế mà chúng ta đang phải đương đầu.

Thật lòng tôi chưa hiểu được lý do tại sao vị chủ nhiệm đề tài về “Thực trạng sử dụng đội ngũ khoa học…” lại “chỉ cố gắng nói lên 90% sự thật”. Đành rằng, nói 90% sự thật tức là đã vượt qua cái ngưỡng của một câu ngạn ngữ phương Tây “nói một nửa sự thật còn tệ hơn nói dối”. Vì, một cái bánh mì bẻ làm đôi, cất đi một nửa, nửa còn lại vẫn là bánh mì, song khi sự thật bị giấu đi một nửa thì nó không còn là sự thật nữa! ở đây, sự thật đã được nói lên đến 90%, thế cũng là nhiều lắm. Và rồi, kết thúc bài báo, tôi đọc được nỗi trăn trở chân thành của tác giả: “Xin rằng một năm hoặc hai năm, thậm chí năm năm, Thủ tướng gặp các nhà khoa học một lần xem họ khó khăn gì mà đóng góp chưa tốt. Cái này tôi thật sự trăn trở…”.

Tôi chia sẻ với tác giả về sự chân thành, song lại muốn nói lên sự “trăn trở” của mình về chính điều trăn trở nói trên. Đương nhiên, nếu có điều kiện Thủ tướng Chính phủ gặp gỡ để tìm hiểu những vấn đề các nhà khoa học đặt ra sẽ là tốt cho công việc của Thủ tướng và cũng tốt cho nhà khoa học. Song, nếu nhà khoa học trăn trở chỉ vì “xin” điều ấy chưa được, và nghĩ rằng một cuộc gặp như thế sẽ là tiền đề cho những giải pháp thì tôi không nghĩ như thế.

Vì, theo tôi, để nhìn nhận về thực trạng đội ngũ khoa học và công nghệ, trước hết và là điều có ý nghĩa quyết định nhất là nhìn nhận về bản lĩnh của mỗi một người đã trót tự nhận mình là “nhà khoa học”. Hình như đây lại là điều mà đề tài chưa điều tra? Cho nên, điều cần “xin” trước hết, theo tôi, là “xin” được chính là mình, xin được không tự đánh mất mình.

Phải chăng 10% sự thật còn lại chưa tiện nói ra nằm ở đây?

Phải lưu ý đến điều này vì có một sự thật đáng buồn là, trong những biểu hiện về sự xuống cấp của đạo đức xã hội, có sự sa sút về mặt nhân cách của một số người được liệt vào lớp “trí thức” của xã hội. Cho nên, trong những biểu hiện đó, cái đáng buồn nhất là vẻ đẹp đáng kính của người trí thức cũng bị mai một khá nhiều. Nhà thơ Nguyễn Duy đã có lần nói đùa với tôi: “có hai người vốn được xã hội tôn làm thầy là “thầy giáo” và “thầy thuốc thì dường như bây giờ không còn được như xưa nữa, và thật là oái oăm, hình như thay vào đó lại có hai vị “thầy” khác thế chỗ là “thầy bói” và “thầy cúng”!

Câu nói làm bật cười, song là cười ra nước mắt.

Có thể tìm ra nguyên nhân từ cơ chế như vị chủ nhiệm đề tài của đề tài nghiên cứu thực trạng đội ngũ khoa học-công nghệ nói trên đã nêu. Cũng đúng, thậm chí rất đúng. Có thể chỉ ra việc “áp dụng phương thức quản lý hành chính vào quản lý khoa học là không phù hợp”, cho nên “sự thật là còn rất nhiều điều phải sửa từ cơ chế, chính sách”. Đúng thế, phải sửa quyết liệt, sửa từ chủ trương cho đến tổ chức, đặc biệt là công tác tổ chức cán bộ, trong đó cực kỳ quan trọng là việc đào tạo, tuyển chọn và sử dụng người tài. Điều này thì Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX cũng đã chỉ ra: công tác tổ chức cán bộ, bên cạnh những thành tựu rất to lớn, vẫn tồn đọng những sai lầm lệch lạc không nhỏ, “còn không ít vấn đề cụ thể đặt ra từ thực tiễn chưa có lời giải đáp hoặc giải đáp chưa đủ sức thuyết phục”, “phương pháp tư duy chưa vươn tới tầm biện chứng, còn dừng lại ở trình độ cảm tính, ở chủ nghĩa kinh nghiệm hoặc thực dụng”.(1)

Phải bố trí cán bộ khoa học căn cứ từ hiệu quả của công việc, từ sự rèn luyện, thử thách trong hoạt động thực tiễn với sự nhìn nhận và đánh giá của xã hội chứ không từ những biện pháp dân chủ hình thức, từ những hư danh mà không thực tài để “cơ cấu” theo những mô thức đã định sẵn rồi “đẽo chân cho vừa giày”… Còn khối chuyện “phải”.

Nhưng là người trí thức chân chính thì cái “phải” lớn nhất là phải biết “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, nên xét mình trước rồi hãy phê phán người.

Cũng có chuyện là “nhà khoa học nhận chức vụ càng cao thì khả năng sáng tạo khoa học càng tụt mau”. Vậy thì ở đây cần trách ai? Trách tổ chức đã cứ nhằm vào người giỏi mà trao chức vụ cao trong các ngành khoa học công nghệ chăng? Thế chả nhẽ hãy chọn người bất tài mà trao chức vụ cao ư? Cái giá phải trả cho chuyện đó còn chưa đủ sao? “Nhà khoa học nhận chức vụ càng cao thì khả năng sáng tạo khoa học càng tụt mau” chính là vì cái “khả năng” đó còn quá mỏng, chưa đúng tầm với chức trách mà họ được trao hoặc chưa phải là thực tài.

Thật vàng không sợ lửa. Khi nhà khoa học có trong tay một bộ máy để thực thi ý tưởng và chương trình nghiên cứu khoa học, rồi áp dụng chúng vào thực tiễn, nếu đúng là có thực tài và chưa tự đánh mất mình do được “làm quan” thì phải chăng nên nhìn đó là một điều kiện tốt để chứng tỏ năng lực khoa học thật sự của mình. Đã đành là, nếu bị quá vướng bận trong những công việc sự vụ với một hệ thống quản lý hành chính bất hợp lý, một cơ chế chính sách thiếu đồng bộ, kém minh bạch, thiếu công khai và mất dân chủ, thì người có tài mấy cũng dễ bị vô hiệu hoá.

Nhưng người lãnh đạo khoa học và công nghệ mà không thật sự có hiểu biết, hơn nữa, uyên bác và giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực khoa học và công nghệ mình phụ trách thì làm sao có thể đưa ngành mình đi tới? Nên chăng phải nói rằng, chức vụ càng cao thì khả năng sáng tạo khoa học càng phải xứng với tầm vóc của chức vụ để không tự đánh mất vai trò của một nhà khoa học mà chỉ còn là một ông quan ngồi nhầm ghế. Chúng ta đã có những nhà khoa học đúng tầm với trọng trách mà họ được trao. Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Đặng Văn Ngữ, Trần Huy Liệu, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Khánh Toàn, Đặng Thai Mai… là những ví dụ cụ thể. Khi là Bộ trưởng Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp, gần như các buổi chiều sau giờ làm việc, tôi vẫn thấy giáo sư Tạ Quang Bửu có mặt tại Thư viện khoa học ở phố Lý Thường Kiệt và ông vẫn là diễn giảng cho đội ngũ khoa học về những đề tài khoa học mới nhất mà thế giới đang tranh luận. Và không chỉ mình ông. Những nhà khoa học đầu đàn mà tôi kể tên ở trên cũng đều vừa tổ chức, đào tạo và lãnh đạo đội ngũ khoa học mà mình phụ trách, vừa tự nâng cao kiến thức khoa học của mình để làm tốt trọng trách đó.

Lớp trí thức ấy đã để lại dấu ấn của mình trong sự nghiệp khoa học cũng như sự nghiệp đào tạo con người trong công tác cũng như trên giảng đường đại học bằng nhân cách và thực tài của họ. Người xưa thì đã khẳng định rõ rằng “đại học” là “cái học để làm người lớn” (đại học giả đại nhân chi học giả). Tôi hiểu “người lớn” mà ông cha ta quan niệm chính là CON NGƯờI viết hoa mà ngày nay chúng ta thường biểu đạt. Làm được “người lớn” ấy khó lắm lắm. Chẳng hạn, bước vào cái ngưỡng làm “người lớn” này có thể kể đến những người mà ta hay gọi là trí thức. Và làm người trí thức đích thực quả không dễ.

Chẳng thế mà xưa kia, theo Cao Bá Quát, con người “nhất sinh đê thủ bái mai hoa” (suốt cuộc đời chỉ biết cúi đầu trước hoa mai mà thôi) đã từng chia trí thức thành ba loại, ứng với ba loài chim. Loại thứ nhất là hồng hạc bay giữa trời xanh. Loại thứ hai là hạc đen ẩn bên sườn núi. Loại thứ ba là hoàng yến luẩn quẩn ở chốn lâu đài của kẻ quyền quý.

Con người “những muốn vin mây mà lên cao mãi” như Cao Bá Quát tất nhiên muốn được là loại chim gì và khinh loại chim gì rồi. Chỉ xin nói đến hình ảnh thảm hại của con sáo, một loài chim thậm chí không được nhắc đến trong bảng xếp loại kia, “chỉ vì có thể nói được tiếng người, để đến nỗi cụt mất đầu lưỡi” mà ông kể ra nhằm khuyên răn kẻ sĩ chớ vì chuyện “áo mũ xênh xang” mà đánh mất nhân cách của mình.

Lời khuyên ấy đã tạc vào lịch sử một cách thế ứng xử cần có của người trí thức.

Kẻ sĩ, người trí thức mà không nói được tiếng nói của chính mình, không nghĩ được điều mình cần nghĩ và muốn nghĩ, thì suy cho cùng, nào có khác gì con sáo bị cụt mất đầu lưỡi đâu? ấy vậy mà làm con “hồng hạc” bay giữa trời xanh thật quả là khó lắm, nhưng chọn được cách thế của con “hạc đen” ẩn bên sườn núi đâu có dễ?

Hành xử như Chu Văn An thật quá khó. Bụi thời gian đã làm mờ bao trang sử sách, ấy vậy mà, tên tuổi của kẻ sĩ đầu thế kỷ XIV ấy vẫn ngời ngời sáng chói: “Hạo khí dĩ bằng thiên địa bạch, Cao phong do đối thuỷ sơn trường” (Trời đất soi chung vầng hào khí, Nước non còn mãi nếp cao phong.) Không phải ngẫu nhiên mà trong “Kiến văn tiểu lục”, Lê Quý Đôn cho rằng Chu Văn An “đấy là bậc thanh cao nhất”. Có cái khí phách ấy mới làm người trí thức được.

Thời buổi ấy, Chu Văn An phải làm con hạc ẩn bên sườn núi, vì trong chốn quan trường, người tài luôn luôn bị kẻ bất tài chèn ép, hãm hại, còn các đấng “bề trên” thì vốn quen với thói “trung ngôn nghịch nhĩ”, chỉ thích nghe những lời thưa bẩm (nay tạm gọi là “dạ thưa anh”) ngọt ngào của những kẻ mà Nguyễn Công Trứ đã từng gọi chúng là những “cây vông”: “Tuổi tác càng cao, càng xốp xoát. Ruột gan không có, có gai chông”.

Thế nhưng, để được là mình, để không tự đánh mất mình như Nguyễn Công Trứ thì cái giá phải trả là quá lớn . Chẳng thế mà cái con người “dẹp cường khấu ở Lạng Sơn, bắt Phiên tặc ở thành Trấn Tây, trừ hải tặc ngoài Đông Hải, lấn biển mở đất ở Kim Sơn Tiền Hải, đắp đê ngăn mặn ở Hải Dương, khơi sông Mê kông ở Long Xuyên, rồi còn xoá nạn mù chữ ở vùng kinh tế mới, chống tham nhũng trong triều đình… Cầm quân đến tài danh tướng, làm thơ đến bậc văn hào”(2) làm trai sống ở trong trời đất như bậc danh sĩ này thì cái chuyện “phải có danh gì với núi sông” chẳng còn gì phải hổ thẹn. ấy vậy mà, Uy Viễn tướng công từng năm lần bị cách chức, giáng chức, có lần lĩnh án “trảm giam hậu”, có lần bị cách tuột làm lính trơn. Trước khi mất, đã lập di chúc để lại, từ chối mọi lễ nghi và chính sách của triều đình, dặn chôn ngay nơi huyệt đã đào sẵn dưới chõng tre, dựng một tấm bia không chữ, rồi trồng bên mộ một cây thông. Nỗi bi phẫn chỉ muốn “làm cây thông đứng giữa trời mà reo” đâu chỉ là nỗi bi phẫn của một Nguyễn Công Trứ !

Cái giá phải trả cho người trí thức “muốn là mình”, “xin được là mình” là như vậy, khó lắm thay! Nhưng vẻ đẹp của người trí thức, nét đáng kính trọng của người trí thức, bản lĩnh cần có của họ trước hết cũng thể hiện ở đó. Xưa đã vậy, nay lại càng phải như vậy.

Câu chuyện về hai ông “thầy” được xã hội xưng tụng nói trên quả thật “mỗi lời là một vận vào khó nghe”, song cái điều khó nghe ấy lại là một sự thật cần được gọi đúng tên và cần có sự cảnh báo trong đội ngũ được gọi là trí thức. Hãy thực hiện khuyến cáo của C.Mác: “Cần phải làm cho sự nhục nhã càng nhục nhã hơn bằng cách công bố sự nhục nhã ấy”(3). Chỉ khi dũng cảm phân tích kỹ nguyên nhân, nhận rõ trách nhiệm, dám tự chỉ trích về những biểu hiện đáng buồn đó thì đội ngũ những người hoạt động trên lĩnh vực khoa học và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, mà trong số họ sẽ có những “hiền tài” của đất nước mới có thể tự khẳng định được mình.

Trong thời đoạn của những bước quá độ chuyển đổi từ một mô hình cũ sang một mô hình mới đang định hình, còn nhiều ngổn ngang, bất cập với những thang bậc trong hệ thống giá trị đang sinh thành, bao gồm cả những giá trị cũ đang bị phủ định và giá trị mới đang cố tự khẳng định mình, thì những điều đáng buồn kể trên là không thể tránh khỏi. Sự hụt hẫng trong đội ngũ cán bộ khoa học, khoa học tự nhiên và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn quả là điều đáng lo. Trong sự hụt hẫng ấy có sự hụt hẫng về tài năng, nhưng cái đáng sợ hơn là sự hụt hẫng về nhân cách. Biểu hiện của sự hụt hẫng đó đã được ươm mầm từ bệnh thành tích tạo nên những tỷ lệ học sinh giỏi không có thực chất ở nhà trường phổ thông, rồi tệ mua bằng bán điểm, thuê viết luận án ở bậc đại học gắn liền với kỹ năng quay cóp ngày càng trắng trợn, càng tinh vi qua các kỳ thi tuyển, được hoàn chỉnh ở các cuộc chạy học vị, chạy học hàm để điêu luyện hơn ở giai đoạn nước rút của các cuộc chạy quyền, chạy chức, chạy ghế và kết thúc tại chặng chạy tội ở chốn quan trường!

Dễ dàng nhất là quy tội những phản văn hoá đó cho cơ chế thị trường. Để thận trọng, người ta gọi đó là mặt trái của cơ chế thị trường. Nhưng đấy không là giải pháp, đấy là một sự tự trấn an, nếu không nói là sự bất lực. Những thói hư tật xấu đó là một căn bệnh ác hiểm và ghê tởm của loài người vốn đã có từ lâu, nó tạm lắng xuống khi xã hội trải qua những sự biến có ý nghĩa lớn lao làm thức dậy sự cao cả và sức sống mạnh mẽ của dân tộc với bề dày văn hoá của nó, nhưng cũng có lúc nó trồi lên khi xã hội trải qua những bước quá độ mà tôi nói ở trên.

Phải truy tìm những căn bệnh tệ hại kể trên vào những lẽ đó chứ không thể vin vào “mặt trái của kinh tế thị trường”. Bởi lẽ, không thể xoá mặt trái nếu không xoá luôn mặt phải. Không thể nào loại bỏ “mặt trái” để chỉ giữ lại “mặt phải” của một thực thể mà không buộc phải xoá bỏ chính thực thể đó. Điều này thì xưa kia, khi phê phán Pru-đông, C.Mác đã chỉ ra: “Cái cấu thành bản chất của sự vận động biện chứng, chính là sự cùng nhau tồn tại của hai mặt mâu thuẫn, sự đấu tranh giữa hai mặt ấy và sự dung hợp của hai mặt ấy thành một phạm trù mới. Chỉ với việc đề ra cho mình vấn đề loại bỏ mặt xấu, người ta cũng đã chặn đứng sự vận động biện chứng rồi”(4). Chẳng lẽ xoá bỏ kinh tế thị trường, quay về với mô hình cũ đã đưa xã hội đến cuộc khủng hoảng về kinh tế và xã hội trầm trọng trước “Đổi Mới”? Cho nên, thái độ duy nhất đúng là dám nhìn thẳng vào sự thật, gọi đúng tên và tìm ra giải pháp. Giải pháp đó đương nhiên là của tổ chức, của lãnh đạo. Song trước hết và quyết định nhất vẫn là khơi dậy lòng tự trọng của con người, mà ở đây là người có học, người làm công tác khoa học, người đang tự nhận mình là người trí thức.



1. Văn kiện Hội nghị lần thứ năm BCHTƯ khoá IX. Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội 2002, tr.132

2. Dẫn theo Hoàng Phủ Ngọc Tường. “Người ham chơi”. Nxb Thuận Hoá.1998, tr.150

3. “C.Mác & Ph.Angghen Toàn tập. Tập 1. Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội.1995, tr 574

4. C.Mác & Ph.Angghen Toàn tập. Tập 4. Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội.1995, tr.191



(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0