Chi tiết quanh bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc
Nguyễn Tất Phan
Trên trang Bạn đọc báo Văn nghệ có đề cập việc nhà Nho rởm ở phố Mã Mây với bài thơ Phong Kiều dạ bạc, trong việc tiếp kiến Nhà vua và Hoàng hậu Thuỵ Điển. Về tác hại của sự rởm thì ai cũng đã thấy rõ. Nhưng còn về bài thơ thì nhiều người thấy chưa vừa lòng và nghi ngờ. Người viết bài này được giúp đỡ của bạn bè, tìm trong các sách đã xuất bản, cung cấp cho bạn đọc báo Văn nghệ những tin sau đây:
1- Theo sách Thơ Đường - Tản Đà dịch do Nguyễn Quảng Tuân biên soạn, Nhà xuất bản Trẻ và Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học ấn hành năm 1989: Bài thơ Phong Kiều dạ bạc (đã phiên âm và thêm dấu)
Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên,
Giang phong, ngư hoá đối sầu miên,
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự,
Dạ bàn chung thanh đáo khách thuyền.
Ban đêm thuyền đậu bến Phong Kiều:
Trăng tà, tiếng quạ kêu sương,
Lửa chài, cây bến sầu vương giấc hồ,
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Việt Nam Văn chương trích diễm.
Nhà thơ đã dịch nghĩa rồi chú thích rằng:
- Trương Kế, một đêm đậu thuyền ở bến Phong Kiều, thấy cảnh trăng tà xúc cảm ngâm:
Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên,
Giang phong, ngư hoá đối sầu miên,
Ngâm xong, Trương Kế không tìm được tứ nữa nên trằn trọc không ngủ được.
- Cũng buổi tối hôm đó, ngoài thành Cô Tô, sư cụ chùa Hàn San cũng xúc động cảnh trăng non, ngâm thơ rằng:
Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung,
Bán tự ngân câu, bán tự cung,
Nhưng sư cụ cũng hết tứ và cũng cứ trằn trọc không sao ngủ được. Chú tiểu hầu bên thấy vậy mới hỏi sư cụ sao đêm nay cứ trằn trọc mãi không ngủ. Sư cụ kể lại nỗi khổ tâm của mình và chú tiểu xin được nối tiếp để hoàn thành bài thơ:
Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn
Bán trầm thuỷ để, bán phù không.
Sư cụ nghe xong, khen hay và bảo chú tiểu lên đánh chuông tạ ơn Phật. Thành Cô Tô đêm ấy bỗng nghe thấy hồi chuông nửa đêm.
Cũng lúc đó, trong thuyền ở bến Phong Kiều, tiếng chuông cũng vọng đến, Trương Kế liền kết thúc bài thơ của mình:
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Giai thoại là như vậy. Nhưng đâu có thể tin được người đời sau đặt để ra. Sự thực thì Nguyệt lạc (trăng lặn) đã là cảnh lúc về sáng rồi. Tác giả đi nằm lúc nửa đêm, song cứ mơ màng đến khi chợt tỉnh và bị ảo tưởng thời gian nên cho là mới có nửa đêm. Âu Dương Tu có viết rằng:
- “Nhà thơ vì mê câu văn hay đã làm cho ý văn không được thông; Đó là ngữ bệnh vậy. Nhưng chúng ta cũng không nên bới lông tìm vết làm gì”.
2- Theo sách Kiến thức ngày nay số 165 ra ngày 20-2-1995 Nhà nghiên cứu - dịch giả Trần Phò đã dịch từ World Express 94 cho biết:
- Khi công tác tại Bắc Kinh, một học giả Nhật Bản đã tìm tới “Hàn San tự” để hiểu cho chính xác bài thơ đã làm cho Trương Kế trở nên bất tử. Giáo sư Vương Phương, một người uyên bác về các văn vật cổ nói với học giả Nhật:
- “Thật ra ở Trung Quốc hiện nay, có nhiều cách để hiểu khác nhau về bài tứ tuyệt của Trương Kế. Có người chủ trương đọc là:
Nguyệt / lạc ô đề, sương mãn thiên…
Nhưng có người quan niệm phải hiểu theo cách đọc phổ biến:
Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên,
Đã có nhiều tranh luận, nhưng chưa có kết luận. Chính tôi cũng không khẳng định nên theo cách hiểu nào…”.
Học giả Nhật đến tận nơi. Sau khi được tiếp kiến sư phụ Tính Không nói với ông rằng:
- “Đúng ra phải đọc là: Nguyệt / lạc Ô Đề, sương mãn thiên. Trước đây tại Tô Châu có một thôn trang tên là Ô Đề (Ô Đề thôn). Khi sáng tác bài thơ, Trương Kế đã tả cảnh trăng rụng trên thôn trang thơ mộng này.
Sư phụ Tính Không còn cho biết:
- “sầu miên” thật ra không phải là giấc ngủ buồn, mà là tên một ngọn núi: núi Sầu Miên (Sầu Miên sơn).
Như vậy câu thơ 2 có nghĩa là: hàng cây phong bên bờ sông cùng với đốm lửa thuyền chài ở trong thế đối diện với núi Sầu Miên.
Học giả Nhật kết luận: “Chúng tôi là người Nhật Bản nên trước nay hoàn toàn không biết tại Tô Châu có Thôn Ô Đề và Núi Sầu Miên”.
3- Cũng theo sách Kiến thức ngày nay số 222 ra ngày 20-9-1996 có bài viết của nhà thơ Viễn Phương là: Tô Châu và tiếng chuông chùa Hàn San. Ông Viễn Phương viết:
-… Tiếp chúng tôi tại Tô Châu là nhà văn Sầm Tân, Tổng thư ký Văn liên Tô Châu. Trong lúc bàn luận văn chương, nhớ Cô Tô thành cũ, nhân hứng khởi bèn đọc bài thơ Phong Kiều dạ bạc.
Nhưng câu cuối lại là: Dạ bán chung thinh đáo khách thuyền. Nhà văn Sầm Tân vỗ tay cười, trao đổi một hồi về Cô Tô và bài thơ rồi nói: - Hàn San tự cách Tô Châu không xa, đến đấy chẳng có gì trở ngại mọi sự tuỳ thuộc vào thời gian của đoàn.
Tiếc rằng mọi kế hoạch tham quan đã được sắp đặt rồi. Nếu như đoàn nhà thơ Việt Nam đến được Hàn San tự, thì chúng ta được nghe chính người mình đi tìm hiểu và nói về bài thơ này thì: “Hay biết mấy”!
Nhưng cũng thêm nỗi buồn: Chung thanh được đọc là Chung thinh! Từ “thanh” và “thinh” nghĩa hoàn toàn khác nhau. Và người Trung Quốc hẳn không thể biết được tự âm A đổi thành âm I là thói quen của người ở miền Nam Việt Nam. Phải chăng vì e ngại các nhà thơ Việt Nam chưa hiểu rõ bài thơ, mà ông Sầm Tân đã “tế nhị” khuyên đoàn ông Viễn Phương nên đến Hàn San tự!
Đôi lời kết thúc:
Như ba cách tìm hiểu đã trình bày trên, theo thiển ý của người viết này là:
- Quả thật là thơ tứ tuyệt viết bằng chữ Hán rất khó Đọc và Hiểu, bởi không hề có dấu ngắt, cũng không có viết tên riêng chữ hoa. Tuỳ ai hiểu thế nào thì tự ngắt giọng đọc mà thay dấu ngắt vào. Còn những tên riêng Đất và Người Trung Quốc, thì chỉ rõ khi nhận được chú thích mà thôi.
- Đã từ lâu rồi, các nhà thơ Việt Nam tốn nhiều lời bàn cãi, suy luận và diễn giải theo ý riêng mình. Đó cũng là vì thời trước thiếu phương tiên đi lại và thiếu thông tin. Có lẽ vì thế mà cụ Tản Đà cũng đã nhầm?
- Trăm nghe không bằng một thấy. Người Nhật Bản hơn chúng ta là thắc mắc thì đi tới chốn để tìm cho ra. Bài thơ nói trên làm sáng tỏ chính là nhờ công sức ấy. Và có lẽ cũng cho chúng ta một bài học để việc sưu tầm, chỉnh lý Thơ - Văn cổ để có kết quả khả quan.
-Riêng đối với thơ Tứ tuyệt Trung Quốc, mong sao Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Thơ Văn tăng cường công tác trao đổi thông tin với nước bạn để rồi sớm cho chỉnh lý, biên soạn lại, đem đến cho mọi người nhiều cái Hay và cái Đẹp, nâng tầm hiểu biết cao xa hơn.
(BáoVăn nghệ)
Nguyễn Tất Phan
Trên trang Bạn đọc báo Văn nghệ có đề cập việc nhà Nho rởm ở phố Mã Mây với bài thơ Phong Kiều dạ bạc, trong việc tiếp kiến Nhà vua và Hoàng hậu Thuỵ Điển. Về tác hại của sự rởm thì ai cũng đã thấy rõ. Nhưng còn về bài thơ thì nhiều người thấy chưa vừa lòng và nghi ngờ. Người viết bài này được giúp đỡ của bạn bè, tìm trong các sách đã xuất bản, cung cấp cho bạn đọc báo Văn nghệ những tin sau đây:
1- Theo sách Thơ Đường - Tản Đà dịch do Nguyễn Quảng Tuân biên soạn, Nhà xuất bản Trẻ và Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học ấn hành năm 1989: Bài thơ Phong Kiều dạ bạc (đã phiên âm và thêm dấu)
Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên,
Giang phong, ngư hoá đối sầu miên,
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự,
Dạ bàn chung thanh đáo khách thuyền.
Ban đêm thuyền đậu bến Phong Kiều:
Trăng tà, tiếng quạ kêu sương,
Lửa chài, cây bến sầu vương giấc hồ,
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Việt Nam Văn chương trích diễm.
Nhà thơ đã dịch nghĩa rồi chú thích rằng:
- Trương Kế, một đêm đậu thuyền ở bến Phong Kiều, thấy cảnh trăng tà xúc cảm ngâm:
Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên,
Giang phong, ngư hoá đối sầu miên,
Ngâm xong, Trương Kế không tìm được tứ nữa nên trằn trọc không ngủ được.
- Cũng buổi tối hôm đó, ngoài thành Cô Tô, sư cụ chùa Hàn San cũng xúc động cảnh trăng non, ngâm thơ rằng:
Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung,
Bán tự ngân câu, bán tự cung,
Nhưng sư cụ cũng hết tứ và cũng cứ trằn trọc không sao ngủ được. Chú tiểu hầu bên thấy vậy mới hỏi sư cụ sao đêm nay cứ trằn trọc mãi không ngủ. Sư cụ kể lại nỗi khổ tâm của mình và chú tiểu xin được nối tiếp để hoàn thành bài thơ:
Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn
Bán trầm thuỷ để, bán phù không.
Sư cụ nghe xong, khen hay và bảo chú tiểu lên đánh chuông tạ ơn Phật. Thành Cô Tô đêm ấy bỗng nghe thấy hồi chuông nửa đêm.
Cũng lúc đó, trong thuyền ở bến Phong Kiều, tiếng chuông cũng vọng đến, Trương Kế liền kết thúc bài thơ của mình:
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Giai thoại là như vậy. Nhưng đâu có thể tin được người đời sau đặt để ra. Sự thực thì Nguyệt lạc (trăng lặn) đã là cảnh lúc về sáng rồi. Tác giả đi nằm lúc nửa đêm, song cứ mơ màng đến khi chợt tỉnh và bị ảo tưởng thời gian nên cho là mới có nửa đêm. Âu Dương Tu có viết rằng:
- “Nhà thơ vì mê câu văn hay đã làm cho ý văn không được thông; Đó là ngữ bệnh vậy. Nhưng chúng ta cũng không nên bới lông tìm vết làm gì”.
2- Theo sách Kiến thức ngày nay số 165 ra ngày 20-2-1995 Nhà nghiên cứu - dịch giả Trần Phò đã dịch từ World Express 94 cho biết:
- Khi công tác tại Bắc Kinh, một học giả Nhật Bản đã tìm tới “Hàn San tự” để hiểu cho chính xác bài thơ đã làm cho Trương Kế trở nên bất tử. Giáo sư Vương Phương, một người uyên bác về các văn vật cổ nói với học giả Nhật:
- “Thật ra ở Trung Quốc hiện nay, có nhiều cách để hiểu khác nhau về bài tứ tuyệt của Trương Kế. Có người chủ trương đọc là:
Nguyệt / lạc ô đề, sương mãn thiên…
Nhưng có người quan niệm phải hiểu theo cách đọc phổ biến:
Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên,
Đã có nhiều tranh luận, nhưng chưa có kết luận. Chính tôi cũng không khẳng định nên theo cách hiểu nào…”.
Học giả Nhật đến tận nơi. Sau khi được tiếp kiến sư phụ Tính Không nói với ông rằng:
- “Đúng ra phải đọc là: Nguyệt / lạc Ô Đề, sương mãn thiên. Trước đây tại Tô Châu có một thôn trang tên là Ô Đề (Ô Đề thôn). Khi sáng tác bài thơ, Trương Kế đã tả cảnh trăng rụng trên thôn trang thơ mộng này.
Sư phụ Tính Không còn cho biết:
- “sầu miên” thật ra không phải là giấc ngủ buồn, mà là tên một ngọn núi: núi Sầu Miên (Sầu Miên sơn).
Như vậy câu thơ 2 có nghĩa là: hàng cây phong bên bờ sông cùng với đốm lửa thuyền chài ở trong thế đối diện với núi Sầu Miên.
Học giả Nhật kết luận: “Chúng tôi là người Nhật Bản nên trước nay hoàn toàn không biết tại Tô Châu có Thôn Ô Đề và Núi Sầu Miên”.
3- Cũng theo sách Kiến thức ngày nay số 222 ra ngày 20-9-1996 có bài viết của nhà thơ Viễn Phương là: Tô Châu và tiếng chuông chùa Hàn San. Ông Viễn Phương viết:
-… Tiếp chúng tôi tại Tô Châu là nhà văn Sầm Tân, Tổng thư ký Văn liên Tô Châu. Trong lúc bàn luận văn chương, nhớ Cô Tô thành cũ, nhân hứng khởi bèn đọc bài thơ Phong Kiều dạ bạc.
Nhưng câu cuối lại là: Dạ bán chung thinh đáo khách thuyền. Nhà văn Sầm Tân vỗ tay cười, trao đổi một hồi về Cô Tô và bài thơ rồi nói: - Hàn San tự cách Tô Châu không xa, đến đấy chẳng có gì trở ngại mọi sự tuỳ thuộc vào thời gian của đoàn.
Tiếc rằng mọi kế hoạch tham quan đã được sắp đặt rồi. Nếu như đoàn nhà thơ Việt Nam đến được Hàn San tự, thì chúng ta được nghe chính người mình đi tìm hiểu và nói về bài thơ này thì: “Hay biết mấy”!
Nhưng cũng thêm nỗi buồn: Chung thanh được đọc là Chung thinh! Từ “thanh” và “thinh” nghĩa hoàn toàn khác nhau. Và người Trung Quốc hẳn không thể biết được tự âm A đổi thành âm I là thói quen của người ở miền Nam Việt Nam. Phải chăng vì e ngại các nhà thơ Việt Nam chưa hiểu rõ bài thơ, mà ông Sầm Tân đã “tế nhị” khuyên đoàn ông Viễn Phương nên đến Hàn San tự!
Đôi lời kết thúc:
Như ba cách tìm hiểu đã trình bày trên, theo thiển ý của người viết này là:
- Quả thật là thơ tứ tuyệt viết bằng chữ Hán rất khó Đọc và Hiểu, bởi không hề có dấu ngắt, cũng không có viết tên riêng chữ hoa. Tuỳ ai hiểu thế nào thì tự ngắt giọng đọc mà thay dấu ngắt vào. Còn những tên riêng Đất và Người Trung Quốc, thì chỉ rõ khi nhận được chú thích mà thôi.
- Đã từ lâu rồi, các nhà thơ Việt Nam tốn nhiều lời bàn cãi, suy luận và diễn giải theo ý riêng mình. Đó cũng là vì thời trước thiếu phương tiên đi lại và thiếu thông tin. Có lẽ vì thế mà cụ Tản Đà cũng đã nhầm?
- Trăm nghe không bằng một thấy. Người Nhật Bản hơn chúng ta là thắc mắc thì đi tới chốn để tìm cho ra. Bài thơ nói trên làm sáng tỏ chính là nhờ công sức ấy. Và có lẽ cũng cho chúng ta một bài học để việc sưu tầm, chỉnh lý Thơ - Văn cổ để có kết quả khả quan.
-Riêng đối với thơ Tứ tuyệt Trung Quốc, mong sao Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Thơ Văn tăng cường công tác trao đổi thông tin với nước bạn để rồi sớm cho chỉnh lý, biên soạn lại, đem đến cho mọi người nhiều cái Hay và cái Đẹp, nâng tầm hiểu biết cao xa hơn.
(BáoVăn nghệ)
Love mickey,