size=5]Cao Bá Quát với thơ Kiều [/size]
Trần Ngọc Thụ
Tôi chưa có điều kiện đọc nhiều và tìm hiểu nhiều về thơ Cao Bá Quát. Tuy nhiên mới chỉ qua một ít thơ chữ Hán và ca trù đã phát hiện ra một điều hết sức thú vị: dường như trong thơ Cao Bá Quát có lẩn quất những câu thơ Kiều của Nguyễn Du.
- Trong bài Ca trù “Giai nhân nan tái đắc” có những câu:
Bến sông Tương một giải nông sờ
cho kẻ đấy người đây mong mỏi
Bứt rứt nhẽ trăm đường nghìn nỗi
Tâm sự này biết nói cùng ai
Chút chi gắn bó một hai
- Trong một bài ca trù khác: (Vịnh Tỳ bà)
Bỗng dưng đâu vương lấy mối
tơ - tình
Trách con tạo đành hanh chi
lắm thế
Riêng ai những nửa e nửa lệ
Duyên trăm năm biết dễ có
hay không
Ngổn ngang trăm mối bên lòng
Những dòng in đậm “trùng khít” với thơ của Nguyễn Du.
- Trong thơ chữ Hán, bài “Khóc bạn đồng khoa án sát Tuyên Quang Kiều Năng Thân” (Vãn Tuyên Niết Kiều niên Ông) có câu:
Kinh qua tần trướng vọng
Tương kiến thảng tha sinh
(Qua bao sầu trông ngóng)
Thấy nhau hoạ kiếp sau
Tương kiến thảng tha sinh (Thấy nhau hoạ kiếp sau) phải chăng là nửa câu Kiều “Kiếp sau hoạ thấy kiếp này hẳn thôi”
- Trong bài “Đề tranh Hoà thượng Mật Nhân” (Đề Mật Nhân Hoà thượng tả chân) có hai câu mở đầu:
Song mi như sơn
Song nhãn như thuỷ
(Đôi lông mày như nét núi
Đôi tròng mắt như làn nước). Phải chăng đây cũng là câu Làn thu thuỷ nét xuân sơn trong thơ Kiều? Còn có thể kể đến câu Hồ hải mang mang độc đới thiên (Một mình đội giời vẫy vùng khắp nơi hồ bể), trong bài “Tống Lê Dũng Hoà… chi Lạng Sơn” (Tiễn ông Lê Dũng Hoà… đi Lạng Sơn). Bài này nói Ông Lê Dũng Hoà đi làm việc quân, trấn dẹp vùng biên ải. Nó có hơi hướng của những câu Đội trời đạp đất ở đời, Giang hồ quen thú vẫy vùng trong truyện Kiều khi tả Từ Hải.
Nếu những câu trên đúng là những câu, những tứ thơ trong Kiều thì chỉ có thể nói là Cao Bá Quát rất thuộc thơ Kiều, rất thích (mê?) thơ Kiều (Khác hẳn với Nguyễn Công Trứ cùng thời rất ghét Kiều, đã từng có bài Hát Nói “Đĩ dài đĩ dạc, Bấy lâu nay đã toác toạc toàng toang, Chán chê rồi về đến đầu làng, còn tập tểnh tính đường tu lý…”)
Tôi cho rằng rất có khả năng Cao Bá Quát thuộc thơ Kiều và thích thơ Kiều. Có thể tìm hiểu điều này qua một hành trình như sau:
Cao Bá Quát tài cao bẩm sinh, học rộng biết nhiều trí lực mẫn tiệp, nổi tiếng hay chữ từ khi còn nhỏ tuổi. Nếu tính từ tuổi 15 của Cao (khoảng 1825) thì Truyện Kiều ra đời đã chừng 30 năm, Phạm Quí Thích viết bài Tổng vịnh Kiều đã 20 năm và Nguyễn Du đã qua đời 5 năm. Thời gian này Cao Bá Quát sống ở Hà Nội (đỗ Cử nhân trường Hà Nội năm 1831) điều kiện để tiếp cận Truyện Kiều không thể là không có. Với thời gian hơn 30 năm, một kiệt tác như Truyện Kiều tất đã gây xôn xao trong làng văn. Thơ hay thường bay nhanh bay xa. Hà Nội Tây Hồ nơi có nhà ở của Cao Bá Quát cũng là nơi giao du của Nguyễn trước kia, với biết bao bạn bè từ thiếu hiệp đến các đại quan, với biết bao cầm ca mỹ nữ. Năm 1813 trước và sau khi đi sứ Trung Hoa, Nguyễn Du đã dừng chân ở Hà Nội, để lại những bài thơ “Thăng Long”, “Long thành cầm giả ca”. Có thể nói Hà Nội là đất dưỡng văn, đất dụng văn của Nguyễn Du. Không lý do gì Truyện Kiều tác phẩm hay nhất của Nguyễn Du lại chưa được lan truyền ở Hà Nội sau hơn 30 năm ra đời.
Giai đoạn tiếp theo có nhiều yếu tố quan trọng hơn, giai đoạn gần 10 năm Cao Bá Quát sống ở Kinh thành Huế. ở Huế (mặc dầu có những năm bị tù đày, tra tấn) Cao Bá Quát có mối giao du rất rộng với các văn nhân sĩ tử, trong đó thân thiết nhất là nhà thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, con vua Minh Mạng.
Kinh thành Huế lại là nơi tập trung nhất trong cả nước về khám phá Truyện Kiều. Truyện Kiều tuy chưa in ra nhưng nhiều người đã có bản chép tay. Các hoàng tử, vương tôn cũng có, gây xôn xao cả trong nội điện. Vua Minh Mạng hạ chiếu chỉ cho 16 vị Hàn lâm làm một công trình tra cứu từng câu từng chữ Thơ Truyện Kiều để hiểu tường tận một tác phẩm được ưa chuộng đến thế. Công trình sau hai năm thì hoàn thành. (Tạp chí Hán Nôm mấy năm trước đã có bài giới thiệu sự kiện này). Việc ưa chuộng Truyện Kiều ở Huế còn tiếp tục đến đời vua Tự Đức với câu ca dao:
Làm trai hay đánh Tổ tôm
Uống chè Mạn Bảo xem Nôm
Thuý Kiều
Cao Bá Quát ở Kinh từ giữa đến cuối thời Minh Mạng có thể có nhiều lần dự vào bàn luận thơ Kiều. Và có lẽ một người tài hoa như Cao Bá Quát thì thuộc thơ Kiều, hiểu Thơ Kiều, thích Thơ Kiều hơn nhiều người khác.
Còn một điều cuối cùng cần xem xét là trong sáng tác thơ, Cao Bá Quát có sử dụng những tứ thơ, câu thơ hay của người xưa không? Về vấn đề này, Cao Bá Quát đã từng bài bác lối thơ sáo mòn rập khuôn người khác không đếm xỉa đến thực tế. Song điều đó hoàn toàn khác với việc dùng những điển cố hay, những tứ thơ hay của người đi trước để làm nổi bật tứ thơ và cốt cách thơ của mình. Mà điều này chỉ những người học nhiều hiểu rộng mới làm được.
Vẫn trong phạm vi một số ít bài thơ Cao Bá Quát ta thấy những câu như sau:
“Thử ngoại vô thanh đa diệu thú. Tô Tiên hà tất vị thuỳ khuynh” (Ngoài đó ra im lặng mới là tuyệt thú. Tô Tiên cần chi phải nghiêng bầu) trong bài “Tĩnh dạ chung thanh” (Tiếng chuông đêm vắng) giống với câu “Cổ vãng kim lai chỉ như thử, Cảnh Công hà tất lệ triêm y” (Cổ đi kim đến chỉ như vậy, Cảnh Công cần chi phải tuôn lệ ướt áo) của Đỗ Mục trong bài “Cửu nhật Tề sơn đăng cao” (Tiết Trùng dương lên núi Tề Sơn). Và: “Vô đoan cánh thính Tương Linh khúc, Do tác giang thiềm dạ vũ thanh” (Bỗng nhiên lại nghe thấy khúc nhạc Tương Linh, rộn lên tiếng mưa đêm gõ trên bờ sông) trong bài Một đề (Không đề) rất giống với câu: “Tân than mạc ngộ du nhân ý, Cánh tác phong thiềm dạ vũ thanh” (Bãi ghềnh mới không hiểu ý người du tử, Lại rộn lên tiếng mưa đêm trước hiên gió) trong bài Nhị nhật nhị nguyệt (Mồng hai tháng hai) của Lý Thương ẩn. (Đỗ Mục và Lý Thương ẩn là 2 nhà thơ lớn đời Đường).
Cao Bá Quát sinh sau Nguyễn Du 45 năm, mất sau Nguyễn Du 34 năm, có thể coi là thế hệ nối tiếp. Đây là những giai đoạn cực thịnh của thơ văn nước ta. Thơ chữ Hán thơ chữ Nôm đều phong phú. Đặc biệt tác phẩm thơ Nôm dài hơi đã xuất hiện với những kiệt tác Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc, tiếp đến đỉnh cao là Truyện Kiều.
Các tác giả lớn và tác phẩm của họ đều có bề dày gạn lọc tinh hoa từ mấy ngàn năm.
Thế hệ của Cao Bá Quát cũng thế. Cao là tác giả lớn nhất đầu thế kỷ 19. Thơ văn của Cao mênh mang như rừng như biển, phong phú và đặc sắc. Cũng như các tác giả lớn khác. Cao thu nạp tất cả tinh hoa từ cổ đến kim với sự chuyển hoá kỳ diệu. Thơ Kiều là một tinh hoa chói sáng nhất không thể nào để lọt qua được. Quan hệ Thơ Cao Bá Quát với Thơ Kiều của Nguyễn Du (có thể biểu hiện không nhiều) là một tất yếu có nhiều ý vị.
Thụy Khuê tháng 8 năm 2003
(Phụ bản Thơ – Báo Văn nghệ)
Trần Ngọc Thụ
Tôi chưa có điều kiện đọc nhiều và tìm hiểu nhiều về thơ Cao Bá Quát. Tuy nhiên mới chỉ qua một ít thơ chữ Hán và ca trù đã phát hiện ra một điều hết sức thú vị: dường như trong thơ Cao Bá Quát có lẩn quất những câu thơ Kiều của Nguyễn Du.
- Trong bài Ca trù “Giai nhân nan tái đắc” có những câu:
Bến sông Tương một giải nông sờ
cho kẻ đấy người đây mong mỏi
Bứt rứt nhẽ trăm đường nghìn nỗi
Tâm sự này biết nói cùng ai
Chút chi gắn bó một hai
- Trong một bài ca trù khác: (Vịnh Tỳ bà)
Bỗng dưng đâu vương lấy mối
tơ - tình
Trách con tạo đành hanh chi
lắm thế
Riêng ai những nửa e nửa lệ
Duyên trăm năm biết dễ có
hay không
Ngổn ngang trăm mối bên lòng
Những dòng in đậm “trùng khít” với thơ của Nguyễn Du.
- Trong thơ chữ Hán, bài “Khóc bạn đồng khoa án sát Tuyên Quang Kiều Năng Thân” (Vãn Tuyên Niết Kiều niên Ông) có câu:
Kinh qua tần trướng vọng
Tương kiến thảng tha sinh
(Qua bao sầu trông ngóng)
Thấy nhau hoạ kiếp sau
Tương kiến thảng tha sinh (Thấy nhau hoạ kiếp sau) phải chăng là nửa câu Kiều “Kiếp sau hoạ thấy kiếp này hẳn thôi”
- Trong bài “Đề tranh Hoà thượng Mật Nhân” (Đề Mật Nhân Hoà thượng tả chân) có hai câu mở đầu:
Song mi như sơn
Song nhãn như thuỷ
(Đôi lông mày như nét núi
Đôi tròng mắt như làn nước). Phải chăng đây cũng là câu Làn thu thuỷ nét xuân sơn trong thơ Kiều? Còn có thể kể đến câu Hồ hải mang mang độc đới thiên (Một mình đội giời vẫy vùng khắp nơi hồ bể), trong bài “Tống Lê Dũng Hoà… chi Lạng Sơn” (Tiễn ông Lê Dũng Hoà… đi Lạng Sơn). Bài này nói Ông Lê Dũng Hoà đi làm việc quân, trấn dẹp vùng biên ải. Nó có hơi hướng của những câu Đội trời đạp đất ở đời, Giang hồ quen thú vẫy vùng trong truyện Kiều khi tả Từ Hải.
Nếu những câu trên đúng là những câu, những tứ thơ trong Kiều thì chỉ có thể nói là Cao Bá Quát rất thuộc thơ Kiều, rất thích (mê?) thơ Kiều (Khác hẳn với Nguyễn Công Trứ cùng thời rất ghét Kiều, đã từng có bài Hát Nói “Đĩ dài đĩ dạc, Bấy lâu nay đã toác toạc toàng toang, Chán chê rồi về đến đầu làng, còn tập tểnh tính đường tu lý…”)
Tôi cho rằng rất có khả năng Cao Bá Quát thuộc thơ Kiều và thích thơ Kiều. Có thể tìm hiểu điều này qua một hành trình như sau:
Cao Bá Quát tài cao bẩm sinh, học rộng biết nhiều trí lực mẫn tiệp, nổi tiếng hay chữ từ khi còn nhỏ tuổi. Nếu tính từ tuổi 15 của Cao (khoảng 1825) thì Truyện Kiều ra đời đã chừng 30 năm, Phạm Quí Thích viết bài Tổng vịnh Kiều đã 20 năm và Nguyễn Du đã qua đời 5 năm. Thời gian này Cao Bá Quát sống ở Hà Nội (đỗ Cử nhân trường Hà Nội năm 1831) điều kiện để tiếp cận Truyện Kiều không thể là không có. Với thời gian hơn 30 năm, một kiệt tác như Truyện Kiều tất đã gây xôn xao trong làng văn. Thơ hay thường bay nhanh bay xa. Hà Nội Tây Hồ nơi có nhà ở của Cao Bá Quát cũng là nơi giao du của Nguyễn trước kia, với biết bao bạn bè từ thiếu hiệp đến các đại quan, với biết bao cầm ca mỹ nữ. Năm 1813 trước và sau khi đi sứ Trung Hoa, Nguyễn Du đã dừng chân ở Hà Nội, để lại những bài thơ “Thăng Long”, “Long thành cầm giả ca”. Có thể nói Hà Nội là đất dưỡng văn, đất dụng văn của Nguyễn Du. Không lý do gì Truyện Kiều tác phẩm hay nhất của Nguyễn Du lại chưa được lan truyền ở Hà Nội sau hơn 30 năm ra đời.
Giai đoạn tiếp theo có nhiều yếu tố quan trọng hơn, giai đoạn gần 10 năm Cao Bá Quát sống ở Kinh thành Huế. ở Huế (mặc dầu có những năm bị tù đày, tra tấn) Cao Bá Quát có mối giao du rất rộng với các văn nhân sĩ tử, trong đó thân thiết nhất là nhà thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, con vua Minh Mạng.
Kinh thành Huế lại là nơi tập trung nhất trong cả nước về khám phá Truyện Kiều. Truyện Kiều tuy chưa in ra nhưng nhiều người đã có bản chép tay. Các hoàng tử, vương tôn cũng có, gây xôn xao cả trong nội điện. Vua Minh Mạng hạ chiếu chỉ cho 16 vị Hàn lâm làm một công trình tra cứu từng câu từng chữ Thơ Truyện Kiều để hiểu tường tận một tác phẩm được ưa chuộng đến thế. Công trình sau hai năm thì hoàn thành. (Tạp chí Hán Nôm mấy năm trước đã có bài giới thiệu sự kiện này). Việc ưa chuộng Truyện Kiều ở Huế còn tiếp tục đến đời vua Tự Đức với câu ca dao:
Làm trai hay đánh Tổ tôm
Uống chè Mạn Bảo xem Nôm
Thuý Kiều
Cao Bá Quát ở Kinh từ giữa đến cuối thời Minh Mạng có thể có nhiều lần dự vào bàn luận thơ Kiều. Và có lẽ một người tài hoa như Cao Bá Quát thì thuộc thơ Kiều, hiểu Thơ Kiều, thích Thơ Kiều hơn nhiều người khác.
Còn một điều cuối cùng cần xem xét là trong sáng tác thơ, Cao Bá Quát có sử dụng những tứ thơ, câu thơ hay của người xưa không? Về vấn đề này, Cao Bá Quát đã từng bài bác lối thơ sáo mòn rập khuôn người khác không đếm xỉa đến thực tế. Song điều đó hoàn toàn khác với việc dùng những điển cố hay, những tứ thơ hay của người đi trước để làm nổi bật tứ thơ và cốt cách thơ của mình. Mà điều này chỉ những người học nhiều hiểu rộng mới làm được.
Vẫn trong phạm vi một số ít bài thơ Cao Bá Quát ta thấy những câu như sau:
“Thử ngoại vô thanh đa diệu thú. Tô Tiên hà tất vị thuỳ khuynh” (Ngoài đó ra im lặng mới là tuyệt thú. Tô Tiên cần chi phải nghiêng bầu) trong bài “Tĩnh dạ chung thanh” (Tiếng chuông đêm vắng) giống với câu “Cổ vãng kim lai chỉ như thử, Cảnh Công hà tất lệ triêm y” (Cổ đi kim đến chỉ như vậy, Cảnh Công cần chi phải tuôn lệ ướt áo) của Đỗ Mục trong bài “Cửu nhật Tề sơn đăng cao” (Tiết Trùng dương lên núi Tề Sơn). Và: “Vô đoan cánh thính Tương Linh khúc, Do tác giang thiềm dạ vũ thanh” (Bỗng nhiên lại nghe thấy khúc nhạc Tương Linh, rộn lên tiếng mưa đêm gõ trên bờ sông) trong bài Một đề (Không đề) rất giống với câu: “Tân than mạc ngộ du nhân ý, Cánh tác phong thiềm dạ vũ thanh” (Bãi ghềnh mới không hiểu ý người du tử, Lại rộn lên tiếng mưa đêm trước hiên gió) trong bài Nhị nhật nhị nguyệt (Mồng hai tháng hai) của Lý Thương ẩn. (Đỗ Mục và Lý Thương ẩn là 2 nhà thơ lớn đời Đường).
Cao Bá Quát sinh sau Nguyễn Du 45 năm, mất sau Nguyễn Du 34 năm, có thể coi là thế hệ nối tiếp. Đây là những giai đoạn cực thịnh của thơ văn nước ta. Thơ chữ Hán thơ chữ Nôm đều phong phú. Đặc biệt tác phẩm thơ Nôm dài hơi đã xuất hiện với những kiệt tác Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc, tiếp đến đỉnh cao là Truyện Kiều.
Các tác giả lớn và tác phẩm của họ đều có bề dày gạn lọc tinh hoa từ mấy ngàn năm.
Thế hệ của Cao Bá Quát cũng thế. Cao là tác giả lớn nhất đầu thế kỷ 19. Thơ văn của Cao mênh mang như rừng như biển, phong phú và đặc sắc. Cũng như các tác giả lớn khác. Cao thu nạp tất cả tinh hoa từ cổ đến kim với sự chuyển hoá kỳ diệu. Thơ Kiều là một tinh hoa chói sáng nhất không thể nào để lọt qua được. Quan hệ Thơ Cao Bá Quát với Thơ Kiều của Nguyễn Du (có thể biểu hiện không nhiều) là một tất yếu có nhiều ý vị.
Thụy Khuê tháng 8 năm 2003
(Phụ bản Thơ – Báo Văn nghệ)
Love mickey,