Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Vương Trọng, Thơ cho đời

0 trả lời, 1.245 lượt xem — Trang 1 / 1
Vương Trọng, Thơ cho đời

Nguyễn Hữu Quý

Có lẽ, Vương Trọng là một trong số không nhiều lắm các nhà thơ Việt Nam hiện nay có những tác phẩm được nhiều bạn đọc gần xa yêu thích. Xin được kể ra đây những bài thơ ấy của anh: Bên mộ cụ Nguyễn Du, Hai chị em, Chị dâu, Lời thỉnh cầu, Với đứa con ngoài giá thú. Đọc kỹ những bài thơ ấy, tôi thấy về hình thức biểu đạt không có gì mới lạ mà từng chữ, từng câu vẫn thấm vào lòng, làm cho ta thực sự xúc động. Người đọc dường như không còn thấy thơ đâu mà chỉ thấy nỗi lòng, tâm trạng và số phận… của tác giả, của nhân vật.

Đúng thế! Thơ Vương Trọng đã chuyển tải được nỗi lòng của anh; nỗi lòng của một con người đa cảm. Những số phận hẩm hiu, những cảnh ngộ éo lo, những mảnh đời bất hạnh đã được thấu hiểu, cảm thông và chia sẻ trong nhiều bài thơ của nhà thơ mang áo lính quê ở Xứ Nghệ này. Thơ anh bắt rễ từ cuộc sống và được dẫn dắt bởi ánh lửa nhân từ ấm áp. Đó là thứ thơ viết cho đời; sự khởi đầu không phải là khát muốn sắp xếp, nhào trộn chữ nghĩa đơn thuần mà là lòng yêu thương con người mạnh mẽ, là những xúc động thật và sâu, những ý tứ thi ca bật ra từ cảm nhận của trái tim người cầm bút.

Bắt đầu từ trái tim biết đau với nỗi đau của người khác, Vương Trọng thực sự trở thành nhà thơ đứng về phía nước mắt. Chưa vội lý giải điều này, trước hết ta cùng anh đến với một người mẹ có con ngoài giá thú, lắng nghe lời kêu than của chị: “Ngoài giá thú sao ngoài lòng thương cảm! Để người đời ghét bỏ mẹ con tôi?” hay chứng kiến cái cảnh chị dỗ em khi bố mẹ ra toà: “Nín đi em, bố mẹ bận ra toà/ Chị lên bảy dỗ em trai ba tuổi? Thằng bé khóc bụng chưa quen chịu đói/ Hai bàn tay xé áo chị đòi cơm”. Bài thơ “Với đứa con ngoài giá thú” Vương Trọng viết năm 1986. Lúc ấy, xã hội ta nhìn những người phụ nữ không chồng mà có con đâu đã được thoáng như bây giờ. Người mẹ “Chưa từng làm vợ” ấy dưới ngòi bút của Vương Trọng vừa đáng thương, vừa đáng phục làm sao. Chị chấp nhận tất cả mọi vất vả, khổ đau để sống cho mình, cho con: “Mẹ làm mẹ mà chưa từng làm vợ/ Vẫn suất cơm tập thể khiêm nhường/ Nửa làm máu, nửa chia ra làm sữa/ Hạnh phúc nào bằng san sẻ yêu thương”. Tôi tin tưởng chắc chắn rằng trong hành trang cuộc đời của những người phụ nữ chịu cảnh ngộ éo le như thế sẽ thường hay có những bài thơ che chở, cảm thông như của Vương Trọng. Bài thơ “Hai chị em” nhà thơ viết năm 1985. Đã gần 20 năm rồi mà giá trị xã hội của nó chẳng hề cũ kỹ chút nào. Ly hôn đang là hiện tượng xã hội đáng báo động. ở đâu đó, người ta giảng thuyết rằng ly hôn chính là sự giải phóng cho những đôi vợ chồng không hợp nhau. Nhà thơ Vương Trọng không lý giải nhiều, anh chỉ nhắc lại lời dỗ em của đứa chị lên bảy, tiếng khóc gào khản giọng của đứa em lên ba, những giọt nước mắt đầm đìa của trẻ thơ để nhắc nhở những người bố, người mẹ đang ở bên bờ chia cắt: “Phút giây thôi, hãy nghe tiếng con mình!”.

Nhà thơ Vương Trọng đã từng phát biểu: “Tôi không thích tìm tòi hình thức biểu hiện thơ. Đối với tôi, các thể thơ truyền thống là hết sức quan trọng. Nếu gạt bỏ các thể thơ truyền thống, thơ Việt Nam còn là Thơ nữa không?”.

Vương Trọng kể rằng: Anh có người anh trai là Vương Đình Trâm rất yêu thơ và có làm thơ. Thời còn nhỏ, hàng ngày nghe anh trai mình đọc Kiều, Vương Trọng thấy hay quá, nhẩm đọc theo và thuộc lòng. Học xong cấp hai, thì Vương Trọng cũng thuộc hết 3.254 câu Kiều của Nguyễn Du…

Tôi tin Nguyễn Du và Truyện Kiều đã có sự tác động sâu sắc và mạnh mẽ tới quan niệm sáng tác và bút pháp của Vương Trọng. Để rồi, trong thơ anh vẫn thường hay xuất hiện hình ảnh của những người phụ nữ nghèo khổ, nhỏ bé, ít may mắn, nhiều thiệt thòi mất mát…

Thương mẹ, thương quê, anh đã có lần khóc giữa chiêm bao:

“Con lang thang vất vưởng giữa đời thường

Đâu cũng sống, không đâu thành quê được

Còn quê mẹ cuối chân trời tít tắp

Con ít về từ ngày mẹ ra đi”

Năm 1994 nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Giải phóng Điện Biên, anh lên Mường Phăng gặp một cháu bé tuổi lên năm gánh củi từ rừng về bản. Nhìn cháu nhỏ bước bên mẹ “lùn như một cây nấm”, anh day dứt không yên:

“Sau bốn mươi năm Điện Biên giải phóng

Tôi về thăm sẽ chỉ có niềm vui

Nếu không gặp những khu rừng cháy trụi

Và cháu bé lên năm vẹo xiêu vì gánh củi”.

Anh còn thấu hiểu, cảm thông với những người vợ biên phòng tháng tháng, năm năm chịu cảnh xa chồng:

“Ngày thường thấm nỗi không anh

Cuối năm anh vẫn xa xanh biên thùy”.

Và, cả những câu thơ “vui vui” anh viết cho vợ mình cũng không nằm ngoài lòng yêu thương, sự biết ơn, trân trọng những người làm nên một nửa thế giới này:

“Mâm dọn ra, chồng và con như khách

Chỗ em ngồi mấy phía nồi niêu

Vừa xong bữa cả nhà đi sạch

Hoa hậu cùng mâm bát nhìn theo”.

Mặc dù, Vương Trọng đã có một phần thơ rất đáng kể viết về chiến tranh và người lính cách mạng, trong đó ngay từ năm 1969 “Bài thơ nằm võng” đã đoạt giải ba cuộc thi thơ báo Văn nghệ và cũng đã từng có những tập sách đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn, của Bộ Quốc phòng, tôi vẫn thấy thích hơn phần thơ thế sự của anh. Nói như nhà thơ Trần Đăng Khoa thì: “Hình như đây mới đúng là xứ sở của anh. Mãi đến những năm gần đây, Vương Trọng mới phát hiện ra mỏ quặng đích thực của mình”. Đây là phần đóng góp đáng ghi nhận của Vương Trọng với nền thơ đương đại ở Việt Nam. Người yêu thơ sẽ vẫn còn nhắc tới Vương Trọng với những “Bên mộ cụ Nguyễn Du”, “Nói với Trương Chi”, “Mỵ Châu”, “Sợi tóc hai màu”. Trong đó bài thơ “Sợi tóc hai màu” theo tôi là ấn tượng và ám ảnh nhất. Đây là bài thơ nói về cuộc đời và những cảm nhận của con người trước thời gian. Con người thăng trầm muôn nỗi, sướng khổ bao phen không thoát khỏi sự chi phối của thời gian. Tuổi tác để lại dấu ấn không chỉ là những vạch đường hằn trên má, hay trong nụ cười nham nhở mà cái bóng của nó còn đè lên những trang bản thảo bàng hoàng. Đành phải an ủi mình: “Thôi, ý nghĩ đừng vượt lên tuổi tác/ Phép mầu nào chống chọi nổi thời gian?”.

Vương Trọng kể với tôi rằng: Đây là bài thơ anh viết công phu nhất, cặn kẽ nhất. Bài thơ có cái tứ rất lạ và hay cùng với nhiều chi tiết độc đáo này anh đã làm trong hai năm. Viết, xoá, rồi viết, đến hai năm “Sợi tóc hai màu” mới được hoàn thành. Đó là năm 1988, lúc Vương Trọng tròn 45 tuổi.

Nay, tuổi anh đã ở ngoài 60 tuổi. Cái tuổi: “Răng muốn trắng, lại đen/ Tóc cần đen, lại bạc/ Chức quyền chẳng chịu cao/ Chỉ toàn cao huyết áp”. Anh nhắc đến chức quyền là nhắc cho vui (trong bài thơ Tự trào) vậy thôi, chứ một người như anh chẳng bao giờ hám chức quyền. Đến hẹn lại lên, Vương Trọng mang quân hàm đại tá nhưng suốt đời chỉ làm một biên tập viên, một nhà thơ. Thông minh, tài hoa nhưng anh chưa bao giờ giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý nào cả. Tuy nhiên, anh chẳng đau khổ, phàn nàn về chuyện đó. Quan niệm về cuộc sống của anh là:

“Tri túc tâm thường thái

Vô cầu phẩm tự cao”

(Cứ coi là đủ đi thì tâm sẽ thư thái, lòng thanh thản. Đừng cầu cạnh, cầu mong những cái ngoài khả năng của mình. Nếu làm được thế tức khắc phẩm giá của mình sẽ cao).

Vương Trọng quan niệm rằng, bất hạnh của cuộc sống tỷ lệ thuận khoảng cách giữa điều mình được hưởng với điều mình muốn hưởng. Có lẽ vì thế mà anh không bao giờ coi mình là người thiếu thốn, mặc dù anh chưa giàu có chi. Cái quan niệm về một cuộc sống tự tại, chừng mực, không ham hố danh vọng, giàu sang đã được Vương Trọng “thơ hoá” trong bài “Nói với Trương Chi”:

“Buồn thì ngủ để quên đi

Giọng hay đành để hát khi tối trời

Ai nghe, ai cảm mặc người

Dại gì mơ tưởng những nơi lầu vàng?

Sông một dải, trời một gian

Chui vào trong chén bạch đàn làm chi?”

Cùng một dạng như “Nói với Trương Chi” Vương Trọng có khoảng vài chục bài thơ viết về các nhân vật truyền thuyết, huyền thoại, cổ tích, tác phẩm văn học như Đạm Tiên, Mỵ Châu, Thị Mầu, Tiên Dung, nàng Vọng Phu, Chí Phèo v.v… Thơ của anh lúc là tiếng nấc trước số phận của một kiếp hồng nhan bạc mệnh Đạm Tiên “Ngàn bài ca chiều khách/ Dành cho mình/Chỉ một tiếng nấc/ Chết mình một góc/ Nỗi cô đơn mang xuống đáy mồ”, lúc là lời gỡ tội cho Mỵ Châu “Mấy nghìn năm dâu bể, lỡ bồi/ Lúc yên bình và cả khi giặc giã/ Xin đừng trách Mỵ Châu thêm nữa/ Yêu chân thành, thật có tội gì đâu?”, khi là sự dải dề nói hộ cho Thị Mầu “Chân bước đi, lưng đã muốn nằm/ áo đang mặc, tay bao lần toan cởi/ Thầy Tiểu ơi, Niết bàn xa vời vợi/ Hạnh phúc gần, hạnh phúc ở em đây!”…

Đừng ai nghĩ rằng khi viết những bài thơ này là anh chỉ nói về quá khứ. Thập loại chúng sinh còn nhiều bất hạnh đau khổ lắm. Xã hội hôm nay chưa hết những Thúy Kiều, Đạm Tiên, Thị Mầu, nàng Vọng Phu… Họ cần sự chia sẻ, cảm thông, thấu hiểu của đồng loại. Thơ, có thể không mang lại áo cơm, hạnh phúc cho họ nhưng thơ, trong những khoảnh khắc nào đó có thể nâng đỡ, dìu vực họ vượt qua tủi nhục, đau thương để làm lại cuộc đời. Với ý nghĩ đó, thơ Vương Trọng đầy tính nhân văn và thật có ích cho đời. Đó là thứ thơ nói riêng và văn học nói chung rất cần thiết cho cuộc sống chứ không phải là loại thơ văn thù tạc phù phiếm. Có lẽ vì thế mà thơ Vương Trọng có nhiều bạn đọc, bạn nghe. Trong quá trình sáng tác, anh luôn có ý thức hướng thơ của mình về với đông đảo công chúng. Anh tâm sự: “Tôi không quá coi trọng lời khen chê của các nhà phê bình, nhưng tôi lại rất chú ý lắng nghe ý kiến của đông đảo bạn đọc”. Có thể, một số nhà thơ không tán thành cách nghĩ này của Vương Trọng. Nhưng không sao. Vương Trọng có con đường thơ riêng của anh. Con đường mòn lấm bụi trần gian, đi giữa đời thường, rất gần với ngọn sóng đồng chiêm, vệt bùn ruộng mạc, mưa nắng miền Trung, nơi sinh nở những cơn gió đồng thổi thi tứ vào thơ. Vương Trọng - Nhà thơ - Người nông dân. Anh là người nông dân của làng Đông Bích (xã Trung Sơn, huyện Đô Lương) quê anh. Cái làng quê ở bên sông Lam ấy ngày xưa nghèo lắm. Trận lụt ngày 27 tháng 8 âm lịch năm 1954 làm mất trắng cả vụ mùa. Vụ chiêm năm sau lại bị thất thu vì đại hạn. Làng xao xác, tiêu điều. Trẻ già vác cuốc ra đồng đào rau má. Rau má ở đồng làng không mọc kịp cho người đào. Lại phải lũ lượt kéo nhau lên tận Tân Kỳ, cách xa 30 cây số để đào rau má về. Hai tháng trời không được hột cơm bỏ bụng. Tuổi thơ, đi học chẳng được mấy bữa no. Tuổi còn đi học phổ thông anh đã làm thạo mọi việc làm của người nông dân. Cày bừa, cấy hái, gieo mạ chẳng thua ai. Cái làng quê ấy, cái quãng đời ấy, đói nghèo ấy vẫn chưa nguôi ngoai trong anh, vẫn là nỗi toan lo của người đã từng sinh ra và lớn lên từ bùn đất ruộng vườn:

“Là nông dân? - Vâng, ta vẫn nông dân

Nhìn trăng quầng lo mùa nắng hạn

Nghe tin bão, hướng quê nhà phấp phỏng

Gặp ăn mày, lo giáp hạt quê xa…”

23-6-2004



(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0