Phải chăng bây giờ đương là thời của phê bình?
Nguyễn Hoàng Sơn
(Tham luận tại cuộc Toạ đàm “Phê bình văn học - Bản chất và Đối tượng” do Viện Văn học tổ chức - Hà Nội ngày 27-5-2004)
Trong một bài viết gần đây trên Thể thao & Văn hoá, ông Vương Trí Nhàn có một so sánh lý thú, có thể coi như một phát hiện rằng: trong thời kỳ phát triển bồng bột của văn học Quốc ngữ từ 1925 đến 1945, so với thành tựu to lớn của văn, của thơ thì phê bình, lý luận có vẻ quá… lép vế? Vương Trí Nhàn đã dẫn ra hai tên tuổi trong địa hạt mà ông đeo đẳng, hai người hiện nay “còn được đọc lại” là Hoài Thanh và Vũ Ngọc Phan. Đặt bên cạnh những “ông lớn” trong thơ (Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính…), trong Văn (Nguyễn Công Hoan, Thế Lữ, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Khái Hưng…) thì quả thực so sánh không có lợi lắm cho giới của ông Nhàn. (Tất nhiên nếu thêm vào “danh sách hai người” kia những tên tuổi như Thiếu Sơn, Hải Triều, Đặng Thai Mai, Trương Chính, Lê Thanh, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Hoa Bằng… thì tình thế dẫu vẫn “không thể đảo ngược được” nhưng có lẽ tương quan sẽ khác?). Mở rộng luận điểm này, nhìn về quá khứ thì thấy sự “bất bình đẳng” ấy có gốc rễ rất sâu xa. Ông cha ta cũng coi trọng sáng tác mà chẳng mấy quan tâm đến lý sự với phẩm bình? Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát… tồn tại chỉ nhờ thơ, nhờ văn chữ Hán, chữ Nôm. Sang thời hiện đại (từ 1945 đến nay, gần 60 năm), sự “mất cân bằng” ấy dường như vẫn chưa được khắc phục bao nhiêu. Trong kháng chiến chống Pháp, muốn kể tên 10 nhà văn, nhà thơ hiện còn được đọc không khó, chẳng hạn: Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Tố Hữu, Kim Lân, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Trần Dần, Trần Đăng, Chính Hữu. Nhìn sang lĩnh vực nghiên cứu phê bình thì sao? Có mấy bài về Giảng văn Chinh phụ ngâm của Giáo sư Đặng Thai Mai, bài viết về Kiều của Hoài Thanh, những bài bình thơ kháng chiến của Xuân Diệu… còn được giới chuyên môn thi thoảng nhắc đến. Từ năm 1954, nhất là từ 1960 đến năm 1987 (tạm coi như cái mốc của “Đổi mới”), là giai đoạn vẫn được một số nhà phê bình lý luận đánh giá là “nghiêm túc, đứng đắn”. Trong ba thập kỷ “nghiêm túc, đứng đắn” ấy, có không nhiều lắm những sự kiện khuấy động không khí học thuật và gây được sự chú ý của xã hội. Hầu hết là những “vụ” xuất phát từ sự “trật ray” nào đó về tư tưởng, nội dung của tác phẩm vi phạm một điều “cấm kỵ”… Đặc điểm nổi bật của phê bình trong thời kỳ này là thường mang tính “một chiều”: ý kiến phê phán đôi khi cũng là ý kiến… kết luận, rất ít trường hợp tác giả hoặc những người ủng hộ tác giả được lên tiếng phản bác hoặc trình bày lại! Với con mắt bây giờ, có thể thấy hầu hết những ý kiến phê phán trong các vụ việc kể trên đều mang màu sắc “tả khuynh”, vùi dập thái quá. Vì thế, liệu có phải là quá đáng không nếu nói rằng suốt ba thập kỷ ấy, chúng ta chưa có phê bình văn chương đích thực theo đúng nghĩa của nó? Thành tựu của giai đoạn này, theo tôi, lại nằm chủ yếu ở khâu nghiên cứu, sưu tầm, dịch thuật. Những công trình nghiêm túc và tâm huyết của các học giả uyên bác và thức thời: Đặng Thai Mai (Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX), Đào Duy Anh (Toàn tập Nguyễn Trãi, Từ điển Truyện Kiều, nhiều bộ sử…), Trần Văn Giáp (Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, Lược truyện các tác gia Việt Nam…), Văn Tân (Nguyễn Khuyến, nhà thơ trào phúng kiệt xuất), Trần Thanh Mại (Tú Xương - Con người và thơ văn?), Cao Huy Đỉnh (Người anh hùng làng Gióng)… là những công trình mang tính nền móng cho học thuật nước nhà mà nhiều nhà nghiên cứu lớp sau còn được thừa hưởng. Không phải là quá lời nếu nói rằng hiện nay gần như vắng bóng những nhà nghiên cứu vừa uyên bác, vừa giàu tâm huyết có thể sánh với những người chúng tôi kể trên?
Sau thời Đổi mới, những điều kiện cho phê bình văn chương đích thực xuất hiện: kinh tế nhiều thành phần bung ra, mẫu hình nhà văn - viên chức không còn độc tôn trên văn đàn; tinh thần dân chủ, công khai trong xã hội được khuyến khích; báo chí phát triển bồng bột, có một bộ mặt phồn vinh chưa từng có với đủ loại báo viết, báo nói, báo hình và gần đây nhất là báo điện tử; tinh thần pháp quyền thấm sâu vào sinh hoạt xã hội và từng công dân… Tóm lại là những điều kiện mà “thời Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng… nằm mơ cũng không thấy được!”. Trong không khí náo nức những ngày đầu được “cởi trói”, giới phê bình nghiên cứu cũng mau chóng làm được một số việc đáng ghi nhớ. Đó là việc khẳng định lại vị trí của một số tác giả “có vấn đề” trong quá khứ như Tự lực văn đoàn, Vũ Trọng Phụng, Hàn Mặc Tử, Vũ Bằng, Nguyễn Bính… Trong việc này, có lẽ cần ghi công trước hết những ông bà chịu mang tiếng “đầu nậu” nhưng không ít người có “mắt xanh” với văn chương, nắm bắt được nhu cầu đọc thực tế của công chúng. Chính họ chứ không phải ai khác đã kích thích các nhà nghiên cứu, phê bình vốn thường nhút nhát, ngại đương đầu, dám “bước qua lời nguyền”. Có gì đó tương tự giữa hiện trạng này của ngành xuất bản với việc “khoán hộ” trong nông nghiệp, từ những bước đi rón rén, thầm lén ban đầu đến một chủ trương công khai ở tầm quốc gia? Tiếc rằng sau những bước khởi đầu có phần ngẫu nhiên may mắn ấy, lý luận phê bình của ta lại bị dẫm chân tại chỗ và sa vào tình trạng cãi vã cò con, vô bổ suốt… mười năm nay. Phải nói thẳng rằng trình độ học thuật của những cuộc tranh luận trên mặt báo mười năm vừa qua nhìn chung là rất thấp. Rất ít cây bút trẻ xuất hiện trong lĩnh vực này, nếu có thì cũng èo uột, vay mượn, kênh kiệu nhưng chưa thoát khỏi giọng văn học trò. Công bằng mà nói, cũng có một số tên tuổi tương đối trẻ tự khẳng định được mình nhưng chủ yếu là trong lĩnh vực nghiên cứu. Các nhà phê bình đi đâu cả? Một số nhà giáo kiêm nhà văn thì loay hoay với công việc viết sách giáo khoa, thay sách giáo khoa và chống đỡ với sự chỉ trích của công luận quanh những việc ấy đã đủ nhược người! Các vụ, viện thì nghe nói mối quan tâm chủ yếu là các… đề tài cấp nọ, cấp kia? Một vài cây bút quanh các nhà xuất bản, các toà soạn thì chủ yếu hành nghề… viết lời giới thiệu, tâng bốc bất kỳ cuốn sách dịch nào, miễn là được đầu nậu trả tiền. Đối với văn học trong nước, các vị rất chăm chỉ giở lại báo cũ, sách cũ, xào xáo, thêm thắt rồi viết thành bài báo, in thành sách, vừa có “tiền tươi thóc thật”, vừa được tiếng uyên bác mà không sợ đụng chạm. Sự tránh né đã gần như thành cố tật này, một phần vì khôn lỏi, nhưng phần chủ yếu là vì năng lực thẩm định văn chương rất hạn chế, luôn luôn phải dựa dẫm, khi thì vào những vụ việc ngoài tác phẩm, khi thì vào ý kiến của người đi trước hoặc một ông ôp, ông ep, ông pie, ông smith nào đó… Tôi gọi các nhà phê bình này là “trường phái vôi ve”: suốt đời tán hươu tán vượn về những nhà văn đã thành danh, đã được khẳng định (chết rồi là tốt nhất!), như những di tích lịch sử đã được xếp hạng bây giờ các ngài đến để quét vôi ve và được thơm lây. Việc này kể ra cũng là cần thiết, trong một chừng mực nào đó là có ích, nhưng không thể là phần việc chủ yếu của cả một đời người viết phê bình. Trong một lần trả lời phỏng vấn báo Văn nghệ Trẻ tôi đã bóc mẽ những nhà phê bình láu cá này.
Có lẽ đóng góp chủ yếu của giới phê bình lý luận “chuyên nghiệp” trong hơn một thập kỷ vừa qua là việc giới thiệu những lý thuyết ngoại nhập như những công cụ để tiếp cận văn chương mà trong những năm trước đổi mới giới cầm bút chưa có điều kiện tìm hiểu. Chỉ như vậy thôi. Còn trên các báo - “sân chơi” thứ thiệt và quan trọng bậc nhất của phê bình văn chương - dày đặc màu áo của các nhà thơ, các cầu thủ bất đắc dĩ nhưng rất nhiều khi “làm bàn”!. Điều này dường như trái khoáy, vi phạm “luật chơi”, khiến không ít đấng bậc trong làng lý luận phê bình khó chịu. Nhưng biết làm sao được, thượng đế vốn sợ chân không, khi các cầu thủ “chuyên nghiệp” đã già cả hoặc sợ trẹo chân, sai khớp thì khắc có những anh hăng hái, “điếc không sợ súng”, ào ra sân. Mà công chúng thì chẳng mấy quan tâm đến nguồn gốc xuất thân của anh, cứ ai đá hay là họ hoan hô thôi!q
26-5-2004
N.H.S
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Nguyễn Hoàng Sơn
(Tham luận tại cuộc Toạ đàm “Phê bình văn học - Bản chất và Đối tượng” do Viện Văn học tổ chức - Hà Nội ngày 27-5-2004)
Trong một bài viết gần đây trên Thể thao & Văn hoá, ông Vương Trí Nhàn có một so sánh lý thú, có thể coi như một phát hiện rằng: trong thời kỳ phát triển bồng bột của văn học Quốc ngữ từ 1925 đến 1945, so với thành tựu to lớn của văn, của thơ thì phê bình, lý luận có vẻ quá… lép vế? Vương Trí Nhàn đã dẫn ra hai tên tuổi trong địa hạt mà ông đeo đẳng, hai người hiện nay “còn được đọc lại” là Hoài Thanh và Vũ Ngọc Phan. Đặt bên cạnh những “ông lớn” trong thơ (Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính…), trong Văn (Nguyễn Công Hoan, Thế Lữ, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Khái Hưng…) thì quả thực so sánh không có lợi lắm cho giới của ông Nhàn. (Tất nhiên nếu thêm vào “danh sách hai người” kia những tên tuổi như Thiếu Sơn, Hải Triều, Đặng Thai Mai, Trương Chính, Lê Thanh, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Hoa Bằng… thì tình thế dẫu vẫn “không thể đảo ngược được” nhưng có lẽ tương quan sẽ khác?). Mở rộng luận điểm này, nhìn về quá khứ thì thấy sự “bất bình đẳng” ấy có gốc rễ rất sâu xa. Ông cha ta cũng coi trọng sáng tác mà chẳng mấy quan tâm đến lý sự với phẩm bình? Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát… tồn tại chỉ nhờ thơ, nhờ văn chữ Hán, chữ Nôm. Sang thời hiện đại (từ 1945 đến nay, gần 60 năm), sự “mất cân bằng” ấy dường như vẫn chưa được khắc phục bao nhiêu. Trong kháng chiến chống Pháp, muốn kể tên 10 nhà văn, nhà thơ hiện còn được đọc không khó, chẳng hạn: Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Tố Hữu, Kim Lân, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Trần Dần, Trần Đăng, Chính Hữu. Nhìn sang lĩnh vực nghiên cứu phê bình thì sao? Có mấy bài về Giảng văn Chinh phụ ngâm của Giáo sư Đặng Thai Mai, bài viết về Kiều của Hoài Thanh, những bài bình thơ kháng chiến của Xuân Diệu… còn được giới chuyên môn thi thoảng nhắc đến. Từ năm 1954, nhất là từ 1960 đến năm 1987 (tạm coi như cái mốc của “Đổi mới”), là giai đoạn vẫn được một số nhà phê bình lý luận đánh giá là “nghiêm túc, đứng đắn”. Trong ba thập kỷ “nghiêm túc, đứng đắn” ấy, có không nhiều lắm những sự kiện khuấy động không khí học thuật và gây được sự chú ý của xã hội. Hầu hết là những “vụ” xuất phát từ sự “trật ray” nào đó về tư tưởng, nội dung của tác phẩm vi phạm một điều “cấm kỵ”… Đặc điểm nổi bật của phê bình trong thời kỳ này là thường mang tính “một chiều”: ý kiến phê phán đôi khi cũng là ý kiến… kết luận, rất ít trường hợp tác giả hoặc những người ủng hộ tác giả được lên tiếng phản bác hoặc trình bày lại! Với con mắt bây giờ, có thể thấy hầu hết những ý kiến phê phán trong các vụ việc kể trên đều mang màu sắc “tả khuynh”, vùi dập thái quá. Vì thế, liệu có phải là quá đáng không nếu nói rằng suốt ba thập kỷ ấy, chúng ta chưa có phê bình văn chương đích thực theo đúng nghĩa của nó? Thành tựu của giai đoạn này, theo tôi, lại nằm chủ yếu ở khâu nghiên cứu, sưu tầm, dịch thuật. Những công trình nghiêm túc và tâm huyết của các học giả uyên bác và thức thời: Đặng Thai Mai (Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX), Đào Duy Anh (Toàn tập Nguyễn Trãi, Từ điển Truyện Kiều, nhiều bộ sử…), Trần Văn Giáp (Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, Lược truyện các tác gia Việt Nam…), Văn Tân (Nguyễn Khuyến, nhà thơ trào phúng kiệt xuất), Trần Thanh Mại (Tú Xương - Con người và thơ văn?), Cao Huy Đỉnh (Người anh hùng làng Gióng)… là những công trình mang tính nền móng cho học thuật nước nhà mà nhiều nhà nghiên cứu lớp sau còn được thừa hưởng. Không phải là quá lời nếu nói rằng hiện nay gần như vắng bóng những nhà nghiên cứu vừa uyên bác, vừa giàu tâm huyết có thể sánh với những người chúng tôi kể trên?
Sau thời Đổi mới, những điều kiện cho phê bình văn chương đích thực xuất hiện: kinh tế nhiều thành phần bung ra, mẫu hình nhà văn - viên chức không còn độc tôn trên văn đàn; tinh thần dân chủ, công khai trong xã hội được khuyến khích; báo chí phát triển bồng bột, có một bộ mặt phồn vinh chưa từng có với đủ loại báo viết, báo nói, báo hình và gần đây nhất là báo điện tử; tinh thần pháp quyền thấm sâu vào sinh hoạt xã hội và từng công dân… Tóm lại là những điều kiện mà “thời Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng… nằm mơ cũng không thấy được!”. Trong không khí náo nức những ngày đầu được “cởi trói”, giới phê bình nghiên cứu cũng mau chóng làm được một số việc đáng ghi nhớ. Đó là việc khẳng định lại vị trí của một số tác giả “có vấn đề” trong quá khứ như Tự lực văn đoàn, Vũ Trọng Phụng, Hàn Mặc Tử, Vũ Bằng, Nguyễn Bính… Trong việc này, có lẽ cần ghi công trước hết những ông bà chịu mang tiếng “đầu nậu” nhưng không ít người có “mắt xanh” với văn chương, nắm bắt được nhu cầu đọc thực tế của công chúng. Chính họ chứ không phải ai khác đã kích thích các nhà nghiên cứu, phê bình vốn thường nhút nhát, ngại đương đầu, dám “bước qua lời nguyền”. Có gì đó tương tự giữa hiện trạng này của ngành xuất bản với việc “khoán hộ” trong nông nghiệp, từ những bước đi rón rén, thầm lén ban đầu đến một chủ trương công khai ở tầm quốc gia? Tiếc rằng sau những bước khởi đầu có phần ngẫu nhiên may mắn ấy, lý luận phê bình của ta lại bị dẫm chân tại chỗ và sa vào tình trạng cãi vã cò con, vô bổ suốt… mười năm nay. Phải nói thẳng rằng trình độ học thuật của những cuộc tranh luận trên mặt báo mười năm vừa qua nhìn chung là rất thấp. Rất ít cây bút trẻ xuất hiện trong lĩnh vực này, nếu có thì cũng èo uột, vay mượn, kênh kiệu nhưng chưa thoát khỏi giọng văn học trò. Công bằng mà nói, cũng có một số tên tuổi tương đối trẻ tự khẳng định được mình nhưng chủ yếu là trong lĩnh vực nghiên cứu. Các nhà phê bình đi đâu cả? Một số nhà giáo kiêm nhà văn thì loay hoay với công việc viết sách giáo khoa, thay sách giáo khoa và chống đỡ với sự chỉ trích của công luận quanh những việc ấy đã đủ nhược người! Các vụ, viện thì nghe nói mối quan tâm chủ yếu là các… đề tài cấp nọ, cấp kia? Một vài cây bút quanh các nhà xuất bản, các toà soạn thì chủ yếu hành nghề… viết lời giới thiệu, tâng bốc bất kỳ cuốn sách dịch nào, miễn là được đầu nậu trả tiền. Đối với văn học trong nước, các vị rất chăm chỉ giở lại báo cũ, sách cũ, xào xáo, thêm thắt rồi viết thành bài báo, in thành sách, vừa có “tiền tươi thóc thật”, vừa được tiếng uyên bác mà không sợ đụng chạm. Sự tránh né đã gần như thành cố tật này, một phần vì khôn lỏi, nhưng phần chủ yếu là vì năng lực thẩm định văn chương rất hạn chế, luôn luôn phải dựa dẫm, khi thì vào những vụ việc ngoài tác phẩm, khi thì vào ý kiến của người đi trước hoặc một ông ôp, ông ep, ông pie, ông smith nào đó… Tôi gọi các nhà phê bình này là “trường phái vôi ve”: suốt đời tán hươu tán vượn về những nhà văn đã thành danh, đã được khẳng định (chết rồi là tốt nhất!), như những di tích lịch sử đã được xếp hạng bây giờ các ngài đến để quét vôi ve và được thơm lây. Việc này kể ra cũng là cần thiết, trong một chừng mực nào đó là có ích, nhưng không thể là phần việc chủ yếu của cả một đời người viết phê bình. Trong một lần trả lời phỏng vấn báo Văn nghệ Trẻ tôi đã bóc mẽ những nhà phê bình láu cá này.
Có lẽ đóng góp chủ yếu của giới phê bình lý luận “chuyên nghiệp” trong hơn một thập kỷ vừa qua là việc giới thiệu những lý thuyết ngoại nhập như những công cụ để tiếp cận văn chương mà trong những năm trước đổi mới giới cầm bút chưa có điều kiện tìm hiểu. Chỉ như vậy thôi. Còn trên các báo - “sân chơi” thứ thiệt và quan trọng bậc nhất của phê bình văn chương - dày đặc màu áo của các nhà thơ, các cầu thủ bất đắc dĩ nhưng rất nhiều khi “làm bàn”!. Điều này dường như trái khoáy, vi phạm “luật chơi”, khiến không ít đấng bậc trong làng lý luận phê bình khó chịu. Nhưng biết làm sao được, thượng đế vốn sợ chân không, khi các cầu thủ “chuyên nghiệp” đã già cả hoặc sợ trẹo chân, sai khớp thì khắc có những anh hăng hái, “điếc không sợ súng”, ào ra sân. Mà công chúng thì chẳng mấy quan tâm đến nguồn gốc xuất thân của anh, cứ ai đá hay là họ hoan hô thôi!q
26-5-2004
N.H.S
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,