#9 —
11.07.2009 17:54
(đã sửa)
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-09-08 09:49:06bachhop2403>
TRÂN A KIỀU
(không rõ năm sinh và chết)
Hoàng hậu của Hán Vũ Đế
Trần A Kiều, con gái công chúa Quán Đào Lưu Phiêu, hoàng hậu của Hán Vũ Đế Lưu Triệt.
Lưu Phiêu vốn định đem A Kiều gả cho thái tử, bị mẹ Lưu Vinh là Lật Cơ cự tuyệt, mới đem A Kiều gả cho Lưu Triệt. con của Vương Mỹ nhân. Cảnh đế cho là A Kiều lớn tuổi hơn Lưu Triệt, tỏ ý không bằng lòng. Một hôm, Vương Mỹ nhân đem Lưu Triệt. đến thỉnh an Quán Đào công chúa, Quán Đào công chúa ôm Lưu Triệt hỏi: “ Gả A Kiều cho ngươi làm vợ có được không?” cười đáp: “ Rất tốt! Nếu được A Kiều làm vợ, thì xin xây nhà vàng cho ở”. Đây là nguồn gốc của câu thành ngữ “ Kim ốc tàng kiều”. Hán Cảnh Đế cho là con mình tuy nhỏ mà đã yêu mến A Kiều như thế, đại khái cho là có duyên phận, nên cũng nhận lời.
Lưu Triệt nhân cưới được A Kiều do sự tác hợp của mẹ và cô, mới được lập làm thái tử và làm vua, bèn lập Trần A Kiều làm hoàng hậu. Nhưng Trần hoàng hậu lâu ngày không sinh đẻ, và để có con phải chi phí về thuốc thang mất chín ngàn vạn tiền, vẫn không hiệu quả. Bà lại lớn hơn Hán Vũ Đế nhiều tuổi, sinh hoạt vợ chồng không được hài hoà. Sau đó, Vũ đế yêu một cô gái đẹp giỏi muá hát là Vệ Tử Phu. Không bao lâu sau, Vệ Tử Phu có thai. Nếu Trần hoàng hậu bụng dạ khoáng đạt, nhân nhượng một chút, thì cũng chẳng sao. Đàng này, Trần hoàng hậu lại làm rày ra, to chuyện, nhiều lần toan bức chết Vệ Tử Phu, và mời đồng cốt vào cung trù ếm. Đó là điều Vũ Đế không cách nào tha thứ được, Vũ Đế giận, phế bỏ ngôi hoàng hậu của Trần thị, lập Vệ Tử Phu làm hoàng hậu, chuyển A Kiều đến ở Trường Môn cung rồi vào lãnh cung. A Kiều nghe tiếng Tư Mã Tương Như làm phú rung động lòng người, mới bỏ nghìn vàng nhờ viết bài “Trường Môn phú”, đó là câu chuyện “ Thiên kim mãi phú” ( mua phú ngàn vàng).
Đoạn đầu bài phú viết:
“ Phù hà nhất giai nhân hề, bộ tiêu dao dĩ tự ngu
Hồn du dật nhi bất phản hề, hình khô khao nhi độc cư
Ngôn ngã chiêu vãng nhi một lai hề, ẩm thực lạc nhi vong nhân
Tâm khiểm di nhi bất tỉnh cố hề, giao đắc ý nhi tương thân…”
Đại ý:
“ Vì sao một vị gia nhân tiêu dao lo lắng, hồn phách thất tán
Hình dung khô khan mà phải ở một mình vậy?
Người từng hứa rằng sớm chiều lui tới, rồi có cái vui ăn uống mà bỏ ta sau lưng
Vui vầy với tân nhân vừa lòng đẹp ý….”
Cuối bài viết:
“ Thiếp nhân thiết tự bi hề, cửu niên tuế nhi bất cảm vong”
Dịch là:
“ Thiếp tuy bị đối xử lạnh nhạt, thầm tự buồn than, dầu có mãi bị như thế, vẫn không dám quên vua”
Bài “Trường Môn phú” biểu hiện được nỗi niềm uất ứcbuồn khổ của người phụ nữ bị thất sủng ở trong cung đình thời phong kiến, rất là bi thảm.
Trần A Kiều bảo cung nữ đọc thuộc, hy vọng Hán Vũ Đế nghe sẽ hồi tâm chuyển ý, nhưng cũng không được gì. Vài năm sau, Trần A Kiều lìa bõ cõi đời trong sự buồn giận tức tối.
LÝ PHU NHÂN
( không rõ năm sinh và chết)
Phi tữ của Hán Vũ Đế
Lý phu nhân, người ở Trung Sơn ( nay là huyện Định tỉnh Hà Bắc), giỏi ca muá. Bà là phi tử Hán Vũ Đế Lưu Triệt.
Lý phu nhân gặp Hán Vũ Đế, câu chuyện như sau:
Bà Vệ hoàng hậu được Vũ Đế sủng ái, tuổi già sắc đẹp suy giảm, nhà vua muốn chọn một người đẹp sung vào cung. Anh của Lý phu nhân là Lí Diên Niên, một người giỏi âm nhạc nổi tiếng đời Hán. Có một bận, Lí Diên Niên được triệu vào cung biểu diễn âm nhạc, biết
Hán Vũ Đế đang tìm nguồn vui mới, bèn biễu diễn tiết mục “ bắc quốc giai nhân”. Khi âm nhạc trỗi lên du dương, Lí Diên Niên hát rằng:
“ Bắc phương hữu giai nhân, tuyệt thế nhi độc lập, nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc. Ninh bất tri khuynh thành dữ khuynh quốc, giai nhân nan tái đắc”
Dịch là:
“ Phương Bắc có người đẹp, đẹp tuyệt thế mà còn đơn chiếc, quay nhìn một lần làm nghiêng thành, quay nhìn lần hai thì nghiêng nước. Thà là không biết cái đẹp khuynh thành khuynh quốc, người đẹp khó gặp đến hai lần”. Sau đó từ “khuynh thành khuynh quốc” trở thành điển cố để hình dung người đẹp.
Hán Vũ Đế xem tiết mục ấy, và bị thu hút, mới hỏi Lí Diên Niên: “ Người đẹp mà ngươi hát đó, trên đời này thật có người con gái đẹp như vậy sao?”. Chị của Hán Vũ Đế là Bình Dương công chúa nói: “Lí Diên Niên có người em gái, là một người đẹp khuynh thành khuynh quốc như thế”. Lí Diên Niên qua biểu diễn ca muá, đã khéo léo đem em gái mình tiến cử vào cung. Lý phu nhân không những đẹp gái mà còn giỏi ca múa, sau khi vào cung được sủng ái hơn cả mọi người, sau sinh ra hoàng tử Lưu Bạc, Lý phu nhân sinh bệnh, qua vài năm rồi từ trần.
Hán Vũ Đế rất đau lòng trước cái chết của Lý phu nhân, ra lệnh các hoạ sư vẽ di tượng Lý phu nhân treo ở cung Cam Tuyền. Phương sĩ Lý Thiếu Ông, biết Hán Vũ Đế ngày đêm thương nhớ Lý phu nhân đã quá cố, bèn nói là ông ta có thể thỉnh Lý phu nhân về để gặp gỡ đức vua. Hán Vũ Đế vui mừng, vời Lý Thiếu Ông vào cung làm pháp thuật.
Lý Thiếu Ông dùng y phục Lý phu nhân của lúc còn sống, chuẩn bị tịnh thất, giữa treo một tấm màn bằng lụa mỏng, bên trong màn thắp đèn sáp. Quả nhiên qua ánh sáng của đèn, bóng của Lý phu nhân hiện ra trên màn lụa mỏng, chỉ thấy Lý phu nhân nghiêng mình chậm rãi đi qua, một lúc lâu rồi mất. Trên thực tế, Lý Thiếu Ông biễu diễn trò chơi “đăng ảnh”. Hán Vũ Đế xem thấy bóng Lý phu nhân, càng tương tư bi cảm hơn, viết một bài thơ.
“ Thị da, phi da lập nhi vọng chi, thiên hà san san kỳ lai trì”
Nghĩa là :
“ Là nàng hay không phải nàng ? Đứng đây mà đợi mà chờ, cớ sao cố ý đến muộn màng vậy ? ‘ Hán thư truyện. Rồi ông ta ra lệnh cho nhạc sư của Nhạc phủ trong cung phổ thành bài hát. Nhà vua còn viết bài « Thương điếu Lý phu nhân phú », nói lên tình yêu đối với Lý phu nhân.Lý Thiếu Ông biểu diễn đăng ảnh hí, làm tái hiện hình tượng Lý phu nhân trên màn lụa mà được phong là Văn Thành tướng quân.
TRIỆU PHI YẾN
(45 -1 trước công nguyên)
Hoàng hậu của Thành Đế nhà Hán
Triệu Phi Yến nguyên tên Nghi Chủ, người ở Trường An ( nay là Tây An tỉnh Thiểm Tây), con gái của Triệu Lâm, hoàng hậu của Hán Thành Đế Lưu Ngao, là người đẹp nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, hát hay múa giỏi.
Cha của Phi Yến là nhạc sư đời Hán, sau khi cha chết, cảnh nhà sa sút, Phi Yến và enm lưu lạc đến Trường An sinh sống bằng nghề ca múa, được Dương A công chúa mang về nuôi. Dương A công chúa rất thích ca múa.Về ca múa, bà khá thành thạo.Nhận thấy chị em họ Triệu là nhân tài ít có trong nghề múa, Dương A công chúa hết lòng chỉ dạy, nên qua nhiều năm rèn luyện nghệ thuật, đã nổi tiếng về ca múa. Dương A công chúa thường tổ chức những buổi vãn hội ( hội họp ban chiều) Nghi Chủ biểu diễn theo tiếng nhạc nhẹ nhàng mà uyển chuyển múa nhảy, khéo léo như chim yến lượn bay, nên có tên là Triệu Phi Yến.
Có một hôm, Hán Thành Đế đến nhà Dương A công chúa xem biểu diễn ca múa, thấy kỹ thuật múa của cao siêu, đáng gọi là “ Thanh, Sắc, Nghệ tam tuyệt”. Một lần gặp mặt đã nặng tình, triệu vào cung, phong là Tiệp dư.
Trong Hán cung có hồ Thái Dịch, giũa hồ có Doanh Châu, có lập một vũ đài để biểu diễn ca vũ rất là hoa lệ. Triệu Phi Yến mặc quần vân anh màu đỏ tía, áo lụa bích quỳnh nhẹ mỏng như cánh ve, nhảy múa nhẹ nhàng. Thành Đế dùng cái âu ngọc gõ nhịp, bước nhảy thoăn thoắt hợp với tiết tấu trầm bổng, giống như tiên nữ xuống trần. Đang say sưa ca múa, gió bỗng nổi lên, Phi Yến theo gió múa may, y phục mỏng manh theo gió mà bay đi. Thành Đế hoảng sợ vội bảo cung nữ ra đỡ . Sau đó, Thành Đế cho xây riêng “ Thất bảo tị phong đài”, tạo một cái mâm rất lớn, khiến cung nhân nâng mâm, Phi Yến nhảy múa ở trên mâm. Nàng thành thạo bước nhảy, khi chậm thì như chim phượng hoàng độc lập, lúc mau thì như chim yến trong mây, làm cho người xem không rời mắt. Vào cung không bao lâu, Phi Yến nhờ sắc đẹp và tài ca múa áp đảo hậu cung. Vì yêu mến đặc biệt đối với Phi Yến, Thành Đế phế Hứa hoàng hậu lập Phi Yến làm hoàng hậu.
Về sau, Thành Đế nghe nói em gái Triệu Phi Yến là Triệu Hợp Đức rất đẹp, lại triệu vào cung, phong là Chiêu Nghi. Triệu Hợp Đức đúng là đẹp đẽ vô song, khi vào cung, ai trông thấy cũng trố mắt nhìn và tấm tắc khen ngợi. Thành Đế xây dựng riêng cung Chiêu Dương, cột rường chạm trổ, nạm vàng, khảm ngọc, rất là hoa lệ, hơn tất cả các cung khác.
Chị em họ Triệu rất được vua yêu dấu, lại không sinh nở. Chị em đều muốn sinh một người con để sau nối ngôi vua, bèn xem thường cung cấm, thông gian với một quan thị lang trẻ trung nhiều con ở trong triều, mong có cơ hội mang thai, nhưng trái với ý nguyện, không mang thai được.
Để củng cố địa vị sủng ái của mình, chị em họ Triệu không muốn các phi tần khác có con. Con của cung nữ họ Tào và Hứa mỹ nhân sinh ra đều bị Triệu Chiêu Nghi giết chết, Thành Đế cũng không biết làm sao.
Năm thứ 9 trước công nguyên ( năm thứ 4 Hán Thành Đế nguyên niên), Định Đào vương Lưu Hân ( cháu Hán Thành Đế) vào chầu Hán Thành Đế, mẹ của Lưu Hân dùng nhiều vàng hối lộ chị em họ Triệu, bèn lập Lưu Hân làm thái tử.
Hai năm sau, Hán Thành Đế chết, Lưu Hân nối ngôi là Hán Ai Đế. Triều thần vạch trần hai lần tội giết hại hoàng tử của , Chiêu Nghi sợ bị xử tội nên tự sát. Triệu Phi Yến thì quỷ quyệt hơn, lại có công lập thái tử, nên được phong là hoàng thái hậu. Năm thứ 1 công nguyên, Hán Ai Đế chết, Hán Bình Đế nối ngôi. Mẹ của Hán Thành Đế là Vương thị được phong Thái hoàng thái hậu, Vương Mãng là ngoại thích nắm quyền, mượn danh nghĩa của Thái hoàng thái hậu,, bãi bỏ phong hiệu của Triệu Phi Yến, biếm làm dân thường, bắt bà đến giữ lăng mộ của Hán Thành Đế, Triệu Phi Yến xấu hổ tự sát năm 45 tuổi.
DIÊM CƠ
(trước 98 -126)
Hoàng hậu của Đông Hán An Đê
Diêm cơ người đất Huỳnh Dương, Hà Nam ( nay là phía tây huyện Huỳnh Dương tỉnh Hà Nam), cha là Diêm Sướng, mẹ Tông thị. Hoàng hậu của Đông Hán An Đê Lưu Hộ, có tài sắc, nhưng hay ghen tuông.
Năm 114 ( năm đầu Đông Hán An Đê), Diêm cơ khoảng 16 tuổi được tuển vào Dịch đình. Bà rất được sủng ái, phong làm quý nhân. Năm thứ hai, lập làm hoàng hậu. Hán An Đê có hạnh tới cung nhân Lý thị, sinh ra hoàng thái tử Lưu Bảo. Diêm hoàng hậu cho đầu dộc giết chết Lý thị.. Năm 121 (Đông Hán An Đê Kiến Quang năm thứ 4), Đặng thái hậu chết, An Đê tự nắm chính quyền, em trai của Diêm hoàng hậu là Diêm Hiển, Diêm Cảnh, Diêm Diệu, Diêm Yến đều lập khanh hiệu, cầm nắm quyền binh. Năm sau Diêm Hiển lại phong làm Trường xã huyện hầu. Ngoại thích lợi dụng được nắm quyền lớn trong triều, vu cho thái tử mưu phản, Hán An Đê phế thái tử mới vừa 10 tuổi, giáng thái tử làm Tế Âm Vương.
Năm 125 ( năm thứ 4 Đông Hán An Đê Diên Quang), An Đê chết, Diêm hoàng hậu không nén được, khóc lớn lên. Bọn Diêm Hiển mới nói với bà rằng: “ Không được khóc, nếu các đại thần biết là hoàng thượng đã yên giá, lập Tế Âm Vương làm vua, chúng ta còn có thẻ sông được sao?” Diêm hoàng hậu không khóc nữa, cùng ủng hộ lập cháu Hán Chương Đê là Lưu Ý lên làm Thiếu Đế, Diêm thị là hoàng thái hậu lâm triều, Diêm Hiển làm Xa kị tướng quân, ba người em chia nhau làm Vệ uý, Hiệu uý và Chấp kim ngô, uy phong nhà họ Diêm hiển hách một thời.
Thiếu Đế ở ngôi 8 tháng thì chết, Trung thường thị Tôn Trinh bí mật liên lạc với Trung hoàng môn đoạt lại quyền trong tay ngoại thích, đón thái tử Lưu Bảo về triều, tôn là Hán Thuận Đê
Sau khi Hán Thuận Đê lên ngôi, đã ra lệnh cho Vũ lâm quân giết chết Vệ uý Diêm Cảnh, buộc Diêm hoàng thái hậu phải giao ngọc tỷ, lại phái người phái binh bắt Diêm Hiển, Diêm Diệu, Diêm Yến hạ ngục rồi xử tử từng người. Diêm hoàng thái hậu bị giam lỏng trong Ly cung, đến năm 126 ( năm đầu Hán Thuận Đê Vĩnh Kiến) thi chết.
CAM PHU NHÂN
( 188 – 209?)
Hoàng hậu của Chiêu Liệt Đế nhà Thục Hán
Cam phu nhân, người đất Bái ( nay là huyện Bái tỉnh Giang Tô), Hoàng hậu của Chiêu Liệt Đế Lưu Bị nhà Thục Hán, được phong là “ Ngọc chất nhu cơ, thái mỵ dung dã”, khen về vẻ đẹp của bà, là một trong những người đẹp nổi tiếng thời Tam Quốc
Cuối đời Đông Hán, Lưu Bị dấy binh trấn áp quaan khởi nghĩa Hoàng Cần, được phong An hỷ Ý. Sau đến nương nhờ Công Tôn Toản, đựoc thay thế làm chức quan cai trị 2 châu Dự Châu và Từ Châu. Nhân người vợ trước đã chết, mến sắc đẹp của Cam thị, cưới Cam thị ở đất Bái làm phu nhân.
Năm 206, sinh Lưu Thiện ( sau là Hậu chủ nước Thục), lúc dó chừng 20 tuổi
Năm 208 ( năm tứ 13 Kiến An Hiến Đế Đông Hán) Tào Tháo mang tinh binh, ngày đi đêm đi 300 dặm, đuổi kịp tại Đương Dương Trường bản ( nay là đông bắc huyện Đương Dương tỉnh Hồ Bắc). Trong lúc nguy cấp Lưu Bị bỏ chạy, Cam phu nhân và Lưu Thiện nhờ Triệu Vân bảo hộ mới an toàn.
Cam phu nhân rất được Lưu Bị sủng ái, có người ở Hà Nam tặng Lưu Bị một pho người ngọc cao 3 thước, đặt người ngọc trên ngự sàng lấy người ngọc so sánh với màu da trắng nõn của Cam phu nhân, suốt ngày ngắm nghía. Cam phu nhân nói với Lưu Bị:” thời xưa Tư Hãn không lấy ngọc báu, được người đời khen ngợi, nay nước Ngô và Nguỵ chưa tiêu diệt, xin đừng vì thưởng ngoạn đồ chơi mà táng chí”. Lưu Bị nghe theo, dẹp bỏ người ngọc, cho những cô gái vốn được yêu quí ra ngoài. Trong triều khen ngợi là người đàn bà giỏi ( thần trí phu nhân).
Khỏng năm 209, Cam phu nhân chết, táng ở Nam quận (nay là phía Bắc huyện Giang Lăng tỉnh Hồ Bắc). Năm 222 ( năm thứ 2 Hán Chiêu Liệt Đế Chương Vũ nước Thục – Tam Quốc) được truy thụy là “ Hoàng tư phu nhân”, thiên về táng tại đất Thục, năm sau truy phong “ Chiêu Liệt hoàng hậu”.
DƯƠNG HIẾN DUNG
(không rõ năm sinh và mất)
Hoàng hậu của Lưu Diệu nhà Tiền Triệu
Dương Hiến Dung, người Nam Thành, Thái Sơn ( nay là huyện Ninh Dương, tỉnh Sơn Đông), con gái của Dương Huyền Chi. Hoàng hậu của Lưu Diệu nhà Tiền Triệu.
Dương Hiến Dung nguyên là Hoàng hậu của Tấn Huệ Đế trong cái “ loạn bát vương”. Dương hoàng hậu nhiều lần bị phế lập, thậm chí một lần bị Hà Gian Vương Tư Mã Ngưng bắt tội chết, sau nhờ Tư lệnh hiệu úy Lưu Đôn, Thượng thư bộc xạ Tuân Phiên.... cứu mới khỏi nạn. Tấn Huệ Đế về Lạc Dương, rước Dương hậu trở lại ngôi cũ. Không lâu lại bị quan Lệnh Lạc Dương là Hà Kiều phế bỏ, đến khi Trương lương phủ đến Lạc Dương, mới khôi phục ngôi cho Dương Hiến Dung.
Năm 306 ( năm thứ 3 Tấn Huệ Đế Vĩnh Hưng), Huệ Đế bị Đông hải Vương Tư Mã Việt đánh thuốc độc chết, em là Tư Mã Xí được kế lập là Tấn Hoài Đế, tôn Dương thị làm hoàng thái hậu, ở cung Hoằng Điều.
Năm 311 (năm thứ 5 Tấn Hoài Đế Vĩnh Gia), Lưu Diệu đánh vào, Tấn Hoài Đế bị bắt, Dương Hiến Dung cũng bị cướpvề làm vợ. Sau khi về với Lưu Diệu, Dương Hiến Dung sinh con là Lưu Hi.
Năm 318 (Đông Tấn Nguyên Đế Đại Hưng nguyên niên), Lưu Diệu xưng đế hiệu.
Năm thứ 2, Lưu Diệu thiên đô về Trường An, đổi Hán làm Triệu, sử gọi là Tiền Triệu. Sách lập Dương thị làm hoàng hậu, lập Lưu Hi làm hoàng thái tử.
Có một lần, hỏi rằng: “ So sánh ta và Tư Mã Trung (Tấn Hoài Đế), nàng thích ai?”. Đáp:” Hai người không thể so sánh”. Nghĩ rằng Dương Hiến Dung còn nhớ người chồng cũ, tỏ ý không vui. Lại hỏi: “ Vì sao lại không thể so sánh?”. Dương thị đáp: “ Bệ hạ là vị vua khai quốc, ông ta là vị vua vong quốc, đừng nói việc bảo vệ xã tắc, đến cả vợ con và thân mình cũng không bảo vệ nổi. Từ ngày tôi về đây với hoàng thượng, mới biết được có bậc chân chính trượng phu trong thiên hạ”. Lưu Diệu nghe xong rất vui càng thêm sủng ái.
Sau Dương hoàng hậu chết, đựoc truy thụy là “ Hán Văn hoàng hậu”, Lưu Diệu điều động 6 vạn dân phu, hao phí cả ức, mất 100 ngày, lập Hiển Bình lăng rất lớn để an táng. Rồi tu sửa Vĩnh Viên lăng của Dương Huyền Chi, thân phụ Dương hoàng hậu. Việc tạo lập 2 lăng mộ lớn làm nhọc sức dân chúng, hao tổn của cải, bị dân chúng chê trách.
Dương Hiến Dung một người mà làm hoàng hậu cho hai nước, ấy là việc ít thấy trong lịch sử.
TIÊU THỊ
(? – 847)
Hoàng hậu của Đường Mục Tông
Tiêu Thị, người ở Phúc Kiến, là hoàng hậu của Đường Mục Tông Lý Hằng. Lý Hằng con thứ ba của Đường Hiến Tông, được phong là Kiến An Vương, Tiêu Thị được triệu làm thị nữ cho Kiến An Vương.
Năm 809 ( năm thứ 4 Đường Hiến Tông Nguyên Hoà), sinh hoàng tử Lý Ngang ( sau là Văn Tông). Năm 820 (năm thứ 15 Đường Hiến Tông Nguyên Hoà) Hiến Tông chết
★
★
★
★
★
0