Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

CÁC BÀ HOÀNG PHI TRUNG QUỐC

9 trả lời, 5.600 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-30 12:40:42bachhop2403>
CÁC BÀ HOÀNG PHI TRUNG QUỐC
 
Biên dịch: Long Cương, Khổng Đức

Đánh máy: bachhop2403
 
 
 
 
Lời nhà xuất bản:
 
Mọi người  Việt Nam biết ít nhiều đến lịch sử Trung Quốc qua các sách báo, tiểu thuyết lịch sử,truyện dã sử hoặc qua phim ảnh, đều thấy phần nào vai trò và tác dụng của các vua chúa Trung Quốc đối với quá trình phát triển của lịch sử Trung Quốc.
 
Tuy nhiên các vua chúa ngoài các chiến công lập nghiệp, dựng nước còn có cuộc sống riêng tư gắn với các bà hoàng phi ở hậu cung. Trong đó không ít trường hợp các bà hoàng phi  này đã có tác động đến các vị vua chúa Trung Hoa, từ đó có tác động đến sự phát triển lịch sử Trung Quốc một cách tích cực hoặc một cách tiêu cực.
 
Nhằm giúp bạn đọc có thêm tư liệu trong việc tìm hiểu về lịch sử Trung Quốc, chúng tôi xuất bản cuốn các bà hoàng phi Trung Quốc. Tập sách này do Long Cương, Khổng Đức biên dịch căn cứ vào Trung Quốc nhất bách hậu phi do Nhà xuất bản Tân thế kỉ - Trung Quốc xuất bản năm 1995
 
 
 
LUY TỔ
(không rõ năm sinh và chết)
Chính phi của Hoàng Đế
 
Theo truyền thuyết, Luy Tổ, có chỗ viết Lụy Tổ, Lôi Tổ, con gái Tây lăng Thị, là chính phi của Hoàng Đế.
 
Theo truyền thuyết, Hoàng Đế suốt ngày bận rộn vì công việc của bộ lạc, không nghĩ đến việc hôn nhân của mình. Cha ông là Thiếu Điển, mẹ ông là Phụ Bảo, đều mong con sớm thành gia thất. Có nhiều người đem con gái đẹp đến để cầu thân. Bà Phụ Bảo nói “ Bao nhiêu con gái đẹp đến gặp, con cũng chọn được một cô chứ?”. Hoàng Đế cười nói: “ Kiếm vợ không chỉ xem tướng mạo, lại cần xem có tài năng gì không?”. Cha mẹ nghe xong đều thấy có lý.
 
Có một hôm, Hoàng Đế đi săn ở Tây Sơn, thấy có một người con gái ở dưới đám dâu giữa sườn núi đang chăn tằm, thu được rất nhiều tơ tằm. Hoàng Đế từ trước đến nay chưa từng thấy, cho là rất lạ, ông chậm rãi đi lên hỏi: “ Tôi muốn đến bà chị học nghề nuôi tằm ươm tơ, chị chịu dạy cho tôi không?”. Cô gái nói: “ cha mẹ tôi dặn rằng, không phải là chồng không được truyền dạy?”. Hoàng Đế ngẩng đầu xem kĩ tướng mạo của cô ta thì thấy đầu thấp, da đen, môi dày, không đẹp đẽ. Nhưng thân thể cô ta chắc nịch, lại có tài, bèn mạnh dạn cầu hôn với cô ta. Cô gái ấy tức là Luy Tổ, bà là người phát minh ra nghề nuôi tằm kéo tơ trong truyền thuyết.
Sau đó, Hoàng Đế phong Luy Tổ làm chính phi, phụ trách việc dạy dân chúng nghề nuôi tằm ươm tơ dệt gấm. Từ đó nhân dân cởi bỏ áo quần bằng vỏ cây da thú, mà mặc áo quần cắt may bằng hàng tơ lụa dệt. Mọi người đều nói Hoàng Đế biết nhìn người, tìm được một người vợ giỏi.
 
Luy Tổ sinh ra Huyền Hiêu, Xương Ý. Xương Ý cưới con gái Thục Sơn Thị làm vợ, sinh ra Cao Dương, nối nghiệp cai quản thiên hạ, ấy là vua Chuyên Húc.
Theo truyền thuyết, Luy Tổ là người phát minh ra tơ tằm, nên từ thời Nam Triều, Tống, Nguyên về sau các đời vua phong kiến đều thờ Luy Tổ là “ Tiên tằm” (người nuôi tằm đầu tiên).
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-07-11 16:23:09bachhop2403>
NGA HOÀNG, NỮ ANH
(không rõ năm sinh và chết)
Phi tử của Thuấn Đế
 
Theo truyền thuyết, Nga Hoàng và Nữ Anh là con gái của Nghêu Đế, là phi tử của vua Thuấn Đế Dao Trùng Hoa.
 
Cũng theo truyền thuyết, khi vua Nghêu tuổi già, Tứ nhạc và Thập nhị mục cử người thừa kế, mọi người đều nhất trí chọn ông Thuấn. Vua Nghêu tiến hành khảo nghiệm một thời gian dài với ông Thuấn, thấy rất vừa ý, yên tâm nhường ngôi và đem Nga Hoàng và Nữ Anh gả cho ông Thuấn. Đó là câu chuyện “ hai con gái vua Nghêu là hai phi tử của nước Thuấn” được nói trong sử sách.
 
Nga Hoàng và Nữ Anh rất hiền tuệ, chưa hề cho mình xuất thân nơi cao sang mà đối xử kiêu ngạo với người. Chị em đối xử hòa thuận, cùng lòng hiệp sức giúp vua Thuấn sắp đặt việc nước, làm nhiều việc có ích cho nhân dân. Sau khi vua Thuấn đi tuần du phương Nam, chết ở Thương Ngô, chôn ở núi Cửu Nghị (nay huyện Ninh Viễn tỉnh Hồ Nam). Nga Hoàng , Nữ Anh tìm đến phương Nam điếu tế khóc lóc, nước mắt nhỏ xuống, dính vào trúc, làm cho cây trúc xanh nhuốm những vệt loang lổ của vết lệ.
 
Đó là câu chuyện “ Ban trúc” cũng gọi là “ Tương phi trúc” trong truyền thuyết. Thi nhân đời Đường là Chu Huyện, có bài thơ Thuấn phi viết: “ Thương ngô nhất vọng cách trùng vân, Đế tử bi tầm bất kí xuân. Hà sự lệ ngân thiên tại trúc, Trinh tư ân niệm tiết cao nhân”
 
Dịch là “ Thương ngô trông cách mấy tầng mây, Vua chết buồn tìm chẳng nhớ ngày. Vết lệ cớ sao riêng gửi trúc, Tiết cao nên nghĩ kẻ trinh ngay”.
Hai bà phi khóc chồng, giọt lệ nhuộm trúc trở thành vệt loang lổ, câu chuyện xưa đẹp đẽ làm cảm động lòng người, thể hiện mối tình cao thượng của phụ nữ Trung Quốc, được muôn đời truyền tụng.
 
Nga Hoàng không sinh nở,  Nữ Anh sinh con trai là Thương Quân. Thương Quân không có tài cán gì, trước khi lâm chung, vua Thuấn cử Đại Vũ làm người kế thừa. Sau khi Đại Vũ lên ngôi, phong Thương Quân ở đất Ngu ( nay là huyện Ngu tỉnh Hà Nam). Nga Hoàng , Nữ Anh lo trọn đại cục, cùng với con ở đất Ngu, an hưởng tuổi già và qua đời.
 
Lại có một thuyết nói rằng: sau khi vua Thuấn chết thì hai bà nhảy xuống sông tự tử. Trong bài “ Cửu ca” của Khuất Nguyên có hai bài “ Tương quân” và “ Tương phu nhân”, mà có người cho là những bài thơ ca tụng Nga Hoàng , Nữ Anh. Nga Hoàng là chính phi gọi là  Tương quân, Nữ Anh là thứ phi gọi là Tương phu nhân

NỮ KIỀU
(không rõ năm sinh và chết)
Phi tử của Hạ Vũ
Nữ Kiều, con gái của Đồ Sơn Thị, là phi tử của vua Hạ Vũ tự Văn Mệnh. Bà có dung nhan đẹp đẽ, tính tình nhã nhặn, là người đẹp có tiếng ở địa phương.
Vua Đại Vũ bận lo việc trị thủy, 30 tuổi vẫn chưa có gia thất. Sau nhân trị thủy tại Đồ Sơn ( nay là tây bắc huyện Thiệu Hưng tỉnh Triết Giang) mới gặp Nữ Kiều, hai người cùng sinh lòng yêu mến nhau. Do công tác trị thủy khẩn trương, Đại Vũ lại phải đi đến nơi khác xem tình hình tai nạn. Nữ Kiều nhớ  Đại Vũ , bèn viết một bài thơ, chỉ còn lại hai câu: “ Đẳng hậu nhân a, đa ma đích trường cửu ước!”. (Ôi! Chờ đợi người, sao mà lâu quá thế!). 
Theo truyền thuyết, đó là bài thơ tình sớm nhất từ phương nam truyền lại. Xử nữ của Nữ Kiều đem việc ấy nói với Đại Vũ, Đại Vũ cảm động, bèn kết hôn với Nữ Kiều tại Đài Tang. Đó là câu chuyện “ Vũ đắc Đồ Sơn nữ, nhi thông vu Đài Tang” (Đại Vũ gặp được cô gái ở Đồ Sơn mà thành hôn ở Đài Tang).
 
Sau khi cưới con gái của Đồ Sơn Thị, Đại Vũ không vì tình riêng mà lơ là việc công. 4 ngày sau khi cưới, ông từ biệt vợ, tiếp tục đi trị thủy. Nữ Kiều được đưa đến An Ấp ( nay là Đông Bắc huyện Giải tỉnh Sơn Tây), bà ngày đêm nhớ lại quê hương phía nam. Đại Vũ biết nhưng không có thì giờ an ủi vợ mới cưới, bèn phái người đắp một cái đài gọi là Vọng hương đài ở phía nam của thành để cho vợ mình lên đài trông về quê hương.
 
Có một lần, Đại Vũ đi trị thủy ngang qua nhà, vừa gặp Nữ Kiều sinh con. Láng giềng nói với Đại Vũ, khuyên ông về thăm vợ con. Đại Vũ nói “ Trị thủy cần dành thời gian, không được phép phân tâm”. Người láng giềng nói :” Ông không thể về thăm vợ con, cũng nên đặt cho con một cái tên chứ!”. Đại Vũ trong lúc vội vàng nói “ Thì đặt tên là Khải,có ý “ khải hành trị thủy”. Như thế đi luôn 13 năm, 3 lần về qua nhà mà không vào, lúc trở về thì con đã hơn 10 tuổi, và Nữ Kiều cũng trở thành một phụ nữ trung niên rồi.
 
Đại Vũ nối ngôi vua của vua Thuấn, phong Nữ Kiều làm phi, Khải nối ngôi, thành vua khai quốc của nhà Hạ
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-29 09:07:11bachhop2403>
MUỘI HỈ
(không rõ năm sinh và chết)
Phi tử của vua Kiệt nhà Hạ
 
Muội Hỉ còn có tên là Mạt Hỉ, là sủng phi của vua Kiệt Lý Quý, ông vua cuối triều Hạ.
 
Vua Hạ Kiệt đánh Hữu Thi thị (nay huyện Đằng tỉnh Sơn Đông), Hữu Thi thị là nước nhỏ phía đông không đủ sức chống lại, cho nên tình nguyện xin làm bề tôi nạp cống cho nhà Hạ. Vua Kiệt cậy thế mạnh, không nhận sự đầu hàng của Hữu Thi thị, nhất định tiêu diệt nước này. Hữu Thi thị thăm dò, biết vua Kiệt là một bạo chúa hiếu sắc, nên nhằm vào sở thích, tuyển người đẹp là Muội Hỉ dâng nạp để xin hàng. Vua Kiệt thấy Muội Hỉ xinh đẹp nên vui vẻ nhận lời, bãi binh, đem Muội Hỉ về kinh đô Châm Tầm ( nay thuộc Nhị Lí Đầu, huyện Yến Sư tỉnh Hà Nam). Muội Hỉ thấy kinh đô nhà Hạ cũ kỹ nên không vui. Vua Kiệt muốn lấy lòng Muội Hỉ, xây dựng khuynh cung, Dao đài, dùng ngọc và đá quý xây cất Quỳnh thất, Dao đài làm ly cung, rồi suốt ngày uống rượu, mê say thú vui xác thịt, không lo gì đến chính sự.
 
Do sự tham dâm, xa sỉ, bạo ngược của Hạ Kiệt, nhân dân không chịu nổi cực khổ, nên vua Thang nhà Thương thừa cơ hội nổi lên đánh Hạ Kiệt ở Minh Điển (nay thuộc phía đông Phong Khưu tỉnh Hà Nam). Kiệt bị thua, mang theo Muội Hỉ, đi chung thuyền vượt sông đến Nam Sào ( nay thuộc đông nam Sào huyện tỉnh An Huy) và chết trên núi

PHỤ HẢO
(không rõ năm sinh và chết)
Vương phi của vua Vũ Đinh nhà Thương
 
Phụ Hảo là Vương phi của vua Vũ Đinh nhà Thương, là một nữ chính trị gia và quân sự nổi tiếng.
Triều đại nhà Thương xem việc tế tự và quân sự là hai sự kiện lớn của quốc gia, nên có câu “ Quốc chi đại sự, tại tự dĩ nhung” ( việc lớn của quốc gia là tế tự và quân sự). Phụ Hảo có trình độ văn hóa cao nên vua Vũ Đinh nhà Thương thường dùng bà chủ trì việc tế tự, đọc văn tế và được dùng làm bốc quan ( coi việc bói toán). Những bốc tự được ghi lại trong văn giáp cốt ( chữ khắc trên xương và mai rùa) phần nhiều do tay bà khắc vào. Thông qua hoạt động chủ trì tế tự mà tham dự vào việc chính trị của triều đình, bà trở thành nữ chính trị gia của thời kì Vũ Đinh.
Phụ Hảo còn là  một nhà quân sự, nhiều lần bà mang quân đánh dẹp lập nhiều chiến công hiển hách. Trong bốc từ có ghi “đăng Phụ Hảo tam thiên, đăng lữ vạn hồ phạt Khương”, nói về việc vua Vũ Đinh mang 3000 quân của bà Phụ Hảo và một vạn binh sĩ nữa đi đánh nước Khương. Trong những đồ vật khai quật phát hiện hai chiếc búa đồng của bà Phụ Hảo, mỗi chiếc năng 8-9 kg đó là tượng trưng cho vương quyền và chuyên chế quân sự của triều Thương.
Có một lần vua Vũ Đinh thân chinh đi đánh đất Ba, bảo bà Phụ Hảo đặt quân mai phục, quân Ba rơi đúng chỗ phục kích nên bị tiêu diệt. Sau khi bà Phụ Hảo mất, vua Vũ Đinh rất đau buồn, mỗi khi hành quân đều cúng cầu xin bà trợ chiến. Điều này phản ánh tên tuổi bà đã làm cho quân địch khiếp sợ. Bà được táng riêng một mộ huyệt rất lớn và được hưởng lễ tế riêng rất trọng thể, đó là điều ít thấy ở triều Thương.
Năm 1976, tại Ân Khư thuộc An Dương tỉnh Hà Nam, phát hiện được mộ bà Phụ Hảo, làm cho sự tích của nhà nữ chính trị và quân sự trên 3000 năm về trước được sáng tỏ. Các nhà khảo cổ và sử học nhìn nhận rằng nên có một vị trí xứng đáng trong lịch sử cho một phụ nữ nổi bật của thời cổ đại này.
 
ĐÁT KỶ
(không rõ năm sinh và chết)
Vương phi của vua Trụ nhà Thương
 
Đát Kỷ là con gái của Hữu Tô thị, làm sủng phi của Trụ vương Tân Thụ nhà Thương.
Đát Kỷ là người có sắc đẹp.
Trụ vương đánh Hữu Tô thị ( nay ở phía đông Vũ Hắc tỉnh Hà Nam). Hữu Tô thị dâng mỹ nữ là Đát Kỷ. Trụ vương mê sắc đẹp của Đát Kỷ nên Đát Kỷ nói gì cũng nghe. Đát Kỷ thích ca múa, Trụ vương bảo nhạc sư là Sư Quyên sáng tác loại âm nhạc mỵ mỵ và những điệu múa hạ cấp, ở trong cung sáng chiều ca hát vui chơi. Đát Kỷ theo điệu nhạc mà múa, vẻ đẹp mê người. Từ đó Trụ vương bỏ bê việc triều chính, ngày đêm yến ẩm vui chơi. Và tại Vệ Châu ( nay là huyện Kỳ tỉnh Hà Nam), lập ra “ tửu trì” ( ao rượu), treo thịt lên cây làm “ nhục lâm” (rừng thịt), mỗi lần yến ẩm có tới 3000 người, bắt đàn ông đàn bà khỏa thân đuổi bắt nhau trong đó, không thể nhìn được. Cửu Hầu (đất phong nay ở Lâm Chương tỉnh Hà Nam) có một người con gái rất đẹp, được triệu vào cung, vì không chịu nổi cảnh dâm đãng của Đát Kỷ nên bị giết, Cửu Hầu cũng bị hải hình, thịt bị băm nát làm tương chia cho các vua chư hầu.
Đát Kỷ thích xem hình phạt “ bào lạc” – đem cột đồng bôi dầu, đốt than lửa, bắt người bị phạt đi trên đó để phải té ngã trên đống lửa cháy đỏ rực, bàn chân bị cháy bỏng, phát ra những tiếng kêu la thảm thiết. Đát Kỷ nghe tiếng kêu la đó như một tiếng kích thích cảm quan, bậc lên tiếng cười thích thú. Trụ vương muốn được nghe tiếng cười của Đát Kỷ, đã lạm dụng hình phạt nặng nề đối với nhân dân.
Sự vô đạo của Trụ vương làm cho nhân dân nổi lên chống lại. Vũ vương nhà Chu thừa cơ phát động chư hầu đánh Trụ tại Mục Dã ( nay là huyện Kỳ tỉnh Hà Nam). Trụ vương thua chạy đến Lộc đài, tự thiêu chết, Đát Kỷ cũng tự ải chết theo
 
BAO TỰ
(không rõ năm sinh và chết)
Vương hậu của U Vương nhà Chu
 
Bao Tự là vương hậu của U Vương Cơ Cung Niết nhà Chu, bà là người có sắc đẹp.
Bao Tự nguyên là một đứa trẻ bị bỏ rơi, được vợ chồng người đi buôn đem về nuôi tại nước Bao (nay thuộc tây bắc Hán Trung tỉnh Thiểm Tây) đến khôn lớn. Năm 779 trước công nguyên ( năm thứ 3 U Vương nhà Chu), Chu U Vương đánh Hữu Bao. Người đất Bao dâng mỹ nữ là Bao Tự để xin hàng. U Vương xem như viên ngọc trên bàn tay, lập làm phi và được sủng ái bậc nhất. Năm sau, Bao Tự sinh con trai là Bá Phục ( Bá Ban), U Vương càng thêm sủng ái, phế bỏ vương hậu Thân thị và thái tử Nghi Cữu, lập Bao Tự làm hoàng hậu, Bá Phục làm thái tử. Quan thái sử là Bá Dương than rằng: “ Vương thất nhà Chu đến hồi đại họa, không thể tránh khỏi”.
 
Quả nhiên, lời dự đoán của Bá Dương không sai. Nguyên ngày thường không hề cười, bất chợt vui cười thì vẻ đẹp càng làm cho người ta say mê. U Vương hứa trọng thưởng ngàn vàng cho ai làm Bao Tự cười. Quắc Thạch Phủ dâng kế “ phong hỏa hí chư hầu”. Chu U Vương và Bao Tự cùng ngự giá đến Ly Sơn, đốt lửa lên, đánh trống báo động. Các nước chư hầu đem quân mã đến cứu, đến nơi thấy bình yên vô sự lại rút binh về.
Bao Tự xem thấy binh mã từng đội từng đội chạy đến rồi chạy đi giống như đèn kéo quân, bất giác bật cười. U Vương rất mừng. Vì đó mà làm mất lòng chư hầu.
 
Năm 771 trước công nguyên, Khuyển Nhung đem quân xâm lăng, lại đốt phong hỏa, chư hầu không xuất binh cứu viện, U Vương bị giết, Bao Tự bị cướp đi ( một khác cũng nói là bị giết).
Tư Mã Thiên nói: “Bao Tự không thích cười, U Vương muốn nàng cười, cho nên muôn phương không cười” ( Sử kí, Chu Bổn kỷ)
Đăng nhập để trả lời
0
 
LY CƠ
(? – trước 650)
Vương phi của Tấn Hiến Công
 
Ly Cơ, con gái của vua nước Ly Nhung thời Xuân Thu (nay là huyện Lâm Đồng tỉnh Thiểm Tây). Vương phi của Tấn Hiến Công Cơ Quỷ Chư. Bà là người có sắc đẹp, giỏi mưu kế.
Năm 663 trước công nguyên ( năm thứ 15 Tấn Hiến Công), nước Tấn đánh bại Ly Nhung, Ly Nhung cầu hòa, đem 2 người con gái của vua đến cầu thân. Người lớn là Ly Cơ, sinh một trai tên Hề Tề, người nhỏ là Thiếu Cơ, sinh một trai tên Trác Tử.
Ly Cơ xinh đẹp  rất được Tấn Hiến Công thương yêu. Bà là người mánh khóe, dối trá, ra sức chiều chuộng vua để được vua yêu, lần lần được Tấn Hiến Công tin dùng, cho tham dự việc triều chính. phế bỏ phu nhân tên là Tề Khương, lập Ly Cơ làm phu nhân, phong Thiếu Cơ làm thứ phi. Ly Cơ lại tiến một bước muốn phế bỏ thái tử Thân Sinh, lập Hề Tề làm thái tử.
Tấn Hiến Công có một người kép hát rất được ưa chuộng gọi là Tiểu Thi. Tiểu Thi có tư tình với Ly Cơ .Ly Cơ nói với Tiểu Thi:” ta muốn lập Hề Tề làm thái tử, chỉ sợ các công tử Thân Sinh, Trùng Nhĩ, Di Ngô phản đối, làm sao bây giờ?”. Tiểu Thi nói:” đem bọn họ xếp đặt cho yên, để bọn họ biết địa vị bọn họ đã đến tột cùng rồi, do đó họ có thể sinh lòng khinh mạn vua; như vậy thì đối phó không khó”. Và đề nghị nên ra tay với thái tử Thân Sinh trước.
Ly Cơ mua chuộc các quan đại phu nước Tấn như Lương Ngũ và Bế Ngũ, bảo họ nói với
Tấn Hiến Công rằng “ Khúc Ốc (nay là đông bắc huyện Hỉ tỉnh Sơn Tây ) là chỗ tổ miếu của nước Tấn, rất nên đưa thái tử Thân Sinh đến trấn giữ, Bồ Thành (nay là huyện Lã Lương tỉnh Sơn Tây) với Nam Bắc Khuất (nay là đông nam huyện Thạch Lâu tỉnh Sơn Tây) là nơi tái yếu biên phòng, rất cần đưa công tử Trùng Nhĩ, Di Ngô chia nhau phòng thủ”. Hiến Công mắc mưu, chỉ lưu Hề Tề, Trác Tử hai người ở bên mình, để chờ cơ hội phế lập. Sử gọi “ nhị Ngũ hại Tấn” ( hai tên Ngũ hại nước Tấn)
Tiểu Thi bày cho Ly Cơ vào lúc nửa đêm, khóc lóc trước mặt Hiến Công và nói: “ thiếp nghe nói là Thân Sinh khéo mua chuộc lòng người, e sợ muốn hành hung với nhà vua để cướp ngôi”. Hiến Công nói:” nếu nó biết thương dân của mình, lại không thương cha của nó sao?”. Ly Cơ biết Hiến Công vẫn tin thái tử, cho nên lại bí mật lập mưu khác. Có một hôm, thái tử Thân Sinh từ Khúc Ốc gửi đến một khối tế nhục cho Tấn Hiến Công, Ly Cơ ngầm bỏ thuốc độc vào tế nhục, để gia tội cho thái tử, lấy đó mà ép chết thái tử. Lại nói vu cho Trùng Nhĩ, Di Ngô cũng tham gia vào âm mưu của Thân Sinh, ép hai vị công tử phải đi qua nước Địch và nước Lương. Ly Cơ  biết thời cơ đã chín muồi, ép Hiến Công lập Hề Tề làm thái tử.
Năm 652 trước công nguyên ( năm thứ 26 Tấn Hiến Công), Hiến Công chết, Hề Tề được lên nối ngôi, bị quan đại phu Lý Khắc giết chết, lập công tử Di Ngô là Tấn Huệ Công.
Năm 650 trước công nguyên, tội vu hại thái tử của Ly Cơ bị phơi bày, Ly Cơ bị giết chết.
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
PHÀN CƠ
(không rõ năm sinh và chết)
Vương phi của Trang Tương Vương nước Sở
 
Phàn Cơ là Vương phi của Trang Tương Vương  Mễ Lữ nước Sở đời Xuân Thu. Bà là người có tài mạo vẹn toàn.
Theo truyền thuyết, Sở Trang Vương muốn chọn trong số cung phi một người làm chính phẩm phu nhân, mới ra lệnh hạn trong 3 ngày, mỗi người dâng lên một lễ vật, lễ vật nào vừa ý vua nhất thì người ấy được trúng tuyển. Các cung phi đều lo tìm lễ vật, Phàn Cơ không chuẩn bị gì cả. Qua 3 ngày, các cung phi đều đem dâng lễ vật của mình, Phàn Cơ chỉ đến với hai bàn tay trắng. Trang Vương hỏi Phàn Cơ: “ lễ vật nàng chuẩn bị cho ta đâu?”. Phàn Cơ chậm rãi đáp: tâu đại vương, xin nói thật là việc chuẩn bị lễ vật cho ngài, thiếp không hề nghĩ tới. Trang Vương lấy làm lạ hỏi:” chẳng lẽ nàng không nghĩ tới việc làm chính cung phu nhân của ta sao?”. Phàn Cơ gật đầu nói:” thiếp nghĩ xin đại vương nghe thiếp nói một câu này, đại vương từng nói lễ vật đưa đến phải là vật nhu yếu trước mắt của đại vương. Nhu yếu trước mắt của đại vương là gì? Ngoài việc lập một vị chính cung phu nhân, chẳng lẽ còn có cái gì trọng yếu hơn nữa sao?”. Sở Trang Vương thấy lời
Phàn Cơ nói có lý, bèn lập Phàn Cơ làm chính cung phu nhân.
Một hôm, Trang Vương bãi triều để cử hành yến tiệc. Phàn Cơ hỏi đặt tiệc làm gì?. Trang Vương nói là tiệc mời người hiền. Phàn Cơ hỏi hiền sĩ là ai?. Trang Vương nói:” tể tướng Ngưu Khu Tử là người hiền. Phàn Cơ nói:” Ngưu Khu Tử làm tướng, chưa từng tiến cử một kẻ hiền thần, sao gọi là hiền thần được!. Hôm sau, Trang Vương đem lời của Phàn Cơ nói với Ngưu Khu Tử, Ngưu Khu Tử lấy làm hổ thẹn, sau mới tiến cử Tôn Thúc Ngao vào triều, Trang Vương đặt Tôn Thúc Ngao làm lệnh doãn. Tôn Thúc Ngao bắt đầu tu sửa công trình thủy lợi, thực hành cải cách, làm cho nước Sở ngày một cường thịnh.
Năm 579 trước công nguyên (năm thứ 17 Sở Trang Vương)Sở đánh thắng quân Tấn ở đất Bí (nay là phía đông Trịnh Châu tỉnh Hà Nam) bắt các nước Trịnh, Tống phải quy phụ vào Sở, thay nước Tấn làm bá chủ chư hầu.
Châu Huyện, thi nhân đời Đường viết về Phàn Cơ, có câu “ đương thời bất hữu Phàn Cơ vấn, lệnh doãn hà do tiến Thúc Ngao”. ( Bấy giờ không có Phàn Cơ hỏi, lệnh doãn vì đâu cử Thúc Ngao).
Việc Ngưu Khu Tử tiến cử Tôn Thúc Ngao làm tướng nước Sở, lập nên nghiệp bá là một chuyện hay trong Lịch sử Trung Quốc.
Trang Vương thích săn bắn, Phàn Cơ can ngăn mà không bỏ, bà bèn chống lại bằng cách không ăn thịt loài cầm thú, cuối cùng Trang Vương sửa đổi, chăm lo chính sự.Bach Cư Dị có câu:” tam tải đoạn tiên phì”, (ba năm đoạn tuyệt đồ tươi béo) là nói về việc này. Phàn Cơ rất được thương yêu nhưng mười năm không sinh nở, vua lại không lui tới các cung khác. Một hôm, Phàn Cơ  nói với Trang Vương:” thiếp vào hậu cung 10 năm,được đại vương rất thương yêu, thiếp rất đội ơn,nhưng đại vương đến nay không có con, nên tiế cơ thiếp để có ích cho việc kế tự. Rồi bà để cho Trang Vương được tự do tới 6 vị cơ thiếp trong cung, kết quả sinh được 6 người con trai. Được thương yêu mà không ghen tuông là sự ít thấy trong số hậu phi thời xưa.
 
Đăng nhập để trả lời
0
TÂY THI
(không rõ năm sinh và chết)
Vương phi Ngô Vương Phù Sai
 
Tây Thi tên gọi  Tiên Thi, Tây Tử, họ Thi, tên Di Quang, người thôn Trữ La ( nay là phía nam huyện Chư Kỵ tỉnh Triết Giang), là người đẹp nổi tiếng của nước Việt cuối thời Xuân Thu, là Vương phi Ngô Vương Phù  Sai.
Tây Thi xuất thân tù một gia đình nghèo khổ, cha là tiều phu sinh sống bằng nghề bán củi. Thuở nhỏ thường  giặt luạ bên khe nước nhỏ dưới chân núi Trữ La, tại đây có khối đá gọi là “Hoãn sa thạch” (đá giặt lụa), theo truyền thuyết đó là dấu vết còn lại của Tây Thi giặ t luạ.
Tây Thi đẹp nổi tiếng trên đời, sau người ta thường dùng để gọi thay cho những cô gái tuyệt sắc. Tây Thi nhân đau mà cau mày, lúc đó có một vẻ đ ẹ p đ ặc bi ệt. Cùng làng có cô gái xấu xí Đông Thi, cũng bắt chước. Tây Thi cau mày nhăn mặt lại làm cho cô ta càng xấu thêm, đó là câu chuy ện “Đông Thi hiệu tần” (Đông Thi bắt chước cau mày).
Năm 494 trước công nguy ên ( năm thứ hai Ngô Vương Phù Sai), Phù Sai đánh bại nước Việt tại Phù Tiên ( nay là tây nam huyện Ngô tỉnh Giang Tô). Vua Việt là Câu Tiễn lui về giữ núi Cối Kê ( nay là phía nam Thiệu Hưng tỉnh Triết Giang) bi qu ân Ngô vây khốn, phải đến cầu hoà với nước Ngô.
Sau đó, Câu Tiễn dùng kế của Phạm Lãi, tìm được cô gái đẹp Tây Thi, chuẩn bị đem dâng cho vua Ngô. Một vị cung nữ được Việt Vương  yêu nói r ằng: một người đẹp chân chính phải hội đủ ba điều kiện: một là dung mạo đẹp, hai là giỏi ca múa, ba là phong thái; Tây Thi chỉ có sắc đẹp còn thiếu hai điều kiện kia. Do đó, phải bỏ ra 3 năm dạy ca múa đi đứng lễ nghi.
Tây Thi chịu khó luyện tập, trong khúc nhạc du dương, uyển chuyển ca muá, dáng điệu ẻo lả mê người. Tiếp theo luyện nghi dung lễ tiết, từ một cô gái giặt lụa biến thành một cung nữ vững vàng, một cái cất tay, một bước chân, đều biểu lộ dáng điệu đẹp đẽ, đối xử với người rất là hợp cách .Cuối cùng may sắm cung trang đẹp đẽ cho mặc vào, rồi mới đem Tây Thi dâng cho vua Phù Sai nước Ngô.
Phù Sai nước Ngô rất thích thú, xây cung Xuân Tiên ở Cô Tô, đào ao lớn, trong ao đặt thuyền Thanh Long, bày ca nhạc, hằng ngày cùng chơi đuà trên nước, lại dựng Linh quán, quán Oa các để Tây Thi biểu diễn ca muá và yến ẩm vui chơi. Tây Thi sở trường về lối nhảy “ hưởng kịch vũ”, Phù Sai lại dựng hưởng kịch lang, dùng hàng trăm chiếc chum to, trên sàn đóng gỗ, Tây Thi mang guốc nhảy múa, ống quần đeo chuông nhỏ, khi nhảy muá tiếng vang  của chum lớn kết hợp với tiếng chuông nhỏ đồng thời vang lên làm cho Phù Sai như say như dại, mê đắm nữ sắc, không lo việc triều chính, cuối cùng đi vào con đường táng thân vong quốc.
Năm 473 trước công nguy ên ( năm thứ tư Chu Nguy ên Vương), Việt vương đem quân diệt Ngô, Phù Sai phải tự sát. Sau khi nước Ngô m ất, Tây Thi cùng với Phạm Lãi đi thuyền nhỏ vào Thái Hồ ( Tây Hồ), sau không biết đi về đâu
 
TRIỆU CƠ
(? – 228 trước công nguyên)
Vương hậu của Trang Tương Vương nước Tần
Triệu Cơ người Hàm Đan ( nay thuộc Hàm Đan tỉnh Hà Bắc), xuất thân từ gia đình phú thương, là Vương hậu của Trang Tương Vương Doanh Dị Nhân nước Tần, giỏi ca múa, tính dâm đãng.
Triệu Cơ nguyên là ái thiếp của nhà buôn lớn Lã Bất Vi, đã có thai hai tháng mới đem dâng cho Doanh Dị Nhân, sinh ra Doanh Chính ( sau là Tần Thủy Hoàng)
Doanh Dị Nhân là cháu của Chiêu Tương  nước Tần, con thứ thái tử An Quốc quân, mẹ là Hạ Cơ. Hạ Cơ thất sủng, mất sớm, nước Tần đem làm con tin nước Triệu. Vợ chính An Quốc quân là Hoa Dương phu nhân không có con, Lã Bất Vi dùng kế thuyết phục Hoa Dương phu nhân nhận Dị Nhân làm con, đổi tên Tử Sở. Sau đó, An Quốc quân nối ngôi là Hiến Văn Vương nước Tần lập Hoa Dương phu nhân làm hoàng hậu, Tử Sở làm thái tử,ở ngôi 1 năm thì mất, kế vị là Trang Tương vương, lập Triệu Cơ làm hoàng hậu, Doanh Chính làm thái tử. Trang Tương vương ở ngôi 3 năm rồi chết. Lúc Tần Trang Tương vương lên ngôi, Lã Bất Vi đã là tể tướng, sau khi Doanh Chính lên ngôi, vẫn giữ chức tể tướng.
Doanh Chính lên làm vua mới 13 tuổi, quyền hành nằm trong tay Lã Bất Vi, bởi Triệu Cơ vốn là ái thiếp Lã Bất Vi, nên tuy là thái hậu của vua nhưng đối với
Lã Bất Vi tơ tình chưa dứt, thường gặp gỡ lén lút. Lã Bất Vi sợ Tần vương trưởng thành, gian tình sẽ lộ, thì không có lợi cho mình nên tìm cách thoát khỏi ràng buộc với thái hậu. Nhân có người Tần là Lao Ái, phạm tội cưỡng dâm, bị nhốt vào ngục, Lã Bất Vi đem Lao Ái giả  x ử  cung hình ( tội thiến mất sinh thực khí) rồi đưa vào làm thái giám phục dịch thái hậu, để thỏa mãn tình dục cho thái hậu. Lao Ái được thái hậu yêu, phong làm Trường Tín hầu, nắm thực quyền trong triều. Bà thái hậu quả cư (ở goá) mang thai, sợ gian tình vỡ lở, mượn cớ thiên cư đến ở một cung bên ngoài thành Hàm Dương, trước sau sinh hạ 2 người con trai, nuôi riêng tại nhà Lao Ái, chuẩn bị tương lai cướp ngôi.
Năm 238 trước công nguyên ( năm thứ chín Tần Thủy Hoàng), Tần vương bắt đầu tự nắm chính quyền, Lao Ái thừa cơ nổi loạn, bị Tần vương đem quân trấn áp. Lao Ái bị xử tử, 2 con riêng bị ném chết, thái hậu bị giam. Năm sau, lại tước bỏ tước vị Lã Bất Vi.
Tần vương hạ lệnh, kẻ nào dám can gián về việc thái hậu sẽ giết chết không tha. Trước sau có 27 người bị giết vì can gián, thi thể bị bêu ngoài cửa cung. Mao Tiêu người nước Tề, không sợ chết xin can việc thái hậu, ông ta nói trên trời có 28 tòa sao, hiện tại mới 27 người chết, nên xin đến cho đủ số. Ông ta ra sức trình bày là Tần vương muốn được nhân tâm thiên hạ, không nên phạm tội bất từ bất hiếu. Tần vương cảm động bởi lời của Mao Tiêu, bái ông làm trọng phụ, tôn làm thượng khanh, rước thái hậu về Hàm Dương
Năm 228 trước công nguyên ( năm thứ mười chín Tần Thủy Hoàng), thái hậu chết ở cung Hàm D ương.
 
Đăng nhập để trả lời
0
CHUNG VÔ DIỆM
(không rõ năm sinh và chết)
Vương hậu của  Tuyên Vương nước
 
Chung Vô Diệm tên là Xuân họ Chung Ly, người đất Vô Diệm ( nay thuộc đông huyện Đông Bình tỉnh Sơn Đông), người đời gọi là Chung Vô Diệm, bà là hoàng hậu của Tuyên Vương  Điền Tịch Cương nước Tề.
Chung Vô Diệm là người đàn bà xấu (xú phụ)  nổi tiếng trong lịch sử, sinh ra trán cao, mắt sâu, bụng dài, chân thô, mũi hếch, xương cổ lòi ra, cổ to, tóc thưa,bụng phệ, lưng gù, da đen đúa. Do dung mạo xấu xí, đến 40 tuổi vẫn chưa chọn được chồng vừa ý. Tuy bà xấu, nhưng thông tuệ, tài trí hơn người, là một nữ chính trị gia có tài.
Một hôm, Tề Tuyên Vương đang uống rượu vui chơi ở Tiệm đài,bao nhiêu cung nga đẹp đẽ đang múa hát, Chung Vô Diệm vào điện xin yết kiến, tự xưng là người con gái không lấy được chồng của nước Tề, nghe nói Tề Vương là người hiền minh, xin vào hậu cung lo việc quét tước cho đại vương. Các cung nữ nghe xong không ai không bụm miệng cười, Tề Tuyên Vương nghe tâu cũng tức cười, nhưng vì lòng hiếu kỳ, ra lệnh cho vào yết kiến.
Tuyên Vương hỏi: Xú phụ! Ngươi không chịu ở quê hương lại tự tiến với vị vua vạn thặng*, phải chăng trong ngươi có tài nghệ cao kỳ? Vô Diệm đáp: Không dám nói có tài nghệ cao kỳ, chỉ học được thuật ẩn hình, xin vì đại vương hiến chút nghề mọn để giúp cuộc vui. Nói xong liền ẩn mình, không ai trông thấy nữa. Hôm sau, Tuyên Vương lại triệu đến làm trò, Vô Diệm không nói chỉ trừng mắt, cắn răng, giơ tay, vỗ gối, làm 4 động tác và kêu 4 lần liên tiếp “ hiểm”. Tuyên Vương không rõ ý nghĩa ra sao.Vô Diệm nói rằng: nay nước Tề có sự uy hiếp của Tần ở phía tây, nước Sở phía nam, đó là điều nguy hiểm thứ nhất. Đại vương làm nhọc sức dân, hao tổn tiền của, lập tiệm đài hoa lệ, đó là điều nguy hiểm thứ hai. Trong triều thì biếm người hiền dùng kẻ nịnh, đó là điều nguy hiểm thứ ba. Đấng quân vương đam mê tửu sắc, không sửa sang chính trị trong nước, đó là điều nguy hiểm thứ tư. Thiếp trừng mắt vì đại vương xét cái biến phong hỏa, cắn răng là thay đại vương trừng trị cái miệng chống can gián, giơ tay là thay đại vương đuổi kẻ bề tôi sàm nịnh, vỗ gối là xin đại vương dẹp bỏ các đài ăn chơi.
Tề Tuyên Vương nhận lời can gián, từ đó bỏ yến nhạc, phá tiệm đài, trừ tôi nịnh, làm cho binh mã mạnh, kho lẫm đầy. Lập Chung Vô Diệm làm vương hậu. Với sự phụ tá của Chung Vô Diệm, nước Tề được thịnh trị.
 
 
TRIỆU UY HẬU
(không rõ năm sinh và chết)
 
Triệu Uy Hậu là vương hậu của  Huệ Văn Vương Triệu Hà nước Triệu.
Năm 266 trước công nguyên (năm thứ 33 Triệu Văn Vương), Triệu Huệ Văn Vương chết, con là Triệu Đan nối ngôi là Hiều Thành Vương, tôn Triệu Uy Hậu làm Vương thái hậu. Hiều Thành Vương còn nhỏ tuổi, do đó Triệu thái hậu chấp chính.
Triệu thái hậu vừa nắm chính quyền, nước Tần đem quân đánh Triệu, Triệu cầu cứu nước Tề. Tề buộc đưa Trường An quân, con nhỏ sang làm con tin, mới xuất binh cứu Triệu. Thái hậu thương con, không chịu. Tình hình nước Triệu mười phần nguy ngập.
Triều thần nước Triệu cùng đến xin thái hậu nhận điều kiện nước Tề, để nước Tề xuất quân.Thái hậu không chịu và nói một cách rành rọt trước các đại thần: nếu có người nào nói việc đưa Trường An quân qua Tề làm con tin, ta sẽ nhổ vào mặt.
Quan tả sứ Xúc Long xin được yết kiến thái hậu. Thái hậu tiếp kiến với thái độ tức giận.
Xúc Long chậm rãi đi tới, nói vì đau chân, đi lại khó khăn nên lâu ngày không được triều kiến, không biết thái hậu gần đây có khỏe không. Rồi từ hỏi thăm sức khỏe đến nói chuyện hàng ngày, khi thấy thái hậu đã nguôi giận, mới nói: thằng con nhỏ của thần là Thư  Kỳ, không có việc gì làm, thần rất thương nó, xin cho nó làm vệ sĩ trong cung được không?. Thái hậu nói không ngờ kẻ đại trượng phu mà cũng thương con nhỏ!. Xúc Long nói: Tình thương con nhỏ của kẻ đại trượng phu hơn đàn bà. Thái hậu thì nói đàn bà thương con nhỏ hơn đàn ông. Xúc Long nói: Chẳng thế, thái hậu thương con gái hơn con nhỏ. Thái hậu nói : nhà ngươi nói sai rồi, ta thường Trường An quân hơn con gái.Xúc Long nói: Cha mẹ thương con cái là tính việc lâu dài cho con cái. Con gái thái hậu gả làm vương hậu nước Yên là tính việc lâu dài, mà để Trường An quân ở bên cạnh, không thể nói tính việc lâu dài được. Cho nên nói thái hậu thương con gái hơn con nhỏ. Thái hậu bỗng nhiên tỉnh ngộ, nghĩ đến tiền đồ của con và lợi ích quốc gia, đã đưa Trường An quân làm con tin, nước Tề xuất quân cứu Triệu, nước Triệu chuyển nguy thành an. Đó là việc Xúc Long thuyết Thái hậu.
Có một lần, Tề vương sai sứ sang yết kiến Triệu thái hậu. Chưa mở quốc thư Triệu thái hậu đã hỏi sứ nước Tề rằng: Nước Tề mùa màng có được không? đời sống nhân dân có khá không?Tề vương có mạnh khỏe không?. Một lúc liên tiếp hỏi mấy vấn đề, sứ Tề không vui, cho là không hỏi thăm Tề vương trước mà đi hỏi việc thu hoạch mùa màng và bá tính, chẳng phải là sự đảo lộn gốc ngọn sao?. Triệu thái hậu giải thích rằng: Nếu như mùa màng thu hoạch kém thì mất bá tính; không bá tính thì làm gì có vua?. Từ cuộc đối thoại đó có thể thấy quan điểm chính trị của Triệu thái hậu.
Triệu thái hậu biết dùng người hiền, nhận lời can gián, lấy lợi ích quốc gia làm trọng, khắc phục nhược điểm về tình thương con, bảo toàn đại cục. Về ngoại giao cũng không kém, dám lí luận với sứ Tề là cường quốc đương thời, xứng đáng là một nữ chính trị gia.
 
NGU CƠ
(? -202 trước công nguyên)
Vương cơ của Tây Sở Bá Vương
 
Ngu Cơ người đất Ngu cuối đời Tần, là sủng cơ của Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ. Bà là người có sắc đẹp, giỏi múa kiếm.
Năm 209 trước công nguyên ( năm thứ nhất Tần nhị thế), Hạng Vũ giúp Hạng Lương giết quan thái thú Cối Kê là Ân Thông, hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Trần Thắng khởi binh ở Ngô Trung. Ngu Cơ yêu mến sự dũng mãnh của Hạng Vũ, chịu làm thiếp  Hạng Vũ, thường theo Hạng Vũ đi đánh Tần. Hạng Lương chết, Hạng Vũ là thứ tướng, được phong làm thượng tướng quân phía bắc, đánh Cự Lộc (nay là tây nam Bình Hương tỉnh Hà Bắc) phá tan quân chủ lực của Tần. Tiếp đánh phía tây, vào Quan Trung tự lập làm Tây Sở Bá Vương, Ngu Cơ và Hạng Vũ như hình với bóng không rời nhau, cảm tình nồng hậu.
 
Tần mất, Hạng Vũ cùng Lưu Bang tranh giành thiên hạ, tiến hành cuộc chiến tranh Hán – Sở 4 năm.
Năm 202 trước công nguyên ( năm thứ năm Hán Cao Tổ), Hạng Vũ  bị Lưu Bang vây ở Cai Hạ ( nay là đông nam Linh Bích tỉnh An Huy), binh cô lương tận, đêm đêm nghe tiếng hát nước Sở ở cả bốn phía, cho là đất Sở đã mất hết. Hạng Vũ ngồi trong trướng uống rượu, Ngu Cơ đứng lên múa, nuốt lệ hát bài “ Họa Cai Hạ ca”: “ Quân Hán vây khắp mặt, bốn phương tiếng Sở ca; đại vương ý khí tận, tiện thiếp quyết làm ma”.Hát xong, tuốt kiếm tự vẫn, quả quyết chết theo nước, chết vì tình. Ngu Cơ chết rồi được chôn ở Cai Hạ.Nay phía đông huyện Linh Bích 50 dặm có mộ Ngu Cơ, trước mộ có câu đối: “ Ngu hề nại hà! Tự cổ hồng nhan đa bạc mệnh; cơ da an tại? Độc lưu thanh trủng hướng hoàng hôn” ( Ngu hề, biết làm sao? Những khách hồng nhan thường bạc mệnh; Cơ ôi, nay đâu nhỉ? Một nền thanh trủng với hoàng hôn).
Về sau tong bài Tống từ có bài “ Ngu mỹ nhân”, theo truyền thuyết là lấy tên của
Ngu Cơ. Thi nhân đời Thanh là Hà Phổ có bài thơ Ngu mỹ nhân “ Di hận Giang Đông ưng vị tiêu phương hồn linh loạn nhậm phong phiêu; bát thiên tử đệ đồng quy Hán, bất phụ quân ân thị Sở yên”. ( Giang Đông di hận hẳn chưa tan, hương hồn phiêu bạt khắp mười phương; Tám ngàn đệ tử đều theo Hán, không phụ ơn vua chỉ mình nàng). Nhà thơ nói là 8000 quân Sở bị bức bách phải đầu hàng Lưu Bang, không một người nào kiên trinh như Ngu Cơ. Chu Đức Dung “ Vịnh Ngu Cơ có câu”: “ Trinh tâm cam hướng thu sương kiếm, bất dục hàm tình học Hán trang “ ( Lòng trinh đành mượn gươm sắc, không ôm tình học Hán trang) đều là những lời ca tụng cái “ trinh tình mỹ đức”
 
LỮ TRĨ
( trước 242 – 180 trước công nguyên)
Hoàng hậu của Cao tổ nhà Hán)
 
 
Lữ Trĩ, tư Nga Hủ, người ở Đan Phụ ( nay phía nam huyện Đan tỉnh Sơn Đông) con gái Lữ Công, hoàng hậu Hán Cao Tổ Lưu Bang, nữ chính trị gia trứ danh của Trung Quốc.
Năm 214 trước công nguyên, để tránh kẻ thù, Lữ Công thiên về huyện Bái tỉnh ( nay là huyện Bái tỉnh Giang Tô). Có một lần huyện lệnh đất Bái thết tiệc, có tham dự. Trong yến hội sắp xếp theo quà tặng nhiều ít, huyện lại Tiêu Hà phụ trách việc đăng kí. Lúc đó là đình trưởng, thu nhập ít, chỉ viết mừng “ một vạn tiền”, thực tế không có một đồng nào. Tiêu Hà bảo là Lưu Bang nói khoác lác. Không ngờ sự khoác lác của lại gặp vận may. Lữ Công thấy hành động Lưu Bang khác thường, chọn Lưu Bang làm rể.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-07-12 16:32:43bachhop2403>
THÍCH PHU NHÂN
(? -  194 trước công nguyên)
Vương phi của Hán Cao Tổ
 
Thích phu nhân cũng gọi là Thích Cơ, người Định Đào ( nay là Tây Bắc huyện Định Đào tỉnh Sơn Đông) thời cuối Tần đầu Hán, là sủng cơ của Hán Cao Tổ.
Thích phu nhân sinh con là Như Ý được phong là Triệu Vương, không những tính cách giống hệt Luu Bang, mà tài cán trội hơn hẳn thái tủ Lưu Doanh là con của Lữ hậu. Luu Bang muốn phế Lưu Doanh, lập Lưu Như Ý làm thái tử. Lữ hậu dùng kế của Trương Lương, cho thái tủ Thường Sơn tứ hạo ( 4 ông già ở Thường Sơn) làm thầy. Một hôm, Luu Bang đến Thích phu nhân, tự mình hát bài “ hồng hạc ca”, đại ý lời ca rằng: “ hồng hạc bay cao bay xa ngàn dặm, lông cánh đã thành, ngang dọc bốn biển, không biết làm sao, dù có cung tên, dùng được đâu nào!”. Thích phu nhân theo lời ca múa theo lối Sở, khóc thút thít, nước mắt thấm ướt khăn. Luu Bang không biết làm sao, bỏ uống rượu ra đi.
Sau khi Luu Bang chết, con của Lữ hậu lập lên làm đế là Huệ đế, Lưu Doanh không có tài năng gì, Lữ hậu nắm thực quyền. Việc phế lập thái tử là ý của Luu Bang, Lữ hậu quy tội cho Thích phu nhân, cầm tù Thích thị, bắt giã gạo ở Vĩnh Hạng. Thích phu nhân vừa giã gạo vừa hát “ chung nhật bạc mộ” lời ca rằng:” con làm vua, mẹ tù tội, từ sáng đến tối, chỉ có chết mà thôi! Cách nhau ba nghìn dặm, biết khiến ai nói tới!”. Lữ hậu  bi ế t được cho là  Thích phu nhân  muốn nhờ con Triệu Vương để phát biểu sự bất mãn đến với mình. Lữ hậu cho đánh thuốc độc giết chết , lại chặt chân tay của Thích phu nhân, móc mắt, chọc thủng tai,bắt uống thuốc cho câm, làm thành một người mắt đui, tai đíêc, miệng câm, nhốt trong nhà xí, gọi là “ lợn người”
Năm 194 trước công nguyên ( năm đầu của Hán Huệ đế), Thích phu nhân bị Lữ hậu đày đoạ đến chết. Thi nhân đời Minh là Chu Hạng Linh có bài viết “ Thích cơ”: “ Sở vũ bi ca lệ mãn cân,Nga Hủ nhi chủ thiết toan tân, khả liên tam xích di Tần, Hạng, thân hậu nan tồn nhất phụ nhân” ( Múa Sở buồn ca lệ đãm khăn, chủ trương Nga hủ chịu khổ đau, tuốc gươm tiêu diệt xong Tần, Hạng, nhắm mắt không còn một phụ nhân)
Ý nói Luu Bang từ áo vải cầm ba thước gươm lật đổ nhà Tần, đánh bại Hạng Vũ, lại không che chở được cho người sủng cơ của mình. Trong thư chê Luu Bang đương thời không dám quyết tâm làm việc phế lập, đối với sự tao ngộ với Thích phu nhân, kí thác sự đồng tình rất lớn

ĐẬU HOÀNG HẬU
(trước 205 – 135 trước công nguyên)
  Hoàng hậu của Hán Văn Đế

Đậu Hoàng hậu, người Quan  Tân Thanh Hà ( nay là đông bắc huyện Táo Cường tỉnh Hà Bắc) là hoàng hậu Hán Văn đế Lưu Hằng.
Đậu thị xuất thân hàn vi, cha bà chạy loạn đời Tần đến Quan Tân ở ẩn, câu cá để sống, không may ngã xuống sông mà chết, để lại ba con nh ỏ. Thời Hán Sơ, triều đình đến Thanh Hà mộ cung nữ, Đậu thị tuổi nhỏ, ứng tuyển vào cung. Khi đó Lữ hậu nắm quyền, đưa Đậu thị đ ến nước Đại, làm cung nữ cho đ ại vương Lưu Hằng, sau được tiến làm vương phi. Đậu thị sinh được 2 trai là Lưu Khải và Lưu Vũ và một gái là Lưu Phiêu.
Phu nhân của đại vương mất sớm, 4 người con của bà cũng lần lượt chết theo. Đại vương xem Đậu thị là phu nhân.
Năm 180 trước công nguyên, đại vương Lưu Hằng lên ngôi là Hán Văn Đế, lập Đậu thị làm hòang hậu, trưởng tử Lưu Khải làm thái tử, thứ tử Lưu Vũ làm Hòai Dương Vương.
Do Đậu thị xuất thân nghèo khổ, nên thông cảm với những cảnh khổ của nhân dân, thường khuyên Văn đế tiết kiệm, giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân. Trong Hán thư phần của “Hán Văn Đế” có viết” tức nhị thập tam niên, cung thất, uyển hựu, xa kị phục ngự vô sở tăng ích” ( ở ngôi 23 năm, cung thất , vườn hoa, xe ngựa, đồ ngự dụng không tăng thêm). Sau anh em của Đậu thị là Đậu Trưởng Quân và Đậu Quảng Quốc đến Trường An nhìn bà con, Hán Văn Đế gặp hai vị quốc cữu rất mừng, phân cho hai người nhà ở và ruộng đất không ít, lưu ở lại Trường An. Tể tướng Quán Anh và Chu Bột cho là hai vị quốc cữu xuất thân hàn vi, không có học hành tốt, nên chọn vị thầy có phẩm chất đạo đức dạy dỗ, để không rơi vào bánh xe cũ ngọai thích họ Lữ làm lọan. Trong Hán thư, phàn “ Ngọai thích truyện” có viết:” Do thủ thối nhược quân tử, bất cảm dĩ phú quý kiêu nhân” ( do đó biết khiêm nhường bậc quân tử, không dám lấy sự giàu sang mà khinh người)
Năm 157 trước công nguyên ( năm thứ bảy Hán Văn Đế hậu nguyên), Lưu Khải được kế lập là Cảnh đế, tôn Đậu thị làm hòang thái hậu. Lúc đó, Đậu thái hậu hai mắt đã mờ, bà ham thích thuật Hòang Lão. Cảnh đế và anh em Đậu thị không thể không đọc” Lão thị” đề cao thuật Hòang Lão. Hòang Lão là chỉ Hòang đế và Lão Tử, đạo gia tôn Hòang Lão làm tổ, chủ trương “ vô tri nhi trị” nên dùng chính sách rộng rãi (khoan chính) đối với dân chúng. Đậu thị trải qua hai triều đại Văn đế và Cảnh đê, sử gọi là “Văn Cảnh chỉ trị”, sự thịnh trị của đời Văn Cảnh và chính sach khoan dân theo thuật Hòang Lão có quan hệ rất lớn.
Đậu thái hậu chết năm 135 trước công nguyên ( năm thứ sáu Kiến nguyên Hán Vũ Đế) thọ khỏang 71 tuổi.
 
VƯƠNG CHÍ
(? – 126 trước công nguyên)
  Hòang hậu của Hán Cảnh Đế
 
Vương Chí người Hòe Lí ( nay là đông nam huyện Hưng Bình tỉnh Thiểm Tây), cha là Vương Trọng, mẹ là tang Nhi. Bà là hòang hậu của Hán Cảnh Đế Lưu Khải.
Trứoc khi nhập cung, vương thị là vợ của Kim vương Tôn và sinh được một gái, sau li hôn với Kim Vương Tôn, vào cung hầu hạ hòang thái tử Lưu Khải. Khi Lưu Khải lên ngôi là Cảnh đế, phong Vương Chí làm mỹ nhân), năm 156 trước công nguyên ( năm Hán Cảnh Đế nguyên niên) sinh hòang tử Lưu Triệt (Hán Vũ Đế). Mẹ được quý do con, nên sau địa vị của bà được rạng rỡ.
Lưu Khải lúc đầu lập Bạc thị làm hòang hậu, Bạc thị không có con, Lật cơ được Cảnh đế sủng ái, sinh được 3 trai, trưởng tử là Lưu Vinh được lập làm thái tử. Lưu Khải còn tính phế Bạc thị lập Lật cơ làm hòang hậu. Chị của Cảnh đế Lưu Phiêu sinh một gái là A Kiều, muốn lập A Kiều làm  vợ thái tử để sau này lên ngôi hòang hậu. Lật cơ không thích A Kiều, Lưu Phiêu từ đó kết óan với Lật cơ. Vương Chí biết việc này, bèn làm thân với Lưu Phiêu, tỏ ý muốn cưới A Kiều làm vợ Lưu Triệt, Lưu Phiêu gả A Kiều cho Lưu Triệt rồi dùng kế xin Cảnh đế phế lập thái tử. Lưu Phiêu ở trưức mặt Cảnh đế nói Lật cơ bụng dạ hẹp hòi, là kẻ độc ác, nếu lập làm hòang hậu, tương lai Vương mỹ nhân là người vua yêu sẽ thành lợn người thứ hai. Cảnh đế nghe xong cả kinh, bèn phế thái tử Lưu Vinh biếm làm Lâm Giang Vương, Lật cơ tức giận sinh bệnh mà chết
Năm 149 trước công nguyên (Hán Cảnh Đế trung nguyên niên), Cảnh đế lập Vương mỹ nhân làm hòang hậu, Lưu Triệt làm thái tử.
Năm 141 trước công nguyên (Hán Cảnh Đế hậu nguyên niên năm thứ ba) Cảnh Đế chết, Lưu Triệt được lập lên ngôi là Vũ Đế, tôn mẹ là Vương thị làm hòang thái hậu. Em của thái hậu là Điền Phần ( Tang Nhi mẹ thái hậu sau cải giá làm dâu nhà họ Điền) làm quan đến tể tướngVương thái hậu rất kiên dè việc mình từng là vợ Vương Tôn, sau Vũ Đế biết, đích thân đi tìm người con gái của Vương thị với Kim Vương Tôn, làm cô này lo sợ phải chạy trốn, Vũ Đế phải tốn nhiều công phu mới tìm được, không những không bắt tội mà lại nhận làm hòang tỷ đưa về cung trường lạc, phong là Tu thành quân. Mẹ con Vương thị đòan tụ, vui sướng đến nỗi không cầm được nước mắt.
Năm 126 trước công nguyên (năm thứ ba Hán Vũ Đế nguyên sóc), Vương thái hậu chết, hiệp táng ở Dương lăng với Hán Cảnh Đế.
 
THƯỢNG QUANG THỊ
( trước 88 – 37 trước công nguyên)
  Hòang hậu Hán Chiêu Đế
 
Thượng Quang Thị, người đất Thượng Khuê, Lũng Tay ( nay là tây nam Thiên Thủy tỉnh Cam Túc), con gái Thượng Quang An, cháu ngọai Hoắc Quang, là hòang hậu Hán Chiêu Đế Lưu Phất Lăng.
Năm 78 trước công nguyên ( năm thứ hai Hán Vũ Đế hậu nguyên), Lưu Phất Lăng  mới có 8 tuổi  đã nối ngôi là Hán Chiêu Đế. Được bốn năm, Chiêu Đế 12 tuổi tính lập hòang hậu. Lúc đó Thượng Quang Thị mới 6 tuổi, qua mối quan hệ đặc biệt, được đưa lên làm vị hòang hậu trẻ nhất trong lịch sử Trung Quốc.
Nguyên là Thượng Quang An cưới con gái Hoắc Quang làm vợ sinh ra Thượng Quang Thị, nghe Chiêu Đế muốn lập hòang hậu bèn vội đem con gái mình là Thượng Quang Thị lên. Hoắc Quang cho là cháu ngọai mình còn nhỏ không thích hợp. Nhưng Hoắc thị không chịu bỏ, biết Hán Chiêu Đế do Cái Trưởng  công chúa là chị bà ta nuôi lớn lên nói gì cũng nghe bèn thông qua quan hệ của Đinh ngọai nhân là tình phu của Cái Trưởng  công chúa. Năm 83 trước công nguyên, Thượng Quang Thị lập làm hòang hậu
Thượng Quang Thị mới 6 tuổi đã kết hôn, tự nhiên không có năng lực sinh dục. Năm 74 trước công nguyên ( năm nguyên niên Hán Chiêu Đế nguyên bình), Chiêu Đế chết, nhân không có con lập cháu của Hán Vũ Đế là Lưu Hạ ( cháu của Lý phu nhân) làm vua, tôn Thượng Quang Thị làm hòang thái hậu, trở thành vị thái hậu trẻ tuổi nhất trong lịch sử thái hậu.
Lưu Hạ hoang dâm, vô đạo, chỉ làm vua được 27 ngày thì bị Hoắc Quang phế bỏ, lập cháu của Lệ thái tử là Lưu Bệnh Kỷ dổi tên là Lưu Trân, là cháu tằng tôn của Hán Vũ Đế, luận về thứ bậc thì Thượng Quang Thị là bà của Hán Tuyên Đế. Như vậy, Thượng Quang Thị trở thành vị Thái hòang thái hậu trẻ tuổi nhất trong lịch sử Trung quốc.
Năm 37 trước công nguyên ( năm thứ hai Kiến Chiêu Hán Nguyên Đế, Thượng Quang Thị chết năm 52 tuổi, hợp táng tại Bình lăng với Hán Chiêu Đế.
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-09-08 09:49:06bachhop2403>
TRÂN A KIỀU
(không rõ năm sinh và chết)
Hoàng hậu của Hán Vũ Đế
 
Trần A Kiều, con gái công chúa Quán Đào Lưu Phiêu, hoàng hậu của Hán Vũ Đế Lưu Triệt.
Lưu Phiêu vốn định đem A Kiều gả cho thái tử, bị mẹ Lưu Vinh là Lật Cơ cự tuyệt, mới đem A Kiều gả cho Lưu Triệt. con của Vương Mỹ nhân. Cảnh đế cho là A Kiều lớn tuổi hơn Lưu Triệt, tỏ ý không bằng lòng. Một hôm, Vương Mỹ nhân đem Lưu Triệt. đến thỉnh an Quán Đào công chúa, Quán Đào công chúa ôm Lưu Triệt hỏi: “ Gả A Kiều cho ngươi làm vợ có được không?” cười đáp: “ Rất tốt! Nếu được A Kiều làm vợ, thì xin xây nhà vàng cho ở”. Đây là nguồn gốc của câu thành ngữ “ Kim ốc tàng kiều”. Hán Cảnh Đế cho là con mình tuy nhỏ mà đã yêu mến A Kiều như thế, đại khái cho là có duyên phận, nên cũng nhận lời.
Lưu Triệt nhân cưới được A Kiều do sự tác hợp của mẹ và cô, mới được lập làm thái tử và làm vua, bèn lập Trần A Kiều làm hoàng hậu. Nhưng Trần hoàng hậu lâu ngày không sinh đẻ, và để có con phải chi phí về thuốc thang mất chín ngàn vạn tiền, vẫn không hiệu quả. Bà lại lớn hơn Hán Vũ Đế nhiều tuổi, sinh hoạt vợ chồng không được hài hoà. Sau đó, Vũ đế yêu một cô gái đẹp giỏi muá hát là Vệ Tử Phu. Không bao lâu sau, Vệ Tử Phu có thai. Nếu Trần hoàng hậu bụng dạ khoáng đạt, nhân nhượng một chút, thì cũng chẳng sao. Đàng này, Trần hoàng hậu lại làm rày ra, to chuyện, nhiều lần toan bức chết Vệ Tử Phu, và mời đồng cốt vào cung trù ếm. Đó là điều Vũ Đế không cách nào tha thứ được, Vũ Đế  giận, phế bỏ ngôi hoàng hậu của Trần thị, lập Vệ Tử Phu làm hoàng hậu, chuyển A Kiều đến ở Trường Môn cung rồi vào lãnh cung. A Kiều nghe tiếng Tư Mã Tương Như làm phú rung động lòng người, mới bỏ nghìn vàng nhờ viết bài “Trường Môn phú”, đó là câu chuyện “ Thiên kim mãi phú” ( mua phú ngàn vàng).
Đoạn đầu bài phú viết:
“ Phù hà nhất giai nhân hề, bộ tiêu dao dĩ tự ngu
Hồn du dật nhi bất phản hề, hình khô khao nhi độc cư
Ngôn ngã chiêu vãng nhi một lai hề, ẩm thực lạc nhi vong nhân
Tâm khiểm di nhi bất tỉnh cố hề, giao đắc ý nhi tương thân…”
Đại ý:
“ Vì sao một vị gia nhân tiêu dao lo lắng, hồn phách thất tán
Hình dung khô khan mà phải ở một mình vậy?
Người từng hứa rằng sớm chiều lui tới, rồi có cái vui ăn uống mà bỏ ta sau lưng
Vui vầy với tân nhân vừa lòng đẹp ý….”
Cuối bài viết:
“ Thiếp nhân thiết tự bi hề, cửu niên tuế nhi bất cảm vong”
Dịch là:
“ Thiếp tuy bị đối xử lạnh nhạt, thầm tự buồn than, dầu có mãi bị như thế, vẫn không dám quên vua”
Bài “Trường Môn phú” biểu hiện được nỗi niềm uất ứcbuồn khổ của người phụ nữ bị thất sủng ở trong cung đình thời phong kiến, rất là bi thảm.
Trần A Kiều bảo cung nữ đọc thuộc, hy vọng Hán Vũ Đế nghe sẽ hồi tâm chuyển ý, nhưng cũng không được gì. Vài năm sau, Trần A Kiều lìa bõ cõi đời trong sự buồn giận tức tối.


LÝ PHU NHÂN
( không rõ năm sinh và chết)
Phi tữ của Hán Vũ Đế
 
Lý phu nhân, người ở Trung Sơn ( nay là huyện Định tỉnh Hà Bắc), giỏi ca muá. Bà là phi tử Hán Vũ Đế Lưu Triệt.
Lý phu nhân gặp Hán Vũ Đế, câu chuyện như sau:
Bà Vệ hoàng hậu được Vũ Đế sủng ái, tuổi già sắc đẹp suy giảm, nhà vua muốn chọn một người đẹp sung vào cung. Anh của Lý phu nhân là Lí Diên Niên, một người giỏi âm nhạc nổi tiếng đời Hán. Có một bận, Lí Diên Niên được triệu vào cung biểu diễn âm nhạc, biết
Hán Vũ Đế đang tìm nguồn vui mới, bèn biễu diễn tiết mục “ bắc quốc giai nhân”. Khi âm nhạc trỗi lên du dương, Lí Diên Niên hát rằng:
“ Bắc phương hữu giai nhân, tuyệt thế nhi độc lập, nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc. Ninh bất tri khuynh thành dữ khuynh quốc, giai nhân nan tái đắc”
Dịch là:
“ Phương Bắc có người đẹp, đẹp tuyệt thế mà còn đơn chiếc, quay nhìn một lần làm nghiêng thành, quay nhìn lần hai thì nghiêng nước. Thà là không biết cái đẹp khuynh thành khuynh quốc, người đẹp khó gặp đến hai lần”. Sau đó từ “khuynh thành khuynh quốc” trở thành điển cố để hình dung người đẹp.
Hán Vũ Đế xem tiết mục ấy, và bị thu hút, mới hỏi Lí Diên Niên: “ Người đẹp mà ngươi hát đó, trên đời này thật có người con gái đẹp như vậy sao?”. Chị của Hán Vũ Đế là Bình Dương công chúa nói: “Lí Diên Niên có người em gái, là một người đẹp khuynh thành khuynh quốc như thế”. Lí Diên Niên qua biểu diễn ca muá, đã khéo léo đem em gái mình tiến cử vào cung. Lý phu nhân không những đẹp gái mà còn giỏi ca múa, sau khi vào cung được sủng ái hơn cả mọi người, sau sinh ra hoàng tử Lưu Bạc, Lý phu nhân sinh bệnh, qua vài năm rồi từ trần.
Hán Vũ Đế rất đau lòng trước cái chết của Lý phu nhân, ra lệnh các hoạ sư vẽ di tượng Lý phu nhân treo ở cung Cam Tuyền. Phương sĩ Lý Thiếu Ông, biết Hán Vũ Đế ngày đêm thương nhớ Lý phu nhân đã quá cố, bèn nói là ông ta có thể thỉnh Lý phu nhân về để gặp gỡ đức vua. Hán Vũ Đế vui mừng, vời Lý Thiếu Ông vào cung làm pháp thuật.
Lý Thiếu Ông dùng y phục Lý phu nhân của lúc còn sống, chuẩn bị tịnh thất, giữa treo một tấm màn bằng lụa mỏng, bên trong màn thắp đèn sáp. Quả nhiên qua ánh sáng của đèn, bóng của Lý phu nhân hiện ra trên màn lụa mỏng, chỉ thấy Lý phu nhân nghiêng mình chậm rãi đi qua, một lúc lâu rồi mất. Trên thực tế, Lý Thiếu Ông biễu diễn trò chơi “đăng ảnh”. Hán Vũ Đế xem thấy bóng Lý phu nhân, càng tương tư bi cảm hơn, viết một bài thơ.
“ Thị da, phi da lập nhi vọng chi, thiên hà san san kỳ lai trì”
Nghĩa là :
“ Là nàng hay không phải nàng ? Đứng đây mà đợi mà chờ, cớ sao cố ý đến muộn màng vậy ? ‘ Hán thư truyện. Rồi ông ta ra lệnh cho nhạc sư của Nhạc phủ trong cung phổ thành bài hát. Nhà vua còn viết bài « Thương điếu Lý phu nhân phú », nói lên tình yêu đối với Lý phu nhân.Lý Thiếu Ông biểu diễn đăng ảnh hí, làm tái hiện hình tượng Lý phu nhân trên màn lụa mà được phong là Văn Thành tướng quân.
 
TRIỆU PHI YẾN
(45 -1 trước công nguyên)
Hoàng hậu của Thành Đế nhà Hán
Triệu Phi Yến nguyên tên Nghi Chủ, người ở Trường An ( nay là Tây An tỉnh Thiểm Tây), con gái của Triệu Lâm, hoàng hậu của Hán Thành Đế Lưu Ngao, là người đẹp nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, hát hay múa giỏi.
Cha của Phi Yến là nhạc sư đời Hán, sau khi cha chết, cảnh nhà sa sút, Phi Yến và enm lưu lạc đến Trường An sinh sống bằng nghề ca múa, được Dương A công chúa mang về nuôi. Dương A công chúa rất thích ca múa.Về ca múa, bà khá thành thạo.Nhận thấy chị em họ Triệu là nhân tài ít có trong nghề múa, Dương A công chúa hết lòng chỉ dạy, nên qua nhiều năm rèn luyện nghệ thuật, đã nổi tiếng về ca múa. Dương A công chúa thường tổ chức những buổi vãn hội ( hội họp ban chiều) Nghi Chủ biểu diễn theo tiếng nhạc nhẹ nhàng mà uyển chuyển múa nhảy, khéo léo như chim yến lượn bay, nên có tên là Triệu Phi Yến.
Có một hôm, Hán Thành Đế đến nhà Dương A công chúa xem biểu diễn ca múa, thấy kỹ thuật múa của  cao siêu, đáng gọi là “ Thanh, Sắc, Nghệ tam tuyệt”. Một lần gặp mặt đã nặng tình, triệu vào cung, phong là Tiệp dư.
Trong Hán cung có hồ Thái Dịch, giũa hồ có Doanh Châu, có lập một vũ đài để biểu diễn ca vũ rất là hoa lệ. Triệu Phi Yến mặc quần vân anh màu đỏ tía, áo lụa bích quỳnh nhẹ mỏng như cánh ve, nhảy múa nhẹ nhàng. Thành Đế dùng cái âu ngọc gõ nhịp, bước nhảy thoăn thoắt hợp với tiết tấu trầm bổng, giống như tiên nữ xuống trần. Đang say sưa ca múa, gió bỗng nổi lên, Phi Yến theo gió múa may, y phục mỏng manh theo gió mà bay đi. Thành Đế hoảng sợ vội bảo cung nữ ra đỡ . Sau đó, Thành Đế cho xây riêng “ Thất bảo tị phong đài”, tạo một cái mâm rất lớn, khiến cung nhân nâng mâm, Phi Yến nhảy múa ở trên mâm. Nàng thành thạo bước nhảy, khi chậm thì như chim phượng hoàng độc lập, lúc mau thì như chim yến trong mây, làm cho người xem không rời mắt. Vào cung không bao lâu, Phi Yến nhờ sắc đẹp và tài ca múa áp đảo hậu cung. Vì yêu mến đặc biệt đối với Phi Yến, Thành Đế phế Hứa hoàng hậu lập Phi Yến làm hoàng hậu.
Về sau, Thành Đế nghe nói em gái Triệu Phi Yến là Triệu Hợp Đức rất đẹp, lại triệu vào cung, phong là Chiêu Nghi. Triệu Hợp Đức đúng là đẹp đẽ vô song, khi vào cung, ai trông thấy cũng trố mắt nhìn và tấm tắc khen ngợi. Thành Đế xây dựng riêng cung Chiêu Dương, cột rường chạm trổ, nạm vàng, khảm ngọc, rất là hoa lệ, hơn tất cả các cung khác.
Chị em họ Triệu rất được vua yêu dấu, lại không sinh nở. Chị em đều muốn sinh một người con để sau nối ngôi vua, bèn xem thường cung cấm, thông gian với một quan thị lang trẻ trung nhiều con ở trong triều, mong có cơ hội mang thai, nhưng trái với ý nguyện, không mang thai được.
Để củng cố địa vị sủng ái của mình, chị em họ Triệu không muốn các phi tần khác có con. Con của cung nữ họ Tào và Hứa mỹ nhân sinh ra đều bị Triệu Chiêu Nghi giết chết, Thành Đế cũng không biết làm sao.
Năm thứ 9 trước công nguyên ( năm thứ 4 Hán Thành Đế nguyên niên), Định Đào vương Lưu Hân ( cháu Hán Thành Đế) vào chầu Hán Thành Đế, mẹ của Lưu Hân dùng nhiều vàng hối lộ chị em họ Triệu, bèn lập Lưu Hân làm thái tử.
Hai năm sau, Hán Thành Đế chết, Lưu Hân nối ngôi là Hán Ai Đế. Triều thần vạch trần hai lần tội giết hại hoàng tử của , Chiêu Nghi sợ bị xử tội nên tự sát. Triệu Phi Yến thì quỷ quyệt hơn, lại có công lập thái tử, nên được phong là hoàng thái hậu. Năm thứ 1 công nguyên, Hán Ai Đế chết, Hán Bình Đế nối ngôi. Mẹ của Hán Thành Đế là Vương thị được phong Thái hoàng thái hậu, Vương Mãng là ngoại thích nắm quyền, mượn danh nghĩa của Thái hoàng thái hậu,, bãi bỏ phong hiệu của Triệu Phi Yến, biếm làm dân thường, bắt bà đến giữ lăng mộ của Hán Thành Đế, Triệu Phi Yến xấu hổ tự sát năm 45 tuổi.
DIÊM CƠ
(trước 98 -126)
Hoàng hậu của Đông Hán An Đê
 
Diêm cơ người đất Huỳnh Dương, Hà Nam ( nay là phía tây huyện Huỳnh Dương tỉnh Hà Nam), cha là Diêm Sướng, mẹ Tông thị. Hoàng hậu của Đông Hán An Đê Lưu Hộ, có tài sắc, nhưng hay ghen tuông.
Năm 114 ( năm đầu Đông Hán An Đê), Diêm cơ khoảng 16 tuổi được tuển vào Dịch đình. Bà rất được sủng ái, phong làm quý nhân. Năm thứ hai, lập làm hoàng hậu. Hán An Đê có hạnh tới cung nhân Lý thị, sinh ra hoàng thái tử Lưu Bảo. Diêm hoàng hậu cho đầu dộc giết chết Lý thị.. Năm 121 (Đông Hán An Đê Kiến Quang năm thứ 4), Đặng thái hậu chết, An Đê tự nắm chính quyền, em trai của Diêm hoàng hậu là Diêm Hiển, Diêm Cảnh, Diêm Diệu, Diêm Yến đều lập khanh hiệu, cầm nắm quyền binh. Năm sau Diêm Hiển lại phong làm Trường xã huyện hầu. Ngoại thích lợi dụng được nắm quyền lớn trong triều, vu cho thái tử mưu phản, Hán An Đê phế thái tử mới vừa 10 tuổi, giáng thái tử làm Tế Âm Vương.
Năm 125 ( năm thứ 4 Đông Hán An Đê Diên Quang), An Đê chết, Diêm hoàng hậu không nén được, khóc lớn lên. Bọn Diêm Hiển mới nói với bà rằng: “ Không được khóc, nếu các đại thần biết là hoàng thượng đã yên giá, lập Tế Âm Vương làm vua, chúng ta còn có thẻ sông được sao?” Diêm hoàng hậu không khóc nữa, cùng ủng hộ lập cháu Hán Chương Đê là Lưu Ý lên làm Thiếu Đế, Diêm thị là hoàng thái hậu lâm triều, Diêm Hiển làm Xa kị tướng quân, ba người em chia nhau làm Vệ uý, Hiệu uý và Chấp kim ngô, uy phong nhà họ Diêm hiển hách một thời.
Thiếu Đế ở ngôi 8 tháng thì chết, Trung thường thị Tôn Trinh bí mật liên lạc với Trung hoàng môn đoạt lại quyền trong tay ngoại thích, đón thái tử Lưu Bảo về triều, tôn là Hán Thuận Đê
Sau khi Hán Thuận Đê lên ngôi, đã ra lệnh cho Vũ lâm quân giết chết Vệ uý Diêm Cảnh, buộc Diêm hoàng thái hậu phải giao ngọc tỷ, lại phái người phái binh bắt Diêm Hiển, Diêm Diệu, Diêm Yến hạ ngục rồi xử tử từng người. Diêm hoàng thái hậu bị giam lỏng trong Ly cung, đến năm 126 ( năm đầu Hán Thuận Đê Vĩnh Kiến) thi chết.
CAM PHU NHÂN
( 188 – 209?)
Hoàng hậu của Chiêu Liệt Đế nhà Thục Hán
 
Cam phu nhân, người đất Bái ( nay là huyện Bái tỉnh Giang Tô), Hoàng hậu của Chiêu Liệt Đế Lưu Bị nhà Thục Hán, được phong là “ Ngọc chất nhu cơ, thái mỵ dung dã”, khen về vẻ đẹp của bà, là một trong những người đẹp nổi tiếng thời Tam Quốc
Cuối đời Đông Hán, Lưu Bị dấy binh trấn áp quaan khởi nghĩa Hoàng Cần, được phong An hỷ Ý. Sau đến nương nhờ Công Tôn Toản, đựoc thay thế làm chức quan cai trị 2 châu Dự Châu và Từ Châu. Nhân người vợ trước đã chết, mến sắc đẹp của Cam thị, cưới Cam thị ở đất Bái làm phu nhân.
Năm 206, sinh Lưu Thiện ( sau là Hậu chủ nước Thục), lúc dó chừng 20 tuổi
Năm 208 ( năm tứ 13 Kiến An Hiến Đế Đông Hán) Tào Tháo mang tinh binh, ngày đi đêm đi 300 dặm, đuổi kịp  tại Đương Dương Trường bản  ( nay là đông bắc huyện Đương Dương tỉnh Hồ Bắc). Trong lúc nguy cấp Lưu Bị bỏ chạy, Cam phu nhân và Lưu Thiện nhờ Triệu Vân bảo hộ mới an toàn.
Cam phu nhân  rất được Lưu Bị sủng ái, có người ở Hà Nam tặng Lưu Bị một pho người ngọc cao 3 thước, đặt người ngọc trên ngự sàng lấy người ngọc so sánh với màu da trắng nõn của Cam phu nhân, suốt ngày ngắm nghía. Cam phu nhân nói với Lưu Bị:” thời xưa Tư Hãn không lấy ngọc báu, được người đời khen ngợi, nay nước  Ngô và Nguỵ chưa tiêu diệt, xin đừng vì thưởng ngoạn đồ chơi mà táng chí”. Lưu Bị nghe theo, dẹp bỏ người ngọc, cho những cô gái vốn được yêu quí ra ngoài. Trong triều khen ngợi  là người đàn bà giỏi ( thần trí phu nhân).
Khỏng năm 209, Cam phu nhân chết, táng ở Nam quận (nay là phía Bắc huyện Giang Lăng tỉnh Hồ Bắc). Năm 222 ( năm thứ 2 Hán Chiêu Liệt Đế Chương Vũ nước Thục – Tam Quốc) được truy thụy là “ Hoàng tư phu nhân”, thiên về táng tại đất Thục, năm sau truy phong “ Chiêu Liệt hoàng hậu”.
DƯƠNG HIẾN DUNG
(không rõ năm sinh và mất)
Hoàng hậu của Lưu Diệu nhà Tiền Triệu
 
Dương Hiến Dung, người Nam Thành, Thái Sơn ( nay là huyện Ninh Dương, tỉnh Sơn Đông), con gái của Dương Huyền Chi. Hoàng hậu của Lưu Diệu nhà Tiền Triệu.
Dương Hiến Dung nguyên là Hoàng hậu của Tấn Huệ Đế trong cái “ loạn bát vương”. Dương hoàng hậu nhiều lần bị phế lập, thậm chí một lần bị Hà Gian Vương Tư Mã Ngưng bắt tội chết, sau nhờ Tư lệnh hiệu úy Lưu Đôn, Thượng thư bộc xạ Tuân Phiên.... cứu mới khỏi nạn. Tấn Huệ Đế về Lạc Dương, rước Dương hậu trở lại ngôi cũ. Không lâu lại bị quan Lệnh Lạc Dương là Hà Kiều phế bỏ, đến khi Trương lương phủ đến Lạc Dương, mới khôi phục ngôi cho Dương Hiến Dung.
Năm 306 ( năm thứ 3 Tấn Huệ Đế Vĩnh Hưng), Huệ Đế bị Đông hải Vương Tư Mã Việt đánh thuốc độc chết, em là  Tư Mã Xí được kế lập là Tấn Hoài Đế, tôn Dương thị làm hoàng thái hậu, ở cung Hoằng Điều.
Năm 311 (năm thứ 5 Tấn Hoài Đế Vĩnh Gia), Lưu Diệu đánh vào, Tấn Hoài Đế bị bắt, Dương Hiến Dung cũng bị cướpvề làm vợ. Sau khi về với Lưu Diệu, Dương Hiến Dung sinh con là Lưu Hi.
Năm 318 (Đông Tấn Nguyên Đế Đại Hưng nguyên niên), Lưu Diệu xưng đế hiệu.
Năm thứ 2, Lưu Diệu thiên đô về Trường An, đổi Hán làm Triệu, sử gọi là Tiền Triệu. Sách lập Dương thị làm hoàng hậu, lập Lưu Hi làm hoàng thái tử.
Có một lần, hỏi rằng: “ So sánh ta và Tư Mã Trung (Tấn Hoài Đế), nàng thích ai?”. Đáp:” Hai người không thể so sánh”. Nghĩ rằng Dương Hiến Dung còn nhớ người chồng cũ, tỏ ý không vui. Lại hỏi: “ Vì sao lại không thể so sánh?”. Dương thị đáp: “ Bệ hạ là vị vua khai quốc, ông ta là vị vua vong quốc, đừng nói việc bảo vệ xã tắc, đến cả vợ con và thân mình cũng không bảo vệ nổi. Từ ngày tôi về đây với hoàng thượng, mới biết được có bậc chân chính trượng phu trong thiên hạ”. Lưu Diệu nghe xong rất vui càng thêm sủng ái.
Sau Dương hoàng hậu chết, đựoc truy thụy là “ Hán Văn hoàng hậu”, Lưu Diệu điều động 6 vạn dân phu, hao phí cả ức, mất 100 ngày, lập Hiển Bình lăng rất lớn để an táng. Rồi tu sửa Vĩnh Viên lăng của Dương Huyền Chi, thân phụ Dương hoàng hậu. Việc tạo lập 2 lăng mộ lớn làm nhọc sức dân chúng, hao tổn của cải, bị dân chúng chê trách.
Dương Hiến Dung một người mà làm hoàng hậu cho hai nước, ấy là việc ít thấy trong lịch sử.
TIÊU THỊ
(? – 847)
Hoàng hậu của Đường Mục Tông
Tiêu Thị, người ở Phúc Kiến, là hoàng hậu của Đường Mục Tông Lý Hằng. Lý Hằng con thứ ba của Đường Hiến Tông, được phong là Kiến An Vương, Tiêu Thị được triệu làm thị nữ cho Kiến An Vương.
Năm 809 ( năm thứ 4 Đường Hiến Tông Nguyên Hoà), sinh hoàng tử Lý Ngang ( sau là Văn Tông). Năm 820 (năm thứ 15 Đường Hiến Tông Nguyên Hoà) Hiến Tông chết
 
 
 
 
 

 
Đăng nhập để trả lời
0
HOẮC THÀNH QUÂN
( trước 86 – 53 trước công nguyên)
Hoàng hậu của Hán Tuyên Đế
 
Hoắc Thành Quân, con gái của Hoắc Quang, do nha đầu Hiển Nhi sinh ra, là hoàng hậu của Hán Tuyên Đế Lưu Trân.
Năm 74 trước công nguyên ( năm Nguyên Bình nguyên niên Hán Chiêu Đế), Lưu Trân lên ngôi là Hán Tuyên Đế, chuẩn bị lập hoàng hậu, các quan đại thần cho là con gái nhỏ của đại tướng quân Hoắc Quang là Hoắc Thành Quân rất xứng đáng. Hán Tuyên Đế không nói gì. Chỉ bảo vị đại thần đem cây kiếm cũ đến cho vua, rồi Hán Tuyên Đế lật qua lật lại, vuốt ve thanh bảo kiếm. Các đại thần hiểu ý đức vua, rằng vua nghĩ đến người vợ kết tóc đã từng cùng chung hoạn nạn là Hứa Bình Nguyên, bèn lập Hứa thị làm hoàng hậu.
Kế thất của Hoắc Quang là Hiển Nhi ( vợ của Hoắc Quang chết, nha đầu Hiển Nhi được sung vào làm kế thất) vẫn quyết tâm tìm cách phế Hứa hoàng hậu, để cho con gái mình là Hoắc Thành Quân được thay ngôi  làm hoàng hậu. Năm 71 trước công nguyên ( năm thứ 3 Hán Tuyên Đế Bổn Thủy), Hứa hoàng hậu lâm sản, Hiển Nhi mua chuộc nữ ngự y là Thuần Vu Diễn đánh thuốc độc Hứa hậu, rồi năm 70 trước công nguyên, lập Hoắc Thành Quân làm hoàng hậu. Như thế, quan hệ ngoại thích hoá ra phức tạp. Trong hoàng thất, Hoắc hoàng hậu là cháu dâu của Thượng Quang Thị, phải tôn Thượng Quang Thị làm thái hoàng thái hậu. Nếu theo vai vế của họ Hoắc thì là dì Hoắc hoàng hậu của Thượng Quang Thị. Như thế, thái hoàng thái hậu Thượng Quang Thị phải nhượng mấy phần với Hoắc hoàng hậu.
Sau khi mất Hoắc Quang, con trai Hoắc Vũ, cháu là Hoắc Sơn, Hoắc Vân đều được phong hầu, nhưng Hiển Nhi, mẹ của Hoắc hoàng hậu vẫn chưa mãn ý, hy vọng con gái mình sinh hoàng tử tương lai có thể nối ngôi vua. Nhưng Hoắc Thành Quân lâu không sinh nở được, Hán Tuyên Đế không thể chờ đợi được, bèn lập Lưu Thích – con của Hứa hoàng hậu lên làm thái tử. Hoắc hoàng hậu mưu toan giết thái tử nhưng vì Hán Tuyên Đế cẩn thận đề phòng nên không thực hiện được.
Năm 66 trước công nguyên ( năm thứ 4 Hán Tuyên Đế Địa Tiết), vụ án đầu độc Hứa hoàng hậu bị phát giác, Hoắc Vũ mưu phản không thành bị tội chém, mẹ của Hoắc Thành Quân là Hiển Nhi bị ghép vào tử tội, Hoắc Sơn, Hoắc Vân sợ tội, uống thuốc độc tự sát.
Hoắc thị thì bị phế ngôi hoàng hậu, cho ở cung Chiêu Đài. Năm 53 trước công nguyên ( năm Hán Tuyên Đế Cam lộ nguyên niên) lại bị biếm đến Lâm Vân quán. Người đàn bà độc ác dựa vào mẹ mình dùng kế giết Hứa hoàng hậu để lên ngôi hoàng hậu và nhiều lần mưu hại thái tử, cuối cùng tự sát chết năm 33 tuổi.
 
VƯƠNG CHÍNH QUÂN
(71 trước công nguyên – 31 công nguyên)
Hoàng hậu của Hán Nguyên Đế
 
Vương Chính Quân, người đất Nguyên Thành - Ngụy quận ( nay là huyên Chính Định tỉnh Hà Bắc), là thứ nữ của Dương Bình hầu Vương Cấm, là hoàng hậu của Hán Nguyên Đế Lưu Thích, tính bà nhu nhược, không có chủ kiến.
Vương Chính Quân xuất thân từ nhà quan quyền, cha bà từng làm Đình úy sử ( thư kí pháp đình). Vương Cấm nghiện rượu, hiếu sắc, cưới mấy bà vợ nhỏ, sinh 4 gái 8 trai. mẹ của Vương Chính Quân là Lý thị, thất sủng đã lâu, phải li hôn, cải giá làm vợ Tuân An.
Vương Chính Quân từ nhỏ thiếu tình thương của mẹ, hơn 10 tuổi đã bị cha gả lấy chồng, chưa kịp cưới thì chồng bị chết. Cải giá làm cơ thiếp của Đông Bình Vương, chưa vào phủ thì Đông Bình Vương cũng chết.
Năm 53 trước công nguyên( năm Hán Tuyên Đế Cam lộ nguyên niên), Vương Chính Quân được tuyển vào cung, gặp lúc ái phi của thái tử Lưu Thích là Tư Mã thị chết, Lưu Thích rất đau buồn. Hán Tuyên Đế sợ thái tử quá đau buồn, khiến hoàng hậu chọn 5 cung nữ để thái tử tuyển phi tử. Vương Chính Quân cũng được liệt vào số đợi tuyển, bà ta mặc một bộ đồ hồng thêu hoa rất đẹp, lại được ngồi chỗ rất gần thái tử. Thái trử còn đang buồn nhớ ái phi, không có chủ ý kén chọn phi tử. Hoàng hậu ở bên cạnh hối thúc, Lưu Thích tùy tiện chỉ một người cung nữ ở bên mình. Như thế, Vương Chính Quân được chọn làm phi cho thái tử một cách dễ dàng.
Năm 51 trước công nguyên( năm Hán Tuyên Đế Cam lộ nguyên niên thứ 3), Vương Chính Quân sinh Lưu Ngao, từ đó địa vị ngày một tôn vinh.
Tháng 12 năm 49 trước công nguyên, Lưu Thích lên ngôi Hán Nguyên Đế, phong Vương Chính Quân là Tiệp dư, 3 ngày sau lại được lập làm hoàng hậu. Sự kết hợp của Vương Chính Quân và Lưu Thích không có cảm tình thật sự nên sau đó, Hán Nguyên Đế yêu Phó Chiêu Nghi, thì Vương Chính Quân bị thất sủng. Do nhu nhược, Vương Chính Quân không tranh giành ghen tuông, mới chiếu lệ ban cho ân điển cho gia tộc hoàng hậu, nên nhà họ Vương được phong tước vương đến 10 người, đó là cội rễ cái hoạ ngoại thích chuyên quyền cuối đời Tây Hán.
Năm 33 trước công nguyên (Hán Nguyên Đế Cảnh Ninh nguyên niên), Nguyên Đế chết, Lưu Ngao nối ngôi là Hán Thành Đế, tôn vương thị làm hoàng thái hậu. Cháu của Vương thái hậu là Vương Mãng có thủ đoạn biến trá, phong làm Tân đô hầu, từ chứ Thị trung Quang lộc đại phu thăng lên Đại tư mã.
Sau khi Thành Đế chết, các vua nối ngôi như Ai Đế, Bình Đế đến hoàng đế cuối cùng là Lưu Anh, liên tiếp phong Vương thị là Thái hoàng thái hậu, trong khi đó Đại tư mã Vương Mãng nắm thực quyền.
Năm tứ 8 công nguyên, Vương Mãng ép buộc cô là Thái hoàng thái hậu Vương thị phải giao quốc tỷ, tự lập làm vua, lập ra tân triều.
Vương Chính Quân sinh ra từ đời Hán Tuyên Đế, trải qua 7 triều đại, qua nhiều tang thương. Bà tuy không có tham vọng chính trị, nhưng tầm thường bất tài, yếu mềm không cương quyết, cuối cùng đánh mất giang sơn triều Hán của họ Lưu.
Năm 13 công nguyên ( Tân triều Thủy Kiến quốc 5 năm), Vương Chính Quân chết năm 84 tuổi. Bà là vị hoàng hậu sống lâu nhất trong lịch sử.
 
VƯƠNG CHIÊU QUÂN
( không rõ năm sinh và chết)
Thiền Vu hậu Hô Hàn Tà, dân tộc Hung Nô
 
Vương Chiêu Quân, họ Vương tên Tường, người đất Tử Quy – Nam Thuận ( nay là huyện Hưng Sơn tỉnh Hồ Bắc), là Thiền Vu hậu Hung Nô Hô Hàn Tà. Bà là người đẹp nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc.
Vương Chiêu Quân xuất thân từ một gia đình nông dân bình thường, năm đầu của Hán Nguyên Đế được Vương Chiêu Quân tuyển vào cung. Theo truyền thuyết, thời Hán Nguyên Đế, trong hậu cung có rất nhiều phi tần. Để nhà vua dễ chọn lựa, họa sư Mao Diên Thọ mới vẽ hình số cung nữ ghép vào thành một tập đồ hình trình lên vua xem.
Mao Diên Thọ cấu kết với hoạn quan, làm tiền các cung nữ, đến 10 vạn tiền. Có tiền thì được vẽ tướng mạo đẹp lên, không tiền thì vẽ tướng mạo xấu đi.Vương Tường không muốn vì tiền mới được tiến thân, bị Mao Diên Thọ vẽ cho xấu đi, bị đưa vào lãnh cung, chưa được gần vua.
Năm 33 trước công nguyên (Hán Nguyên Đế Cảnh Ninh nguyên niên), Thiền Vu Hô Hàn Tà nước Hung Nô đến Trường An hầu Hán Nguyên Đế, dể bàn về an ninh biên giới, lấy đó làm điều kiện hoà thân.
Đăng nhập để trả lời
0