Lí luận văn học Mác-xít trong bối cảnh toàn cầu hóa tri thức
Trần Đình Sử
Lí luận văn học mác xít hơn một thế kỷ qua gắn bó với văn học cách mạng nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Chúng ta đã hít thở nó như khí trời. Nhưng bước vào thời kỳ phát triển văn học, văn hóa dân tộc trong bối cảnh giao lưu rộng mở như hôm nay, chúng ta cảm thấy gò bó. Có một số người hoài nghi, có hay không lí luận văn học mác xít. Có ý kiến lại cho rằng nếu ghép hai chữ "mác xít" vào sau khoa học nào thì sẽ trói buộc, hạn chế sự phát triển của khoa học ấy. Theo tôi nghĩ, bất cứ triết học nào, một khi đã đạt được một tính khoa học phổ quát nhất định, đều có ảnh hưởng đến việc hình thành những lĩnh vực lí luận cụ thể, và mở ra hướng mới cho sự phát triển lí luận của chuyên ngành ấy. Lí luận văn học mác xít là sản phẩm của quy luật ấy và đã ảnh hưởng tới quan niệm văn nghệ của các nhà lãnh đạo cộng sản nhiều nước, làm nảy sinh các nhà lí luận văn học cách mạng nhiều nước, và cũng xuất hiện nhiều học giả mác xít trên thế giới. Thực tế đó không cho phép ta phủ nhận được lí luận văn học mác xút như một dòng lí luận trong lí luận văn học thế kỷ XX. Có thể nói lí luận văn học mác xít lấy các nguyên lí của chủ nghĩa Mác làm nền tảng để nghiên cứu các vấn đề của văn học. Đó là nguyên lí về thượng tầng kiến trúc và hạ tầng cơ sở, văn học là hình thái ý thức xã hội, ý thức là sự phản ánh của thực tại, chức năng nhận thức, giáo dục của văn học nghệ thuật, quan điểm thực tiễn và quan điểm lịch sử trong đánh giá các hiện tượng nghệ thuật, tính khuynh hướng của văn học, vai trò của văn học trong cuộc đấu tranh giải cấp, tính đảng cộng sản, quan điểm nội dung quyết định hình thức… Các quan điểm của C.Mac, F.Ăng-ghen, V.Lê-nin về chủ nghĩa hiện thực, về sự nhân hóa tự nhiên, về sự sáng tạo theo quy luật của cái đẹp, về các phương thức chiếm lĩnh thế giới, về bi kịch cách mạng, về tác động của nghệ thuật trong việc sáng tạo ra công chúng biết thưởng thức nghệ thuật… cũng đều được vận dụng, phát triển. Phải nói rằng đó là những tư tưởng khoa học sâu sắc, cơ bản, xứng đáng làm nền tảng cho những lí luận văn học cụ thể và thực tế đã có những lí luận như thế. Đáng tiếc là không phải bao giờ chúng cũng được vận dụng đúng đắn và thích hợp. Trên cơ sở các nguyên lí nói trên nhiều nhà lí luận mác xít còn phát triển thành các nguyên lí văn học như văn học phục vụ chính trị của giai cấp vô sản và đảng của nó, lí luận về tư duy hình tượng, về điển hình hóa, phân biệt chủ nghĩa lãng mạn tích cực và chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực, đề xướng khái niệm phương pháp sáng tác, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, coi đó là phương pháp sáng tác tốt nhất, tiến bộ nhất của nhân loại, chủ trương văn học phản ánh các xu hướng bản chất của xã hội, như cuộc đấu tranh giữa hai con đường, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hình tượng nhân vật anh hùng của thời đại để giáo dục, cổ vũ nhân dân, khẳng định vai trò quyết định của thế giới quan và vốn sống đối với sáng tác. Đối với sáng tác của chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại cũng như các lí luận "phi mác xít" phương Tây nói chung đều bị phủ định. Nếu có khẳng định một hiện tượng văn học lớn nào phi mác-xít thì đưa nó vào phạm vi chủ nghĩa hiện thực hoặc văn học cách mạng. Lí luận văn học mác xít ở các nước xã hội chủ nghĩa do hoàn cảnh lịch sử cụ thể chủ yếu phục vụ cho cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh ý thức hệ, đấu tranh giải phóng dân tộc và đã có tác dụng to lớn trong đấu tranh cách mạng. Lí luận mác xít trong bối cảnh xã hội phương Tây lại phát triển những vấn đề chuyên sâu khác. G.Lukacs tập trung nghiên cứu lí luận phản ánh hiện thực về mặt thẩm mĩ, phản đối khuynh hướng minh họa các tư tưởng chính trị. Benjamin nghiên cứu nghệ thuật trong quan hệ sản xuất và tiêu dùng, Adorno phát triển phép biện chứng phủ định, khẳng định vai trò của mâu thuẫn, xem tính đồng nhất là giả tạo, do đó nhấn mạnh tới bản chất phủ định hiện thực của văn học trong việc sáng tạo một thế giới chưa từng có đối với hiện thực. Ông khẳng định tính phi thực tại, khác thực tại, tính phi mô phỏng, phi phản ánh của văn học, đồng thời khẳng định tính xã hội, tính tự chủ, tính dự báo, tính chủ thể, tính tinh thần, tính phi khái niệm, tính không xác định và tính khó hiểu của văn học. Marcuse cũng khẳng định bản chất phủ định hiện thực của văn học và vai trò sáng tạo tính cảm tính mới, vai trò giải thoát tâm hồn cho con người. Gramsci nghiên cứu quan hệ văn học và xã hội, nêu khẩu hiệu văn học dân tộc và nhân dân, khẳng định sự thống nhất hữu cơ của hình thức và nội dung. Sarthe là nhà "mác xít hiện sinh", ông liên hệ văn học với tự do và tồn tại, khẳng định "viết là phương thức để đòi hỏi tự do", xem nghệ thuật là sự nhìn nhận lại thế giới một cách tự do. Ông cho rằng trong chủ nghĩa Mác có một khoảng trống về con người và đem bản thể con người lấp đầy vào đó. Ông chủ trương văn học phải nói lên tất cả những gì thuộc về con người, đồng thời khẳng định tính chất tưởng tượng, hư cấu của văn học. Sartre cho rằng nhà văn là người phát ngôn, cho nên anh ta phải phơi bày xã hội, tham dự vào đời sống xã hội. Ông phủ nhận cái gọi là nghệ thuật vị nghệ thuật, cho đó là nói bậy. Theo ông, văn học dấn thân vì tự do, phê phán xã hội đen tối, tham gia đấu tranh chính trị, phát huy chức năng phê phán của văn học. Ông chủ trương nghệ thuật chỉ có vì người khác thì mới có được tính nghệ thuật. Macherey có một quan điểm rất độc đáo. Ông cho rằng văn học viết ra là vì sự "im lặng", chúng ta cần khám phá cái chưa hoặc không được biểu đạt trong tác phẩm là gì. Theo ông phân tích văn học không nên giới hạn trong những điều được nói ra, mà nên nhìn vào chỗ nhà văn im lặng, và đó cũng là cách thể hiện tính ý thức hệ của văn học. Về hình thức và cấu trúc ông có quan niệm độc đáo.Ông phản đối quan niệm phổ biến về cấu trúc và quan niệm về tính chỉnh thể hữu cơ. Theo ông, trong cấu trúc văn học phải có một sự thiếu vắng nào đó khiến cho người đọc đọc tác phẩm như giải một câu đố. L.Goldmann liên hệ sâu sắc với nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác, đưa ra định nghĩa tác phẩm là một "cấu trúc có ý nghĩa", ý nghĩa đó, một mặt, gắn với các yếu tố của cấu trúc, mặt khác liên hệ với toàn bộ xã hội. Cấu trúc này do đó có tính mở, liên hệ với các phương diện đồng đại và lịch đại. F.Jameson xem chủ nghĩ hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại đều là sản phẩm của các giai đoạn phát triển khác nhau của chủ nghĩa tư bản. Ông phân biệt chủ nghĩa hậu hiện đại và chủ nghĩa hiện đại ở chỗ, cái sau xa rời chính trị hơn, khó giải thích hơn, ranh giới phân biệt giữa nghệ thuật cao cấp và nghệ thuật đại chúng ít hơn, tài năng nghệ thuật ít được coi trọng hơn… Ông khẳng định đẹp chỉ là hình thức của hình thức, nội dung là hình thức bên trong mang nghĩa ở tầng sâu của tác phẩm. T.Eagleton hiểu "văn học là hình thái ý thức xã hội" theo một ý nghĩa sâu hơn: đó là một bộ phận của cấu trúc tri giác xã hội rất phức tạp, ý thức hệ thống chỉ thể hiện trong lí giải, mà còn thể hiện ở cảm giác, đánh giá, tín ngưỡng, thị hiếu… Từ đó ông phê phán mệnh đề "văn học phản ánh hiện thực" là không xác đáng, vì nó mang tính máy móc, vì không thấy văn học không chỉ phản ánh, mà còn vượt lên hiện thực. Ông hiểu hình thức văn học bao gồm ba yếu tố: Hình thức văn học vốn có được truyền lại; hình thức kết tinh của ý thức hệ; hình thức là một mối quan hệ đặc thù giữa nhà văn và người đọc…
Những trình bày sơ lược trên đây cho thấy lí luận văn học mác xít là một thực tế, một hiện tượng lịch sử có quá trình hình thành, phát triển, có nhiều dòng, có phạm vi vấn đề riêng, có thành tựu và có khuyết điểm cũng như sai lầm như mọi học thuyết khác trên đời. Nội dung của lí luận văn học mác xít phong phú, đa dạng hơn hẳn những ý kiến ban đầu của Mác, Ăng-phen, Lê-nin và tất nhiên nhiều nơi nhiều lúc có không ít dung tục, ấu trĩ khó tránh. Lí luận mác xít ở các nước do Đảng cộng sản lãnh đạo thường chú trọng nội dung, chức năng xã hội, bản chất ý thức hệ mà ít quan tâm tới hình thức đặc thù, nếu có thì cũng sơ lược. Đó là điều mà chính Ăng-phen lúc sinh thời đã từng tự phê bình là "vì nội dung mà coi nhẹ hình thức". Lí luận này thường coi trọng bản chất xã hội mà coi nhẹ cá tính sáng tạo của nhà văn, nặng về nhận thức luận mà nhẹ về sáng tạo thẩm mĩ, coi trọng chức năng phục vụ chính trị mà coi nhẹ đặc trưng nghệ thuật. Điều đặc biệt là lí luận văn học mác xít ở các nước này được đặt vào vị trí độc tôn, bài xích các lí luận gọi là phi mác xít, tạo thành một vùng biệt lập, cách ly, làm cho nó luôn luôn ở vào tình trạng buộc phải tự vạch rõ ranh giới và đấu tranh với các lí luận khác, kết quả là tự làm cho mình nghèo đi và chậm phát triển. Lí luận văn học mác xít phương Tây trong điều kiện phát triển riêng, có nhiều điều độc đáo, táo bạo, song cũng không tránh khỏi những ngộ nhận, bất cập. Đó là điều bình thường, chứng tỏ nó là một hiện tượng đang vận động, đang tự vượt lên chính mình.
Nhìn trong tổng thể lí luận văn học thế giới của thế kỷ XX lí luận văn học mác xít dù quan trọng, cơ bản như thế nào cũng chỉ là một trường phái, một khuynh hướng trong nhiều trường phái. Tự nó không thể trở thành toàn bộ lí luận văn học của nhân loại, không thể giải quyết tất cả các vấn đề của lí luận văn học hiện đại. Các lí luận khác như phân tâm học S.Freud, vô thức tập thể của Jung, triết học văn hóa của E.Cassirer, lí thuyết ký hiệu học nghệ thuật của S.Langer, lí thuyết tiếp nhận của H.Jauss, W.Iser, lí thuyết giải thích học của Gadamer, lí thuyết tự sự học của R.Barthes, Tz.Todorov, G.Genette… đều góp phần giải quyết từng vấn đề cụ thể, có ý nghĩa để lí giải văn học từ nhiều phương diện. Vì thế vận dụng các lí luận đó để bổ sung, làm giàu cho lí luận văn học mác xít là điều rất cần thiết. Phạm vi lí luận văn học rõ ràng là rộng hơn lí luận văn học mác xít, vì thế đóng khung lí luận văn học trong phạm vi lí luận văn học mác xít là làm nghèo lí luận văn học của nước nhà. Đã đến lúc phải thừa nhận nhiều nguồn lí luận văn học có giá trị khoa học, tránh thái độ kỳ thị trước các lí luận gọi là phi mác xít.
Để phát triển lí luận văn học Việt Nam hiện đại, điều đầu tiên là cần nhìn lại thật rõ những thành tựu và hạn chế của lí luận văn học mác xít trên thế giới và trong nước trong thời gian qua để phát huy và khắc phục. Điều này rất quan trọng, bởi vì chúng ta đã coi lí luận mác xít là lí luận cơ bản, có vai trò chỉ đạo, nếu những hạn chế, sai lầm của nó không được chỉ ra thì chính những hạn chế, sai lầm kia sẽ phát huy vai trò chỉ đạo và gây khó khăn cho sự nghiệp xây dựng nền văn học tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Theo chúng tôi cảm thấy thì hình như không ít người trong chúng ta chưa sẵn sàng làm một cuộc tổng thanh toán, nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá một cách khách quan, khoa học các sự thật. Nếu quả như thế thì sự nghiệp xây dựng nền lí luận văn học phong phú, cởi mở, giàu tính nhân văn của chúng ta chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn.
Điều thứ hai, khuyến khích phiên dịch, giới thiệu các loại lí luận quan trọng hiện có trên thế giới, khuyến khích xây dựng và vận dụng nhiều loại lí luận văn học vào thực tiễn phê bình và nghiên cứu văn học của ta. Bước đầu tất không tránh khỏi thô sơ, song không qua cái bước đó chúng ta sẽ không có được một nền lí luận và phê bình phong phú đa dạng. Trong công việc phức tạp và khó khăn này tất nhiên không được cẩu thả, tùy tiện, làm liều, nói liều; nhưng cũng nên tránh thái độ cầu toàn, bởi điều kiện nước ta còn lâu mới thoát khỏi những hạn chế khách quan và chủ quan. Thái độ cầu toàn nhiều khi chỉ là biểu hiện của tự ti, bất lực trước các tri thức mới, quay lưng, co cụm, rồi tự bằng lòng với các lí luận cũ. Trong phiên dịch, nếu dịch được chuẩn xác là tốt nhất, song nếu vừa học vừa dịch, có điều chưa thỏa đáng cũng không sao, vì người khác sẽ điều chỉnh. Sợ nhất là thái độ tự ti, không dám làm gì. Chúng ta ngày nay đã và đang có nhiều thế hệ được đào tạo chính quy ở trong nước và nước ngoài, có thể làm được công việc phiên dịch.
Điều thứ ba là chúng ta có thể lưu ý học tập lí luận văn học hiện đại từ Trung Quốc, một bộ lọc vĩ đại, một đất nước có đội ngũ lí luận hùng hậu và có truyền thống lí luận thâm thúy lâu đời. Lịch sử văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc ở con đường đã qua cũng như con đường đi tới có nhiều điểm tương đồng. Nhà văn Việt Nam hiện đang hứng thú với văn học đương đại Trung Quốc, đặc biệt là tiểu thuyết, lí luận của họ chắc có nhiều gợi ý bổ ích cho ta.
Điều thứ tư, chúng ta có thái độ khuyến khích, xây dựng đối với những người làm lí luận. Có lẽ Nhà nước cần có một chương trình riêng, dự án riêng để phát triển lí luận. Có kế họach, có kinh phí để mời các chuyên gia lí luận hàng đầu của nước ngoài sang Việt Nam giảng bài và trao đổi ý kiến, tổ chức hội thảo lí luận quốc tế tại Việt Nam. Cho đến hôm nay có lẽ lí luận văn học là ngành chưa hề được Nhà nước đầu tư bao giờ.
Điều thứ năm, cũng cần thay đổi tận gốc thái độ kì thị đối với lí luận văn học nước ngoài. Cho đến nay, trong bối cảnh giao lưu mới, nỗi lo sợ ảnh hưởng xấu của tư tưởng phi mác xít vẫn ám ảnh sâu sắc trong không ít người. Họ vẽ ra nhiều điều cần cảnh giác để hạn chế việc giới thiệu lí luận văn học phương Tây. Thiết nghĩ, cảnh giác nhiều khi cũng cần thiết, song trong khoa học ta nên đối thoại. Tôi xin lưu ý là đối thoại, chứ không phải là tiếp thu có phê phán. Đối thoại đòi hỏi biết tôn trọng và lắng nghe người khác, biết chờ đợi những điều chưa biết. Người khác là một phạm trù văn hóa. Còn cái gọi là "phê phán" để tiếp thu thực chất là tự cho ta đã biết hơn người và lấy quan điểm địch- ta mà xét vấn đề khoa học. Nếu coi nhẹ đối thoại mà coi trọng phê phán thì có nghĩa là đặt lên hàng đầu quan hệ địch ta mà coi nhẹ quan hệ ta với người khác trong lĩnh vực văn hóa. Hiển nhiên là cái phi mác-xít không đồng nghĩa với cái phi khoa học và cái thù địch. Do đó thái độ phê phán kiểu địch – ta đó là không lợi cho sự tiến bộ. Tất nhiên trong đời sống chính trị hiện nay cảnh giác là một điều cần thiết. Nhưng tôi cho rằng nỗi lo sợ tràn lan có tên là cảnh giác kia đối với các lí luận phương Tây thực chất là mặc cảm tự vệ, tự ti thâm căn cố đế trong tâm lí của các nước nhược tiểu đối với các nước tư bản phương Tây, một tâm lí của thời còn thuộc địa, tiền hội nhập, rất lạc lõng với thời đại toàn cầu hóa tri thức như hôm nay, nhưng người mang tâm lí đó lại làm ra vẻ mình đứng cao hơn tất cả! Còn nhớ tiến sĩ Hoàng Đức Lương trong bài Tựa sách Trích diễm thi tập cuối thế kỷ XV có nói tới nguyên nhân vì sao thơ Việt Nam không được ghi lại, trong đó ngoài nguyên nhân binh lửa và kĩ thuật, còn có ba nguyên nhân đáng suy nghĩ: Một là kén người đọc, hai là phải có chiếu chỉ của vua thì mới được in và ba là hễ thấy ai sưu tập thì chê cười. ở ta hiện nay tâm lí ngại lí luận còn nặng, lẽ cố nhiên là lí luận kén người đọc. Mặc cảm tự ti nhược tiểu vẫn còn nặng trong không ít người. Tâm lí muốn cấm đoán cũng vẫn còn. Những điều như thế là không thuận lợi cho lí luận phát triển.
Cuối cùng, điều thứ sáu, tôi nghĩ, đã đến lúc cần thành lập một tổ chức nghề nghiệp của những người làm nghề lí luận – Hội nghiên cứu và giảng dạy lí luận văn học, đoàn kết những người cùng nghề nghiệp, cổ vũ, khích lệ nhau, cùng phấn đấu cho một nền lí luận văn học phong phú và tiến bộ của nước nhà. Một đề nghị chính đáng như thế đã được nêu ra cách đây đúng 15 năm mà đến nay vẫn chưa được toại nguyện.
Một nền lí luận trì trệ là nền lí luận không đem lại quan niệm nào mới cho người ta suy nghĩ, không vạch được phương hướng cho tư duy và sáng tạo văn học. Một nền văn học trì trệ thì nó cũng không có nhu cầu lí luận để làm gì. Chúng ta đang cần lí luận văn học, đang trao đổi để phát triển lí luận văn học, đó thật là một triệu chứng tốt đẹp, đáng mừng. Nó nói lên rằng văn học ta đang cựa quậy, đang phát triển, đang đòi hỏi được ý thức từ tầm cao của lí luận được quan tâm để có hi vọng vươn lên đáp ứng được phần nào đòi hỏi tốt đẹp ấy của thời đại.
(Báo Văn nghệ)
Trần Đình Sử
Lí luận văn học mác xít hơn một thế kỷ qua gắn bó với văn học cách mạng nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Chúng ta đã hít thở nó như khí trời. Nhưng bước vào thời kỳ phát triển văn học, văn hóa dân tộc trong bối cảnh giao lưu rộng mở như hôm nay, chúng ta cảm thấy gò bó. Có một số người hoài nghi, có hay không lí luận văn học mác xít. Có ý kiến lại cho rằng nếu ghép hai chữ "mác xít" vào sau khoa học nào thì sẽ trói buộc, hạn chế sự phát triển của khoa học ấy. Theo tôi nghĩ, bất cứ triết học nào, một khi đã đạt được một tính khoa học phổ quát nhất định, đều có ảnh hưởng đến việc hình thành những lĩnh vực lí luận cụ thể, và mở ra hướng mới cho sự phát triển lí luận của chuyên ngành ấy. Lí luận văn học mác xít là sản phẩm của quy luật ấy và đã ảnh hưởng tới quan niệm văn nghệ của các nhà lãnh đạo cộng sản nhiều nước, làm nảy sinh các nhà lí luận văn học cách mạng nhiều nước, và cũng xuất hiện nhiều học giả mác xít trên thế giới. Thực tế đó không cho phép ta phủ nhận được lí luận văn học mác xút như một dòng lí luận trong lí luận văn học thế kỷ XX. Có thể nói lí luận văn học mác xít lấy các nguyên lí của chủ nghĩa Mác làm nền tảng để nghiên cứu các vấn đề của văn học. Đó là nguyên lí về thượng tầng kiến trúc và hạ tầng cơ sở, văn học là hình thái ý thức xã hội, ý thức là sự phản ánh của thực tại, chức năng nhận thức, giáo dục của văn học nghệ thuật, quan điểm thực tiễn và quan điểm lịch sử trong đánh giá các hiện tượng nghệ thuật, tính khuynh hướng của văn học, vai trò của văn học trong cuộc đấu tranh giải cấp, tính đảng cộng sản, quan điểm nội dung quyết định hình thức… Các quan điểm của C.Mac, F.Ăng-ghen, V.Lê-nin về chủ nghĩa hiện thực, về sự nhân hóa tự nhiên, về sự sáng tạo theo quy luật của cái đẹp, về các phương thức chiếm lĩnh thế giới, về bi kịch cách mạng, về tác động của nghệ thuật trong việc sáng tạo ra công chúng biết thưởng thức nghệ thuật… cũng đều được vận dụng, phát triển. Phải nói rằng đó là những tư tưởng khoa học sâu sắc, cơ bản, xứng đáng làm nền tảng cho những lí luận văn học cụ thể và thực tế đã có những lí luận như thế. Đáng tiếc là không phải bao giờ chúng cũng được vận dụng đúng đắn và thích hợp. Trên cơ sở các nguyên lí nói trên nhiều nhà lí luận mác xít còn phát triển thành các nguyên lí văn học như văn học phục vụ chính trị của giai cấp vô sản và đảng của nó, lí luận về tư duy hình tượng, về điển hình hóa, phân biệt chủ nghĩa lãng mạn tích cực và chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực, đề xướng khái niệm phương pháp sáng tác, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, coi đó là phương pháp sáng tác tốt nhất, tiến bộ nhất của nhân loại, chủ trương văn học phản ánh các xu hướng bản chất của xã hội, như cuộc đấu tranh giữa hai con đường, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hình tượng nhân vật anh hùng của thời đại để giáo dục, cổ vũ nhân dân, khẳng định vai trò quyết định của thế giới quan và vốn sống đối với sáng tác. Đối với sáng tác của chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại cũng như các lí luận "phi mác xít" phương Tây nói chung đều bị phủ định. Nếu có khẳng định một hiện tượng văn học lớn nào phi mác-xít thì đưa nó vào phạm vi chủ nghĩa hiện thực hoặc văn học cách mạng. Lí luận văn học mác xít ở các nước xã hội chủ nghĩa do hoàn cảnh lịch sử cụ thể chủ yếu phục vụ cho cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh ý thức hệ, đấu tranh giải phóng dân tộc và đã có tác dụng to lớn trong đấu tranh cách mạng. Lí luận mác xít trong bối cảnh xã hội phương Tây lại phát triển những vấn đề chuyên sâu khác. G.Lukacs tập trung nghiên cứu lí luận phản ánh hiện thực về mặt thẩm mĩ, phản đối khuynh hướng minh họa các tư tưởng chính trị. Benjamin nghiên cứu nghệ thuật trong quan hệ sản xuất và tiêu dùng, Adorno phát triển phép biện chứng phủ định, khẳng định vai trò của mâu thuẫn, xem tính đồng nhất là giả tạo, do đó nhấn mạnh tới bản chất phủ định hiện thực của văn học trong việc sáng tạo một thế giới chưa từng có đối với hiện thực. Ông khẳng định tính phi thực tại, khác thực tại, tính phi mô phỏng, phi phản ánh của văn học, đồng thời khẳng định tính xã hội, tính tự chủ, tính dự báo, tính chủ thể, tính tinh thần, tính phi khái niệm, tính không xác định và tính khó hiểu của văn học. Marcuse cũng khẳng định bản chất phủ định hiện thực của văn học và vai trò sáng tạo tính cảm tính mới, vai trò giải thoát tâm hồn cho con người. Gramsci nghiên cứu quan hệ văn học và xã hội, nêu khẩu hiệu văn học dân tộc và nhân dân, khẳng định sự thống nhất hữu cơ của hình thức và nội dung. Sarthe là nhà "mác xít hiện sinh", ông liên hệ văn học với tự do và tồn tại, khẳng định "viết là phương thức để đòi hỏi tự do", xem nghệ thuật là sự nhìn nhận lại thế giới một cách tự do. Ông cho rằng trong chủ nghĩa Mác có một khoảng trống về con người và đem bản thể con người lấp đầy vào đó. Ông chủ trương văn học phải nói lên tất cả những gì thuộc về con người, đồng thời khẳng định tính chất tưởng tượng, hư cấu của văn học. Sartre cho rằng nhà văn là người phát ngôn, cho nên anh ta phải phơi bày xã hội, tham dự vào đời sống xã hội. Ông phủ nhận cái gọi là nghệ thuật vị nghệ thuật, cho đó là nói bậy. Theo ông, văn học dấn thân vì tự do, phê phán xã hội đen tối, tham gia đấu tranh chính trị, phát huy chức năng phê phán của văn học. Ông chủ trương nghệ thuật chỉ có vì người khác thì mới có được tính nghệ thuật. Macherey có một quan điểm rất độc đáo. Ông cho rằng văn học viết ra là vì sự "im lặng", chúng ta cần khám phá cái chưa hoặc không được biểu đạt trong tác phẩm là gì. Theo ông phân tích văn học không nên giới hạn trong những điều được nói ra, mà nên nhìn vào chỗ nhà văn im lặng, và đó cũng là cách thể hiện tính ý thức hệ của văn học. Về hình thức và cấu trúc ông có quan niệm độc đáo.Ông phản đối quan niệm phổ biến về cấu trúc và quan niệm về tính chỉnh thể hữu cơ. Theo ông, trong cấu trúc văn học phải có một sự thiếu vắng nào đó khiến cho người đọc đọc tác phẩm như giải một câu đố. L.Goldmann liên hệ sâu sắc với nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác, đưa ra định nghĩa tác phẩm là một "cấu trúc có ý nghĩa", ý nghĩa đó, một mặt, gắn với các yếu tố của cấu trúc, mặt khác liên hệ với toàn bộ xã hội. Cấu trúc này do đó có tính mở, liên hệ với các phương diện đồng đại và lịch đại. F.Jameson xem chủ nghĩ hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại đều là sản phẩm của các giai đoạn phát triển khác nhau của chủ nghĩa tư bản. Ông phân biệt chủ nghĩa hậu hiện đại và chủ nghĩa hiện đại ở chỗ, cái sau xa rời chính trị hơn, khó giải thích hơn, ranh giới phân biệt giữa nghệ thuật cao cấp và nghệ thuật đại chúng ít hơn, tài năng nghệ thuật ít được coi trọng hơn… Ông khẳng định đẹp chỉ là hình thức của hình thức, nội dung là hình thức bên trong mang nghĩa ở tầng sâu của tác phẩm. T.Eagleton hiểu "văn học là hình thái ý thức xã hội" theo một ý nghĩa sâu hơn: đó là một bộ phận của cấu trúc tri giác xã hội rất phức tạp, ý thức hệ thống chỉ thể hiện trong lí giải, mà còn thể hiện ở cảm giác, đánh giá, tín ngưỡng, thị hiếu… Từ đó ông phê phán mệnh đề "văn học phản ánh hiện thực" là không xác đáng, vì nó mang tính máy móc, vì không thấy văn học không chỉ phản ánh, mà còn vượt lên hiện thực. Ông hiểu hình thức văn học bao gồm ba yếu tố: Hình thức văn học vốn có được truyền lại; hình thức kết tinh của ý thức hệ; hình thức là một mối quan hệ đặc thù giữa nhà văn và người đọc…
Những trình bày sơ lược trên đây cho thấy lí luận văn học mác xít là một thực tế, một hiện tượng lịch sử có quá trình hình thành, phát triển, có nhiều dòng, có phạm vi vấn đề riêng, có thành tựu và có khuyết điểm cũng như sai lầm như mọi học thuyết khác trên đời. Nội dung của lí luận văn học mác xít phong phú, đa dạng hơn hẳn những ý kiến ban đầu của Mác, Ăng-phen, Lê-nin và tất nhiên nhiều nơi nhiều lúc có không ít dung tục, ấu trĩ khó tránh. Lí luận mác xít ở các nước do Đảng cộng sản lãnh đạo thường chú trọng nội dung, chức năng xã hội, bản chất ý thức hệ mà ít quan tâm tới hình thức đặc thù, nếu có thì cũng sơ lược. Đó là điều mà chính Ăng-phen lúc sinh thời đã từng tự phê bình là "vì nội dung mà coi nhẹ hình thức". Lí luận này thường coi trọng bản chất xã hội mà coi nhẹ cá tính sáng tạo của nhà văn, nặng về nhận thức luận mà nhẹ về sáng tạo thẩm mĩ, coi trọng chức năng phục vụ chính trị mà coi nhẹ đặc trưng nghệ thuật. Điều đặc biệt là lí luận văn học mác xít ở các nước này được đặt vào vị trí độc tôn, bài xích các lí luận gọi là phi mác xít, tạo thành một vùng biệt lập, cách ly, làm cho nó luôn luôn ở vào tình trạng buộc phải tự vạch rõ ranh giới và đấu tranh với các lí luận khác, kết quả là tự làm cho mình nghèo đi và chậm phát triển. Lí luận văn học mác xít phương Tây trong điều kiện phát triển riêng, có nhiều điều độc đáo, táo bạo, song cũng không tránh khỏi những ngộ nhận, bất cập. Đó là điều bình thường, chứng tỏ nó là một hiện tượng đang vận động, đang tự vượt lên chính mình.
Nhìn trong tổng thể lí luận văn học thế giới của thế kỷ XX lí luận văn học mác xít dù quan trọng, cơ bản như thế nào cũng chỉ là một trường phái, một khuynh hướng trong nhiều trường phái. Tự nó không thể trở thành toàn bộ lí luận văn học của nhân loại, không thể giải quyết tất cả các vấn đề của lí luận văn học hiện đại. Các lí luận khác như phân tâm học S.Freud, vô thức tập thể của Jung, triết học văn hóa của E.Cassirer, lí thuyết ký hiệu học nghệ thuật của S.Langer, lí thuyết tiếp nhận của H.Jauss, W.Iser, lí thuyết giải thích học của Gadamer, lí thuyết tự sự học của R.Barthes, Tz.Todorov, G.Genette… đều góp phần giải quyết từng vấn đề cụ thể, có ý nghĩa để lí giải văn học từ nhiều phương diện. Vì thế vận dụng các lí luận đó để bổ sung, làm giàu cho lí luận văn học mác xít là điều rất cần thiết. Phạm vi lí luận văn học rõ ràng là rộng hơn lí luận văn học mác xít, vì thế đóng khung lí luận văn học trong phạm vi lí luận văn học mác xít là làm nghèo lí luận văn học của nước nhà. Đã đến lúc phải thừa nhận nhiều nguồn lí luận văn học có giá trị khoa học, tránh thái độ kỳ thị trước các lí luận gọi là phi mác xít.
Để phát triển lí luận văn học Việt Nam hiện đại, điều đầu tiên là cần nhìn lại thật rõ những thành tựu và hạn chế của lí luận văn học mác xít trên thế giới và trong nước trong thời gian qua để phát huy và khắc phục. Điều này rất quan trọng, bởi vì chúng ta đã coi lí luận mác xít là lí luận cơ bản, có vai trò chỉ đạo, nếu những hạn chế, sai lầm của nó không được chỉ ra thì chính những hạn chế, sai lầm kia sẽ phát huy vai trò chỉ đạo và gây khó khăn cho sự nghiệp xây dựng nền văn học tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Theo chúng tôi cảm thấy thì hình như không ít người trong chúng ta chưa sẵn sàng làm một cuộc tổng thanh toán, nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá một cách khách quan, khoa học các sự thật. Nếu quả như thế thì sự nghiệp xây dựng nền lí luận văn học phong phú, cởi mở, giàu tính nhân văn của chúng ta chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn.
Điều thứ hai, khuyến khích phiên dịch, giới thiệu các loại lí luận quan trọng hiện có trên thế giới, khuyến khích xây dựng và vận dụng nhiều loại lí luận văn học vào thực tiễn phê bình và nghiên cứu văn học của ta. Bước đầu tất không tránh khỏi thô sơ, song không qua cái bước đó chúng ta sẽ không có được một nền lí luận và phê bình phong phú đa dạng. Trong công việc phức tạp và khó khăn này tất nhiên không được cẩu thả, tùy tiện, làm liều, nói liều; nhưng cũng nên tránh thái độ cầu toàn, bởi điều kiện nước ta còn lâu mới thoát khỏi những hạn chế khách quan và chủ quan. Thái độ cầu toàn nhiều khi chỉ là biểu hiện của tự ti, bất lực trước các tri thức mới, quay lưng, co cụm, rồi tự bằng lòng với các lí luận cũ. Trong phiên dịch, nếu dịch được chuẩn xác là tốt nhất, song nếu vừa học vừa dịch, có điều chưa thỏa đáng cũng không sao, vì người khác sẽ điều chỉnh. Sợ nhất là thái độ tự ti, không dám làm gì. Chúng ta ngày nay đã và đang có nhiều thế hệ được đào tạo chính quy ở trong nước và nước ngoài, có thể làm được công việc phiên dịch.
Điều thứ ba là chúng ta có thể lưu ý học tập lí luận văn học hiện đại từ Trung Quốc, một bộ lọc vĩ đại, một đất nước có đội ngũ lí luận hùng hậu và có truyền thống lí luận thâm thúy lâu đời. Lịch sử văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc ở con đường đã qua cũng như con đường đi tới có nhiều điểm tương đồng. Nhà văn Việt Nam hiện đang hứng thú với văn học đương đại Trung Quốc, đặc biệt là tiểu thuyết, lí luận của họ chắc có nhiều gợi ý bổ ích cho ta.
Điều thứ tư, chúng ta có thái độ khuyến khích, xây dựng đối với những người làm lí luận. Có lẽ Nhà nước cần có một chương trình riêng, dự án riêng để phát triển lí luận. Có kế họach, có kinh phí để mời các chuyên gia lí luận hàng đầu của nước ngoài sang Việt Nam giảng bài và trao đổi ý kiến, tổ chức hội thảo lí luận quốc tế tại Việt Nam. Cho đến hôm nay có lẽ lí luận văn học là ngành chưa hề được Nhà nước đầu tư bao giờ.
Điều thứ năm, cũng cần thay đổi tận gốc thái độ kì thị đối với lí luận văn học nước ngoài. Cho đến nay, trong bối cảnh giao lưu mới, nỗi lo sợ ảnh hưởng xấu của tư tưởng phi mác xít vẫn ám ảnh sâu sắc trong không ít người. Họ vẽ ra nhiều điều cần cảnh giác để hạn chế việc giới thiệu lí luận văn học phương Tây. Thiết nghĩ, cảnh giác nhiều khi cũng cần thiết, song trong khoa học ta nên đối thoại. Tôi xin lưu ý là đối thoại, chứ không phải là tiếp thu có phê phán. Đối thoại đòi hỏi biết tôn trọng và lắng nghe người khác, biết chờ đợi những điều chưa biết. Người khác là một phạm trù văn hóa. Còn cái gọi là "phê phán" để tiếp thu thực chất là tự cho ta đã biết hơn người và lấy quan điểm địch- ta mà xét vấn đề khoa học. Nếu coi nhẹ đối thoại mà coi trọng phê phán thì có nghĩa là đặt lên hàng đầu quan hệ địch ta mà coi nhẹ quan hệ ta với người khác trong lĩnh vực văn hóa. Hiển nhiên là cái phi mác-xít không đồng nghĩa với cái phi khoa học và cái thù địch. Do đó thái độ phê phán kiểu địch – ta đó là không lợi cho sự tiến bộ. Tất nhiên trong đời sống chính trị hiện nay cảnh giác là một điều cần thiết. Nhưng tôi cho rằng nỗi lo sợ tràn lan có tên là cảnh giác kia đối với các lí luận phương Tây thực chất là mặc cảm tự vệ, tự ti thâm căn cố đế trong tâm lí của các nước nhược tiểu đối với các nước tư bản phương Tây, một tâm lí của thời còn thuộc địa, tiền hội nhập, rất lạc lõng với thời đại toàn cầu hóa tri thức như hôm nay, nhưng người mang tâm lí đó lại làm ra vẻ mình đứng cao hơn tất cả! Còn nhớ tiến sĩ Hoàng Đức Lương trong bài Tựa sách Trích diễm thi tập cuối thế kỷ XV có nói tới nguyên nhân vì sao thơ Việt Nam không được ghi lại, trong đó ngoài nguyên nhân binh lửa và kĩ thuật, còn có ba nguyên nhân đáng suy nghĩ: Một là kén người đọc, hai là phải có chiếu chỉ của vua thì mới được in và ba là hễ thấy ai sưu tập thì chê cười. ở ta hiện nay tâm lí ngại lí luận còn nặng, lẽ cố nhiên là lí luận kén người đọc. Mặc cảm tự ti nhược tiểu vẫn còn nặng trong không ít người. Tâm lí muốn cấm đoán cũng vẫn còn. Những điều như thế là không thuận lợi cho lí luận phát triển.
Cuối cùng, điều thứ sáu, tôi nghĩ, đã đến lúc cần thành lập một tổ chức nghề nghiệp của những người làm nghề lí luận – Hội nghiên cứu và giảng dạy lí luận văn học, đoàn kết những người cùng nghề nghiệp, cổ vũ, khích lệ nhau, cùng phấn đấu cho một nền lí luận văn học phong phú và tiến bộ của nước nhà. Một đề nghị chính đáng như thế đã được nêu ra cách đây đúng 15 năm mà đến nay vẫn chưa được toại nguyện.
Một nền lí luận trì trệ là nền lí luận không đem lại quan niệm nào mới cho người ta suy nghĩ, không vạch được phương hướng cho tư duy và sáng tạo văn học. Một nền văn học trì trệ thì nó cũng không có nhu cầu lí luận để làm gì. Chúng ta đang cần lí luận văn học, đang trao đổi để phát triển lí luận văn học, đó thật là một triệu chứng tốt đẹp, đáng mừng. Nó nói lên rằng văn học ta đang cựa quậy, đang phát triển, đang đòi hỏi được ý thức từ tầm cao của lí luận được quan tâm để có hi vọng vươn lên đáp ứng được phần nào đòi hỏi tốt đẹp ấy của thời đại.
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,