Văn nghị luận thế kỷ XX(*)
Nguyễn Văn Lưu
Văn nghị luận là thể loại có truyền thống lâu đời, có giá trị đặc sắc, có sức sống mãnh liệt trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước - lịch sử văn hoá của dân tộc. Chiếu dời đô của Lý Nam Đế (1010) có thể xem là áng văn mở đầu cho thể loại này. Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo (thế kỷ XIII) cho đến nay vẫn hừng hực khí thế, lôi cuốn lòng người. Cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi (thế kỷ XV) có giá trị xuyên thời đại, được truyền tụng như một áng thiên cổ hùng văn. Văn từ lệnh của Ngô Thì Nhậm có sức mạnh đẩy lùi cuộc động binh chín tỉnh để báo thù của nhà Mãn Thanh sau khi bị Quang Trung Nguyễn Huệ đánh cho đại bại.
Đầu thế kỷ XIX, từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta thì cùng với phong trào chống Pháp anh dũng, cũng xuất hiện biết bao áng thơ văn tràn ngập hùng tâm tráng khí, biểu lộ ý chí của cả dân tộc, quyết chống xâm lăng. Từ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc cho đến Chiếu cần Vương và Hịch đánh Pháp… là những áng thơ văn viết bằng nước mắt, bằng xương máu, bằng chí căm thù và lòng yêu nước của biết bao nhiêu thế hệ người Việt Nam.
Thế kỷ XX là thế kỷ vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc. Thế kỷ mà sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc đã diễn ra liên tục và giành được thắng lợi trọn vẹn. Từ 1975 non sông thu về một mối, đất nước độc lập tự do. Dân tộc bước sang trang mới, sang kỷ nguyên xây dựng hoà bình.
Thế kỷ XX là thế kỷ phát triển rực rỡ đạt đến đỉnh cao nhất của văn hoá dân tộc. Văn hoá thời đại Hồ Chí Minh, trong đó có thể văn nghị luận, đã song hành cùng cuộc đấu tranh của dân tộc và đạt đến đỉnh cao mang tầm nhân loại, tầm thời đại. Từ Văn minh tân học sách (1906) đến Tuyên ngôn độc lập (1945) là hành trình đáng tự hào của văn nghị luận Việt Nam thế kỷ XX. Thế kỷ XX đã xuất hiện những nhà chính luận cự phách, những nhà hùng biện của thời đại. Đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh, là các nhà yêu nước Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… là một thế hệ những nhà cách mạng đồng thời là những nhà văn hoá như Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… Những con người mà cuộc đời và văn thơ đã trở thành sức mạnh soi sáng, tổ chức, động viên thôi thúc cho cả dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập tự do. Văn nghị luận Việt Nam thế kỷ XX đã thừa hưởng và nâng cao truyền thống văn hoá dân tộc lên tầm thời đại, xuyên thời đại. Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân; Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn; Lấy chí nhân thay cường bạo (Nguyễn Trãi), Không có gì quý hơn độc lập tự do; Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ quyết không chịu mất nước, quyết không chịu làm nô lệ (Hồ Chí Minh) không chỉ là khát vọng của dân tộc Việt Nam mà cũng chính là khát vọng của cả nhân loại, từ khi con người có văn minh đến nay. Đó là kho tàng vô cùng quý giá cho hôm nay và mai sau mà chúng ta phải có nghĩa vụ bảo tồn, tiếp thu, phát triển.
Văn nghị luận đầu thế kỷ XX (khoảng 30 năm đầu thế kỷ) mang đầy đủ những phẩm chất truyền thống của thể loại này, vừa có tính đặc thù do hoàn cảnh lịch sử chi phối. Trước hết là nhờ có phong trào yêu nước sôi nổi, liên tục, quả cảm, mà có được văn chương ngôn luận tương xứng. Phong trào yêu nước đã thức tỉnh, đã lay động mọi người dân Việt Nam và hành động yêu nước không chỉ diễn ra trong đấu tranh trực tiếp, với các hình thức bạo lực cách mạng, mà còn là tiếng nói, là quyển sách, là trang văn. Có thể nói đây là thời kỳ sôi động nhất về ngôn luận. Mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt tầng lớp trí thức, đều lên tiếng, tỏ rõ thái độ trách nhiệm trước vận mệnh của đất nước. Đây cũng là thời kỳ chữ quốc ngữ phát triển, báo chí, nhà xuất bản ra đời, tầng lớp sĩ phu, trí thức đông lên, thúc đẩy ngôn luận phát triển. Kế thừa tinh hoa của văn chương nghị luận thời xưa, văn nghị luận đầu thế kỷ đã tiếp nhận cái sáng rõ rành mạch, tính chất logic chặt chẽ của văn nghị luận Pháp, văn nghị luận Tây phương. Có tác giả đã viết văn nghị luận thẳng bằng tiếng Pháp nhằm mục đích để cho bọn thực dân cai trị biết trình độ học vấn của cả dân tộc Việt Nam (như Nguyễn An Ninh). Chất truyền thống đã hoà nhập vào hiện đại. Có thể nói sự thức tỉnh ý thức độc lập, ý thức tự lực tự cường, ý thức dân tộc trở thành hoạt động công khai sôi nổi. Văn nghị luận thời kỳ này, từ phong trào, từ vô danh, từ tác giả tập thể, cho đến tác giả thành văn, đã đề cập, bàn luận đến hầu hết các lĩnh vực đời sống. Từ chính trị, kinh tế, văn hoá giáo dục đến văn chương nghệ thuật. Chúng ta đã biết hoạt động của phong trào Đông kinh nghĩa thục, giá trị của Văn minh tân học sách (1906) - một bản tuyên ngôn văn hoá của thời đại - đã ảnh hưởng sâu rộng, tác động mạnh mẽ đến phong trào yêu nước đương thời và cho đến sau này. Cùng lúc với Đông kinh nghĩa thục có phong trào Minh Tân ở Sài Gòn - Lục tỉnh. Trên các báo Nông cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn, Đông Pháp v.v… các tác giả đã bàn luận đến nhiều vấn đề của đời sống cộng đồng. Từ phong tục tập quán (Tử táng minh luận) đến giao thương buôn bán (Thương cổ thiệt luận, Hiệp bổn tranh lợi…), phụ nữ, gia đình, đến việc học… Đặc biệt những vấn đề quốc gia đại sự được nhiều tác giả nêu lên với nỗi lo lắng đầy trách nhiệm. Vào những năm hai mươi của thế kỷ trước, các nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Bửu Đình, Trần Hữu Độ, Nguyễn An Ninh đã nêu nên lý tưởng của thanh niên, những hiểm tượng của quốc dân, về nguyên cớ mất quyền tự do, về thực trạng đất nước và trách nhiệm công dân, là những hành động dũng cảm, là thực sự lấy ngòi bút làm vũ khí đấu tranh, thức tỉnh, kêu gọi đồng bào.
Văn nghị luận đầu thế kỷ XX rất phong phú, vừa có tính chất phong trào, vừa có những đỉnh cao, có tác giả… nên chúng tôi muốn lưu ý bạn đọc về bố cục của các tập sách trong thể loại này (Quyển Năm: Văn chính luận, bút ký, tuỳ bút, phóng sự…):
ở tập I của quyển Năm này chủ yếu giới thiệu văn nghị luận đầu thế kỷ, mở đầu là Văn minh tân học sách và những tác giả tác phẩm tiếp theo trong khoảng thời gian 30 năm đầu thế kỷ.
Riêng tác giả Lương Dũ Thúc (tức Lương Khắc Ninh) với những trang viết xuất hiện vào những ngày đầu thế kỷ, chúng tôi trân trọng đặt lên đầu sách. Các nhà yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đều có những tác phẩm nghị luận nổi tiếng (Hải ngoại huyết thư - Phan Bội Châu - 1906, Thư gửi chính phủ Pháp - Phan Châu Trinh - 1907) là những áng văn nghị luận lớn, đã được in ở Quyển Một - Tập I (Văn xuôi đầu thế kỷ) và Quyển Một - Tập II, nay không in lại trong tập này. Bạn đọc có thể xem các tập đã dẫn trên khi nghiên cứu về văn nghị luận của hai bậc chí sĩ lớn.
Văn nghị luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh kéo dài từ 1919 (Yêu sách tại Hội nghị Vécxây) cho đến năm 1945 (Tuyên ngôn độc lập) và 1969 (Di chúc) sẽ được in vào một tập riêng.
Các tác giả tác phẩm khác sẽ sắp xếp kết hợp theo thời gian trong những tập tiếp theo của Quyển Năm.
Về tập I của Quyển Năm này, sau khi in thử, chúng tôi đã gửi tới một số nhà văn, nhà nghiên cứu… để xin ý kiến và đã nhận được những góp ý về một sốt hiếu sót kỹ thuật. Chúng tôi đã cho sửa chữa lại. Xin chân thành cảm ơn sự góp ý của quý vị và xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
(*)Lời nói đầu cho Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Quyển Năm - Tập I (Văn nghị luận đầu thế kỷ). Nxb Văn học - 2004.
(Báo Văn nghệ)
Nguyễn Văn Lưu
Văn nghị luận là thể loại có truyền thống lâu đời, có giá trị đặc sắc, có sức sống mãnh liệt trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước - lịch sử văn hoá của dân tộc. Chiếu dời đô của Lý Nam Đế (1010) có thể xem là áng văn mở đầu cho thể loại này. Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo (thế kỷ XIII) cho đến nay vẫn hừng hực khí thế, lôi cuốn lòng người. Cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi (thế kỷ XV) có giá trị xuyên thời đại, được truyền tụng như một áng thiên cổ hùng văn. Văn từ lệnh của Ngô Thì Nhậm có sức mạnh đẩy lùi cuộc động binh chín tỉnh để báo thù của nhà Mãn Thanh sau khi bị Quang Trung Nguyễn Huệ đánh cho đại bại.
Đầu thế kỷ XIX, từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta thì cùng với phong trào chống Pháp anh dũng, cũng xuất hiện biết bao áng thơ văn tràn ngập hùng tâm tráng khí, biểu lộ ý chí của cả dân tộc, quyết chống xâm lăng. Từ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc cho đến Chiếu cần Vương và Hịch đánh Pháp… là những áng thơ văn viết bằng nước mắt, bằng xương máu, bằng chí căm thù và lòng yêu nước của biết bao nhiêu thế hệ người Việt Nam.
Thế kỷ XX là thế kỷ vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc. Thế kỷ mà sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc đã diễn ra liên tục và giành được thắng lợi trọn vẹn. Từ 1975 non sông thu về một mối, đất nước độc lập tự do. Dân tộc bước sang trang mới, sang kỷ nguyên xây dựng hoà bình.
Thế kỷ XX là thế kỷ phát triển rực rỡ đạt đến đỉnh cao nhất của văn hoá dân tộc. Văn hoá thời đại Hồ Chí Minh, trong đó có thể văn nghị luận, đã song hành cùng cuộc đấu tranh của dân tộc và đạt đến đỉnh cao mang tầm nhân loại, tầm thời đại. Từ Văn minh tân học sách (1906) đến Tuyên ngôn độc lập (1945) là hành trình đáng tự hào của văn nghị luận Việt Nam thế kỷ XX. Thế kỷ XX đã xuất hiện những nhà chính luận cự phách, những nhà hùng biện của thời đại. Đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh, là các nhà yêu nước Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… là một thế hệ những nhà cách mạng đồng thời là những nhà văn hoá như Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… Những con người mà cuộc đời và văn thơ đã trở thành sức mạnh soi sáng, tổ chức, động viên thôi thúc cho cả dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập tự do. Văn nghị luận Việt Nam thế kỷ XX đã thừa hưởng và nâng cao truyền thống văn hoá dân tộc lên tầm thời đại, xuyên thời đại. Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân; Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn; Lấy chí nhân thay cường bạo (Nguyễn Trãi), Không có gì quý hơn độc lập tự do; Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ quyết không chịu mất nước, quyết không chịu làm nô lệ (Hồ Chí Minh) không chỉ là khát vọng của dân tộc Việt Nam mà cũng chính là khát vọng của cả nhân loại, từ khi con người có văn minh đến nay. Đó là kho tàng vô cùng quý giá cho hôm nay và mai sau mà chúng ta phải có nghĩa vụ bảo tồn, tiếp thu, phát triển.
Văn nghị luận đầu thế kỷ XX (khoảng 30 năm đầu thế kỷ) mang đầy đủ những phẩm chất truyền thống của thể loại này, vừa có tính đặc thù do hoàn cảnh lịch sử chi phối. Trước hết là nhờ có phong trào yêu nước sôi nổi, liên tục, quả cảm, mà có được văn chương ngôn luận tương xứng. Phong trào yêu nước đã thức tỉnh, đã lay động mọi người dân Việt Nam và hành động yêu nước không chỉ diễn ra trong đấu tranh trực tiếp, với các hình thức bạo lực cách mạng, mà còn là tiếng nói, là quyển sách, là trang văn. Có thể nói đây là thời kỳ sôi động nhất về ngôn luận. Mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt tầng lớp trí thức, đều lên tiếng, tỏ rõ thái độ trách nhiệm trước vận mệnh của đất nước. Đây cũng là thời kỳ chữ quốc ngữ phát triển, báo chí, nhà xuất bản ra đời, tầng lớp sĩ phu, trí thức đông lên, thúc đẩy ngôn luận phát triển. Kế thừa tinh hoa của văn chương nghị luận thời xưa, văn nghị luận đầu thế kỷ đã tiếp nhận cái sáng rõ rành mạch, tính chất logic chặt chẽ của văn nghị luận Pháp, văn nghị luận Tây phương. Có tác giả đã viết văn nghị luận thẳng bằng tiếng Pháp nhằm mục đích để cho bọn thực dân cai trị biết trình độ học vấn của cả dân tộc Việt Nam (như Nguyễn An Ninh). Chất truyền thống đã hoà nhập vào hiện đại. Có thể nói sự thức tỉnh ý thức độc lập, ý thức tự lực tự cường, ý thức dân tộc trở thành hoạt động công khai sôi nổi. Văn nghị luận thời kỳ này, từ phong trào, từ vô danh, từ tác giả tập thể, cho đến tác giả thành văn, đã đề cập, bàn luận đến hầu hết các lĩnh vực đời sống. Từ chính trị, kinh tế, văn hoá giáo dục đến văn chương nghệ thuật. Chúng ta đã biết hoạt động của phong trào Đông kinh nghĩa thục, giá trị của Văn minh tân học sách (1906) - một bản tuyên ngôn văn hoá của thời đại - đã ảnh hưởng sâu rộng, tác động mạnh mẽ đến phong trào yêu nước đương thời và cho đến sau này. Cùng lúc với Đông kinh nghĩa thục có phong trào Minh Tân ở Sài Gòn - Lục tỉnh. Trên các báo Nông cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn, Đông Pháp v.v… các tác giả đã bàn luận đến nhiều vấn đề của đời sống cộng đồng. Từ phong tục tập quán (Tử táng minh luận) đến giao thương buôn bán (Thương cổ thiệt luận, Hiệp bổn tranh lợi…), phụ nữ, gia đình, đến việc học… Đặc biệt những vấn đề quốc gia đại sự được nhiều tác giả nêu lên với nỗi lo lắng đầy trách nhiệm. Vào những năm hai mươi của thế kỷ trước, các nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Bửu Đình, Trần Hữu Độ, Nguyễn An Ninh đã nêu nên lý tưởng của thanh niên, những hiểm tượng của quốc dân, về nguyên cớ mất quyền tự do, về thực trạng đất nước và trách nhiệm công dân, là những hành động dũng cảm, là thực sự lấy ngòi bút làm vũ khí đấu tranh, thức tỉnh, kêu gọi đồng bào.
Văn nghị luận đầu thế kỷ XX rất phong phú, vừa có tính chất phong trào, vừa có những đỉnh cao, có tác giả… nên chúng tôi muốn lưu ý bạn đọc về bố cục của các tập sách trong thể loại này (Quyển Năm: Văn chính luận, bút ký, tuỳ bút, phóng sự…):
ở tập I của quyển Năm này chủ yếu giới thiệu văn nghị luận đầu thế kỷ, mở đầu là Văn minh tân học sách và những tác giả tác phẩm tiếp theo trong khoảng thời gian 30 năm đầu thế kỷ.
Riêng tác giả Lương Dũ Thúc (tức Lương Khắc Ninh) với những trang viết xuất hiện vào những ngày đầu thế kỷ, chúng tôi trân trọng đặt lên đầu sách. Các nhà yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đều có những tác phẩm nghị luận nổi tiếng (Hải ngoại huyết thư - Phan Bội Châu - 1906, Thư gửi chính phủ Pháp - Phan Châu Trinh - 1907) là những áng văn nghị luận lớn, đã được in ở Quyển Một - Tập I (Văn xuôi đầu thế kỷ) và Quyển Một - Tập II, nay không in lại trong tập này. Bạn đọc có thể xem các tập đã dẫn trên khi nghiên cứu về văn nghị luận của hai bậc chí sĩ lớn.
Văn nghị luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh kéo dài từ 1919 (Yêu sách tại Hội nghị Vécxây) cho đến năm 1945 (Tuyên ngôn độc lập) và 1969 (Di chúc) sẽ được in vào một tập riêng.
Các tác giả tác phẩm khác sẽ sắp xếp kết hợp theo thời gian trong những tập tiếp theo của Quyển Năm.
Về tập I của Quyển Năm này, sau khi in thử, chúng tôi đã gửi tới một số nhà văn, nhà nghiên cứu… để xin ý kiến và đã nhận được những góp ý về một sốt hiếu sót kỹ thuật. Chúng tôi đã cho sửa chữa lại. Xin chân thành cảm ơn sự góp ý của quý vị và xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
(*)Lời nói đầu cho Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Quyển Năm - Tập I (Văn nghị luận đầu thế kỷ). Nxb Văn học - 2004.
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,