📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Thơ tình yêu - đóng góp đặc sắc của thơ các dân tộc thiểu số cho nền thơ đất nước

0 trả lời, 35 lượt xem — Trang 1 / 1
Thơ tình yêu - đóng góp đặc sắc của thơ các dân tộc thiểu số cho nền thơ đất nước

Vũ Quần Phương

Thơ các dân tộc thiểu số xưa và nay đã làm phong phú bản sắc dân tộc của thơ Việt. Những đặc trưng trong tư duy thơ, trong cảm xúc, trong diễn đạt... của trường ca Đam San (dân tộc Êđê), trường ca Tiếng hát làm dâu (dân tộc Mông), trường ca Đẻ đất đẻ nước (dân tộc Mường)... đã từng làm chúng ta kinh ngạc và hào hứng nghiên cứu học tập. Nhiều yếu tố siêu thực tượng trưng, ấn tượng, kỳ ảo... mà thơ ca hiện đại suy tôn là mới mẻ thì trong các trường ca đó đã có. Những cách hành văn đồng hiện, vụt hiện, trùng điệp, tân kỳ... cũng thấy, cũng gặp nhiều lần.

Với thơ đương đại thì những Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn, Cầm Biêu, Cầm Giang, Cầm Vĩnh Ui, Bạc Văn ùi, Triều Ân, Lương Quy Nhân, Lò Ngân Sủn, Mã A Lềnh, Y Phương, Pờ Sảo Mìn... và nhiều bạn trẻ hơn đã trở nên quen thuộc với độc giả toàn quốc. Tác phẩm của họ đã góp phần tạo nên hồn vía của thơ Việt thế kỷ XX.

Bài viết nhỏ này, xin tự giới hạn trong một góc hẹp của sự đóng góp đó: thơ tình yêu.

Đây là lĩnh vực đề tài tung tẩy nhất của mọi nền thơ. Ca dao của đồng bằng Bắc bộ, của miền Trung, của đồng bằng sông Cửu Long... ở những áng hay nhất đều là lời tỏ tình. Duyên dáng, ý nhị và sâu thẳm. Thơ, trường ca của các dân tộc anh em trong cõi này cũng rất mê đắm và có vị riêng. Tôi chỉ xin nói như một ví dụ: sức khêu gợi trong cách tả đàn bà đẹp của trường ca Êđê Đam San.

Tả đàn bà đẹp rất cần năng khiếu. Năng khiếu thẩm mỹ và năng khiếu đa tình. Cụ Nguyễn Du đại thi hào đấy, nhưng cô Kiều của cụ đẹp trừu tượng quá. Khó mường tượng và rất ít đụng vào giác quan người đọc. Cụ nghiêm quá, không cho chúng ta xúc giác vào nhan sắc Làn thu thủy nét xuân sơn/ Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh. Cụ nói thế thì biết thế, không thấy da thịt người đẹp thế nào. Tác giả trường ca Đam San "ngắm gái" bản năng và tinh vi hơn nhiều. Nên nhớ thế giới nhân vật trường ca Đam San thuộc thế giới cổ đại, phương thức sản xuất nguyên thủy. ấy vậy mà đoạn tả vẻ đẹp nhân vật nữ Hơ Nhi lại là những quan sát tinh xảo, đầy ấn tượng hiện đại, hiện đại trong cảm thụ và cả trong diễn đạt. Đọc thấy hiện lên người đẹp mà trong bài không có câu nào trực tả nhan sắc. Tác giả chọn tả ba yếu tố: váy, búi tóc, dáng đi. Ba yếu tố này vốn có sức khêu gợi nữ tính rất cao, nhưng bút pháp không tinh vi rất dễ thô. Tả thực nhưng kèm những biến hóa kỳ ảo. Hãy xem tả váy Hơ Nhi mặc một váy đen điểm hoa ênăm, điểm hoa hbiê, cái váy từ trên cao ông trời đã ban cho, từ trên cao ông trời đã thả xuống cho nàng. Nó ánh như sét, loáng như chớp, rọi lên xóm làng những tia nắng muôn màu. Tác giả Đam San dùng cách hành văn trùng điệp để tả mọi chi tiết trong suốt trường ca. Đoạn thơ này không ngoài thông lệ đó, nhưng cảm nhận vẫn thấy tự nhiên. Cái váy đẹp ấy là tự trời thả xuống, trời ban cho. Cái gì đẹp là thuộc về trời, kể cả váy. Tư duy hồn nhiên và trong trẻo. Cái ánh sáng tỏa ra từ mặt vải được diễn đạt rất giỏi: ánh như sét, loáng như chớp, rọi lên xóm làng những tia sáng muôn màu. Hình ảnh kỳ vĩ, kích thước vũ trụ được gán cho váy.

Đến búi tóc: Cả búi tóc to như độn một cái chiêng mong. Mớ đuôi gà thì đủ để xua ong vụt mối, lợp kín được một sàn hiên, rậm rịt như một cây knia nặng bóng. Cách viết có thậm xưng nhưng gợi một ấn tượng về khoảng râm rợp mát của mớ tóc đen, dày, nặng.

Dáng đi của cô gái được chăm chút hơn cả. Con mắt quan sát đa tình, tài năng diễn đạt đa cảm. Dáng đi làm tôn vẻ tha thướt của váy: Hơ Nhi đi ra nhà khách, trông lướt thướt như một cành blô lả ngọn, lượt thượt như một cành klong lìa gốc. Có một câu xuất chúng: váy còn ở đây mà người đã ở đằng kia. Mắt người còn đang lưu giữ ánh váy loang loáng như sét, như chớp ở góc này thì người đã nhanh nhẹn uyển chuyển trôi tới nơi khác. Mỗi bước đi lên, nàng mỗi nhón chân, người luôn luôn ngay ngắn, gót kiễng lên, vừa đi vừa ưỡn ẹo làm duyên, hai tay vung vẩy trông như con gà xù lông, như con bồ chao vỗ cánh. Khi nàng lướt lên trông như diều bay ó liệng, nước lững lờ trôi cũng không bằng. Lỡ chân bước hụt chăng, nàng liền dừng lại, đứng yên, đầu nghiêng nghiêng cúi xuống, hay nàng ngồi thụp xuống, đầu nhè nhẹ ngẩng lên. Tả như quay phim cận cảnh, chiếu chậm và tách ra từng động tác của người đẹp khi bước lên: nhón chân, người ngay, gót kiễng, eo lắc, tay vung. Động tác thị phạm như giáo trình huấn luyện người mẫu bây giờ nhưng câu văn thì quấn quít trong nhịp điệu, hình ảnh. Dáng đi mà như diều bay, ó liệng, nước lặng lờ trôi là đã tả được thần thái của dáng đi, tả bằng cảm, không phải tả bằng mắt. Có hai động tác chứng tỏ tác giả là bậc rất sành thưởng thức vẻ đẹp mỹ nhân. ấy là khi nàng bước hụt hay làm ra vẻ bước hụt. Xử lý bằng hai cách đều khoe được những nét mềm mại của cơ thể, chiếc cổ thon, bờ vai mềm mại:

- nàng liền dừng lại, đứng yên, đầu nghiêng nghiêng cúi xuống

- hay nàng ngồi thụp xuống, đầu nhè nhẹ ngẩng lên

Nhân vật là người của thời kỳ sản xuất nguyên thủy, tác giả là người bình dân của nền kinh tế thấp nhưng cách tôn vinh, lưu giữ vẻ đẹp cơ thể này quả là tinh vi và giàu mỹ cảm, điều mà các trung tâm huấn luyện hoa hậu của thế giới hiện đại rất quan tâm.

Những câu thơ tả tình và mọi thứ mê đắm của tình yêu trong Tiếng hát làm dâu cũng rất nhiều lôi cuốn lắm. Tôi không dám lạm dụng dẫn ra đây. Chỉ xin các đại biểu về đọc lại và đối chiếu với nông nỗi lòng mình mà khám phá ra chỗ táo bạo tinh diệu của người xưa.

Thời kháng chiến chống Pháp, chúng ta đã kinh ngạc trước bút pháp kỳ ảo hóa cái thường ngày: Đụng vào cái khung cửi vải thành hoa - Tung nắm tấm ra thành đàn gà (bài Người con gái Châu Yên, tác giả chưa rõ) và chúng ta khâm phục phép diễn đạt hồn nhiên có phần thô mộc mà đụng vào cốt lõi của hiện thực tâm trạng và hiện thực chiến tranh trong bài Nhớ vợ của một tác giả còn ít được biết đến lúc ấy, Cầm Vĩnh Ui. Trong kháng chiến, thơ tình không được khuyến khích, đến Tố Hữu cũng xin: hãy coi bản dịch bài thơ Đợi anh về là thơ tình của tôi. Lý do: sợ tình cảm trai gái nhớ thương nhau cản trở nhiệm vụ đánh giặc. Đám cưới cũng phải căng khẩu hiệu Vui duyên mới không quên nhiệm vụ. Có lẽ do cách nghĩ hồn nhiên, tự phát vốn có trong lòng người dân tộc nên tác giả mới mạnh dạn làm bài thơ này và cũng chính nhờ sự hồn nhiên, không giáo lý giáo điều nên phẩm chất tình cảm của bài thơ mới chân thật, mạnh bạo và do vậy sâu sắc đến thế. Bộ đội thời chiến, tự dưng lăn đùng ra đòi về phép vì nhớ vợ Tôi nhớ vợ tôi lắm Xin anh về hai ngày. Về với vợ hai ngày, chắc gì đã trả phép đúng, có khi lai rai hàng tuần. Lên đơn vị lại lử khử lừ khừ độ một tuần nữa. Đón ý thủ trưởng, chàng nhớ vợ nói ngay Ngày kia tôi sẽ đến/Lại cầm súng được ngay/Tôi càng bắn đúng Tây/Vì tay có hơi vợ. Như vậy là trả phép đúng hạn, không lử khử gì mà chất lượng chiến đấu lại cao. Nghe giải thích buồn cười mà có lý Tay có hơi vợ phấn khởi trong lòng làm việc gì mà chả hanh thông. Đoạn 3, tiếp tục giải thích cho thủ trưởng; Cho tôi đi đừng sợ/Tôi không chết được đâu Tại sao dám cam đoan không chết Vì vợ tôi lúc nào? Cũng mong chồng mạnh khỏe Vợ nó bảo khỏe, ốm còn chẳng dám ốm. Chết là chết thế nào. Lý sự có vẻ cùn. Không ở giọng thơ người thiểu số chân mộc không viết được. Tình yêu lớn hơn cái chết. Ông nhà thơ Nga C. Ximônôp thì cũng lý sự thế thôi Vì sao anh chẳng chết/Nào bao giờ ai biết / Có gì đâu em ơi/Chỉ vì không ai người/Biết như em chờ đợi. Lời nài nỉ cuối cùng, vuốt ve thủ trưởng rất tâm lý và đặc biệt nhấn mạnh đến việc không quên nhiệm vụ Cho tôi đi anh nhé/Về ôm vợ hai đêm/Vợ tôi nó sẽ khen/Chồng em nên người giỏi Tôi về phép là để vợ động viên chiến đấu. ở đây thủ trưởng có động viên thì cũng chỉ đến bắt tay, ôm vai chứ vợ tôi nó động viên nó thì... phấn khởi lắm, hiệu quả lắm: Ngày kia tôi về tới/Được đi đánh cái đồn/Hay được đi chống càn/Là thế nào cũng thắng/Nếu có được trên tặng/Cho một cái bằng khen/Tôi sẽ dọc đôi liền/Gửi cho vợ một nửa. Ngôn ngữ mộc mạc, diễn biến tâm lý rất lô gíc, gọn, chắc. Tình yêu thật, đằm và cao cả. Nói lý tưởng mà không quên thân xác. Nhờ có bài thơ này và một bài nữa, cũng của một tác giả người dân tộc, bài Em tắm của Bạc Văn ùi, mà thơ tình yêu thời chống Pháp bớt một khoảng trắng trống trải.

Trong thế hệ các nhà thơ xuất hiện thời chống Mỹ, anh Mã A Lềnh với bài "Nếu":

Nếu ta là một giọt mưa sương/Ta xin tan trên bàn tay nàng

Nếu ta là một bông tuyết trắng/Ta xin tan dưới chân nàng

Ta là chàng trai rừng núi/Ta xin tan trên thân thể nàng

Anh Lò Ngân Sủn, với bài Người đẹp: Người đẹp trông như tuyết/Chạm vào lại thấy nóng/Người đẹp trông như lửa/Sờ vào lại thấy mát/Người không khát, nhìn thấy người đẹp cũng khát/Người không đói, nhìn thấy người đẹp cũng đói/Người muốn chết, gặp người đẹp, không muốn chết nữa/Người đẹp là mơ ước /Treo trước mắt mọi người.

Anh Y Phương với bài Mùa hoa: Mùa hoa/Người đàn bà/Mặt đỏ phừng/Đủ sức vác ông chồng/Chạy phăm phăm lên núi/Mùa hoa/Người đàn ông/Mệt như chiếc áo rũ/Vừa vịn rào đi vừa ngái ngủ.

Đều là những bài thơ tình bạo mà trong, mộc mạc mà thâm trầm tình cảm và dào dạt lòng yêu đời. Xuất phát của thành công ấy là do cách cảm nghĩ của các nhà thơ dân tộc còn lưu giữ được cách tư duy hồn nhiên, gắn suy tưởng vào sự vật cụ thể, gần với bản năng, không bị phép trừu tượng hóa làm mất vỏ vật chất của lý tưởng, và chưa bị những quan niệm giáo lý, giáo điều làm mất nét ngây thơ của cảm xúc.

Nói tới sự bổ sung của các nhà thơ dân tộc thiểu số vào nền thơ chung của đất nước, tôi nghĩ đó là sự bổ sung rõ rệt và có ý nghĩa nhất./.



V . Q . P

(Tạp chí Nhà Văn)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0