Làng bản miền núi và truyện viết cho thiếu nhi
Hà Lâm Kỳ
1. Đất nước Việt Nam trải dài với 3/4 diện tích đồi núi, ở đó có những địa dư cực kỳ quan trọng, đó là buôn, làng, thôn, bản. Làng bản miền núi nằm gọn trong đơn vị hành chính xã, chịu sự điều hành toàn diện của chính quyền địa phương (xã) nhất là trong xu thế cải cách hành chính hiện nay.
Nhìn từ hình thức, làng bản vùng cao có phần sơ sài, đơn giản hơn thôn làng ở đồng bằng. Không có cái cổng làng truyền thống, không có đình, không có thần hoàng, không có cả sự sắp đặt đến chật chội, đến ồn ào, nhà gối nhà, tường sát tường như ở dưới xuôi.
Yên tĩnh, thơ mộng, pha chút hoang sơ, không gian rộng, đường đất dài gắn với đồi núi, với khe suối, với chim thú... đấy là những đặc thù vẻ mặt của làng bản miền núi. Đặc thù đó góp phần tôn tạo cái đẹp của văn hóa vùng cao.
2. Con người miền núi, dân tộc; trẻ con miền núi, dân tộc, thoát thần từ những làng bản có phần hoang sơ, thiên nhiên khắc nghiệt; ăn, ở, đi lại, sinh hoạt, giao tiếp, muôn điều khó khăn thiếu thốn. Trẻ con như cái chồi cây, phải chấp nhận tất cả những gì nghiệt ngã để tồn tại, để lớn lên. Và khi đã tồn tại được rồi, lớn lên được rồi, họ trở thành "Con gà rừng gáy le te" như cách nói của nhà thơ Pa Dí Pờ Sảo Mìn, nghĩa là đã làm chủ được cuộc sống giữa vùng núi non xa vắng ấy.
Những làng bản nhỏ bé nằm gọn lỏn trong thung lũng dưới chân núi kia có biết bao điều đáng nói, đáng ghi chép, và đáng viết thành văn thành sách, dầu không nổi tiếng như những làng quê đồng bằng từng có mặt trên Báo Văn nghệ, nhưng nhất quyết không kém phần "đậm đà bản sắc dân tộc".
Làng ấy, bản ấy, một hay nhiều dân tộc thiểu số cùng chung sống, có ngôn ngữ chung (tiếng phổ thông) và ngôn ngữ riêng (tiếng dân tộc). Có phong tục, luật tục, lệ tục, tập quán, cốt cách văn hóa đậm đặc, hấp dẫn. Có dòng tộc này, dòng họ kia, vai trên vai dưới. Mỗi dòng tộc, dòng họ, vai vế, lại có tục riêng: tục thờ cúng, kiêng kỵ, tục hội hè, cầu tự, tục kết anh kết em... tất cả đều theo cách nghĩ, cách nói, cách làm rất riêng của mỗi dân tộc thiểu số. Từ hàng trăm năm nay, cộng đồng làng bản luôn có thêm người; người dân tộc từ nơi khác đến, người Kinh từ dưới xuôi lên, quan hệ hôn nhân không phân biệt xuôi ngược, văn hóa có sự giao thoa. Người Kinh dựng nhà sàn, mặc áo chàm, thắt ớp đi nương; người Tày làm nhà đất, hát dân ca quan họ. Một vài nơi còn có đình làng, có thần hoàng hẳn hoi... Nguồn nước từ trên núi về, chảy róc rách qua ruộng bậc thang, đường lên bản lượn theo sườn non, trời nắng thì râm mát, trời mưa người đi chống gậy. Trẻ con đi học về ngồi quây quanh nghe người già kể chuyện làng chuyện bản.
Làng bản miền núi như thế và cả hơn thế nữa. Nếu có nhiều sách viết về làng, về từng vuông hoa văn thổ cẩm ấy, tôi tin trẻ con sẽ rất thích thú và tự hào mà lớn khôn lên.
3. Các nhà văn hình như ít viết về thiếu nhi miền núi. Hàng năm sách NXB Kim Đồng, NXB Văn hóa dân tộc trên tờ Thiếu nhi dân tộc không nhiều, và cũng chưa được hay. Lô sách của NXB Kim Đồng gửi lên các trường vùng cao tháng 3/2004 vừa qua và cả Quý IV năm 2003 nữa, tôi chủ quan nói rằng những cuốn có nội dung viết về miền núi không đủ đếm trên đầu ngón tay. Nếu nhìn rộng ra sách thiếu nhi ở các Nhà xuất bản thì có tới 99% tổng số đầu sách thuộc về đề tài miền xuôi, đề tài người Kinh. Cố nhiên không thể phủ nhận giá trị văn hóa cao cả của nó là góp phần mở mang đầu óc; phát triển trí tuệ cho trẻ em vùng cao.
Trẻ em miền núi dân tộc rất cần sách, nhưng do điều kiện nhận biết thông tin, làm quen với môi trường xã hội rộng lớn, đa phương rất hạn chế, khả năng cảm thụ tác phẩm chậm, nên những gì nhà văn viết cho chúng càng gần với đời sống hàng ngày, càng gắn với môi trường mà các em quen biết, thì sức cuốn hút sẽ càng mạnh, nâng tầm nhận thức càng nhanh, tác dụng giáo dục càng cao. Sáng tác cho trẻ em miền núi dân tộc khó hơn rất nhiều so với viết cho trẻ em người Kinh, đồng bằng là ở chỗ đó. Làng bản vùng cao nơi sinh ra và lớn lên của con người miền núi chắc chắn là mảnh đất văn chương hấp dẫn, vừa đúng vừa trúng, đủ giúp các nhà văn viết về đề tài thiếu nhi dân tộc. Riêng tôi, sau khi viết các truyện Làng nhỏ, Con trai Bà chúa Nả, Quả nhạc xòe của mẹ, Suối làng, Chim Ri núi... đã cho tôi nhận thức điều này.
4. Phải thừa nhận trẻ em miền núi hiền lành đến thức thơ mộc. Cảm thấy đúng là chúng tin, chúng thích; cảm thấy không đúng là không thích, không tin. Các truyện tranh nước ngoài nuốt trôi truyện tranh Việt Nam, làm chủ thị trường sách thiếu nhi ở đồng bằng và đô thị, nhưng nó vẫn không vào được với trẻ con vùng cao, là bởi vì nó xa lạ với miền núi, với dân tộc. Tại sao các Nhà xuất bản lại không quan tâm đến truyện tranh cho thiếu nhi miền núi? Có lẽ vì mục đích kinh doanh? Cá nhân tôi thật buồn khi mấy bản thảo lời truyện tranh gửi đi bặt bô âm tín. May có lần NXB đặt cọc, tôi lọ mọ đi lấy tư liệu, và viết lời, gần năm sau sách in ra, 25 trang, NXB trả nhuận bút 70.000đ (năm 2000).
Trên báo chí, tôi cảm thấy lạ, báo chí, kể cả mấy tờ văn nghệ của nhà, gần như không in truyện, in thơ về thiếu nhi miền núi (trừ tờ Thiếu nhi dân tộc với những truyện, những thơ ngăn ngắn). Tại sao vậy? Việc này chỉ có các tòa soạn mới biết.
Tạp chí văn nghệ địa phương? Tìm hiểu từ đồng nghiệp, tôi thấy mừng, các tác giả viết cho thiếu nhi miền núi dân tộc may còn có được nơi an ủi này.
Một chuyện nữa. Nếu tôi không nhầm thì lâu lắm rồi, Hội Nhà văn không tổ chức Trại viết cho thiếu nhi, nhớ lại đầu những năm 90 khi nhà thơ Phạm Hổ chưa nghỉ hưu, thiếu nhi viết, viết cho thiếu nhi, thỉnh thoảng được gặp nhau, sao mà đáng yêu và đáng nhớ. Còn nay, vắng lặng kéo dài. Là nhà thơ tỉnh lẻ có vài ba cuốn sách nhỏ cho thiếu nhi dân tộc, tôi kính đề nghị BCH Hội Nhà văn xem xét khách quan, xem xét rõ nét những "chuyện" tôi đề cập trên đây./.
H . L . K
(Tạp chí Nhà Văn)
Hà Lâm Kỳ
1. Đất nước Việt Nam trải dài với 3/4 diện tích đồi núi, ở đó có những địa dư cực kỳ quan trọng, đó là buôn, làng, thôn, bản. Làng bản miền núi nằm gọn trong đơn vị hành chính xã, chịu sự điều hành toàn diện của chính quyền địa phương (xã) nhất là trong xu thế cải cách hành chính hiện nay.
Nhìn từ hình thức, làng bản vùng cao có phần sơ sài, đơn giản hơn thôn làng ở đồng bằng. Không có cái cổng làng truyền thống, không có đình, không có thần hoàng, không có cả sự sắp đặt đến chật chội, đến ồn ào, nhà gối nhà, tường sát tường như ở dưới xuôi.
Yên tĩnh, thơ mộng, pha chút hoang sơ, không gian rộng, đường đất dài gắn với đồi núi, với khe suối, với chim thú... đấy là những đặc thù vẻ mặt của làng bản miền núi. Đặc thù đó góp phần tôn tạo cái đẹp của văn hóa vùng cao.
2. Con người miền núi, dân tộc; trẻ con miền núi, dân tộc, thoát thần từ những làng bản có phần hoang sơ, thiên nhiên khắc nghiệt; ăn, ở, đi lại, sinh hoạt, giao tiếp, muôn điều khó khăn thiếu thốn. Trẻ con như cái chồi cây, phải chấp nhận tất cả những gì nghiệt ngã để tồn tại, để lớn lên. Và khi đã tồn tại được rồi, lớn lên được rồi, họ trở thành "Con gà rừng gáy le te" như cách nói của nhà thơ Pa Dí Pờ Sảo Mìn, nghĩa là đã làm chủ được cuộc sống giữa vùng núi non xa vắng ấy.
Những làng bản nhỏ bé nằm gọn lỏn trong thung lũng dưới chân núi kia có biết bao điều đáng nói, đáng ghi chép, và đáng viết thành văn thành sách, dầu không nổi tiếng như những làng quê đồng bằng từng có mặt trên Báo Văn nghệ, nhưng nhất quyết không kém phần "đậm đà bản sắc dân tộc".
Làng ấy, bản ấy, một hay nhiều dân tộc thiểu số cùng chung sống, có ngôn ngữ chung (tiếng phổ thông) và ngôn ngữ riêng (tiếng dân tộc). Có phong tục, luật tục, lệ tục, tập quán, cốt cách văn hóa đậm đặc, hấp dẫn. Có dòng tộc này, dòng họ kia, vai trên vai dưới. Mỗi dòng tộc, dòng họ, vai vế, lại có tục riêng: tục thờ cúng, kiêng kỵ, tục hội hè, cầu tự, tục kết anh kết em... tất cả đều theo cách nghĩ, cách nói, cách làm rất riêng của mỗi dân tộc thiểu số. Từ hàng trăm năm nay, cộng đồng làng bản luôn có thêm người; người dân tộc từ nơi khác đến, người Kinh từ dưới xuôi lên, quan hệ hôn nhân không phân biệt xuôi ngược, văn hóa có sự giao thoa. Người Kinh dựng nhà sàn, mặc áo chàm, thắt ớp đi nương; người Tày làm nhà đất, hát dân ca quan họ. Một vài nơi còn có đình làng, có thần hoàng hẳn hoi... Nguồn nước từ trên núi về, chảy róc rách qua ruộng bậc thang, đường lên bản lượn theo sườn non, trời nắng thì râm mát, trời mưa người đi chống gậy. Trẻ con đi học về ngồi quây quanh nghe người già kể chuyện làng chuyện bản.
Làng bản miền núi như thế và cả hơn thế nữa. Nếu có nhiều sách viết về làng, về từng vuông hoa văn thổ cẩm ấy, tôi tin trẻ con sẽ rất thích thú và tự hào mà lớn khôn lên.
3. Các nhà văn hình như ít viết về thiếu nhi miền núi. Hàng năm sách NXB Kim Đồng, NXB Văn hóa dân tộc trên tờ Thiếu nhi dân tộc không nhiều, và cũng chưa được hay. Lô sách của NXB Kim Đồng gửi lên các trường vùng cao tháng 3/2004 vừa qua và cả Quý IV năm 2003 nữa, tôi chủ quan nói rằng những cuốn có nội dung viết về miền núi không đủ đếm trên đầu ngón tay. Nếu nhìn rộng ra sách thiếu nhi ở các Nhà xuất bản thì có tới 99% tổng số đầu sách thuộc về đề tài miền xuôi, đề tài người Kinh. Cố nhiên không thể phủ nhận giá trị văn hóa cao cả của nó là góp phần mở mang đầu óc; phát triển trí tuệ cho trẻ em vùng cao.
Trẻ em miền núi dân tộc rất cần sách, nhưng do điều kiện nhận biết thông tin, làm quen với môi trường xã hội rộng lớn, đa phương rất hạn chế, khả năng cảm thụ tác phẩm chậm, nên những gì nhà văn viết cho chúng càng gần với đời sống hàng ngày, càng gắn với môi trường mà các em quen biết, thì sức cuốn hút sẽ càng mạnh, nâng tầm nhận thức càng nhanh, tác dụng giáo dục càng cao. Sáng tác cho trẻ em miền núi dân tộc khó hơn rất nhiều so với viết cho trẻ em người Kinh, đồng bằng là ở chỗ đó. Làng bản vùng cao nơi sinh ra và lớn lên của con người miền núi chắc chắn là mảnh đất văn chương hấp dẫn, vừa đúng vừa trúng, đủ giúp các nhà văn viết về đề tài thiếu nhi dân tộc. Riêng tôi, sau khi viết các truyện Làng nhỏ, Con trai Bà chúa Nả, Quả nhạc xòe của mẹ, Suối làng, Chim Ri núi... đã cho tôi nhận thức điều này.
4. Phải thừa nhận trẻ em miền núi hiền lành đến thức thơ mộc. Cảm thấy đúng là chúng tin, chúng thích; cảm thấy không đúng là không thích, không tin. Các truyện tranh nước ngoài nuốt trôi truyện tranh Việt Nam, làm chủ thị trường sách thiếu nhi ở đồng bằng và đô thị, nhưng nó vẫn không vào được với trẻ con vùng cao, là bởi vì nó xa lạ với miền núi, với dân tộc. Tại sao các Nhà xuất bản lại không quan tâm đến truyện tranh cho thiếu nhi miền núi? Có lẽ vì mục đích kinh doanh? Cá nhân tôi thật buồn khi mấy bản thảo lời truyện tranh gửi đi bặt bô âm tín. May có lần NXB đặt cọc, tôi lọ mọ đi lấy tư liệu, và viết lời, gần năm sau sách in ra, 25 trang, NXB trả nhuận bút 70.000đ (năm 2000).
Trên báo chí, tôi cảm thấy lạ, báo chí, kể cả mấy tờ văn nghệ của nhà, gần như không in truyện, in thơ về thiếu nhi miền núi (trừ tờ Thiếu nhi dân tộc với những truyện, những thơ ngăn ngắn). Tại sao vậy? Việc này chỉ có các tòa soạn mới biết.
Tạp chí văn nghệ địa phương? Tìm hiểu từ đồng nghiệp, tôi thấy mừng, các tác giả viết cho thiếu nhi miền núi dân tộc may còn có được nơi an ủi này.
Một chuyện nữa. Nếu tôi không nhầm thì lâu lắm rồi, Hội Nhà văn không tổ chức Trại viết cho thiếu nhi, nhớ lại đầu những năm 90 khi nhà thơ Phạm Hổ chưa nghỉ hưu, thiếu nhi viết, viết cho thiếu nhi, thỉnh thoảng được gặp nhau, sao mà đáng yêu và đáng nhớ. Còn nay, vắng lặng kéo dài. Là nhà thơ tỉnh lẻ có vài ba cuốn sách nhỏ cho thiếu nhi dân tộc, tôi kính đề nghị BCH Hội Nhà văn xem xét khách quan, xem xét rõ nét những "chuyện" tôi đề cập trên đây./.
H . L . K
(Tạp chí Nhà Văn)
Love mickey,