Chữ viết dân tộc thiểu số với văn học - văn hóa
Mã A Lềnh
Đầu thập kỷ 60, chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho xây dựng chữ một số dân tộc thiểu số và đã phê chuẩn phương án chữ Tày Nùng, chữ Thái cải tiến (la tinh hóa) và chữ H’mông. Từ đó, riêng với chữ H’mông được đồng bào H’mông đón nhận hào hứng và đã đưa vào học đường ở các cấp xóa mù, bổ túc văn hóa, bậc tiểu học. ở bậc tiểu học, Viện khoa học giáo dục hồi bấy giờ coi chữ H’mông như là cầu nối từ tiếng "mẹ đẻ" chuyển dần sang tiếng phổ thông (tiếng Việt) và tiếp thu kiến thức học vấn bằng chữ quốc ngữ. Bằng vốn chữ dân tộc mình, đồng bào H’mông sử dụng trong đời sống thường ngày như viết thư, đơn từ, nhất là ghi chép vốn văn học dân gian lưu truyền cho nhau. Tâm lý vô vọng nuối tiếc về chữ và sách bị chìm xuống sông nước rồi thú thần nuốt mất trên dặm đường thiên di tìm đất sống, hoặc bị bò ăn vào bụng vẫn còn được lưu truyền, thì giờ đây Bác Hồ, Chính phủ đã mang lại cho họ, cùng với đó là ánh sáng văn minh, đời sống văn hóa như nàng trăng lại soi rọi vào ngõ ngách lòng người. Nhưng rồi chẳng hiểu sao cái thứ chữ này lại bị vùi dần vào màn đêm quên lãng không một lời tuyên bố, chữ - sách bị gạt ra khỏi bàn giấy, bứt bỏ sự quan tâm. ở đâu không rõ, nhưng ở Lào Cai thì chữ - sách tiếng H’mông chỉ còn tồn tại lác đác ở một vài trường tiểu học. May sao ngành giáo dục Lào Cai còn cố gắng duy trì do sự nhận thức đúng đắn và sự nhiệt tình của từng Ban giám hiệu, của từng giáo viên đang giảng dạy ở địa bàn vùng cao có đông học sinh người H’mông. Song dường như cuộc thăng tiến của xã hội càng nhanh thì chữ - tiếng dân tộc càng bị tẩy trừ nhanh. Cùng theo đó là văn hóa dân tộc với những phong tục, tập quán có bản sắc độc đáo riêng cũng bị cạnh tranh, lấn át. Xuất phát từ yêu cầu tăng cường vận động quần chúng với tình hình bức xúc phải ổn định chính trị mang tính thời sự, một số cơ quan, ngành có chức năng tiếp xúc thường xuyên với đồng bào có tổ chức học chữ H’mông như một giải pháp tình thế. Còn thì chữ H’mông vẫn không được phổ biến, sử dụng rộng rãi trong đời sống với chức năng là một phương tiện văn hóa giao lưu cộng đồng để phát triển tri thức dân gian hay tri thức bác học; đến những việc thông thường của đời sống cũng không thấy sử dụng tới như phổ biến kiến thức trồng trọt, chăn nuôi, nuôi dạy con cái, ăn ở vệ sinh, cách thức xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu, thông tin cổ động, tuyên truyền đường lối chính sách...
Tình hình chữ dân tộc, mà cụ thể là chữ H’mông là vậy, thì đương nhiên chỉ có dở hơi, chỉ có bất đắc chí, chỉ có khùng mới cố kì cạch cái thứ chữ này để chuyển tải văn chương, thơ ca. Đành rằng biết rất rõ dùng chữ viết dân tộc mới có thể biểu đạt được hết sự lấp lánh phong phú của ngôn ngữ dân tộc mình. Văn học viết bằng chữ dân tộc nay mới cựa quậy, so với thời gian, không gian, chuyện đó không phải sớm hay muộn, nhưng khi "nó" rơi vào hoàn cảnh xã hội đó, lại với vốn dĩ sức đề kháng mỏng manh cộng với tình hình công chúng, bạn đọc ngoảnh mặt bởi họ đang mải lo toan kinh tế trong khi con trẻ đã đến trường lớp là tách biệt hẳn với ngôn ngữ "mẹ đẻ", cứ thế mà học cố kiết, đứa nào rơi rụng thì còn gắn với không gian môi trường truyền thống, đứa nào càng vươn lên cho kịp với thời hiện đại, là càng "mất gốc", trong tình hình đó nếu cố viết cũng chỉ là công bay tan theo mây gió.
Nhưng có viết không? Có chứ, dẫu biết rằng như thế là bất đắc chí, là dở hơi, là điên khùng (!) Chép truyện cổ, dân ca, ghi các phong tục, tập quán, sáng tác văn, thơ bằng giọng điệu thiếu nhi, viết truyện, tản văn đời thường, chuyện tào lao chi khươn... chẳng để làm gì thời này thì cũng thỏa tính "bất đắc chí" trong riêng mình.
Ai sẽ là bà đỡ nhỉ? Không có! Có chăng chỉ được vài trang trên báo Văn nghệ dân tộc, báo Thiếu nhi dân tộc, chứ viết hẳn quyển thì ai dám in nào, lỗ chổng kềnh. Người đọc ư? Tôi dám chắc rằng sẽ không khác gì núi đá vôi gặp cơn mưa, ruộng nẻ gặp dòng nước. Bạn đọc của chúng ta là vô vàn những người dân lam lũ chất phác ở tận các làng thôn xa xôi hẻo lánh. Tôi đã từng thấy một ông cụ lấy sách chữ H’mông cất trên gác cùng với thóc giống, tay rưng rưng cung kính mở từng trang kết đầy bồ hóng, và cũng thấy người ông viết chữ nắn nót lên tường đất rồi dạy cho con cháu. Chẳng phải có một thứ chữ H’mông ngoại lai đã và đang sống len lỏi, ngoi ngồng, nghiễm nhiên lây truyền trong các xóm làng đó sao; và đồng bào vô tư tiếp nhận nó để mà còn đọc kinh thánh, để mà còn hát thánh ca đó sao? Thêm một nếp sống văn hóa dị phong tạm thời có thể là "tân tiến" khác biệt với phong tục truyền thống, chẳng chết ai, nhưng dân ca, cổ tích, huyền thoại cùng những tập quán tôn thờ thần đất, thần nước, thần lương thực, thần gia súc và cả vong linh ông bà đang bị tấn công, dồn ép lặng lẽ diễn ra trước nhãn tiền đó, rằng ai ơi có xót đau?
Lòng tự trọng dân tộc vốn chìm sâu tiềm ẩn trong máu thịt, huyết quản của mỗi người, một tộc người, mỗi cộng đồng người. Ai yêu thương dân tộc mình, quý trọng, tôn vinh nền văn hóa dân tộc mình, hãy cứ lặng lẽ mà viết, hãy bình tâm âm thầm góp phần làm giàu cho nền văn hóa ấy. Tôi vẫn hy vọng, vẫn có niềm tin xa vời rằng bạn đọc của tôi là thế hệ mai sau, khi ấy cùng với trình độ dân trí đã cao lên, thì ý thức tự tôn dân tộc, nhận thức về sự giàu có bản sắc dân tộc trong một quốc gia nhiều dân tộc cũng được nâng cao, văn hóa với những phong tục, tập quán đậm sắc thái truyền thống có thể được đầu tư khơi dậy hoặc có sự đầu tư cải biên để trở thành một nguồn lực kinh tế, thế hệ ấy sẽ lần tìm đọc chúng ta. Biết đâu khi ấy tôi và cả chúng ta sẽ bị chê trách do mải húc đầu với cơ chế thị trường cùng bao thứ cản trở thách thức làm cho tâm huyết phai mờ đi, nên không để lại chút của nả, vốn liếng gì. Đó mới là điều đáng sợ! Chẳng phải nói to tát, song Dân tộc - Quốc gia - Quốc tế và Con người - Nhân Dân - Nhân Loại vốn nằm sâu trong tâm thức của mỗi Nhà văn, là niềm lo toan đau đáu của mỗi Nhà văn. Nếu không thế thì viết văn để làm gì?
M . A . L
(Tạp chí Nhà Văn)
Mã A Lềnh
Đầu thập kỷ 60, chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho xây dựng chữ một số dân tộc thiểu số và đã phê chuẩn phương án chữ Tày Nùng, chữ Thái cải tiến (la tinh hóa) và chữ H’mông. Từ đó, riêng với chữ H’mông được đồng bào H’mông đón nhận hào hứng và đã đưa vào học đường ở các cấp xóa mù, bổ túc văn hóa, bậc tiểu học. ở bậc tiểu học, Viện khoa học giáo dục hồi bấy giờ coi chữ H’mông như là cầu nối từ tiếng "mẹ đẻ" chuyển dần sang tiếng phổ thông (tiếng Việt) và tiếp thu kiến thức học vấn bằng chữ quốc ngữ. Bằng vốn chữ dân tộc mình, đồng bào H’mông sử dụng trong đời sống thường ngày như viết thư, đơn từ, nhất là ghi chép vốn văn học dân gian lưu truyền cho nhau. Tâm lý vô vọng nuối tiếc về chữ và sách bị chìm xuống sông nước rồi thú thần nuốt mất trên dặm đường thiên di tìm đất sống, hoặc bị bò ăn vào bụng vẫn còn được lưu truyền, thì giờ đây Bác Hồ, Chính phủ đã mang lại cho họ, cùng với đó là ánh sáng văn minh, đời sống văn hóa như nàng trăng lại soi rọi vào ngõ ngách lòng người. Nhưng rồi chẳng hiểu sao cái thứ chữ này lại bị vùi dần vào màn đêm quên lãng không một lời tuyên bố, chữ - sách bị gạt ra khỏi bàn giấy, bứt bỏ sự quan tâm. ở đâu không rõ, nhưng ở Lào Cai thì chữ - sách tiếng H’mông chỉ còn tồn tại lác đác ở một vài trường tiểu học. May sao ngành giáo dục Lào Cai còn cố gắng duy trì do sự nhận thức đúng đắn và sự nhiệt tình của từng Ban giám hiệu, của từng giáo viên đang giảng dạy ở địa bàn vùng cao có đông học sinh người H’mông. Song dường như cuộc thăng tiến của xã hội càng nhanh thì chữ - tiếng dân tộc càng bị tẩy trừ nhanh. Cùng theo đó là văn hóa dân tộc với những phong tục, tập quán có bản sắc độc đáo riêng cũng bị cạnh tranh, lấn át. Xuất phát từ yêu cầu tăng cường vận động quần chúng với tình hình bức xúc phải ổn định chính trị mang tính thời sự, một số cơ quan, ngành có chức năng tiếp xúc thường xuyên với đồng bào có tổ chức học chữ H’mông như một giải pháp tình thế. Còn thì chữ H’mông vẫn không được phổ biến, sử dụng rộng rãi trong đời sống với chức năng là một phương tiện văn hóa giao lưu cộng đồng để phát triển tri thức dân gian hay tri thức bác học; đến những việc thông thường của đời sống cũng không thấy sử dụng tới như phổ biến kiến thức trồng trọt, chăn nuôi, nuôi dạy con cái, ăn ở vệ sinh, cách thức xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu, thông tin cổ động, tuyên truyền đường lối chính sách...
Tình hình chữ dân tộc, mà cụ thể là chữ H’mông là vậy, thì đương nhiên chỉ có dở hơi, chỉ có bất đắc chí, chỉ có khùng mới cố kì cạch cái thứ chữ này để chuyển tải văn chương, thơ ca. Đành rằng biết rất rõ dùng chữ viết dân tộc mới có thể biểu đạt được hết sự lấp lánh phong phú của ngôn ngữ dân tộc mình. Văn học viết bằng chữ dân tộc nay mới cựa quậy, so với thời gian, không gian, chuyện đó không phải sớm hay muộn, nhưng khi "nó" rơi vào hoàn cảnh xã hội đó, lại với vốn dĩ sức đề kháng mỏng manh cộng với tình hình công chúng, bạn đọc ngoảnh mặt bởi họ đang mải lo toan kinh tế trong khi con trẻ đã đến trường lớp là tách biệt hẳn với ngôn ngữ "mẹ đẻ", cứ thế mà học cố kiết, đứa nào rơi rụng thì còn gắn với không gian môi trường truyền thống, đứa nào càng vươn lên cho kịp với thời hiện đại, là càng "mất gốc", trong tình hình đó nếu cố viết cũng chỉ là công bay tan theo mây gió.
Nhưng có viết không? Có chứ, dẫu biết rằng như thế là bất đắc chí, là dở hơi, là điên khùng (!) Chép truyện cổ, dân ca, ghi các phong tục, tập quán, sáng tác văn, thơ bằng giọng điệu thiếu nhi, viết truyện, tản văn đời thường, chuyện tào lao chi khươn... chẳng để làm gì thời này thì cũng thỏa tính "bất đắc chí" trong riêng mình.
Ai sẽ là bà đỡ nhỉ? Không có! Có chăng chỉ được vài trang trên báo Văn nghệ dân tộc, báo Thiếu nhi dân tộc, chứ viết hẳn quyển thì ai dám in nào, lỗ chổng kềnh. Người đọc ư? Tôi dám chắc rằng sẽ không khác gì núi đá vôi gặp cơn mưa, ruộng nẻ gặp dòng nước. Bạn đọc của chúng ta là vô vàn những người dân lam lũ chất phác ở tận các làng thôn xa xôi hẻo lánh. Tôi đã từng thấy một ông cụ lấy sách chữ H’mông cất trên gác cùng với thóc giống, tay rưng rưng cung kính mở từng trang kết đầy bồ hóng, và cũng thấy người ông viết chữ nắn nót lên tường đất rồi dạy cho con cháu. Chẳng phải có một thứ chữ H’mông ngoại lai đã và đang sống len lỏi, ngoi ngồng, nghiễm nhiên lây truyền trong các xóm làng đó sao; và đồng bào vô tư tiếp nhận nó để mà còn đọc kinh thánh, để mà còn hát thánh ca đó sao? Thêm một nếp sống văn hóa dị phong tạm thời có thể là "tân tiến" khác biệt với phong tục truyền thống, chẳng chết ai, nhưng dân ca, cổ tích, huyền thoại cùng những tập quán tôn thờ thần đất, thần nước, thần lương thực, thần gia súc và cả vong linh ông bà đang bị tấn công, dồn ép lặng lẽ diễn ra trước nhãn tiền đó, rằng ai ơi có xót đau?
Lòng tự trọng dân tộc vốn chìm sâu tiềm ẩn trong máu thịt, huyết quản của mỗi người, một tộc người, mỗi cộng đồng người. Ai yêu thương dân tộc mình, quý trọng, tôn vinh nền văn hóa dân tộc mình, hãy cứ lặng lẽ mà viết, hãy bình tâm âm thầm góp phần làm giàu cho nền văn hóa ấy. Tôi vẫn hy vọng, vẫn có niềm tin xa vời rằng bạn đọc của tôi là thế hệ mai sau, khi ấy cùng với trình độ dân trí đã cao lên, thì ý thức tự tôn dân tộc, nhận thức về sự giàu có bản sắc dân tộc trong một quốc gia nhiều dân tộc cũng được nâng cao, văn hóa với những phong tục, tập quán đậm sắc thái truyền thống có thể được đầu tư khơi dậy hoặc có sự đầu tư cải biên để trở thành một nguồn lực kinh tế, thế hệ ấy sẽ lần tìm đọc chúng ta. Biết đâu khi ấy tôi và cả chúng ta sẽ bị chê trách do mải húc đầu với cơ chế thị trường cùng bao thứ cản trở thách thức làm cho tâm huyết phai mờ đi, nên không để lại chút của nả, vốn liếng gì. Đó mới là điều đáng sợ! Chẳng phải nói to tát, song Dân tộc - Quốc gia - Quốc tế và Con người - Nhân Dân - Nhân Loại vốn nằm sâu trong tâm thức của mỗi Nhà văn, là niềm lo toan đau đáu của mỗi Nhà văn. Nếu không thế thì viết văn để làm gì?
M . A . L
(Tạp chí Nhà Văn)
Love mickey,