Tiếng mẹ đẻ với sáng tác thơ, văn
Nông Viết Toại
Không ít băn khoăn, là việc dùng tiếng mẹ đẻ trong sáng tác văn học. Thông thường thì việc dùng ngôn ngữ tộc người mình trong sáng tác thơ văn là sự đương nhiên, thường tình thì không có chuyện gì phải bàn. Nhưng, nước ta là một quốc gia có nhiều dân tộc. Làm được một bài thơ, văn, người đọc trước hết là người trong tộc ngữ của mình. Song, đồng thời cũng cần được người đọc các dân tộc anh em trong đại gia đình cũng được thưởng thức. Bởi, có được bạn đọc đông đảo đó, ý kiến khen hay chê đều quý cả.
Nước ta có hàng chục ngôn ngữ dân tộc và địa phương khác nhau. Song, có một hạnh phúc lớn là 54 anh em có một ngôn ngữ phổ thông là tiếng Việt. Đó là cái cầu nối, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số đã và đang đến được với nhau từ tiếng mẹ đẻ của tộc người mình.
ở hội thảo này không phải là bàn về chuyên đề ngôn ngữ dân tộc. Tôi xin được phép bày tỏ khía cạnh của ngôn ngữ, có quan hệ mật thiết với việc sáng tác thơ, văn bằng tiếng mẹ đẻ của tộc người mình.
Ngôn ngữ Tày, quá trình nghiên cứu ở những năm giữa thế kỷ 20 được ghép vốn ngữ của hai tộc người là tiếng nói Tày, Nùng ở khu Việt Bắc. Tuy nhiên, quá trình sử dụng, dạy thí điểm ở giáo dục cơ sở, cũng như dùng trong ngành thông tin văn hóa cũng có những mặt có phần khiên cưỡng. Và, cuối cùng công việc xây dựng chữ viết Tày, Nùng lại dừng lại như một hiện tượng nửa vời! Thời kỳ bắt đầu được mang tên gọi “Tiếng nói và chữ viết Tày, Nùng” đến nay đã ngót 50 năm (48 năm). Song, sự cảm nhận của tôi, việc gộp lại như vậy phần nào còn đơn giản quá chăng. Thực ra, ở tiếng Tày và Nùng những từ cơ bản là giống nhau. Nhưng nếu đi sâu một chút, sẽ gặp không ít những từ khác nhau mà không chỉ khác ở phát âm nặng nhẹ.
Tôi chỉ xin trình bày đôi điều về tiếng Tày với sáng tác thơ, văn của tộc người mình ở địa phương. Xin được khuôn lại ngôn ngữ của Tày, nói tiếng Nùng tôi không được tường lắm.
1. Mấy yếu tố đã tạo điều kiện phát huy thêm bản năng ưa thích sáng tác thơ văn bằng tiếng mẹ đẻ.
Sinh ra và lớn lên từ tộc người thì việc biết nói tiếng nói của tộc người mình là lẽ tự nhiên, là tất nhiên. Còn yếu tố giúp cho sự ham muốn được nâng lên từ bản năng đó, tôi thấy có 2 điểm. Trước hết, cũng như mọi người, đều bắt đầu từ lời ru của người mẹ. Cùng lúc đó, từ tuổi thiếu nhi, đã được nghe, được thấy trong các hình thức sinh hoạt văn hóa của cộng đồng ở làng bản. Trong đó chủ yếu ở các dịp lễ hội lồng tổng đến các buổi lễ kỳ yên, đám cưới... Riêng hình thức lượn, rồi thơ đám cưới, đón dâu, đón rể... mời rượu, chuốc rượu nhau ở lớp người lớn, các cụ... được thu lượm dần. Những lời giao đãi, những lý do, lý lẽ mời mọc cũng như chối từ, đều mang không ít chất trí tuệ - văn chương ở sự đối đáp giữa đôi bên. Dẫu còn ở tuổi trẻ con, cũng đã được tích tụ ngấm dần. Khi đến tuổi 16, 17 chớm biết yêu, thì những phong thư gửi bạn gái, có thể coi đó là những bài thực nghiệm cái bản năng trứng nước của mình, cộng với sự thu lượm được từ lớp người lớn. Những hình ảnh chim quang quý, khảm khắc, bjóc lạ, bjóc slôm... nào đã biết hình thù nó thế nào; mà chỉ trong tưởng tượng thô thiển, đã gây men dần trong ý tưởng, tâm niệm. Dù sao, cái bước đầu ấy, vẫn đầy chất tự nhiên, thô sơ. Bởi vốn đó phần nhiều do bắt chước, sao chép từ các cụ, các lớp đàn anh, đàn chị. Năm 1937, học hết lớp ở tiểu học sơ đẳng, thi xong Sơ học yếu lược, tôi và nhiều bạn bè khác cùng lớp coi như thôi học chữ quốc ngữ. Một vài bạn, nhà có điều kiện đi học tiếp lên lớp nhì A và B ở tỉnh lị hoặc Phủ Thông. Còn bọn chúng tôi, dù mới ở tuổi 12, 13 hằng ngày vẫn ở nhà giúp bố mẹ việc vặt. Nấu cơm, hái củi, chăn trâu, trèo ổi, bắt chim, tắm suối... lêu lổng đánh sảng, đánh khăng vẫn nhiều hơn.
Vùng quê Tóc Đán từ xưa, gia đình tôi cùng một số dòng họ khác, vốn có chút tinh thần hiếu học. Bố tôi mắc bệnh hiểm nghèo đã mất sớm, đến tuổi 49 (1937 Đinh Sửu). Mẹ và anh cả cùng một vài gia đình bàn nhau đi đón thày đồ về mở lớp học chữ Hán tại nhà. Ba, bốn lượt thày đồ đều người Cao Bằng. Các ông đồ, mỗi vị ít nhiều đều có chút vốn thơ, đối, bên cạnh việc dạy chúng tôi chữ Hán. Trong số đó đặc biệt có thày đồ Hậu, có tiếng giỏi làm thơ tiếng Tày.
Nhà tôi có bốn anh em trai. Riêng anh cả hằng ngày phải giúp mẹ lo toan cuộc sống gia đình, đã hạn chế điều kiện học hỏi thơ, đối. Còn ba đứa em, ít nhiều đều được tiếp thu với ông đồ Hậu cách làm thơ, nhất là thơ Đường. Có thể nói anh em chúng tôi có dịp phát huy năng khiếu còn phôi thai của mình. Nói chung, chúng tôi có may mắn được tiếp nhận luồng thơ văn từ Cao Bằng, mà người truyền giáo chủ yếu là ông đồ Hậu tức nhà thơ Tày - Hoàng Đức Hậu. Cần nói thêm rằng, luồng văn hóa từ Cao Bằng du nhập vào Bắc Kạn bên cạnh thơ, văn, còn phải kể cả then, bục, các chuyện truyền khẩu dân gian Ngân Sơn, là huyện giáp phủ Hòa An, Cao Bằng. Cũng xin kể thêm, ông bố tôi vốn là một thày tào. Quốc ngữ, cụ chỉ đọc bằng cách đánh vần từng chữ, rồi mới đọc lại cả câu với một cuốn sách Sử ký đã rách bìa. Còn chữ Hán, ông thuộc loại khá ở địa phương lúc bấy giờ. Thày tào đi cúng lễ, thường phải viết nhiều loại sớ, biểu, trong đó còn có cả nhiều câu đối đại tự trong hành nghề và tang gia. Do vậy, mới ở tuổi thiếu niên tôi viết chữ Hán đã khá đẹp, kể cả viết đại tự bằng tay tre non. Thế nhưng cũng khác nào như cái máy thô sơ, viết thì được nhưng chẳng hiểu nghĩa là gì. Những dịp đi đám được các cụ trong làng khen là có khiếu, có hoa tay, lại càng thêm hứng, thêm bốc. Thực ra, khi đang học cũng chỉ chăm chú học chữ. Thơ thì mới biết sơ về niêm luật. Còn sáng tác với đề nọ đề kia, bấy giờ chưa biết làm thành bài thơ hoàn chỉnh. Từ đấy dần dần tự vận dụng chút công thức đó vào sáng tác văn vần trong cách mạng tháng Tám và sau cuộc kháng chiến 9 năm... Tuy nhiên, làm thơ bằng chữ Hán thì không đủ vốn mà tiếng Việt mới bập bẹ. Do đó, phương tiện diễn đạt chút ít tâm tình, chủ yếu là tiếng Tày mẹ đẻ. Bởi đó có chút hứng thú và tự tin, sau ngày được thuộc, được nghe những bài thơ Tày của ông Hoàng Đức Hậu trong những ngày tháng được học chữ với thày.
2. Thuận lợi và khó khăn
Khi đã có cảm xúc, cầm bút ghi ra những dòng tư duy của mình bằng tiếng mẹ đẻ, nó không vướng mắc phải nghĩ kiếm tìm từ ngữ như tiếng Việt nữa. Nghĩ thế nào ghi thế ấy. Tuy nhiên, bên thuận lợi ấy cũng khó tránh khỏi: dễ dàng sa vào cả những khẩu ngữ thường ngày dẫn đến tự nhiên chủ nghĩa. Những ngày đầu đã được hiểu một cách cứng nhắc, thơ nhất thiết phải có vần. Trong một bài thơ có những câu đã kiếm ra được đủ từ cho câu thất ngôn hay năm chữ, nhưng lại bị ép vần. Những trường hợp ấy có thể lại dùng từ ở địa phương khác mà cùng nghĩa. Điều này ông đồ Hậu cũng đã thường làm. Trong bài Lạc đường Na-khoang, cụ đã viết: “Noọng nàng xan cụ pấy pù pại” (Hỏi thì được cô em bảo rẽ sang đồi bên trái). Thì cái từ “pại” là của Tày - Bắc Quang, Vị Xuyên, Hà Giang, chứ không phải Hòa An quê ông. Tiếng Tày cũng có lắm từ cùng nghĩa mà khác âm giữa các địa phương. Chẳng hạn “Bên kia” trong tiếng Việt thì Tày Cao Bằng là “bưởng pẳng”, “bưởng diến” còn ở Tày Hà Giang lại là “bưởng pại”. Trong khi đó anh em Tày xứ Lạng lại là “bưởng vè”. Còn ở vùng chúng tôi, phía bắc Bắc Kạn lại là “pạng bưởng” ([1]).
Cách đây đã hơn nửa thế kỷ, nhà thơ Tày - Hoàng Đức Hậu dùng từ của Tày Hà Giang vào thơ của mình, có thể do địa phương ta đất rộng người thưa mà cũng dễ dàng hiểu được nhau chăng.
Còn mặt khó khăn thì nhiều. Trước hết, tuy cùng là Tày, nhưng giữa các vùng, chỉ trong phạm vi các tỉnh trong khu Việt Bắc cũ thôi, cũng đã không hiểu được nhau ở một số từ không ít. Chẳng hạn, tiếng Tày xứ Lạng - ở huyện Bắc Sơn, có từ mà Tày quê tôi, khi nghe người ta - nhất là chị em nữ, mặt cứ đỏ lên cười rũ rượi. Bởi nghe cái âm của từ ấy, mang cái nghĩa của địa phương mình lại rất... thô tục - vì nó là chỗ kín nhất (!)
Từ những khó khăn ấy, dẫn tới một vướng mắc chung là khâu xuất bản, in ấn, phát hành. Khắc phục phần nào khó khăn này, lâu nay trên cũng đã thường động viên các tác giả DTTS cần cố gắng dịch sang tiếng phổ thông, sau khi đã hoàn chỉnh phần tiếng dân tộc. Vấn đề song ngữ ở các bài viết là cần thiết và đúng đắn. Song, việc dịch cũng không dễ dàng.
Như tôi, vốn tiếng Việt chỉ mới tạm đủ dùng hỏi đường ra chợ mua hàng vặt! Việc dịch thơ, văn từ tiếng mẹ đẻ của tộc người mình sang tiếng Việt - tiếng phổ thông, cần có một vốn từ mang nghĩa tương đồng tương ứng. Nguyên bản bài thơ tiếng Tày, người cùng địa phương nghe có thể thích thú, thậm chí có người có thể nhớ, thuộc được số câu, số đoạn nào đó. Nhưng đọc sang bản dịch, thì bạn đọc gặp không ít những từ lại như ngây ngô, dớ dẩn và tối nghĩa. Hóc nhất là ở những từ lóng hoặc ví von bằng những hình tượng quen thuộc trong tiếng mẹ đẻ. Riêng tôi, 16, 17 tuổi là hội viên Việt Minh rồi mới bập bõm học tiếng Kinh! Còn học vấn đến nay, mỗi khi có việc cần viết lý lịch trích ngang thì vẫn ghi tốt nghiệp lớp ba trường làng vùng cao từ năm 1937 (!)
Tuy nhiên, nửa thế kỷ qua nhiều anh chị em người Tày đã đỗ đạt phó giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư... Nhưng nếu nhờ họ dịch hộ một bài văn vần tiếng Tày sang tiếng Việt, nhiều khi cũng chưa phải ai cũng thuận tay.
3. Về hiện tượng mai một hoặc pha tạp lai căng
Vốn văn hóa truyền thống trong đó có ngôn ngữ, văn tự của các DTTS thì ở tộc người Tày, cũng đã và đang có hiện tượng mai một hoặc pha tạp, lai căng (!)
Biểu hiện trong cuộc sống thường ngày, đi đâu người ta cũng dễ gặp sự mai một trước hết ở trang phục, ngôn ngữ và cả không ít điều trong tập tục sinh hoạt văn hóa, kể cả những nét được liệt vào lành mạnh - mỹ tục thuần phong.
ở đây, tôi chỉ xin được trao đổi đôi nét về ngôn ngữ vì nó quan hệ mật thiết đến sáng tác thơ, văn.
Riêng hệ thống phát thanh, bà Nguyễn Thị Kim Cúc, Phó Tổng biên tập Đài TNVN đã cho thính giả cả nước biết, bên cạnh tiếng Việt, tiếng nói chủ thể, đến nay Đài phát thanh TNVN đã có thêm chương trình phát thanh 6 tiếng DTTS, với thời lượng đủ đáp ứng nhu cầu người nghe cả nước, trước hết là các tộc người đó. Ngoài ra, Đài phát các tỉnh có nhiều DTTS trong đó có Bắc Kạn chúng tôi, nhiều năm nay cũng đã có thêm chương trình phát thanh tiếng Dao và tiếng Tày, Nùng. Những cố gắng đó, chứng tỏ rằng, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm việc bảo tồn, phát triển tiếng nói của các dân tộc. Song, hiệu quả của nó, bên cạnh những thành tựu tuyên truyền giáo dục chính sách, đường lối xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, cũng còn không ít những hạn chế về mặt phát triển kinh tế - xã hội, cũng còn không ít những hạn chế về mặt phát huy vốn ngôn ngữ dân tộc ít người. Bởi ngôn ngữ, ngoài chức năng chủ yếu là thông tin, thì người nghe đòi hỏi có mức truyền cảm thắm thiết, đậm đà. Anh chị em phát thanh viên tuổi đều trẻ, trong phát âm họ lại thường gò vào đúng như các thanh sắc, hỏi, nặng nhất là thanh ngã cứ đúng như âm tiếng Việt (!) Bởi, phát âm đúng giọng của tiếng Tày, Nùng có nhiều âm lửng so với âm tiếng Việt. Có số ông, bà ở xã Thuần Mang, huyện Ngân Sơn đã thường nói: “Nghe cái giọng “Keo pết hải” cũng hiểu được thôi, nhưng nó buồn cười lắm; nó gần giống như người Kinh nói tiếng Tày vậy”. Do đó sự truyền cảm là hạn chế.
Còn việc dịch sang tiếng phổ thông, thì khi nghe các buổi phát thanh Tày, Nùng của tỉnh, các thính giả người Kinh đều có ý kiến: đại thể chúng tôi đều hiểu được gần hết, vì pha trộn tiếng Việt quá nhiều, nhất là những từ, những cụm từ Hán - Việt. Phản ứng này đã có từ thời kỳ 20 năm Đài phát thanh khu Việt Bắc, chứ không chỉ ngày nay mới có. Và, ngay thính giả người Tày, Nùng cũng đã có người phàn nàn: “thà cứ nói thẳng tiếng phổ thông còn dễ nghe hơn (!)”
Năm bốn mươi sáu, bà con thị xã Bắc Kạn thi thoảng có ngày được nghe vợ chồng ông giáo Đĩnh người miền xuôi, to tiếng với nhau. Khi nổi đóa lên, hai vợ chồng đều dùng ngoại ngữ. Khi tiếng Pháp, lúc lại tiếng Anh. Có nhẽ chẳng phải ông bà giáo khoe với hàng xóm, mà có thể ông bà muốn giấu các ý tứ đang cãi nhau không lành lặn lắm thì phải. Trường hợp như vậy kể cũng hiếm gặp, mà vốn ngoại ngữ của hai thầy cô chắc cũng dư dật thì phải.
Còn thanh niên trai gái Tày khi tỏ tình, tôi cũng chưa được thấy đôi nào khi trò chuyện giao duyên lại nói bằng tiếng phổ thông, cho dù cả hai đều đã tốt nghiệp đại học khoa ngôn ngữ. Trong tình yêu (kể cả trường hợp chửi mắng nhau) không thể không dùng tiếng mẹ đẻ. Mọi ví von, hình tượng đều phải bằng ngôn ngữ của tộc người mình, mới đủ biểu lộ tâm tư tình cảm sâu xa được. Tôi nghĩ làm một mẩu văn vần cũng vậy thôi.
Tiếng mẹ đẻ có những ưu điểm thuận lợi như thế, vậy mà hiện trạng đã và đang có sự mai một, lai tạp là vì sao vậy?
Vật chất cũng như tinh thần - trong đó có ngôn ngữ, với cuộc sống con người ta, có giữ gìn, phát triển được hay không, có thể chủ yếu do từ nhu cầu. Điểm này xin được trao đổi thêm ở phần sau.
Cái xu hướng pha tạp, lai căng này, ở địa phương tôi đã thấy nảy sinh từ lâu. Ngày còn ở tuổi thiếu nhi, trong các đám kỳ yến, bảo phúc tháng giêng, tôi đã được nghe mẹ tôi thường nói với các bà hàng xóm, trong khi đang cùng nghe bà then hành nghề. “Then cũng như lượn ở Bắc Kạn - mình không hay bằng ngoài Cao Bằng. Ngoài đó người ta biết “phu nôm keo” hay hơn của ta...” Như vậy, từ thập kỷ 30, 40 thế kỷ trước, các cụ ở địa phương tôi, đã có xu hướng đó. Xu hướng này đặt ra cho chúng ta hai điều suy nghĩ: Trước hết, đó phải biểu hiện một thái độ - một yêu cầu cần phải biết tiếp thu những gì mới lạ của nơi khác, để làm phong phú thêm ngôn ngữ của địa phương mình. Hai là, một số mặt nào đó, biểu hiện tư tưởng tự ti. Và, cũng từ ngày ấy đến nay, ngót sáu, bảy chục năm, tiếng Tày đã tiếp nhận sự du nhập không ít số từ thường dùng trong ứng xử giao tiếp hàng ngày. Chẳng hạn, bỏ dần số từ cũ vốn đã dùng hàng trăm năm, để thay vào đó bằng số từ tiếng Việt như: vì rằng, ví dụ, thành ra, có thể, nếu mà v.v... thay dần vào những từ vốn có là nhoòng, pỉ cạ, tẻo pền, ấn mà cũng đảy, đảy pi om hay pim bái (cảm ơn) v.v... Cho nên ngày nay thính giả người Kinh nghe tiếng Tày, Nùng của Đài tỉnh, chẳng cần ai dịch đều nghe được đại thể là vì thế. Thiếu từ mà phải mượn là cần thiết và chính đáng. Đằng này từ của tộc người có sẵn lại tự mình bỏ đi, như một thái độ cố tình quên lãng, rồi thay vào đó những từ của tộc người khác thì có phải do tự ti?
Xin thêm rằng, việc mượn từ ngữ của tộc người khác là đúng đắn khi mình thiếu mà cần thiết, nhất là những thứ mà nền kinh tế từ xưa lạc hậu chưa làm ra được. Mình mới đẽo ra được cái cày, đan được cái sọt, cái lồng, thì những thứ do công nghệ tiên tiến hơn làm đành phải dùng những từ tên gọi các thứ đó. Ngay cả tiếng phổ thông, có thời gian khá dài ta cũng phải dùng líp, xích, rơ moóc... chẳng hạn. Những trường hợp đó mà cố tình một cách máy móc, cố định một cách sống sượng cũng chẳng có lợi cho vốn ngôn ngữ của mình; từ “gác-đờ-bu” sang “chắn bùn” của tiếng Việt cũng còn phải qua một thời gian mới quen được.
Xin được trở lại vấn đề vì sao tiếng nói của tộc người Tày cứ tự pha tạp mai một dần. Suy cho cùng vấn đề có thể do từ nhu cầu. Ngày nay, là người Tày một mình vào ga mua vé từ ga Hà Nội đi thẳng đến ga Hòa Hưng thành phố Hồ Chí Minh cũng không có gì khó khăn trở ngại. Bởi ông ta đã có vốn tiếng Việt đủ giao dịch rồi. Hoặc một số khá đông hộ gia đình, trong đó có gia đình tôi ở thị xã Bắc Kạn - một tỉnh vùng cao mà cả nhà có đến 3, 4 thế hệ tuổi, hằng ngày đều thường nói tiếng phổ thông. Chỉ trừ các cụ cao tuổi nói tiếng Tày, khi cần kể lại với nhau những sự việc quá khứ. Cũng chẳng phải là giữ bí mật với con cháu, mà là do những sự kiện lâu đời ấy, có dùng tiếng mẹ đẻ diễn đạt mới thỏa mãn. Đã không ít lần tiếp chuyện những ông tuổi trung niên (nhất là cán bộ hưu trí), mình chào hỏi bằng tiếng Tày, họ lại đều trả lời bằng tiếng Kinh trong khi dùng từ không đúng mẹo, từ vụng, mà người ta vẫn thích và cố nói một cách khập khiễng, vất vả! Lớp tuổi trẻ, từ trên ghế nhà trường đến sinh hoạt Đoàn và cả ra đường phố, tiếp xúc với nhiều đối tượng kể cả đối tượng cùng là người Tày, cũng đều ít dùng đến tiếng mẹ đẻ cũng là điều dễ hiểu. Vậy các hiện tượng này cần phê phán hay đáng hoan nghênh? Tôi cho rằng nói chung là do dần dần không còn là nhu cần thiết nên dẫn tới hiện tượng này một cách có thể nói là rất tự nhiên mà thôi.
Sự lây lan này, thường được phê là lai căng pha tạp, cũng đúng. Tiếng nói tưởng là bề ngoài, là phần văn hóa phi vật thể, nhưng thực chất là biểu hiện ra từ động cơ tư tưởng, từ nhận thức, từ ý thức đối với tộc người của mình, nếu nói một cách nặng lời thô bạo, cũng là thái độ ngày 3 tháng 3 họ coi mả tổ cúng chẳng ra gì!
Tuy nhiên, với hiện trạng này khó có thể tuyên truyền chung chung hoặc dùng biện pháp hành chính chuyển động được. Về mặt khoa học, cần được sự phân tích lý giải, đủ sức thuyết phục của các chuyên gia dân tộc học. Chỉ khuyên bảo hô hào chung chung, cũng chỉ như giội nước lã vào lá khoai sọ mà thôi.
Xin góp thêm đôi lời về song ngữ. Tòa soạn tờ báo nọ yêu cầu cộng tác viên và bạn đọc có gửi bài, xin gửi kèm bản dịch. Yêu cầu đó là đúng đắn. Trên thực tế, bản tiếng Tày của tôi, Tòa soạn có dùng. Hiệu quả lại không tác dụng. Một mẩu văn vần dăm mười câu thôi mà bạn đọc người Tày cùng địa phương cũng không đọc nổi. Từ khâu biên tập đến khâu in ấn đều là lớp trẻ “chữ tác vạc chữ tộ”. Kết quả tăng phần tính dân tộc thường chỉ là ý nghĩa chung chung, có bài tiếng dân tộc (!). Từ thực tế ấy, cộng tác viên cũng mất hứng thú rồi lảng dần. Nhìn sang nước bạn, cố nhà thơ lớn của Liên bang Nga, Raxun Gamzatốp, đã dẫn ra có lý có tình vấn đề song ngữ giữa tiếng dân tộc Avar và ngôn ngữ Nga. ở ta lại đã và đang có tỉ lệ nghịch! Một vài anh em Tày làm thơ tiếng Việt, được khá đông bạn đọc cả nước biết tên tuổi. Thế nhưng, quần chúng quê hương tác giả lại chưa hề biết hoặc ít biết, là tộc người mình có con em được nơi khác tôn là nhà thơ (!). Cũng phải nhận rằng, anh em đó làm thơ tiếng Việt đã có số bài rất hay. Họ có rất nhiều lý do, nếu bạn đọc ở quê hương phàn nàn không có hoặc rất ít có thơ bằng tiếng dân tộc, cuối cùng cũng chỉ cười trừ với nhau. Đấy là hiện tượng khá phổ biến. Đúng thì rất đúng, nhưng thiếu. Nó không còn cân đối nữa. Đáng lý, học được giỏi, thông thạo tiếng Việt là hết sức cần thiết, là quý trọng. Nếu (lại nếu) đồng thời vẫn giữ được được, dùng được thông thạo tiếng mẹ đẻ nữa thì mới là lý tưởng. Tôi nghĩ rằng, vấn đề không phải do trình độ cao hay thấp mà là do quan điểm nữa ở lớp trẻ, con em Tày, Nùng chúng ta.
4. Biện pháp khắc phục
Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã thể hiện rõ ràng từ Cương lĩnh của Đảng từ 1930, rồi đến Hiến pháp từ ngày Đất nước dựng nền Dân chủ cộng hòa cho đến nay. Chính sách dân tộc trong đó có phần văn hóa - ngôn ngữ, các dân tộc có quyền được giữ gìn và phát triển. Kể cả trong 30 năm kháng chiến chống ngoại xâm, Đảng và Chính phủ vẫn tiếp tục có nhiều chỉ thị, nghị quyết về vấn đề này. Thực hiện đường lối, chính sách đó cũng đã đạt kết quả nhất định. Song, quá trình vận động, tổ chức thực hiện cũng đã và đang gặp không ít khó khăn trở ngại. Trong đó, một khó khăn nội tại dai dẳng nhất, là chính từ bản thân tộc người tự mình xao nhãng kể cả xem thường trước vấn đề này.
Bởi thực tiễn qua hơn nửa thế kỷ, không ít người Tày đã đỗ đạt cao trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật. ở lĩnh vực văn hóa nghệ thuật cũng đã có số người trở thành tác giả có tên tuổi trong đội ngũ cả nước. Đáng tiếc rằng trong đó cũng có người không để tâm mấy đến ngôn ngữ của tộc người mình. Sự thiếu hụt đó, có một sứ mạng vô hình đưa đẩy tới nhiều cách hiểu; cũng có thể gọi là quan điểm: có được vốn tiếng mẹ đẻ cũng tốt, cũng quý, mà không có thì sản phẩm sáng tạo bằng tiếng Việt, cũng như danh tiếng vẫn thành đạt (!). Có bạn (xin được giấu tên) làm công việc lý luận phê bình văn học, đã từng viết trên giấy trắng mực đen: “Anh bạn của tôi kia, sở dĩ lẹt đẹt, năng khiếu bẩm sinh không nâng lên hơn được, chỉ vì quá say đắm vào cái vốn truyền thống - dân gian của dân tộc (!) Cách hiểu đó là một quan điểm. Nhận thức như vậy có mặt tích cực, đồng thời cũng có mặt như dội gáo nước lạnh thì phải. Về mặt nào đó, cách hiểu như vậy, cũng là đám đất màu mỡ cho tư tưởng tự ti, vốn đã mang nặng từ xa xưa trong các DTTS trong đó có người Tày chúng tôi.
Vấn đề không thể khoán trắng Chủ tịch Hội văn nghệ tỉnh mở hội nghị tuyên truyền giải thích như ông Chủ tịch Hội nông dân với vấn đề chuyển đổi giống mới và cơ cấu cây trồng vật nuôi. Đã trên dưới 50 năm rồi, đến cả cơ sở văn nghệ nghiệp dư ít nhiều cũng đã được nghe cả rồi.
Như đã nêu trên, khi xong bản thảo thường phải dừng lại, vì khâu in ấn, phát hành, lỗ lãi. Tuy nhiên, phụ san Thiếu nhi dân tộc và miền núi, rồi Tạp chí Văn hóa các dân tộc vẫn luôn kêu gọi anh em địa phương đóng góp bài có song ngữ. Nhưng nếu tác giả nào có truyện ngắn, truyện vừa lại cần có ngân sách bù lỗ. Khó khăn ấy là có thật. Do đó, không ít bạn cũng thường đổ lỗi cho khâu xuất bản. Có phải rằng khó khăn ấy cũng đồng thời trở thành chùm lá ngụy trang cho trách nhiệm - nghĩa vụ của mình?
ở địa phương cũng từng có ý kiến gợi rằng, tiếng dân tộc nên có thêm tỉ lệ nhuận bút. Tôi nghĩ rằng, đấy cũng chỉ là biện pháp tình thế. Tiền bạc là quý nhưng trong sáng tạo nên tránh và cố tránh, gây thêm động cơ vì tiền. Có điều có thể nên xem xét, thù lao thêm với ý nghĩa động viên với các bài kèm song ngữ (bởi làm một thành hai). Bởi bản dịch trong tiếng Việt tuy kiểu tư duy không như bản gốc, nhưng để người đọc chấp nhận được phần dịch cũng khá vất vả. Có được mức động viên thêm cũng tốt.
Hằng năm, Hội của tỉnh nên tạo điều kiện để số anh em có tâm huyết gặp gỡ đàm đạo những công việc bếp núc xung quanh vấn đề này. Các buổi sinh hoạt ấy chỉ nên dành cho chuyên đề này, chớ vội gọi là hội thảo.
Chúng ta hãy luôn nhắc nhở nhau tiếp xúc với kho vốn dân gian. Người xưa đã nói thơ là nghệ thuật ngôn từ. Các cụ nghệ nhân qua đời đã gần hết. Vốn cũ Hán Nôm địa phương nào cũng vẫn còn ít nhiều. Tiếp cận được dù ít ỏi vẫn có lợi.
Sáng tạo, sáng tác là việc làm một mình, là cá thể. Để làm tốt việc đó, cũng cần có mối quan hệ với tổ văn nghệ quần chúng ở làng, bản. Vì ở đó có cả trò và thầy của mình, nhất là vốn ngôn ngữ dân tộc và địa phương./.
N . V . T
(Tạp chí Nhà Văn)
Love mickey,
★
★
★
★
★
0