Vài nét về văn học dân tộc thiểu số và vấn đề đội ngũ tác giả người dân tộc
Hoàng Tuấn Cư
Ngày nay, chúng ta không còn xa lạ gì với một số sử thi, truyện thơ tiêu biểu của các dân tộc thiểu số ở nước ta là: Đam San, Xinh Nhã, Đăm Đroan, Khinh Dú, Đăm Di... (dân tộc Êđê); Đẻ đất đẻ nước (dân tộc Mường); ảm ệt luông, Chương Han, Táy pú xấc, Chá Chiêng, Sống chụ son sao (tiễn dặn người yêu)... (dân tộc Thái); Đăm Noi, Dyông và Diế, Đăm Veng dư, Bya, Kơmlak, Giông nghèo 8 vợ... (Bahnar); gần 100 sử thi Ot Nrông (dân tộc Mnông); Nhân Lăng, Bjoóc Lả, Chiêu Đức, Nho Hương, Nam Kim - Thị Đan, Lý Thế Khanh... (dân tộc Tày); Xa Nhà Ca (dân tộc Hà Nhì); Lồ mì phò (dân tộc Lô Lô); tiếng hát làm dâu (dân tộc Mông); Akhajuca (dân tộc Raglai)...
Ngoài ra, mỗi một dân tộc còn biết bao các truyện cổ tích, ca dao, dân ca, thành ngữ, tục ngữ còn tiềm ẩn trong dân và cũng dần dần, từ từ đi theo các cụ.
Vì vậy, chúng ta hãy đi về các làng, bản, buôn, sóc trải dài trên đất nước ta từ Đông Bắc sang Tây Bắc; từ mỏm Lũng Cú địa đầu phía Bắc của Tổ quốc vào Trung bộ chạy suốt Trường Sơn qua Tây Nguyên xuống đến miền Tây Nam Bộ - đất mũi Cà Mau. ở những nơi ấy đã từng diễn ra và hàng năm đang diễn mọi hình thái văn học dân gian, khi thì kín đáo ấy là lúc ẩn nấp dưới mái nhà. Khi thì tỉ tê bên bếp lửa hồng độ mùa thu, mùa đông đến. Khi ào ạt sôi nổi lôi cuốn hàng trăm, hàng nghìn, hàng mấy chục nghìn người vào những ngày hội như ngày hội Katê của dân tộc Chăm; Lễ đâm trâu, lễ bỏ mả của đồng bào Tây Nguyên; Lễ hội óc om bok của đồng bào Khơme; Lễ hội Xên bản xên mường của đồng bào Thái; Lễ hội Khô Khô igià igià của dân tộc Hà Nhì; Lễ hội hát sắc bùa của dân tộc Mường; Lễ hội xuống đồng của đồng bào Tày - Nùng - Giáy... diễn ra trong tháng giêng hàng năm, sôi nổi nhộn nhịp và rất hoành tráng.
Cả một dòng cuộc sống đang sôi động, tuôn chảy mà văn học dân gian đang hòa vào trong đó.
Còn văn học hiện đại - các nhà thơ - nhà văn dân tộc thiểu số thì chưa mặn mà lắm với dòng chảy này. Ngoại trừ cố nhà văn Vi Hồng, chính những chất liệu văn học dân gian đã chắp cánh cho nhà văn bay cao bay xa trong công tác giảng dạy, trong nghiên cứu và nhất là trong sự nghiệp viết văn của anh - anh đã dùng "bầu sữa dân gian" để sáng tạo ra những tác phẩm từ truyện ngắn Con nước Eng Nhàn đến các tiểu thuyết: Đất Bằng - Vãi Đàng, Người trong ống, Lòng dạ đàn bà, Dòng sông nước mắt, Những năm tháng biết nói, Phụ tình, Đi tìm giầu sáng, Đường về với mẹ chữ... Riêng Đường về với mẹ chữ - tiểu thuyết cuối đời của nhà văn; nhà nghiên cứu lý luận văn học Lâm Tiến nhận xét "Vi Hồng có cái riêng độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc cũng chính là ở chỗ đó. Có lẽ các tác giả người Kinh không thể "bắt chước" lối nói của các cụ xưa như Vi Hồng. Cũng không thể có được những kỷ niệm máu thịt sâu sắc như ông, lại cũng không thể có cách kể chuyện rất dân tộc như ông được. Cho nên, đối với những người miền xuôi đọc tác phẩm Đường về với mẹ chữ thấy nhiều điều mới lạ, lý thú. Nhưng đối với người dân tộc thiểu số thì đó lại là những cái gần gũi, thân quen, và cũng dễ dàng nhận ra chỗ nào ông kể thật, chỗ nào ông quá phóng đại"! Song, tôi thấy nhiều khi ông quá lạm dụng chất liệu dân gian trong tất cả các tác phẩm của ông. Và đó cũng là cái được cái chưa được của ông. Tiếp đó là nhà văn Ma Trường Nguyên cũng sử dụng chất dân gian khá thuần thục trong các tiểu thuyết của mình. Bởi thế nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học Lâm Tiến đã đánh giá: "Ma Trường Nguyên rất phong phú về vốn sống rất am hiểu về văn hóa, văn học dân gian của dân tộc Tày. Đó là điều không phải nhà văn dân tộc thiểu số nào cũng có được. Chính sự phong phú đó đã làm cho những trang tiểu thuyết của anh sống động với những nhân vật, những phong tục, tập quán nhiều mầu vẻ".
Cố nhà văn Vi Hồng viết: "Những người dân tộc nói chung và những người viết văn là người dân tộc thiểu số nói riêng viết, nói tiếng phổ thông đạt chuẩn đã quá vất vả. Cho nên họ không làm sao dám nghĩ đến phong cách ngôn ngữ, phong cách diễn đạt một cách sáng tạo. Vì thế những người viết là người dân tộc thiểu số ít ỏi là thế - Có lẽ vì lý do này mà người đọc dân tộc thiểu số làm thơ dễ thành công hơn viết văn xuôi... có nhiều người làm thơ hay".
Theo tôi, nhận xét trên chưa hoàn toàn đúng, chưa thật thỏa đáng. Về văn xuôi nhận xét trên chỉ đúng vào thập niên 70 trở về trước. Sau những thập niên 90 trở lại đây, các tác giả viết văn xuôi người dân tộc thiểu số xuất hiện ngày càng nhiều. Chẳng hạn:
ở Việt Bắc có: Ma Trường Nguyên, Cao Duy Sơn, Hữu Tiến... (dân tộc Tày), Bùi Đức Nghĩa, Bàn Tuấn Năng (dân tộc Dao).
ở Tây Bắc có: Vương Trung, Sa Phong Ba, Cầm Hùng (dân tộc Thái), Hà Trung Nghĩa, Bùi Hy Vọng (dân tộc Mường) Mã A Lềnh (dân tộc Mông) Hà Lâm Kỳ, Hoàng Hữu Sang, Hà Thị Hải Yến (dân tộc Tày).
ở Tây Nguyên có: H' Linh Niê, Niê Thanh Mai... (dân tộc Êđê) Kim Nhất (dân tộc BaNa).
ở vùng đồng bào Chăm Ninh Thuận có nhà thơ Inrasara, Chế Trầm Sar...
ở thành phố Hồ Chí Minh có Lý Lan
Khu ba, khu bốn có Vương Anh, Hà Thị Cẩm Anh (dân tộc Mường), Kha Thị Thường, La Quán Miên... (dân tộc Thái)
Nước Việt Nam có 53 dân tộc thiểu số; bao nhiêu dân tộc đã có tác giả, tác phẩm văn xuôi của mình? còn ít lắm! có thể đếm được trên 10 đầu ngón tay, đó là: Tày, Nùng, Thái, Êđê, Bana, Mường, Hoa, Giáy. Còn hơn 50 dân tộc anh em là cả một vấn đề.
Làm cách nào? vẫn là dấu chấm hỏi quá lớn đối với Hội Nhà văn Việt Nam, Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số và các Hội văn nghệ địa phương.
Phải chăng năm tháng qua các tác giả, tác phẩm người dân tộc thiểu số thiếu những "bà đỡ" mát tay? Kiểu như trước đây cố nhà văn Nguyễn Đình Thi giúp cố nhà văn Nông Minh Châu trình tiểu thuyết Muối lên rừng (NXB Văn học, 1964); Nhà văn Tô Hoài giúp ông Vi Hồng về nội dung, ngôn từ cuốn Đất Bằng - Vãi Đàng, giúp ông Lù Dín Siềng từ 1000 trang cuốn Dưới chân núi Po Xiên, còn trên 200 trang với tên gọi Dưới chân núi tiên...?
Điều đó đúng là chúng ta không phủ nhận nó. Song vấn đề giải quyết chính là ở chúng ta. Chúng ta không "thai nghén" "chửa" "đẻ" thì làm sao có "bà đỡ" mát tay được. Và chính Cách mạng, Tổ quốc, nhân dân là nguồn mạch nuôi dưỡng vô tận cho sáng tạo của các nhà văn, nhà thơ lớp trước tuy chưa thành thạo tiếng Kinh cả ngôn từ lẫn ngữ pháp song họ đã quan sát và để tâm đến những vấn đề lớn của thời đại mình, và rồi họ chuyển tiếp sự say sưa thành những chàng tiểu thuyết, họ cất đôi cánh phẩm giá bay lên thành những nàng thơ - để lại cho thế hệ mai sau.
Nếu không có Cách mạng, không có Tổ quốc và không có nhân dân thì làm sao các dân tộc thiểu số có các nhà văn, nhà thơ được khẳng định và phát triển như ngày nay? Song vấn đề ở đây là xây dựng và phát triển đội ngũ sáng tác có phong cách riêng - phong cách đậm đà bản sắc dân tộc chứ tuyệt nhiên không phải là xây dựng một nền văn nghệ riêng cho từng dân tộc./.
H . T . C
(Tạp chí Nhà Văn)
Hoàng Tuấn Cư
Ngày nay, chúng ta không còn xa lạ gì với một số sử thi, truyện thơ tiêu biểu của các dân tộc thiểu số ở nước ta là: Đam San, Xinh Nhã, Đăm Đroan, Khinh Dú, Đăm Di... (dân tộc Êđê); Đẻ đất đẻ nước (dân tộc Mường); ảm ệt luông, Chương Han, Táy pú xấc, Chá Chiêng, Sống chụ son sao (tiễn dặn người yêu)... (dân tộc Thái); Đăm Noi, Dyông và Diế, Đăm Veng dư, Bya, Kơmlak, Giông nghèo 8 vợ... (Bahnar); gần 100 sử thi Ot Nrông (dân tộc Mnông); Nhân Lăng, Bjoóc Lả, Chiêu Đức, Nho Hương, Nam Kim - Thị Đan, Lý Thế Khanh... (dân tộc Tày); Xa Nhà Ca (dân tộc Hà Nhì); Lồ mì phò (dân tộc Lô Lô); tiếng hát làm dâu (dân tộc Mông); Akhajuca (dân tộc Raglai)...
Ngoài ra, mỗi một dân tộc còn biết bao các truyện cổ tích, ca dao, dân ca, thành ngữ, tục ngữ còn tiềm ẩn trong dân và cũng dần dần, từ từ đi theo các cụ.
Vì vậy, chúng ta hãy đi về các làng, bản, buôn, sóc trải dài trên đất nước ta từ Đông Bắc sang Tây Bắc; từ mỏm Lũng Cú địa đầu phía Bắc của Tổ quốc vào Trung bộ chạy suốt Trường Sơn qua Tây Nguyên xuống đến miền Tây Nam Bộ - đất mũi Cà Mau. ở những nơi ấy đã từng diễn ra và hàng năm đang diễn mọi hình thái văn học dân gian, khi thì kín đáo ấy là lúc ẩn nấp dưới mái nhà. Khi thì tỉ tê bên bếp lửa hồng độ mùa thu, mùa đông đến. Khi ào ạt sôi nổi lôi cuốn hàng trăm, hàng nghìn, hàng mấy chục nghìn người vào những ngày hội như ngày hội Katê của dân tộc Chăm; Lễ đâm trâu, lễ bỏ mả của đồng bào Tây Nguyên; Lễ hội óc om bok của đồng bào Khơme; Lễ hội Xên bản xên mường của đồng bào Thái; Lễ hội Khô Khô igià igià của dân tộc Hà Nhì; Lễ hội hát sắc bùa của dân tộc Mường; Lễ hội xuống đồng của đồng bào Tày - Nùng - Giáy... diễn ra trong tháng giêng hàng năm, sôi nổi nhộn nhịp và rất hoành tráng.
Cả một dòng cuộc sống đang sôi động, tuôn chảy mà văn học dân gian đang hòa vào trong đó.
Còn văn học hiện đại - các nhà thơ - nhà văn dân tộc thiểu số thì chưa mặn mà lắm với dòng chảy này. Ngoại trừ cố nhà văn Vi Hồng, chính những chất liệu văn học dân gian đã chắp cánh cho nhà văn bay cao bay xa trong công tác giảng dạy, trong nghiên cứu và nhất là trong sự nghiệp viết văn của anh - anh đã dùng "bầu sữa dân gian" để sáng tạo ra những tác phẩm từ truyện ngắn Con nước Eng Nhàn đến các tiểu thuyết: Đất Bằng - Vãi Đàng, Người trong ống, Lòng dạ đàn bà, Dòng sông nước mắt, Những năm tháng biết nói, Phụ tình, Đi tìm giầu sáng, Đường về với mẹ chữ... Riêng Đường về với mẹ chữ - tiểu thuyết cuối đời của nhà văn; nhà nghiên cứu lý luận văn học Lâm Tiến nhận xét "Vi Hồng có cái riêng độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc cũng chính là ở chỗ đó. Có lẽ các tác giả người Kinh không thể "bắt chước" lối nói của các cụ xưa như Vi Hồng. Cũng không thể có được những kỷ niệm máu thịt sâu sắc như ông, lại cũng không thể có cách kể chuyện rất dân tộc như ông được. Cho nên, đối với những người miền xuôi đọc tác phẩm Đường về với mẹ chữ thấy nhiều điều mới lạ, lý thú. Nhưng đối với người dân tộc thiểu số thì đó lại là những cái gần gũi, thân quen, và cũng dễ dàng nhận ra chỗ nào ông kể thật, chỗ nào ông quá phóng đại"! Song, tôi thấy nhiều khi ông quá lạm dụng chất liệu dân gian trong tất cả các tác phẩm của ông. Và đó cũng là cái được cái chưa được của ông. Tiếp đó là nhà văn Ma Trường Nguyên cũng sử dụng chất dân gian khá thuần thục trong các tiểu thuyết của mình. Bởi thế nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học Lâm Tiến đã đánh giá: "Ma Trường Nguyên rất phong phú về vốn sống rất am hiểu về văn hóa, văn học dân gian của dân tộc Tày. Đó là điều không phải nhà văn dân tộc thiểu số nào cũng có được. Chính sự phong phú đó đã làm cho những trang tiểu thuyết của anh sống động với những nhân vật, những phong tục, tập quán nhiều mầu vẻ".
Cố nhà văn Vi Hồng viết: "Những người dân tộc nói chung và những người viết văn là người dân tộc thiểu số nói riêng viết, nói tiếng phổ thông đạt chuẩn đã quá vất vả. Cho nên họ không làm sao dám nghĩ đến phong cách ngôn ngữ, phong cách diễn đạt một cách sáng tạo. Vì thế những người viết là người dân tộc thiểu số ít ỏi là thế - Có lẽ vì lý do này mà người đọc dân tộc thiểu số làm thơ dễ thành công hơn viết văn xuôi... có nhiều người làm thơ hay".
Theo tôi, nhận xét trên chưa hoàn toàn đúng, chưa thật thỏa đáng. Về văn xuôi nhận xét trên chỉ đúng vào thập niên 70 trở về trước. Sau những thập niên 90 trở lại đây, các tác giả viết văn xuôi người dân tộc thiểu số xuất hiện ngày càng nhiều. Chẳng hạn:
ở Việt Bắc có: Ma Trường Nguyên, Cao Duy Sơn, Hữu Tiến... (dân tộc Tày), Bùi Đức Nghĩa, Bàn Tuấn Năng (dân tộc Dao).
ở Tây Bắc có: Vương Trung, Sa Phong Ba, Cầm Hùng (dân tộc Thái), Hà Trung Nghĩa, Bùi Hy Vọng (dân tộc Mường) Mã A Lềnh (dân tộc Mông) Hà Lâm Kỳ, Hoàng Hữu Sang, Hà Thị Hải Yến (dân tộc Tày).
ở Tây Nguyên có: H' Linh Niê, Niê Thanh Mai... (dân tộc Êđê) Kim Nhất (dân tộc BaNa).
ở vùng đồng bào Chăm Ninh Thuận có nhà thơ Inrasara, Chế Trầm Sar...
ở thành phố Hồ Chí Minh có Lý Lan
Khu ba, khu bốn có Vương Anh, Hà Thị Cẩm Anh (dân tộc Mường), Kha Thị Thường, La Quán Miên... (dân tộc Thái)
Nước Việt Nam có 53 dân tộc thiểu số; bao nhiêu dân tộc đã có tác giả, tác phẩm văn xuôi của mình? còn ít lắm! có thể đếm được trên 10 đầu ngón tay, đó là: Tày, Nùng, Thái, Êđê, Bana, Mường, Hoa, Giáy. Còn hơn 50 dân tộc anh em là cả một vấn đề.
Làm cách nào? vẫn là dấu chấm hỏi quá lớn đối với Hội Nhà văn Việt Nam, Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số và các Hội văn nghệ địa phương.
Phải chăng năm tháng qua các tác giả, tác phẩm người dân tộc thiểu số thiếu những "bà đỡ" mát tay? Kiểu như trước đây cố nhà văn Nguyễn Đình Thi giúp cố nhà văn Nông Minh Châu trình tiểu thuyết Muối lên rừng (NXB Văn học, 1964); Nhà văn Tô Hoài giúp ông Vi Hồng về nội dung, ngôn từ cuốn Đất Bằng - Vãi Đàng, giúp ông Lù Dín Siềng từ 1000 trang cuốn Dưới chân núi Po Xiên, còn trên 200 trang với tên gọi Dưới chân núi tiên...?
Điều đó đúng là chúng ta không phủ nhận nó. Song vấn đề giải quyết chính là ở chúng ta. Chúng ta không "thai nghén" "chửa" "đẻ" thì làm sao có "bà đỡ" mát tay được. Và chính Cách mạng, Tổ quốc, nhân dân là nguồn mạch nuôi dưỡng vô tận cho sáng tạo của các nhà văn, nhà thơ lớp trước tuy chưa thành thạo tiếng Kinh cả ngôn từ lẫn ngữ pháp song họ đã quan sát và để tâm đến những vấn đề lớn của thời đại mình, và rồi họ chuyển tiếp sự say sưa thành những chàng tiểu thuyết, họ cất đôi cánh phẩm giá bay lên thành những nàng thơ - để lại cho thế hệ mai sau.
Nếu không có Cách mạng, không có Tổ quốc và không có nhân dân thì làm sao các dân tộc thiểu số có các nhà văn, nhà thơ được khẳng định và phát triển như ngày nay? Song vấn đề ở đây là xây dựng và phát triển đội ngũ sáng tác có phong cách riêng - phong cách đậm đà bản sắc dân tộc chứ tuyệt nhiên không phải là xây dựng một nền văn nghệ riêng cho từng dân tộc./.
H . T . C
(Tạp chí Nhà Văn)
Love mickey,