Đào tạo đội ngũ viết văn người dân tộc thiểu số, khó hay dễ?
H' Linh NIê
Xin nói ngay rằng rất khó. Tôi đã tò mò thử điểm trong cuốn Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản năm 1997, chỉ có 28/664 nhà văn người dân tộc thiểu số, trong số này vài cụ đã đi gặp Bác Hồ, vài vị không còn viết nữa. Trong cuốn chân dung hội viên của Hội VHNTDTTSVN xuất bản năm 2002 thì có 81/142 hội viên chuyên ngành văn học. Còn trong đợt xét kết nạp đầu năm 2004, cũng của hội VHNTDT, chuyên ngành văn học chỉ có 9/21 tác giả người dân tộc. Đấy, thế thì là ít hay nhiều? Quá ít. Các nhà văn người dân tộc thiểu số Tây Nguyên lại càng ít hơn, đếm vừa hết một bàn tay.
Không dám so sánh với các dân tộc anh em phía Bắc nữa, vì khoảng cách quá xa vời. Chỉ điểm danh riêng số đã định hình của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên thôi nhé: Đăk Lăk có 3: chị Kim Nhất, Niê Thanh Mai và tôi (một Bana, hai Êđê), Khánh Hòa có một bác Y Điêng (Êđê), Gia Lai có Nay Nô (JRai) nhưng nhiều năm nay đâu có viết chữ nào. Xa hơn một chút, dưới Quảng Ngãi có chị Hơ Vê (Hrê). Thế là hết. Trên tạp chí VHDT của Hội Văn học nghệ thuật dân tộc thiểu số gần đây có xuất hiện tên một tác giả người Tây Nguyên khác, như Bă Lỡm, Rmanh Ai Van, Coong Mọc, Đinh Ka La Si... Nhưng cũng chỉ là mới manh nha đặt chân vào con đường tập viết thôi.
Tại sao thế? Trong khi không ở đâu trên thế giới này có một vùng dày đặc văn chương truyền miệng dài hơi, phong phú như ở Tây Nguyên. Tôi xin cung cấp một con số biết nói do Viện VHDG đưa ra, đó là: từ nay đến năm 2007, sẽ cho xuất bản 75 cuốn sử thi, được chọn lọc trong số hàng trăm trường ca đã ghi âm các nghệ nhân dân gian Tây Nguyên hát - kể. Không biết tôi có quá lời không khi gọi các nghệ nhân già như những cây đại thụ rừng đại ngàn quê tôi là "thiên tài", bởi cứ qua những gì tôi nghe và thấy, thì mỗi nghệ nhân hát - kể trường ca - sử thi đều là một nghệ sỹ tài năng tổng hợp, vì đồng thời vừa là tác giả sáng tạo nên tác phẩm, vừa đạo diễn dàn dựng phân vai, vừa là nghệ sỹ biểu diễn trình bày tác phẩm, lại kiêm cả vai trò người bình luận... Lại xin kể một chuyện nữa: tai tôi đã được nghe băng ghi âm một nghệ nhân truyền giảng đạo Tin Lành bằng tiếng JRai, thông qua hình thức hát - kể sử thi. Tôi đã từng đọc Kinh Thánh bằng tiếng các dân tộc Tây Nguyên Êđê, Jrai, K'Ho, đâu có vần điệu gì? Vậy mà các cụ chuyển thể để hát - kể được, lại hay nữa. Không giỏi sao? ấy vậy mà lạ thay, sao con cháu người Tây Nguyên không mấy ai viết văn giỏi? (dự những cuộc thi của các trường dân tộc nội trú, thấy các em học sinh dân tộc phía Bắc ứng xử và cả làm thơ ngẫu hứng tại chỗ nữa mà thèm đấy).
Tính đến năm 2003, Hội VHNT Đăk Lăk đã đỡ đầu cho 12 trại sáng tác văn học thiếu nhi hè hàng năm, hàng trăm em đã qua trại, nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa nhưng đọng lại chỉ có một Niê Thanh Mai (dân tộc Êđê). Tạo mọi điều kiện nhưng vẫn còn phập phù lắm, nếu thiếu một đam mê. Đúng là một việc không dễ. Đâu là nguyên nhân? Gốc sâu xa của vấn đề là ở chỗ nào? Đã nhiều năm tôi đi tìm và thử tự lý giải điều này:
1. Phải chăng dù là chủ nhân của kho tàng trường ca - sử thi dày đặc và độc đáo, nhưng từ nhiều năm nay (chí ít cũng là gần 30 năm) hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian này hoàn toàn vắng bóng tại các buôn làng trên cao nguyên miền Tây. Nhiều thanh thiếu niên không hề biết dân tộc mình có một báu vật như thế. Trong khi chính loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian truyền miệng đã hun đúc nên không biết bao nhiêu những nhà văn người dân tộc thiểu số.
Trên thế giới có thể kể đến một số nhà thơ, nhà văn lớn như Raxun Gamzatop, Đumbaze, Gacia Losca, Macket... ở Việt Nam có thể nhắc tới các vị người Tày, người H'Mông, người Dáy như Hoàng Đức Hậu, Vi Hồng, Nông Quốc Chấn, Hoàng Lạc, Lò Ngân Sủn, Mã A Lềnh, Y Phương, Dương Thuấn, Cao Duy Sơn, hay cụ Y Điêng khởi thủy là người sưu tầm trường ca Tây Nguyên đấy chứ... đều lớn lên, tiếp thu vốn sống, vốn ngôn ngữ từ trong những chiếc nôi văn học dân gian của chính dân tộc mình.
2. Đối với học sinh người dân tộc thiểu số, tiếng Việt đã là một ngoại ngữ, thật sự là một ngoại ngữ, bởi không chỉ khác về chữ viết, mà còn cả về ngữ pháp, dấu giọng, cách đặt câu lẫn hình thức thể hiện. Vậy để viết văn người Việt đọc được, phải là người không chỉ thông thạo văn học dân tộc mình, mà còn phải am hiểu rành rẽ văn học Việt.
3. Cơ chế thị trường ngày nay cuốn con người vào vòng quay của nó một cách khó cưỡng nổi. Nhất là đối với vùng dân tộc thiểu số, mục tiêu đầu tiên vẫn là giải quyết vấn đề đời sống. Các em chưa đủ đam mê, thậm chí không có dũng cảm để lựa chọn con đường văn chương vốn đã khó khăn, lại còn không có mấy lợi ích kinh tế. Con gái tôi cũng rơi vào tình trạng này và thui chột cả năng khiếu văn học của cháu đấy.
Vậy làm gì để cải thiện tình hình?
Có những vấn đề thuộc về tầm vĩ mô, mà Hội ta không giải quyết được, nhưng vẫn phải có kiến nghị. Kiến nghị ngay từ hội nghị này có được không? Bằng một thông điệp chính thức của Hội Nhà văn và Hội VHDT gửi tới các vị có thẩm quyền, các ngành có liên quan.
- Một là việc học sinh Tây Nguyên phải được học chữ dân tộc và khôi phục lại môi trường diễn xướng văn học dân gian, như nó đã từng tồn tại hàng trăm năm nay trong cộng đồng các dân tộc thiểu số, và chỉ mới mất đi vài chục năm nay.
Cũng may là viện VHDG đã ý thức được điều này và đang tổ chức 5 lớp truyền dạy trường ca ở Tây Nguyên. Nhưng như vậy vẫn chỉ là biện pháp tình thế thôi, chưa động chạm được tới "cái" gốc sự tồn tại của loại hình nghệ thuật này. Và chúng ta cũng không bàn vấn đề ấy trong hội nghị này.
- Hai là mở các lớp bồi dưỡng lực lượng sáng tác người dân tộc không chỉ ở từng địa phương, mà còn ở các hội TW nữa.
Ví dụ tại sao không có một trại viết, cho những tác giả người dân tộc ở cả nước, dù chỉ mới có một vài tác phẩm đăng trên tạp chí VHDT, bất kể già trẻ, gái trai, thuộc dân tộc nào? Trại có mời các nhà văn lão thành có kinh nghiệm đọc văn, hướng dẫn cách xây dựng nhân vật, kết cấu tác phẩm, thậm chí giới thiệu cả nghệ thuật văn học dân gian truyền miệng dân tộc thiểu số nữa.
Nói thì được, làm thì khó, nhưng trên cương vị và trách nhiệm của mình, cá nhân tôi sẽ cố. Cụ thể là năm nay, được số kinh phí của Nhà nước, Đăk Lăk chúng tôi sẽ làm một lớp toàn dân tộc như thế. Không cần nhiều, 10 - 15 em đại trà thôi. Bên cạnh những công việc về nghiệp vụ, sẽ tổ chức cho các em đi về buôn làng nghe kể trường ca, hướng dẫn tham dự các lễ hội... Và quan trọng hơn là sẽ cho các em thử kể những chuyện muốn nói, muốn viết bằng tiếng dân tộc, xem thử có hiệu quả gì không? Chỉ là thử nghiệm thôi. Nhưng sau đó sẽ phải theo dõi tiếp quá trình học tập của các em, những em nào có năng khiếu, có sự say mê, sang năm lại mời về bồi dưỡng, không để tuột khỏi tay như 12 năm qua nữa.
Không biết tôi có quá lời khi coi văn học là cái gốc, là nền tảng của văn hóa hay không. Đặc biệt là văn xuôi. Nhưng lịch sử phát triển Tây Nguyên có bao nhiêu vấn đề phải viết, phải nói. Đó là:
- Cuộc chiến tranh cách mạng mà Đảng ta đã dựa vào con người và núi rừng Tây Nguyên để góp phần dẫn đến thành công.
- Cuộc chiến chống các thế lực phản động lợi dụng tôn giáo để gây rối và phá vỡ mối đại đoàn kết dân tộc.
- Việc chuyển đổi từ phương thức sản xuất nương rẫy độc canh, luân canh sang chuyên canh cây công nghiệp, cây lúa nước có áp dụng khoa học kỹ thuật.
- Nạn phá rừng, lâm tặc lộng hành.
- Cuộc chuyển cư đầy nước mắt của hàng triệu cư dân các dân tộc thiểu số phía Bắc...
Cái gì được? Cái gì còn? Cái gì mất trong công cuộc chuyển đổi vĩ đại này? Có thể giới cầm bút ở Tây Nguyên chúng tôi vẫn lực bất tòng tâm, không nói hết, không kể lại hết được. Vẫn cần phải có những nhà văn tâm huyết, tài năng, xông xáo đến với Tây Nguyên và viết lên những điều có sức lay động mạnh ấy. Phải chăng nhiều năm nay chúng ta không có tác phẩm lớn, vì chẳng ai chịu rời phố phường đi như các vị Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Ma Văn Kháng, Phượng Vũ, Nguyễn Khải... ngày xưa đã đi.
Chúng tôi tha thiết mời gọi các nhà văn đến với Tây Nguyên, đến với Đăk Lăk. Và trong thâm tâm tôi cũng thiết tha mong muốn có đông đảo thêm đội ngũ những tác giả là người dân tộc thiểu số. Bởi có lẽ chính họ nói về mình sẽ có phong vị riêng và lạ hơn chăng?
H . N
(Tạp chí Nhà Văn)
H' Linh NIê
Xin nói ngay rằng rất khó. Tôi đã tò mò thử điểm trong cuốn Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản năm 1997, chỉ có 28/664 nhà văn người dân tộc thiểu số, trong số này vài cụ đã đi gặp Bác Hồ, vài vị không còn viết nữa. Trong cuốn chân dung hội viên của Hội VHNTDTTSVN xuất bản năm 2002 thì có 81/142 hội viên chuyên ngành văn học. Còn trong đợt xét kết nạp đầu năm 2004, cũng của hội VHNTDT, chuyên ngành văn học chỉ có 9/21 tác giả người dân tộc. Đấy, thế thì là ít hay nhiều? Quá ít. Các nhà văn người dân tộc thiểu số Tây Nguyên lại càng ít hơn, đếm vừa hết một bàn tay.
Không dám so sánh với các dân tộc anh em phía Bắc nữa, vì khoảng cách quá xa vời. Chỉ điểm danh riêng số đã định hình của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên thôi nhé: Đăk Lăk có 3: chị Kim Nhất, Niê Thanh Mai và tôi (một Bana, hai Êđê), Khánh Hòa có một bác Y Điêng (Êđê), Gia Lai có Nay Nô (JRai) nhưng nhiều năm nay đâu có viết chữ nào. Xa hơn một chút, dưới Quảng Ngãi có chị Hơ Vê (Hrê). Thế là hết. Trên tạp chí VHDT của Hội Văn học nghệ thuật dân tộc thiểu số gần đây có xuất hiện tên một tác giả người Tây Nguyên khác, như Bă Lỡm, Rmanh Ai Van, Coong Mọc, Đinh Ka La Si... Nhưng cũng chỉ là mới manh nha đặt chân vào con đường tập viết thôi.
Tại sao thế? Trong khi không ở đâu trên thế giới này có một vùng dày đặc văn chương truyền miệng dài hơi, phong phú như ở Tây Nguyên. Tôi xin cung cấp một con số biết nói do Viện VHDG đưa ra, đó là: từ nay đến năm 2007, sẽ cho xuất bản 75 cuốn sử thi, được chọn lọc trong số hàng trăm trường ca đã ghi âm các nghệ nhân dân gian Tây Nguyên hát - kể. Không biết tôi có quá lời không khi gọi các nghệ nhân già như những cây đại thụ rừng đại ngàn quê tôi là "thiên tài", bởi cứ qua những gì tôi nghe và thấy, thì mỗi nghệ nhân hát - kể trường ca - sử thi đều là một nghệ sỹ tài năng tổng hợp, vì đồng thời vừa là tác giả sáng tạo nên tác phẩm, vừa đạo diễn dàn dựng phân vai, vừa là nghệ sỹ biểu diễn trình bày tác phẩm, lại kiêm cả vai trò người bình luận... Lại xin kể một chuyện nữa: tai tôi đã được nghe băng ghi âm một nghệ nhân truyền giảng đạo Tin Lành bằng tiếng JRai, thông qua hình thức hát - kể sử thi. Tôi đã từng đọc Kinh Thánh bằng tiếng các dân tộc Tây Nguyên Êđê, Jrai, K'Ho, đâu có vần điệu gì? Vậy mà các cụ chuyển thể để hát - kể được, lại hay nữa. Không giỏi sao? ấy vậy mà lạ thay, sao con cháu người Tây Nguyên không mấy ai viết văn giỏi? (dự những cuộc thi của các trường dân tộc nội trú, thấy các em học sinh dân tộc phía Bắc ứng xử và cả làm thơ ngẫu hứng tại chỗ nữa mà thèm đấy).
Tính đến năm 2003, Hội VHNT Đăk Lăk đã đỡ đầu cho 12 trại sáng tác văn học thiếu nhi hè hàng năm, hàng trăm em đã qua trại, nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa nhưng đọng lại chỉ có một Niê Thanh Mai (dân tộc Êđê). Tạo mọi điều kiện nhưng vẫn còn phập phù lắm, nếu thiếu một đam mê. Đúng là một việc không dễ. Đâu là nguyên nhân? Gốc sâu xa của vấn đề là ở chỗ nào? Đã nhiều năm tôi đi tìm và thử tự lý giải điều này:
1. Phải chăng dù là chủ nhân của kho tàng trường ca - sử thi dày đặc và độc đáo, nhưng từ nhiều năm nay (chí ít cũng là gần 30 năm) hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian này hoàn toàn vắng bóng tại các buôn làng trên cao nguyên miền Tây. Nhiều thanh thiếu niên không hề biết dân tộc mình có một báu vật như thế. Trong khi chính loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian truyền miệng đã hun đúc nên không biết bao nhiêu những nhà văn người dân tộc thiểu số.
Trên thế giới có thể kể đến một số nhà thơ, nhà văn lớn như Raxun Gamzatop, Đumbaze, Gacia Losca, Macket... ở Việt Nam có thể nhắc tới các vị người Tày, người H'Mông, người Dáy như Hoàng Đức Hậu, Vi Hồng, Nông Quốc Chấn, Hoàng Lạc, Lò Ngân Sủn, Mã A Lềnh, Y Phương, Dương Thuấn, Cao Duy Sơn, hay cụ Y Điêng khởi thủy là người sưu tầm trường ca Tây Nguyên đấy chứ... đều lớn lên, tiếp thu vốn sống, vốn ngôn ngữ từ trong những chiếc nôi văn học dân gian của chính dân tộc mình.
2. Đối với học sinh người dân tộc thiểu số, tiếng Việt đã là một ngoại ngữ, thật sự là một ngoại ngữ, bởi không chỉ khác về chữ viết, mà còn cả về ngữ pháp, dấu giọng, cách đặt câu lẫn hình thức thể hiện. Vậy để viết văn người Việt đọc được, phải là người không chỉ thông thạo văn học dân tộc mình, mà còn phải am hiểu rành rẽ văn học Việt.
3. Cơ chế thị trường ngày nay cuốn con người vào vòng quay của nó một cách khó cưỡng nổi. Nhất là đối với vùng dân tộc thiểu số, mục tiêu đầu tiên vẫn là giải quyết vấn đề đời sống. Các em chưa đủ đam mê, thậm chí không có dũng cảm để lựa chọn con đường văn chương vốn đã khó khăn, lại còn không có mấy lợi ích kinh tế. Con gái tôi cũng rơi vào tình trạng này và thui chột cả năng khiếu văn học của cháu đấy.
Vậy làm gì để cải thiện tình hình?
Có những vấn đề thuộc về tầm vĩ mô, mà Hội ta không giải quyết được, nhưng vẫn phải có kiến nghị. Kiến nghị ngay từ hội nghị này có được không? Bằng một thông điệp chính thức của Hội Nhà văn và Hội VHDT gửi tới các vị có thẩm quyền, các ngành có liên quan.
- Một là việc học sinh Tây Nguyên phải được học chữ dân tộc và khôi phục lại môi trường diễn xướng văn học dân gian, như nó đã từng tồn tại hàng trăm năm nay trong cộng đồng các dân tộc thiểu số, và chỉ mới mất đi vài chục năm nay.
Cũng may là viện VHDG đã ý thức được điều này và đang tổ chức 5 lớp truyền dạy trường ca ở Tây Nguyên. Nhưng như vậy vẫn chỉ là biện pháp tình thế thôi, chưa động chạm được tới "cái" gốc sự tồn tại của loại hình nghệ thuật này. Và chúng ta cũng không bàn vấn đề ấy trong hội nghị này.
- Hai là mở các lớp bồi dưỡng lực lượng sáng tác người dân tộc không chỉ ở từng địa phương, mà còn ở các hội TW nữa.
Ví dụ tại sao không có một trại viết, cho những tác giả người dân tộc ở cả nước, dù chỉ mới có một vài tác phẩm đăng trên tạp chí VHDT, bất kể già trẻ, gái trai, thuộc dân tộc nào? Trại có mời các nhà văn lão thành có kinh nghiệm đọc văn, hướng dẫn cách xây dựng nhân vật, kết cấu tác phẩm, thậm chí giới thiệu cả nghệ thuật văn học dân gian truyền miệng dân tộc thiểu số nữa.
Nói thì được, làm thì khó, nhưng trên cương vị và trách nhiệm của mình, cá nhân tôi sẽ cố. Cụ thể là năm nay, được số kinh phí của Nhà nước, Đăk Lăk chúng tôi sẽ làm một lớp toàn dân tộc như thế. Không cần nhiều, 10 - 15 em đại trà thôi. Bên cạnh những công việc về nghiệp vụ, sẽ tổ chức cho các em đi về buôn làng nghe kể trường ca, hướng dẫn tham dự các lễ hội... Và quan trọng hơn là sẽ cho các em thử kể những chuyện muốn nói, muốn viết bằng tiếng dân tộc, xem thử có hiệu quả gì không? Chỉ là thử nghiệm thôi. Nhưng sau đó sẽ phải theo dõi tiếp quá trình học tập của các em, những em nào có năng khiếu, có sự say mê, sang năm lại mời về bồi dưỡng, không để tuột khỏi tay như 12 năm qua nữa.
Không biết tôi có quá lời khi coi văn học là cái gốc, là nền tảng của văn hóa hay không. Đặc biệt là văn xuôi. Nhưng lịch sử phát triển Tây Nguyên có bao nhiêu vấn đề phải viết, phải nói. Đó là:
- Cuộc chiến tranh cách mạng mà Đảng ta đã dựa vào con người và núi rừng Tây Nguyên để góp phần dẫn đến thành công.
- Cuộc chiến chống các thế lực phản động lợi dụng tôn giáo để gây rối và phá vỡ mối đại đoàn kết dân tộc.
- Việc chuyển đổi từ phương thức sản xuất nương rẫy độc canh, luân canh sang chuyên canh cây công nghiệp, cây lúa nước có áp dụng khoa học kỹ thuật.
- Nạn phá rừng, lâm tặc lộng hành.
- Cuộc chuyển cư đầy nước mắt của hàng triệu cư dân các dân tộc thiểu số phía Bắc...
Cái gì được? Cái gì còn? Cái gì mất trong công cuộc chuyển đổi vĩ đại này? Có thể giới cầm bút ở Tây Nguyên chúng tôi vẫn lực bất tòng tâm, không nói hết, không kể lại hết được. Vẫn cần phải có những nhà văn tâm huyết, tài năng, xông xáo đến với Tây Nguyên và viết lên những điều có sức lay động mạnh ấy. Phải chăng nhiều năm nay chúng ta không có tác phẩm lớn, vì chẳng ai chịu rời phố phường đi như các vị Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Ma Văn Kháng, Phượng Vũ, Nguyễn Khải... ngày xưa đã đi.
Chúng tôi tha thiết mời gọi các nhà văn đến với Tây Nguyên, đến với Đăk Lăk. Và trong thâm tâm tôi cũng thiết tha mong muốn có đông đảo thêm đội ngũ những tác giả là người dân tộc thiểu số. Bởi có lẽ chính họ nói về mình sẽ có phong vị riêng và lạ hơn chăng?
H . N
(Tạp chí Nhà Văn)
Love mickey,