Nhà đại khoa bảng phê phán gay gắt và sâu sắc lối học giáo điều và khoa cử
Trần Thanh Đạm
Đó là Cụ Huỳnh Thúc Kháng (1875 - 1947). “Cụ Huỳnh là một người học rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao. Vì lòng yêu nước mà trước đây Cụ bị bọn thực dân làm tội, đày ra Côn Đảo mười mấy năm trường, gian nan cực khổ. Nhưng lòng son dạ sắt yêu nước thương nòi của Cụ chẳng những không sờn lại thêm kiên quyết. Cụ Huỳnh là người giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khó không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời Cụ không cần danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu. Cả đời Cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập.”
Những lời nói trên là của Bác Hồ trong thư gửi đồng bào trong dịp quốc tang khi Cụ Huỳnh tạ thế vào ngày 23 tháng 4 năm 1947, thọ 72 tuổi. Qua mấy lời của Bác, chúng ta có thể thấy được tầm vóc của một nhân cách Việt Nam vĩ đại trong thế kỷ XX. Thân thế cao quý cùng với di sản tư tưởng, văn hóa, văn học của Cụ, tôi trộm nghĩ, cho đến nay chúng ta chưa khai thác, thừa kế và phát huy một cách xứng đáng. Trong bài này tôi chỉ xin nêu một thu hoạch nhỏ về tư tưởng giáo dục của Cụ qua bài Lối học khoa cử và lối học Tống Nho có phải là học đạo Khổng Mạnh không? (đăng trên báo Tiếng Dân khoảng năm 1930 - 1931, vừa được in lại trong tập sách Văn học Việt Nam thế kỷ XX quyển 5, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 2003, tr.477-494).
Bài nói trên của Cụ Huỳnh là một thiên luận văn xuất sắc trong nửa đầu thế kỷ XX nghiên cứu về Khổng học và Nho giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam với các kiến giải mới mẻ, độc đáo và xác đáng, vượt xa các học giả đương thời cùng nghiên cứu về Nho giáo như Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Phan Khôi... Những người này chỉ đóng khung trong các tài liệu của Trung Hoa và Phương Tây, chỉ quanh quẩn trong các chữ nghĩa, chương cú của “thánh hiền” và của các “tiên nho”, “hậu nho”... Khác thế, từ lập trường dân tộc, chủ nghĩa yêu nước, với tinh thần độc lập, tự chủ rất cao, thừa kế phong thái Duy tân, Đông kinh nghĩa thục đầu thế kỷ XX, Cụ Huỳnh đã có những xét đoán sáng suốt, sâu sắc về sự du nhập và tiếp nhận Nho giáo ở Việt Nam, gắn liền với lịch sử giữ nước, dựng nước và lịch sử tư tưởng, học thuật Việt Nam qua các triều đại. Trong tình hình sự nghiên cứu Khổng giáo, Nho học có vẻ như đang trở lại ở nước ta và các nước ngoài, các học giả Việt Nam chắc chắn không quên thiên luận văn có giá trị cao, đậm đà bản sắc dân tộc của Cụ Huỳnh. Tuy nhiên, đó là một vấn đề lớn mà tôi không dám lạm bàn ở đây, xin dành các bậc cao minh.
Là một nhà giáo dục, điều mà tôi cảm nhận và cảm phục sâu sắc từ thiên luận văn là sự phê phán gay gắt mà đích đáng của Cụ đối với lối học giáo điều, khoa cử, trong lịch sử nó liên tục làm sa đọa các học phong sĩ khí Việt Nam từ sau đời Trần trở đi qua đời Lê đến đời Nguyễn, rồi sang thời cận đại và hiện đại vẫn còn di hại nặng nề cho đến hôm nay.
Cụ Huỳnh có lẽ là nhà học giả Việt Nam hiện đại đầu tiên phát hiện và đề cao học phong sĩ khí thời Lý, Trần: “Nước ta sau lúc độc lập, trong khoảng trên dưới 300 năm (từ Đinh đến Trần) việc học hành, thi cử, từ trên đến dưới, đối với hai nhà giáo tổ (Khổng, Phật) vẫn sùng bái như nhau, tức là có vẻ tín giáo tự do vậy. Tín giáo được tự do nên tư tưởng có chiều phát triển. Trên lịch sử nước Nam ta về đời Trần, không những võ công trác tuyệt (đánh đuổi quân Hồ Nguyên), mà nói đến học giới có vẻ cao hơn Tống Nho nhiều. Học phong đời Trần có vẻ đặc biệt mà đặc biệt xuất sắc nhất là các nhà có thế lực, danh tiếng, tụ hội môn khách, thu dụng nhân tài, có cái phong khí hào hiệp như đời Chiến Quốc. Trong đám môn khách toàn là những tay văn học tài lược (như Phạm Ngũ Lão, Phạm Sư Mạnh,v.v..) nhân đó tự tỏ tài học của mình, không cần mượn đường khoa cử. Cho đến bọn gia nô, tiểu tốt như Dã Tượng, Yết Kiêu (gia bộc của Trần Hưng Đạo), mà học hành cũng rộng, lại có lòng cao thượng, không ham lợi, lộc. Nô bộc như thế, trong đám khoa mục và học trò Tống Nho được mấy người?”
Phân tích nguyên nhân khởi sắc học giới đời Trần, Cụ Huỳnh nêu hai điểm: 1) Nho, Phật, Đạo thịnh hành, không độc tôn Nho học như một thứ tôn giáo. 2) Khoa cử đơn giản, chưa in sâu vào não trạng người mình, ngoài khoa cử ra còn có đường tiến thân, lập thân khác. “Thời Trần tư tưởng tự do nên nhân tài đủ vẻ. Nếu cứ thế mà tiến lên thì có lẽ không nhường gì học giới Nhật Bản”.
Chính nhờ học phong lành mạnh đó mà khi Tống Nho mới được truyền sang đã bị phê phán, như 14 thiên Minh Đạo của Hồ Quý Ly nêu 4 nghi án của Khổng Tử trong sách Luận Ngữ, chê bọn Chu Trình học rộng tài sơ, chuyên nghề “trộm cắp” trong học thuật. “Phải nhận cái án Tống Nho mà Hồ Quý Ly tuyên bố là cái thiết án (án ăn cắp!) rất xác đáng. Cái gọi là “thiết án” ấy là lối học giáo điều, nô lệ “tầm chương, trích cú”, “nhai văn, nuốt chữ” mà đầu óc tê liệt không suy nghĩ, không tìm tòi, sáng tạo điều gì mới mẻ!
Cụ Huỳnh xét đoán rằng: sở dĩ lối học nô lệ, học mót, theo đuổi Tống Nho mà lan tràn từ đời Hậu Lê trở về sau là khởi nguyên từ nạn xâm lược của nhà Minh đầu thế kỷ XV cùng với họa diệt chủng về văn hóa do bọn xâm lược tiến hành.
Bao nhiêu sách vở của ta từ đời Trần trở về trước (sách của Chu An, Trần Hưng Đạo và bao nhiêu sách khác) đều bị bọn cướp này lấy sạch, những người có văn học khảng khái cũng bắt về Tàu”. Đồng thời, chúng lại đem cái học Tống Nho được tô vẽ thêm dưới chế độ chuyên chế nhà Minh truyền sang nước ta làm một chính sách “nhồi sọ xảo quyệt” để đồng hóa. “Cái tay độc ác của quân Minh đã nêu cái học Tống Nho làm khuôn kiểu để đè nén tư tưởng người Tàu còn chưa lấy làm đủ, lại còn đem cái giống yêu nghiệt ấy để truyền sang xứ ta để nhốt học giới ta vào trong cái rọ chật hẹp, đê hèn ấy nữa!” Cụ Huỳnh đã viết những câu thống thiết như sau về bọn xâm lược, thống trị nhà Minh, không phải không ám chỉ bọn xâm lược, thống trị thực dân đương thời: “Thời đại nước ta thuộc Minh chỉ trên vài mươi năm (1406 - 1428) mà học giới nước ta bị luồng gió độc làm cho các học hay tốt từ đời Trần về trước bị quét sạch sành sanh, không còn sót chút gì, lại lưu cái học bùa mê của Tống Nho nhập chung với con ma khoa cử làm hại cho học giới nước ta sau này, cho là một tấn thảm kịch “ngọn lửa nhà Tần” riêng cho học giới nước ta cũng không phải là quá đáng!”
Biện giải về học thuật như Cụ Huỳnh chẳng phải là thâm tư, viễn kiến trong tư tưởng giáo dục Việt Nam hay sao?
Theo Cụ thì cái học phong giáo điều, khoa cử khốn nạn này càng về sau càng tệ hại làm cho sĩ khí tiêu mòn, nhân tâm hèn nhát, bao nhiêu sĩ phu đều mang cái mặt “gái lấy hai chồng” (Lê Trịnh) (thực ra, đây là Cụ Huỳnh ám chỉ bọn “trí thức” hai mặt làm tay sai hai chủ thời thuộc địa), đã không biết lễ nghĩa liêm sỉ, lại còn vào xe ra lọng, tụng thánh ca thần, hót nịnh kẻ quyền quý, làm một bọn tiểu nhân nho... tất cả đều do cái học giáo điều, khoa cử đúc ra...” Đoạn văn sau đây của Cụ Huỳnh mới thật là xuất sắc, xuất chúng: “May mà non sông chung đúc, linh khí chưa tiêu, ngoài đám học trò Tống Nho khoa cử kia còn có bậc đại anh hùng, hào kiệt như vua Quang Trung, từ trong thảo dã, đất bằng vụt dậy đem cái tài xuất chúng ra đuổi quân Mãn Thanh mà kéo lại non sông này. Nếu không thì bọn tự xưng là học đạo thánh hiền kia chỉ có một cách hai tay dâng bản đồ Cổ Việt này làm quận huyện...” Cụ Huỳnh nhắc lại giai thoại khi vua Quang Trung ra Bắc, tiếp các sĩ phu Bắc Hà, ngài hỏi một ông: “Ông làm gì?” - “Thưa Thám hoa” - “Thám hoa là cái gì? Có làm được Chánh tổng không?”. Cụ Huỳnh bình luận: “Chuyện này là chuyện nhỏ, song đủ chứng rằng nhà anh hùng kia trong não không dính chút gì là cái học khoa cử, mà trong con mắt coi phường hủ nho không ra gì. Chính nhờ cái não trạng trong sạch sáng suốt ấy mà làm được công nghiệp phi thường!”
Lại một lần nữa, ta thấy cái tư tưởng phóng khoáng, kiên cường, độc lập, tự chủ của Cụ Huỳnh về giáo dục, học vấn. Sau đời Trần, Cụ ca tụng học phong thời Quang Trung, tiếc rằng khởi dậy mà đã bị cuộc phục tích của nhà Nguyễn làm cho tiêu trầm. Những kiến giải trên đây của Cụ Huỳnh ngay cả giờ đây cũng có thể làm cho ai còn mù quáng sùng bái khoa cử, vênh vang học vị học hàm giả dối, chỉ chuộng hư danh, không cần thực học, thực tài, không có chí khí, đạo đức, tư tưởng, lý tưởng trong sự học, xem đến đoạn văn này thiết nghĩ cũng phải lấy làm hổ thẹn, huống hồ là những người chỉ có một chút học thiển, tài sơ đã rắp ranh xun xoe đón đưa, nịnh hót ngoại nhân, ngoại bang, quay lưng lại đồng bào, Tổ quốc, “mượn thế bên ngoài, hù dọa bên trong”, những người ấy càng đáng tu sỉ hơn nữa.
Với cái chí khí và văn khí ấy, Cụ Huỳnh đã phê phán cái học phong từ sau đời Tây Sơn sang đời Nguyễn đến thời cận đại, hiện đại. Cụ cho rằng, dù trong học giới thỉnh thoảng cũng có những người khẳng khái, vượt ra ngoài khuôn khổ kiềm tỏa của lối học hủ nho, đề ra những kiến nghị cải cách, đổi mới sự học, song họ không thể nào chống lại nổi một tập tục đã ăn sâu vào não trạng, tâm lý người mình qua nhiều đời. Gia dĩ, lối học đó càng về sau càng tệ. Cụ đơn cử lối học “Tiết yếu” của Bùi Huy Bích. Học trò đi học, đi thi chỉ cần học thuộc lòng các bài tóm tắt kinh, truyện trong sách “Tiết yếu” (giống như loại sách ôn tập, các bài văn mẫu của ta bây giờ) bởi vì mục đích sự học nào có phải để có tri thức, tư tưởng, thực hành, mà chỉ để thi đậu, làm quan kiếm danh vị, bổng lộc. Trừ những đấng anh hùng, hào kiệt đời nào cũng có, còn lối học giáo điều, khoa cử theo dấu Tống Nho đã dìm học phong sĩ khí nước ta càng lâu càng tệ cho đến lúc cáo chung. Đến thời Tây học thay thế Hán học, tình hình cũng không phải khả quan hơn. Cụ Huỳnh viết: “Bỏ cái hủ xưa mà theo con đường mới, nào có phải việc không tốt đâu. Ngặt vì cái học Tống Nho và khoa cử di truyền đã lâu, không phải mai chùi chiều rửa cho sạch được ngay. Bởi thế, cái vỏ bề ngoài tuy đổi khác mà cái gân óc bên trong vẫn còn y nguyên, nên trong học giới lại sinh ra lắm điều quái gở. Khoa cử đã bỏ mà cái trò Hán học cũng tàn theo, điều ấy đã đành. Còn nói về Tây học thì trường nọ trường kia, bằng cao bằng thấp, cái vinh dự Tây học ngày nay lại càng sang trọng hơn mấy bậc khoa bảng ngày trước. Thế mà xét về thực tế thì trừ việc viết thuê nói mướn và làm công các sở ra, nào đã mấy ai lưu tâm đến chỗ triết lý, tìm được chỗ tinh túy của Âu học mà tự lập lấy mình và du nhập cho bà con đâu? Học giới như thế mà nói đến nhân tài thật không sao tránh khỏi câu Cụ Tây Hồ đã nói: “Ngày trước học Hán thì làm hủ nho, ngày nay học Tây thì làm hủ Âu”. Cụ Huỳnh dẫn hai câu thơ của Cụ Phan:
Bọn điếm lăng xăng lo chợ cháy
Con hoang lơ lửng khóc cha nghèo
Đó là cảnh tượng vừa nhố nhăng vừa thê thảm của xã hội và học giới thời thuộc địa dưới con mắt của các nhà chí sĩ ái quốc và cách mạng.
Thiên luận văn của Cụ Huỳnh được viết năm 1930 -31. Dĩ nhiên, nước nhà nô lệ thì giáo dục không tránh khỏi suy vong. Tuy nhiên, sức sống của dân tộc là “non sông chung đúc, linh khí chưa tiêu”. Cho nên, chẳng bao lâu, Cách mạng Tháng Tám bùng lên, tiếp đến là hai cuộc kháng chiến trời long đất lở, người Việt Nam ta đa số từ thảo dã, đất bằng vụt dậy đánh thắng hai đế quốc to, “kéo lại non sông này” rồi bắt tay vào xây dựng lại cơ đồ nghìn năm cha ông để lại, trong đó có sự nghiệp học vấn, giáo dục. Từ thành lập Đảng, từ Cách mạng Tháng Tám, tiến theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cái học phong sĩ khí thời Hưng Đạo, Quang Trung lại thấy tái sinh trong lòng dân tộc, nhờ đó mà kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, độc lập, tự do, thống nhất được phục hồi mà lối học giáo điều, khoa cử cũng nhờ đó mà được đẩy lùi một bước dài. Trên các lĩnh vực, đã đều xuất hiện các anh hùng, chiến sĩ kiên cường bất khuất, độc lập tự chủ, sáng tạo, đem lại vinh dự và chiến thắng cho dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa anh hùng Việt Nam lại được tái sinh. Cái học phong khảng khái, kiên cường, trọng thực tế, khinh hư vinh, đề cao lý tưởng, đạo đức, trọng thực hơn danh có cơ trỗi dậy, làm khởi sắc cho học giới một thời.
Song, đúng như Cụ Huỳnh đã nhắc nhở: “Cái não Tống Nho khoa cử di truyền rất lâu, không phải mai chùi chiều rửa cho sạch ngay được”. Mấy chục năm nay, từ ngày hòa bình, thống nhất, lợi dụng khó khăn kinh tế, các tệ nạn trong nước cùng với các luồng gió độc bên ngoài, những triệu chứng của căn bệnh cũ lại có cơ tái phát. Trong học giới, tức là trong giáo dục - đào tạo của chúng ta, lại thấy xuất hiện trở lại cái học phong sĩ khí bạc nhược, hèn kém ngày xưa, cái lối học giáo điều, nhồi sọ, cái thói chạy theo thi cử, bằng cấp, sùng bái học vị, học hàm, hữu danh vô thực, chuộng hư danh, hư vị, bỏ thực học, thực tài, lại thêm cái tâm lý học để làm thuê làm mướn, cầu lợi cầu lộc, phô phang mã ngoài, coi thường đạo đức, lý tưởng,v.v.. Nhiều tệ nạn tưởng đã mất tăm cùng mồ ma chế độ thực dân, phong kiến lại thấy “tái xuất giang hồ” cùng với kinh tế thị trường, tâm lý con buôn xu danh trục lợi, mua bằng bán chữ, tất cả có chiều hướng lan nhanh như dịch cúm gà, chưa ngăn chặn, khống chế được. Lối quản lý giáo dục của ta một phía thì gò bó, cứng nhắc, phía bên kia thì thả nổi, buông lỏng càng làm cho dịch bệnh tăng thêm. Giáo dục Việt Nam ta sang thế kỷ XXI đang cần một cuộc cải cách, một cuộc cách mạng theo tinh thần độc lập, tự do và xã hội chủ nghĩa thực sự, trước hết là một cuộc cách mang về học phong sĩ khí của người dạy người học, không những trong học giới mà cả trong lãnh đạo, trong nhân dân, trong xã hội. Đó không chỉ là công việc về giáo dục đào tạo, về khoa học công nghệ mà cả về tư tưởng văn hóa. Là quốc sách hàng đầu, giáo dục đào tạo phải có một tầm tư tưởng chiến lược khoáng đạt, cao cả, từ chiều sâu dân tộc vươn lên tầm cao thời đại, loại bỏ óc bảo thủ cố chấp cùng với thói sùng ngoại mù quáng luôn là hai trở ngại lớn cho sự nghiệp cải cách, đổi mới giáo dục.
Ôn lại sự phê phán của Cụ Huỳnh Thúc Kháng đối với lối học giáo điều, khoa cử “đê hèn”, “khốn nạn” thật như trở về một nguồn suối trong lành, tươi mát giúp chúng ta minh tâm, khai trí để đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, đào tạo tiến lên.
(Báo Văn nghệ)
Trần Thanh Đạm
Đó là Cụ Huỳnh Thúc Kháng (1875 - 1947). “Cụ Huỳnh là một người học rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao. Vì lòng yêu nước mà trước đây Cụ bị bọn thực dân làm tội, đày ra Côn Đảo mười mấy năm trường, gian nan cực khổ. Nhưng lòng son dạ sắt yêu nước thương nòi của Cụ chẳng những không sờn lại thêm kiên quyết. Cụ Huỳnh là người giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khó không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời Cụ không cần danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu. Cả đời Cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập.”
Những lời nói trên là của Bác Hồ trong thư gửi đồng bào trong dịp quốc tang khi Cụ Huỳnh tạ thế vào ngày 23 tháng 4 năm 1947, thọ 72 tuổi. Qua mấy lời của Bác, chúng ta có thể thấy được tầm vóc của một nhân cách Việt Nam vĩ đại trong thế kỷ XX. Thân thế cao quý cùng với di sản tư tưởng, văn hóa, văn học của Cụ, tôi trộm nghĩ, cho đến nay chúng ta chưa khai thác, thừa kế và phát huy một cách xứng đáng. Trong bài này tôi chỉ xin nêu một thu hoạch nhỏ về tư tưởng giáo dục của Cụ qua bài Lối học khoa cử và lối học Tống Nho có phải là học đạo Khổng Mạnh không? (đăng trên báo Tiếng Dân khoảng năm 1930 - 1931, vừa được in lại trong tập sách Văn học Việt Nam thế kỷ XX quyển 5, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 2003, tr.477-494).
Bài nói trên của Cụ Huỳnh là một thiên luận văn xuất sắc trong nửa đầu thế kỷ XX nghiên cứu về Khổng học và Nho giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam với các kiến giải mới mẻ, độc đáo và xác đáng, vượt xa các học giả đương thời cùng nghiên cứu về Nho giáo như Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Phan Khôi... Những người này chỉ đóng khung trong các tài liệu của Trung Hoa và Phương Tây, chỉ quanh quẩn trong các chữ nghĩa, chương cú của “thánh hiền” và của các “tiên nho”, “hậu nho”... Khác thế, từ lập trường dân tộc, chủ nghĩa yêu nước, với tinh thần độc lập, tự chủ rất cao, thừa kế phong thái Duy tân, Đông kinh nghĩa thục đầu thế kỷ XX, Cụ Huỳnh đã có những xét đoán sáng suốt, sâu sắc về sự du nhập và tiếp nhận Nho giáo ở Việt Nam, gắn liền với lịch sử giữ nước, dựng nước và lịch sử tư tưởng, học thuật Việt Nam qua các triều đại. Trong tình hình sự nghiên cứu Khổng giáo, Nho học có vẻ như đang trở lại ở nước ta và các nước ngoài, các học giả Việt Nam chắc chắn không quên thiên luận văn có giá trị cao, đậm đà bản sắc dân tộc của Cụ Huỳnh. Tuy nhiên, đó là một vấn đề lớn mà tôi không dám lạm bàn ở đây, xin dành các bậc cao minh.
Là một nhà giáo dục, điều mà tôi cảm nhận và cảm phục sâu sắc từ thiên luận văn là sự phê phán gay gắt mà đích đáng của Cụ đối với lối học giáo điều, khoa cử, trong lịch sử nó liên tục làm sa đọa các học phong sĩ khí Việt Nam từ sau đời Trần trở đi qua đời Lê đến đời Nguyễn, rồi sang thời cận đại và hiện đại vẫn còn di hại nặng nề cho đến hôm nay.
Cụ Huỳnh có lẽ là nhà học giả Việt Nam hiện đại đầu tiên phát hiện và đề cao học phong sĩ khí thời Lý, Trần: “Nước ta sau lúc độc lập, trong khoảng trên dưới 300 năm (từ Đinh đến Trần) việc học hành, thi cử, từ trên đến dưới, đối với hai nhà giáo tổ (Khổng, Phật) vẫn sùng bái như nhau, tức là có vẻ tín giáo tự do vậy. Tín giáo được tự do nên tư tưởng có chiều phát triển. Trên lịch sử nước Nam ta về đời Trần, không những võ công trác tuyệt (đánh đuổi quân Hồ Nguyên), mà nói đến học giới có vẻ cao hơn Tống Nho nhiều. Học phong đời Trần có vẻ đặc biệt mà đặc biệt xuất sắc nhất là các nhà có thế lực, danh tiếng, tụ hội môn khách, thu dụng nhân tài, có cái phong khí hào hiệp như đời Chiến Quốc. Trong đám môn khách toàn là những tay văn học tài lược (như Phạm Ngũ Lão, Phạm Sư Mạnh,v.v..) nhân đó tự tỏ tài học của mình, không cần mượn đường khoa cử. Cho đến bọn gia nô, tiểu tốt như Dã Tượng, Yết Kiêu (gia bộc của Trần Hưng Đạo), mà học hành cũng rộng, lại có lòng cao thượng, không ham lợi, lộc. Nô bộc như thế, trong đám khoa mục và học trò Tống Nho được mấy người?”
Phân tích nguyên nhân khởi sắc học giới đời Trần, Cụ Huỳnh nêu hai điểm: 1) Nho, Phật, Đạo thịnh hành, không độc tôn Nho học như một thứ tôn giáo. 2) Khoa cử đơn giản, chưa in sâu vào não trạng người mình, ngoài khoa cử ra còn có đường tiến thân, lập thân khác. “Thời Trần tư tưởng tự do nên nhân tài đủ vẻ. Nếu cứ thế mà tiến lên thì có lẽ không nhường gì học giới Nhật Bản”.
Chính nhờ học phong lành mạnh đó mà khi Tống Nho mới được truyền sang đã bị phê phán, như 14 thiên Minh Đạo của Hồ Quý Ly nêu 4 nghi án của Khổng Tử trong sách Luận Ngữ, chê bọn Chu Trình học rộng tài sơ, chuyên nghề “trộm cắp” trong học thuật. “Phải nhận cái án Tống Nho mà Hồ Quý Ly tuyên bố là cái thiết án (án ăn cắp!) rất xác đáng. Cái gọi là “thiết án” ấy là lối học giáo điều, nô lệ “tầm chương, trích cú”, “nhai văn, nuốt chữ” mà đầu óc tê liệt không suy nghĩ, không tìm tòi, sáng tạo điều gì mới mẻ!
Cụ Huỳnh xét đoán rằng: sở dĩ lối học nô lệ, học mót, theo đuổi Tống Nho mà lan tràn từ đời Hậu Lê trở về sau là khởi nguyên từ nạn xâm lược của nhà Minh đầu thế kỷ XV cùng với họa diệt chủng về văn hóa do bọn xâm lược tiến hành.
Bao nhiêu sách vở của ta từ đời Trần trở về trước (sách của Chu An, Trần Hưng Đạo và bao nhiêu sách khác) đều bị bọn cướp này lấy sạch, những người có văn học khảng khái cũng bắt về Tàu”. Đồng thời, chúng lại đem cái học Tống Nho được tô vẽ thêm dưới chế độ chuyên chế nhà Minh truyền sang nước ta làm một chính sách “nhồi sọ xảo quyệt” để đồng hóa. “Cái tay độc ác của quân Minh đã nêu cái học Tống Nho làm khuôn kiểu để đè nén tư tưởng người Tàu còn chưa lấy làm đủ, lại còn đem cái giống yêu nghiệt ấy để truyền sang xứ ta để nhốt học giới ta vào trong cái rọ chật hẹp, đê hèn ấy nữa!” Cụ Huỳnh đã viết những câu thống thiết như sau về bọn xâm lược, thống trị nhà Minh, không phải không ám chỉ bọn xâm lược, thống trị thực dân đương thời: “Thời đại nước ta thuộc Minh chỉ trên vài mươi năm (1406 - 1428) mà học giới nước ta bị luồng gió độc làm cho các học hay tốt từ đời Trần về trước bị quét sạch sành sanh, không còn sót chút gì, lại lưu cái học bùa mê của Tống Nho nhập chung với con ma khoa cử làm hại cho học giới nước ta sau này, cho là một tấn thảm kịch “ngọn lửa nhà Tần” riêng cho học giới nước ta cũng không phải là quá đáng!”
Biện giải về học thuật như Cụ Huỳnh chẳng phải là thâm tư, viễn kiến trong tư tưởng giáo dục Việt Nam hay sao?
Theo Cụ thì cái học phong giáo điều, khoa cử khốn nạn này càng về sau càng tệ hại làm cho sĩ khí tiêu mòn, nhân tâm hèn nhát, bao nhiêu sĩ phu đều mang cái mặt “gái lấy hai chồng” (Lê Trịnh) (thực ra, đây là Cụ Huỳnh ám chỉ bọn “trí thức” hai mặt làm tay sai hai chủ thời thuộc địa), đã không biết lễ nghĩa liêm sỉ, lại còn vào xe ra lọng, tụng thánh ca thần, hót nịnh kẻ quyền quý, làm một bọn tiểu nhân nho... tất cả đều do cái học giáo điều, khoa cử đúc ra...” Đoạn văn sau đây của Cụ Huỳnh mới thật là xuất sắc, xuất chúng: “May mà non sông chung đúc, linh khí chưa tiêu, ngoài đám học trò Tống Nho khoa cử kia còn có bậc đại anh hùng, hào kiệt như vua Quang Trung, từ trong thảo dã, đất bằng vụt dậy đem cái tài xuất chúng ra đuổi quân Mãn Thanh mà kéo lại non sông này. Nếu không thì bọn tự xưng là học đạo thánh hiền kia chỉ có một cách hai tay dâng bản đồ Cổ Việt này làm quận huyện...” Cụ Huỳnh nhắc lại giai thoại khi vua Quang Trung ra Bắc, tiếp các sĩ phu Bắc Hà, ngài hỏi một ông: “Ông làm gì?” - “Thưa Thám hoa” - “Thám hoa là cái gì? Có làm được Chánh tổng không?”. Cụ Huỳnh bình luận: “Chuyện này là chuyện nhỏ, song đủ chứng rằng nhà anh hùng kia trong não không dính chút gì là cái học khoa cử, mà trong con mắt coi phường hủ nho không ra gì. Chính nhờ cái não trạng trong sạch sáng suốt ấy mà làm được công nghiệp phi thường!”
Lại một lần nữa, ta thấy cái tư tưởng phóng khoáng, kiên cường, độc lập, tự chủ của Cụ Huỳnh về giáo dục, học vấn. Sau đời Trần, Cụ ca tụng học phong thời Quang Trung, tiếc rằng khởi dậy mà đã bị cuộc phục tích của nhà Nguyễn làm cho tiêu trầm. Những kiến giải trên đây của Cụ Huỳnh ngay cả giờ đây cũng có thể làm cho ai còn mù quáng sùng bái khoa cử, vênh vang học vị học hàm giả dối, chỉ chuộng hư danh, không cần thực học, thực tài, không có chí khí, đạo đức, tư tưởng, lý tưởng trong sự học, xem đến đoạn văn này thiết nghĩ cũng phải lấy làm hổ thẹn, huống hồ là những người chỉ có một chút học thiển, tài sơ đã rắp ranh xun xoe đón đưa, nịnh hót ngoại nhân, ngoại bang, quay lưng lại đồng bào, Tổ quốc, “mượn thế bên ngoài, hù dọa bên trong”, những người ấy càng đáng tu sỉ hơn nữa.
Với cái chí khí và văn khí ấy, Cụ Huỳnh đã phê phán cái học phong từ sau đời Tây Sơn sang đời Nguyễn đến thời cận đại, hiện đại. Cụ cho rằng, dù trong học giới thỉnh thoảng cũng có những người khẳng khái, vượt ra ngoài khuôn khổ kiềm tỏa của lối học hủ nho, đề ra những kiến nghị cải cách, đổi mới sự học, song họ không thể nào chống lại nổi một tập tục đã ăn sâu vào não trạng, tâm lý người mình qua nhiều đời. Gia dĩ, lối học đó càng về sau càng tệ. Cụ đơn cử lối học “Tiết yếu” của Bùi Huy Bích. Học trò đi học, đi thi chỉ cần học thuộc lòng các bài tóm tắt kinh, truyện trong sách “Tiết yếu” (giống như loại sách ôn tập, các bài văn mẫu của ta bây giờ) bởi vì mục đích sự học nào có phải để có tri thức, tư tưởng, thực hành, mà chỉ để thi đậu, làm quan kiếm danh vị, bổng lộc. Trừ những đấng anh hùng, hào kiệt đời nào cũng có, còn lối học giáo điều, khoa cử theo dấu Tống Nho đã dìm học phong sĩ khí nước ta càng lâu càng tệ cho đến lúc cáo chung. Đến thời Tây học thay thế Hán học, tình hình cũng không phải khả quan hơn. Cụ Huỳnh viết: “Bỏ cái hủ xưa mà theo con đường mới, nào có phải việc không tốt đâu. Ngặt vì cái học Tống Nho và khoa cử di truyền đã lâu, không phải mai chùi chiều rửa cho sạch được ngay. Bởi thế, cái vỏ bề ngoài tuy đổi khác mà cái gân óc bên trong vẫn còn y nguyên, nên trong học giới lại sinh ra lắm điều quái gở. Khoa cử đã bỏ mà cái trò Hán học cũng tàn theo, điều ấy đã đành. Còn nói về Tây học thì trường nọ trường kia, bằng cao bằng thấp, cái vinh dự Tây học ngày nay lại càng sang trọng hơn mấy bậc khoa bảng ngày trước. Thế mà xét về thực tế thì trừ việc viết thuê nói mướn và làm công các sở ra, nào đã mấy ai lưu tâm đến chỗ triết lý, tìm được chỗ tinh túy của Âu học mà tự lập lấy mình và du nhập cho bà con đâu? Học giới như thế mà nói đến nhân tài thật không sao tránh khỏi câu Cụ Tây Hồ đã nói: “Ngày trước học Hán thì làm hủ nho, ngày nay học Tây thì làm hủ Âu”. Cụ Huỳnh dẫn hai câu thơ của Cụ Phan:
Bọn điếm lăng xăng lo chợ cháy
Con hoang lơ lửng khóc cha nghèo
Đó là cảnh tượng vừa nhố nhăng vừa thê thảm của xã hội và học giới thời thuộc địa dưới con mắt của các nhà chí sĩ ái quốc và cách mạng.
Thiên luận văn của Cụ Huỳnh được viết năm 1930 -31. Dĩ nhiên, nước nhà nô lệ thì giáo dục không tránh khỏi suy vong. Tuy nhiên, sức sống của dân tộc là “non sông chung đúc, linh khí chưa tiêu”. Cho nên, chẳng bao lâu, Cách mạng Tháng Tám bùng lên, tiếp đến là hai cuộc kháng chiến trời long đất lở, người Việt Nam ta đa số từ thảo dã, đất bằng vụt dậy đánh thắng hai đế quốc to, “kéo lại non sông này” rồi bắt tay vào xây dựng lại cơ đồ nghìn năm cha ông để lại, trong đó có sự nghiệp học vấn, giáo dục. Từ thành lập Đảng, từ Cách mạng Tháng Tám, tiến theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cái học phong sĩ khí thời Hưng Đạo, Quang Trung lại thấy tái sinh trong lòng dân tộc, nhờ đó mà kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, độc lập, tự do, thống nhất được phục hồi mà lối học giáo điều, khoa cử cũng nhờ đó mà được đẩy lùi một bước dài. Trên các lĩnh vực, đã đều xuất hiện các anh hùng, chiến sĩ kiên cường bất khuất, độc lập tự chủ, sáng tạo, đem lại vinh dự và chiến thắng cho dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa anh hùng Việt Nam lại được tái sinh. Cái học phong khảng khái, kiên cường, trọng thực tế, khinh hư vinh, đề cao lý tưởng, đạo đức, trọng thực hơn danh có cơ trỗi dậy, làm khởi sắc cho học giới một thời.
Song, đúng như Cụ Huỳnh đã nhắc nhở: “Cái não Tống Nho khoa cử di truyền rất lâu, không phải mai chùi chiều rửa cho sạch ngay được”. Mấy chục năm nay, từ ngày hòa bình, thống nhất, lợi dụng khó khăn kinh tế, các tệ nạn trong nước cùng với các luồng gió độc bên ngoài, những triệu chứng của căn bệnh cũ lại có cơ tái phát. Trong học giới, tức là trong giáo dục - đào tạo của chúng ta, lại thấy xuất hiện trở lại cái học phong sĩ khí bạc nhược, hèn kém ngày xưa, cái lối học giáo điều, nhồi sọ, cái thói chạy theo thi cử, bằng cấp, sùng bái học vị, học hàm, hữu danh vô thực, chuộng hư danh, hư vị, bỏ thực học, thực tài, lại thêm cái tâm lý học để làm thuê làm mướn, cầu lợi cầu lộc, phô phang mã ngoài, coi thường đạo đức, lý tưởng,v.v.. Nhiều tệ nạn tưởng đã mất tăm cùng mồ ma chế độ thực dân, phong kiến lại thấy “tái xuất giang hồ” cùng với kinh tế thị trường, tâm lý con buôn xu danh trục lợi, mua bằng bán chữ, tất cả có chiều hướng lan nhanh như dịch cúm gà, chưa ngăn chặn, khống chế được. Lối quản lý giáo dục của ta một phía thì gò bó, cứng nhắc, phía bên kia thì thả nổi, buông lỏng càng làm cho dịch bệnh tăng thêm. Giáo dục Việt Nam ta sang thế kỷ XXI đang cần một cuộc cải cách, một cuộc cách mạng theo tinh thần độc lập, tự do và xã hội chủ nghĩa thực sự, trước hết là một cuộc cách mang về học phong sĩ khí của người dạy người học, không những trong học giới mà cả trong lãnh đạo, trong nhân dân, trong xã hội. Đó không chỉ là công việc về giáo dục đào tạo, về khoa học công nghệ mà cả về tư tưởng văn hóa. Là quốc sách hàng đầu, giáo dục đào tạo phải có một tầm tư tưởng chiến lược khoáng đạt, cao cả, từ chiều sâu dân tộc vươn lên tầm cao thời đại, loại bỏ óc bảo thủ cố chấp cùng với thói sùng ngoại mù quáng luôn là hai trở ngại lớn cho sự nghiệp cải cách, đổi mới giáo dục.
Ôn lại sự phê phán của Cụ Huỳnh Thúc Kháng đối với lối học giáo điều, khoa cử “đê hèn”, “khốn nạn” thật như trở về một nguồn suối trong lành, tươi mát giúp chúng ta minh tâm, khai trí để đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, đào tạo tiến lên.
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,