📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Phiên âm từ Hán Việt “Xu hướng ngày càng nghiêng về chữ Tạn”

0 trả lời, 24 lượt xem — Trang 1 / 1
Phiên âm từ Hán Việt “Xu hướng ngày càng nghiêng về chữ Tạn”

Mai Quốc Liên

(Trao đổi với ông Đào Nguyên Lưu)

Ông Đào Nguyên Lưu trong bài Lại loay hoay với Tịn hay Tạn đăng trên Văn nghệ số 18-19 (19-4-2004), đã đặt lại vấn đề về tạn, tịn, tiện. Tiếc rằng những lời nhận xét ấy cũng chưa ổn nên chúng tôi xin tạm mượn mấy dòng dưới đây để thưa lại.

Đào quân trách chúng tôi nặng lời: “bất nhất trong lập luận”. Chúng tôi đâu dám thế! Chữ tiện, tiễn ấy, như chúng tôi đã nói, trong âm Hán Việt truyền thống của ta (đó là loại âm Đường Tống vào ta ở thế kỷ IX-X, và bảo lưu đến ngày nay), ta đều đọc tiễn hoặc tiện; chứ không đọc tạn. Cho nên khi phiên âm Hán Việt thì nhất luận phiên tiện, hoặc tiễn. Không chỉ đối với thơ chữ Hán Nguyễn Trãi (4 lần như Đào quân thống kê), mà đối với thơ chữ Hán Nguyễn Du hay với tác giả nào khác, cũng đều phiên tiễn hoặc tiện (chứ không phiên tạn): “Cộng tiễn thi danh sư bách thế” (Lỗi dương Đỗ Thiếu lăng mộ), “Tiễn sát bắc song cao ngoạ giả”… (Ký hữu).

Nhưng đến khi phiên Nôm thì nên chọn âm tạn. Xin lần giở một vài từ điển:

* Nam Việt Dương hiệp tự vị (Dictionarium Anamitico Latinum) của A. J. L. Taberd in năm 1838, trang 464 ghi:

tạn, usque ad

- mặt, id

- trời, usque ad coelum

* Đại Nam quốc âm Hán tự Pháp thích tập thành Dictionnaire Annamite Francais) của J. F. M. Génibrel in năm 1898 ghi:

Tạn: Jusqu’à - mặt id. En présence de. - trời, jusqu’ au ciel. Nhìn - mặt, Fixer son regard, Regarder au face.

* “Giúp đọc Nôm và Hán Việt” của Trần Văn Kiệm (1998), tr. 799, ghi: (âm Hán) Tận: - hết, cạn láng

còn (Hán văn: tận; tiện): Tới đúng chỗ; trao tận tay; đến tận nơi.

* “Bảng tra chữ Nôm” của Viện Ngôn ngữ học thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội in năm 1976 ở trang 176 ghi:

1. Tiển

2. Tiện: hà tiện

3. Tợn: dữ tợn

* “Đại từ điển chữ Nôm” của Vũ Văn Kính (1999); tr. 1260:

tạn - Âm Hán Việt: tiện

Các cứ liệu trên cộng với các cứ liệu chúng tôi dẫn ra trong bài trước tưởng đã đủ để khẳng định âm đó nên đọc tạn, khi nó là chữ Nôm. Không có gì bất nhất: vì một đằng là âm Hán Việt, một đằng là ghi âm (âm Nôm) tiếng Việt của ta bằng một âm Hán Việt: ở hai trường hợp, hai văn bản, hai ngữ cảnh… ta có hai cách đọc khác nhau thì đó chính là nhất quán. Khi chúng tôi viết “Chữ ấy, mặt chữ là tiễn theo cách đọc Hán Việt truyền thống (như một từ điển tiêu biểu là Từ điển Thiều Chửu đã ghi - chú thêm). Nhưng Từ hải và Hình âm nghĩa tổng hợp đại từ điển đều chú âm theo phiên thiết là tập ngạn thiết tức là tạn, là chúng tôi có ý nói rằng, ngay trong âm Hán Trung Hoa, âm ấy đã đọc là tạn, vậy thì ông cha ta mượn âm ấy để ghi âm tạn của tiếng Việt cũng là hợp lý quá! Chúng tôi xin dẫn chứng thêm cách phiên âm mấy chữ qua các câu trong Truyện Kiều của Trương Vĩnh Ký, Phạm Kim Chi, Hồ Đắc Hàm, Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim và Nguyễn Khắc Hiếu như sau:

Alexandre de Rhodes đã ghi trong từ điển Việt Bồ La in năm 1651:

Tạn: pertings, is (đụng tới, chạm tới, sát tới).

Nước đã tạn gỗ, pertingit iam aqua ad lignum (nước đã đụng tới gỗ của tàu).

Tạn mây: usque ad nubes (đến sát mây).

Tạn blời: attingit coelum (đụng tới trời).

Đến cho tạn: accedere ita ut attingat (đi cho đến khi nào đụng tới).

Alexandre de Rhodes đã phân biệt tạn với tận. Chữ tận (Hán tự) ông viết và dùng tận đi đôi với một chữ Hán khác: khổ tận, tận thế, tận lực… Chữ Tạn (Nôm) ông viết bằng và coi là một động từ: tạn chân trời (sát đến chân trời), tạn mặt (sát mặt), tạn tay (đụng vào tay), tạn nơi (đi cho đến khi đụng vào chỗ ấy).

Như vậy chữ có thể đọc là tạn hoặc tận chứ không ai đọc là tịn cả.

Còn về việc chú chữ tạn trong câu thơ: “Hồng liên trì đã tạn mùi hương” là: “tạn: tận, hết. Câu này ý nói: “Sen hồng ở ao đã hết mùi hương rồi, tức là cuối mùa hè” trong Nguyễn Trãi toàn tập tân biên thì đúng như Đào quân đã nói: “sách một đằng, báo một nẻo” thật. Chỗ này thì đành mượn ý người xưa mà nói rằng: Tôi thật là may, có lỗi nào liền được người khác chỉ ra cho. Nguyên do là như sau: việc phiên âm và chú Quốc âm thi tập của Trung tâm nghiên cứu Quốc học có 4 vị tham gia (lần trước kể thiếu ông Nguyễn Khuê, chủ nhiệm Bộ môn Hán Nôm - Đại học KHXH và NV TP.HCM). Bốn vị chia nhau làm bốn phần, tôi chịu trách nhiệm xem lại cuối cùng và chỉnh sửa, thống nhất để đưa in, có thiếu sót là không phát hiện ra chỗ chú như thế. Tôi xin nhận lỗi ấy về mình. Và tôi cũng chắc rằng do điều kiện ở xa nhau (2 người Hà Nội, 2 người Thành phố Hồ Chí Minh, lại hơi vội vàng), sự trao đổi có trở ngại, chắc còn những sai sót khác, rất mong được Đào quân và bạn đọc chỉ ra cho để bổ cứu sau này.

Bây giờ xin thưa lại, mục 2 của bài viết, về âm tịn. ở chỗ này, Đào quân lại dùng “rìu búa” (phủ việt) để luận tội chúng tôi rồi! Nhưng đầu đuôi là như thế này: Năm 1980, nhân dịp kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi (1380-1442), tại Thành phố Hồ Chí Minh có một cuộc hội thảo về phiêm âm Nôm Nguyễn Trãi, do nhà nghiên cứu Nôm Cao Hữu Lạng chủ trì, tôi có được tham dự và ghi chép lại các ý kiến của từng người để làm tư liệu. Trong cuộc hội thảo đó, ông Lê Hữu Mục, một chuyên gia Nôm, có nêu ý kiến: tịn là một âm tục, không nên dùng. Ông đưa ra dẫn chứng: âm tịn gần với âm chịn, mà ở đồng bằng Bắc Bộ, khi nói “chịn vào” tức là dùng đít ấn vào, áp vào, gí vào. Tôi tán thành và tiếp thu cách lý giải này và đã nêu trong bài trước. Sau khi bài báo của Đào quân ra mắt, để cho “rộng đường dư luận”, tôi có trao đổi thêm ý kiến với GS. Kiều Thu Hoạch, một chuyên gia Nôm và ông Nguyễn Quảng Tuân, một học giả chuyên về Nôm Kiều. Cả hai ông đều là người Bắc bộ và đều cho biết: người đồng bằng Bắc bộ nói cái tĩn thì cũng như nói cái hĩm là để chỉ “cái đồ” con gái. Mà tĩn hay tịn là hai âm gần nhau về khuôn âm, chỉ khác thanh điệu. Như thế tịn, chịn, tĩn là những âm không đẹp là chắc rồi, “tục tĩu nữa là khác” cũng “còn điều chi nữa mà ngờ”. Đào quân người ở đâu ta? Nếu là người Bắc bộ, chắc sẽ hiểu các chữ này. Còn nếu là người vùng khác thì nên nghe cả một lúc 3 học giả người Bắc bộ nói! Còn đến thế mà Đào quân chưa tin thì tôi xin chịu! Còn “vả lại làm gì có một âm nào như thế được ghi vào từ thư của thế kỷ XV hoặc sau đó mà bảo đó là tiếng cổ” thì cũng quả nhiên như thế. Có từ điển nào có quốc ngữ ghi chữ này đâu chỉ ghi tạn, tận thôi như trên kia tôi đã dẫn. Chữ tịn quả là “xấu xí”. Tịn không thể sánh với tạn, ưu mỹ hơn, chính xác hơn, là điều chính Đào quân cũng hé thấy, rằng “nếu còn sống, có thể cụ Đào Duy Anh sẽ đồng ý với lớp trẻ hơn, chủ yếu là các nhà ngôn ngữ học, phiên là tạn”, rằng “về phiên, lộ rõ xu hướng ngày càng nghiêng về tạn”.

Thế là ổn rồi: tạn là một âm được chọn.

Cũng xin nói thêm: Về mặt dùng từ, Nguyễn Trãi là người Thăng Long - Đông Đô, ít có khả năng dùng tiếng của “nông thôn Thanh Nghệ”. Mà phải xem là ở Thanh Nghệ thật có tiếng tịn đó với nghĩa là hết không? Từ điển Thanh Nghệ của Trần Hữu Thung, Thái Kim Đỉnh, Nxb Nghệ An, 1998 có nhiều tiếng cổ, tiếng địa phương như táy, tùa, tùi… nhưng không hề có tịn. Vậy mà Đào quân viết: “Cụ dựa vào kinh nghiệm tiếng địa phương ở nông thôn Thanh Nghệ” (như cụ viết) mà phiên. Chúng tôi chứng thực điều này”. Xin hỏi: dựa vào đâu để chứng thực? Hoặc khẳng định: “Tiếng đó không có nghĩa gì tục tĩu cả”. Khẳng định này là hơi vội.

Thế thì có vấn đề gì nữa để nói: “nhưng cho rằng Cụ đã đưa ra một yếu tố không đẹp, xấu xí, tục tĩu để phiên Nguyễn Trãi là không được đâu. Không nên đối xử với tiền bối như vậy, hơn nữa, người đó trong lĩnh vực này là thầy của tất cả chúng ta. Chúng tôi cần chứng cớ”.

Chứng cớ, chúng tôi đã nêu. Chúng tôi cũng tế nhị không nêu tên cụ. Còn như về việc “đối xử với tiền bối” thì xin thưa rằng: đối với cụ Đào Duy Anh, chúng tôi “lòng riêng sau trước kính yêu”, và đúng Cụ là “trong lĩnh vực này là thầy của tất cả chúng ta”. Và tôi ngờ rằng không chỉ trong lĩnh vực này đâu, thưa Đào quân!

Nhưng như thế rồi sao? “Platon là thầy tôi, nhưng chân lý còn quý hơn thầy” (Aristote) và “Đương nhân bất nhượng ư sư” (Khổng Tử). Tôi xin nhắc một tích gần hơn. Khi anh thanh niên Hải Triều viết bài “Cụ Sào Nam giải thích chữ văn học thế là sai lắm” - thì theo lời ông kể: “Tôi viết bài này, mẹ tôi ngồi một bên xem, cười mà mắng rằng: “mày là đứa thư sanh, sao lại đi phê bình một bậc lão thành”. Tôi cũng cười mà nói rằng: “Tôi không bao giờ mất tấm lòng cung kính các bậc trưởng thượng, nhưng cụ nói sai cũng cho tôi nói với chớ”. (Đông Phương, Hà Nội, số 892, 28-10-1933).

Cụ Đào Duy Anh tuy là một học giả, có nhiều cống hiến cho văn hoá dân tộc, nhưng “trí giả thiên lự tất hữu nhất thất”, đôi khi Cụ cũng có những sai lầm “chết người”. Chẳng hạn, có ai ngờ rằng chính Cụ, người làm Hán Việt từ điển từ những năm 30 của thế kỷ trước - thế mà đến khi làm Từ điển Truyện Kiều (1974, Nxb KHXH), cụ lại giải thích cô quả trong câu: “kém gì cô quả, kém gì bá vương” như sau: Cô quả: vương hầu các nước nhỏ ở Trung Quốc xưa thường tự khiêm xưng là cô (người mồ côi), là quả (người goá bụa)! Trong khi cô ở đây là cô lậu, quả là quả đức (ít đức) như cụ từng giải thích đúng trong Từ điển Hán Việt của cụ (Minh Tân tái bản, Paris, 1950). Thế là thế nào? Chẳng qua là do sơ ý đó thôi. Nhưng cũng không thể vì Cụ là “bậc thầy” mà không thưa lại. Về phiên âm Nôm, bên cạnh nhiều chữ đúng thì Cụ cũng hay “đoán”, cứ cho rằng chữ nọ là do chữ kia “lộn thành”, mặc dù nhiều khi chữ đó có âm và nghĩa rõ ràng, nếu người ta dựa vào ngữ âm học lịch sử. Chẳng hạn trong bài “Thái cầu” (253) mà Đào quân đã dẫn, có chữ viết nương ngôi (đọc theo âm Hán Việt) nên phải đọc nâng coi (nâng lên và ngắm), nhưng cụ Đào lại cho ngôi là do nao viết lầm, nên đọc nâng niu. Bài 212, có chữ lầm viết bằng cự (trên) lâm (dưới), biểu hiện của phụ âm cổ kl-klâm-lầm. Nhưng cụ phiên lắm và chú: nhiều… Những chứng cứ như thế nhiều lắm, Đào quân hẳn cũng đã biết. Trong khoa học người sau phải kế thừa và tiến lên, dù được “đứng trên vai người khổng lồ” nào đi nữa. Nếu không đã không có khoa học!

Còn như chuyện Đào quân “chưa hẳn tin vào ai cả” hay “chưa nhất quyết điều gì trong trường hợp này” thì đó là quyền của Đào quân, nào ai dám ép nài! Chúng tôi đâu có “nhất quyết bắt người khác phải theo” như Đào quân nói. Chúng tôi mời các bậc “bác nhã quân tử” “tham khảo” chúng tôi cơ mà! Ngay cả trong trường hợp chúng tôi có sai lầm cũng nên “tham khảo”, để từ sai đi đến đúng.

Cho nên, tóm lại, về âm, chúng ta thống nhất đọc tạn.

Về nghĩa, quả có như Đào quân nói, chữ tạn của Quốc âm thi tập là “đột xuất phức tạp”. Vì đây là chữ thơ, trong một câu thơ đa nghĩa, đa trị, long lanh, mờ tỏ, “khả giải bất khả giải chi gian”. Và như thế mới là thơ. Trong bài trước, chúng tôi đề nghị một cách hiểu: “Hồng liên trì đã tạn mùi hương” nghĩa là: Hoa sen hồng ở trong ao đã toả ngát mùi hương (hay: mùi hương đã toả đến). Paul Schneider đọc tạn và dịch: Les lotus roses de l’étang répandent déja leurs parfums (những bông sen hồng trong “đìa”* đã lan toả mùi hương của nó). Ông Nguyễn Quảng Tuân trong buổi thảo luận với tôi hôm 5-5-2004 có đề nghị: câu dịch trên của Paul Schneider cũng có thể viết rõ hơn là: Les lotus roses de l’étang répandent tout leur parfum. Nghĩa là: Những bông sen hồng trong ao đã lan toả tất cả hương thơm của nó. Tức là hương sen toả thơm ngát cả trong ao sen. Répandent déjà chỉ mới có nghĩa đã lan toả, có thể chưa nói hết được của chữ tạn (Tout: adj. Indéf. exprime l’intensité, grand, complet, total. Avd. Marque l’intensité ou le degré absolu, entièrement). Như vậy, tạn: cũng có thể đọc là tận với nghĩa là hết tất cả, tột độ. Đó cũng là một nét nghĩa, có thể chấp nhận của chữ tạn. Cần lưu ý rằng ở đây bài thơ đang nói mùa hè với lá hoè xanh rợp, tiếng ve dắng dỏi (liên tục), tiếng đàn vua Thuấn với khúc “Nam phong”, và cuối cùng hoa sen toả ngát hương, sực nức hương… Bốn ký hiệu nghệ thuật ấy là thống nhất, nên khó hiểu ra rằng đây là tả cảnh cuối hè, “sen tàn” và trong ao đã hết mùi hương sen được.

Chữ “tạn” nên hiểu như vậy cho đúng với văn cảnh của bài thơ và âm ấy cũng là đúng với các tự điển đã phiên thiết.

Thành phố Hồ Chí Minh, 7-5-2004



* P. Schneider phiên trì là “đìa”, một âm Nôm; thực ra thì “đìa” nhỏ hơn ao đầm.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0