📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Một lối bình thơ tư biện và khiên cưỡng

0 trả lời, 26 lượt xem — Trang 1 / 1
Một lối bình thơ tư biện và khiên cưỡng

PGS.TS Linh Giang

(Nhân đọc bài báo của Đào Duy Hiệp Kiểu tự sự trong bài thơ “Không nói” Văn nghệ số Xuân 2004)

Trong bài bình thơ của Đào Duy Hiệp nhan đề Kiểu tự sự trong bài thơ Không nói, tác giả thích sử dụng rất nhiều thuật ngữ như “chủ thể tự sự”, “tính thơ”, “bình diện ngữ nghĩa”, “tín hiệu”, “vô nhân xưng”, “xáo trộn chức năng không gian” v.v… Nhưng các thuật ngữ được tung ra như hoả mù, không những không phát hiện được cái hay, cái đẹp của bài thơ, mà còn làm sai lạc cả nội dung và hình tượng của thơ. Trước hết, nhan đề của bài viết là “kiểu tự sự trong bài thơ Không nói”, nhưng tác giả không giải thích đây là kiểu tự sự gì và vì sao lại là kiểu tự sự. Xin hỏi tác giả: Trong thơ có mấy kiểu tự sự? Những kiểu này khác nhau như thế nào? Và bài thơ Không nói thuộc kiểu tự sự gì? Tưởng là tác giả đã sử dụng loại hình học để phân loại các “kiểu tự sự” nhằm phát hiện ra đặc trưng tự sự của bài thơ này, nhưng tác giả đã khẳng định một cách võ đoán là một “kiểu tự sự”, mà không giải thích gì cả.

Tác giả đã sai lạc ngay từ khi xuất phát điểm, khi xác định bài thơ này thuộc thể tự sự. Theo nghĩa của từ tiếng Hán “tự sự” có nghĩa là kể chuyện, kể các sự kiện. Còn theo sách giáo khoa về lý luận văn học thì sự khác biệt giữa tự sự và trữ tình được vạch rõ như sau: Hình tượng trữ tình chỉ tập trung thể hiện một vài tâm trạng cá biệt, còn trong loại văn kể chuyện, tính cách con người được khắc hoạ qua một hoặc nhiều giai đoạn trong cuộc đời nhân vật, cụ thể tức là qua những sự kiện tạo thành cốt truyện. (Xem Timôphiép Nguyên lý lý luận văn học Nxb Văn hoá, 1962, Tập 2, tr. 127). Sự khác biệt giữa thơ trữ tình và thơ tự sự cũng là ở đặc điểm này. Thơ tự sự khác với văn xuôi tự sự ở chỗ trong thơ chỉ có ít sự kiện, cốt truyện cũng đơn giản hơn, còn trong văn xuôi, sự kiện có thể rất nhiều và cốt truyện có thể rất phức tạp. Tuy vậy đã là thơ tự sự thì ít nhất cũng phải thể hiện một vài sự kiện nào đó.

Rõ ràng là bài thơ Không nói của Nguyễn Đình Thi tràn trề tâm trạng và cảm xúc, không hề có sự chuyển động của một sự kiện nào đó. Khi kể một sự kiện nào đó, nhà thơ ắt phải kể về quá trình nảy sinh, diễn biến, phát triển và kết thúc của sự kiện đó. Tất nhiên trong thơ tự sự, quá trình này thường ngắn gọn và giản lược nhiều so với văn xuôi tự sự, nhưng dù sao người đọc cũng cảm nhận thấy sự chuyển động của một sự kiện nào đó. Trong bài thơ Không nói, không hề có một quá trình như vậy. Nhà thơ và cũng là nhân vật trữ tình không hề kể một cách trực tiếp câu chuyện anh và người yêu của mình chia tay nhau để lên đường đi công tác như thế nào. Người đọc chỉ có thể ngầm hiểu như vậy qua hai câu thơ: “Mỗi đứa một khăn gói/ Ngày nào lần gặp sau”. ở đây không có một kiểu tự sự nào cả. Bởi vì nếu dùng nghệ thuật tự sự để khắc hoạ một cuộc chia tay đơn giản như vậy thì khó có thể đạt được hiệu quả nghệ thuật. Bài thơ rất ngắn, chỉ gồm mười mấy dòng thơ, thì làm sao có thể kể được một câu chuyện cảm động về một số phận, một cuộc đời. Nhưng sở trường và ưu thế của thơ trữ tình là ở chỗ chỉ một số ít từ ngữ rất cô đọng lại có khả năng thể hiện sâu sắc những điều “không nói” nằm ở đằng sau những câu chữ. Vì là những điều không nói, nên bạn đọc chỉ có thể cùng chia sẻ với những nếm trải và nỗi xúc động sâu xa của nhân vật.

Lối suy diễn tuỳ tiện và tư biện của Đào Duy Hiệp lộ rõ ở nhiều điểm trong bài viết. Khi bình hai câu thơ đầu tiên “Dừng chân trong mưa bay/ Liếp nhà ai ánh lửa”, tác giả cho rằng hai câu thơ này đã nhằm thông báo một quãng đường đã qua và trước đó “đã có một bài thơ không nói khác ngầm chảy”. Trong văn bản của bài thơ hoàn toàn không có một sự hồi tưởng, một sự gợi nhớ nào về một dòng chảy trong quá khứ. Nói như vậy, thì bất cứ một bài thơ nào cũng đều thông báo về một quãng đường đã qua, bởi vì không một tác phẩm văn học nào là không mở đầu từ một thời điểm nhất định trong dòng chảy bất tận của thời gian. Cũng như trên, tác giả tưởng rằng đã có phát hiện mới, khi cho rằng hai câu thơ trên không liền mạch, lôgic và thơ nhất là thơ tình “không được quá lôgic”. Thực ra do tính hàm xúc, ý tại ngôn ngoại, thơ trữ tình nói chung, không cứ gì phải thơ tình, giữa các dòng đều có kiểu nhảy vọt về thời gian, không gian và ý tưởng như vậy. Điều này chẳng có gì mới lạ để mang ra bàn. Sự suy diễn của nhà bình thơ càng kỳ cục hơn, khi cho rằng hai câu thơ trên là: “bên ngoài - “mưa bay” - chúng ta/ bên trong - “ánh lửa” - người khác, mà đáng lẽ phải ngược lại. “Sự đánh tráo chức năng của không gian” đã ẩn ngầm tính triết lý cho số phận của tình yêu: “Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ”. Tại sao nhà bình thơ lại có thể lầm lẫn đến như vậy. Rõ ràng đề tài bài thơ nói về hai người yêu nhau chia tay nhau để lên đường tham gia công tác kháng chiến. Trong đêm mưa, họ tạm dừng chân trước một ngôi nhà ven đường. ở đây có hai điểm trung tâm trong một không gian: a. Điểm a là điểm dừng chân để chia tay, rồi hai người lên đường làm nhiệm vụ. b. Điểm b là ngôi nhà nhỏ có ánh lửa ven đường. Nhưng nhà bình thơ lại đề nghị rằng “đáng lẽ phải ngược lại”. Có nghĩa là anh muốn rằng phải đổi chỗ cho hai người vào trong ngôi nhà, cho họ “bớt bơ vơ”. Nếu người đọc thơ dùng trí tưởng tượng để quan sát một cách bình thường, chứ không cần phải tinh tường lắm, thì cũng có thể thấy rằng nếu để cho hai nhân vật từ điểm a chuyển vào điểm b, thì chỉ còn mưa rơi trong đêm tối dưới bầu trời, tức là điểm b hoàn toàn bị xoá bỏ. Và như vậy sẽ xuất hiện một bài thơ với chủ đề hoàn toàn khác. Cách tư biện của Đào Duy Hiệp đã khiến anh tự ý bày đặt ra một ý tưởng kỳ lạ là tác giả bài thơ đã “xáo trộn chức năng của không gian” trong đó “ẩn ngầm tính triết lý cho số phận của tình yêu: “Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ”. Toàn bộ bài báo bị hút theo dòng tư biện, nên Đào Duy Hiệp đã nhấn mạnh rằng nội dung của bài thơ chỉ là tình yêu, tình yêu “cô đơn”, “bơ vơ”, “tình yêu bao giờ cũng buồn và cô đơn”, và “đau khổ”, “không được yêu cũng khổ; lấy phải vợ đẹp cũng chẳng sung sướng gì”. Đào Duy Hiệp đã chồng chất vào nhiều ý thừa thãi, đi chệch khỏi những ý tưởng của bài thơ. Trong thơ Nguyễn Đình Thi, yêu mà phải xa nhau thì buồn, nhưng nỗi buồn này hoàn toàn khác với nỗi buồn, nỗi “bơ vơ” của thơ Xuân Diệu trước kháng chiến. Do cố gò ép theo cái ý “số phận của tình yêu” là cô đơn và buồn, nên Đào Duy Hiệp cố tình bỏ qua những ý thơ nói lên quyết tâm và nghị lực của hai nhân vật “Mỗi đứa một khăn gói/ Ngày nào lần gặp nhau”. “Nào đồng chí - bắt tay”. Bài thơ nói về một sự việc quan trọng trong cuộc sống của cán bộ thời kỳ kháng chiến. Người ta yêu nhau, gắn bó với nhau, nhưng do nhu cầu công tác, họ vẫn phải xa nhau. Cái buồn da diết và sâu lắng khi họ phải xa nhau. Tuy vậy, họ đã sẵn sàng và quyết tâm. Nhưng Đào Duy Hiệp lại cho rằng câu “Nào đồng chí - bắt tay” là “một đối thoại giả hơn là cử chỉ hạ quyết tâm”. Nhà bình thơ không thích câu chào “đồng chí” và cái bắt tay chặt chẽ của hai người yêu nhau, nên cho đó là “đối thoại giả”. Thật là tuỳ tiện quá mức! Xin nhà lý luận giải thích rõ nguyên nhân vì sao đó là “đối thoại giả”. Đào Duy Hiệp còn đi xa hơn nữa trong suy diễn chủ quan khi cho rằng hai câu thơ “Ngày nào lần gặp sau/ Ngập ngừng không dám hỏi” là “ám ảnh rất sợ ngày mai” và “Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt”. ở đây, nhân vật chỉ buồn và lo rằng là rất lâu mới sẽ lại được gặp nhau. Dựa vào câu chữ và cả ý ngầm, thì vì sao lại có thể cho rằng đó là nỗi “ám ảnh”, “rất sợ ngày mai”, rất sợ “mầm ly biệt”. Đến đây, Đào Duy Hiệp đã bất chấp cả ý nghĩa thực của văn bản và ý nghĩa nghệ thuật của hình tượng để gán ghép cho “thơ tình nói chung” cái bệnh ám ảnh sợ “mầm ly biệt”. Gán ghép như vậy, Đào Duy Hiệp đã cố tình san bằng sự khác biệt về tư tưởng và phong cách giữa các loại thơ tình với thơ Nguyễn Đình Thi và thơ kháng chiến. Quan niệm như vậy không những đi chệch xa khỏi hình tượng thơ, mà còn quá đơn giản và thô sơ. Thử nghĩ xem nếu đúng như vậy, đúng là tất cả thơ tình đều giống y hệt nhau, đều “Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt”, thì chẳng ai còn muốn đọc thơ tình làm gì nữa, vì tất cả lặp lại nhau, tất cả đều đơn điệu! Nhưng trong thực tế, thì ở những nhà thơ xuất sắc, thơ tình rất khác nhau cả về ý tưởng phong cách và ngôn từ.

Đào Duy Hiệp thích áp đặt những suy nghĩ chủ quan của mình vào tác phẩm, nên anh bất chấp ý, tình, cách cảm, cách nghĩ và nói chung là phong cách của nhà thơ. Thơ Nguyễn Đình Thi mang phong cách trữ tình nhẹ nhàng, êm dịu, thanh thoát, nhưng sâu lắng. Có nỗi buồn, nhưng nỗi buồn cũng dìu dịu, man mác. Nhưng khi so sánh bài thơ của Nguyễn Đình Thi với bài thơ của Phạm Tiến Duật, nhà bình thơ đã dùng những lời bình như “vặn xoắn, câm lặng… sự vặn xoắn của tâm hồn con người lúc chia tay”. Tâm hồn các nhân vật của Nguyễn Đình Thi, Phạm Tiến Duật rất tế nhị, rất tinh tế, lẽ nào lại có thể đem ra vặn xoắn như những đinh ốc trong một cái máy. Sự thiếu tế nhị này còn bộc lộ rõ trong đoạn bình luận về cảnh chia tay, khi Đào Duy Hiệp thêm vào một ý: “Đây là tình trạng sức khoẻ sau hôn nhân”. Dùng lối diễn đạt thiếu tế nhị mà “vặn xoắn” như vậy quả là không thích hợp với việc bình luận thơ trữ tình - một thể loại luôn quan tâm tới vẻ đẹp tinh tế và cao quý của thế giới nội tâm.

Đào Duy Hiệp luôn luôn thích liên hệ và so sánh, nhưng so sánh một cách khập khiễng, khiến cho những nhận xét của anh trở nên tối nghĩa, rối rắm và khó hiểu. Nhưng khi ta đã tìm ra chỗ khập khiễng, thì rất dễ phát hiện ra sự vô lý trong ý kiến của anh. Chẳng hạn anh viết: “Trong đời, có hai loại số phận trái ngược nhau: ông thợ cắt tóc và tình yêu. Ông thợ cắt tóc phải nhờ cộng đồng bạn nghề sửa giúp chính cái đầu của mình; còn tình yêu không thể nương nhờ cộng đồng…” So sánh như vậy tưởng là thú vị và độc đáo, nhưng lại quá thô thiển và vô lý. Hãy suy nghĩ cho kỹ, cứ gì phải anh thợ cắt tóc, mà hầu như bất cứ làm nghề gì mà người ta chẳng phải nương nhờ lẫn nhau trong cộng đồng. Mà tình yêu thì có khi phải tự xoay xoả lấy, nhưng cũng rất nhiều khi phải nương nhờ vào cộng đồng chứ!. Tất nhiên có một loại tình yêu không cần nương nhờ vào cộng đồng: ấy là loại tình yên biệt lập trên “cô đảo”. Mặt khác, sự so sánh ở đây không cùng một loại hình, một cấp độ. Vì anh thợ cắt tóc là một con người, một nghề nghiệp, nhưng tình yêu là một khái niệm, một ý niệm trừu tượng. So sánh như vậy chỉ làm cho sự diễn đạt thêm tối nghĩa. Thiết tưởng đã muốn làm thao tác hàn lâm, thì cũng nên nắm bắt được cách so sánh loại hình.

Trong bài viết của Đào Duy Hiệp còn không ít nhận xét sai lạc và rất thiếu sức thuyết phục, nhưng những ý kiến nêu ra ở đây đã khá nhiều, nên tôi không muốn nói thêm nữa. Mong rằng sẽ có sự trao đổi ý kiến của nhà bình thơ và anh em khác trong giới phê bình.

(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0