Ấn tượng nhất về sân ga
Hoàng Châu Kỳ
Bài “Những bóng người trên sân Ga” của Nguyễn Bính làm năm 1937.
Bài “Những bóng người trên sân Ga” của Nguyễn Bính làm năm 1937. đến Ga ra đi để kiếm sống, anh đã thấy nhiều nhà Ga, anh thông cảm với khách đi tầu, anh hiểu họ, thương họ, anh đã sáng tác ra bài thơ về Sân Ga mà gần 70 năm nay không biết có người thanh niên nào, nhà thơ nào nói về Sân Ga với sáu dạng người, và có hồn thơ hay hơn anh không?
Biết rằng vào những năm đó (1937) hầu như rất ít người đi chơi, du lịch, thăm hỏi, mà phần đông phải đi phu đi lính, đi “tha phương cầu thực” để kiếm sống nuôi mình và nuôi vợ con, bố mẹ già, lúc đó ra đi là ly biệt, là “tan đàn sẻ nghé”, chưa biết được ngày về đoàn tụ cùng ai?!
Hầu hết thơ Nguyễn Bính thường chứa đựng 1 hay cả 4 nội dung về Nông thôn, Ly biệt, Giang hồ và Tình yêu, lời thơ của anh thường mang phong vị đồng quê rất đậm đà thân thuộc, cảm động, dễ đọc, dễ nhớ như ca dao.
Bài: “Những bóng người trên sân Ga” đã nói lên cái cảnh Ly biệt của sáu dạng người ta thường thấy ở Sân Ga năm đó (có thể còn thiếu dạng người đi buôn bán, đem đơn đi kiện cáo, tìm mộ người thân ...) nhưng về tình cảm giữa người với người thì 6 dạng trong bài là phổ biến nhất.
Mở đầu bằng bốn câu: Biệt ly, Chia lìa, Đứt dây, Cô đơn đến não ruột, xé lòng:
Những cuộc chia lìa khởi từ đây,
Cây đàn sum họp đứt từng dây.
Những đời phiêu bạt thân đơn chiếc,
Lần lượl theo nhau suốt tối ngày.
Vào bài ta thấy người đầu tiên trong thơ là hai cô bé, gọi cô bé là phải dưới tuổi anh (19), khác với bài GHEN của anh đã gọi “Cô nhân tình bé nhỏ của tôi ơi” vậy hai cô bé khoảng 15,16. Ôi cái tuổi còn phải đi học tuổi đang thích ca hát chạy nhảy đã phải đi tha phương để kiếm sống thời ấy là thế đó! Tại sao không thấy người lớn tiễn mà lại là bạn gái trẻ với tình cảm còn ngây thơ, họ còn rất trẻ, còn non nớt, có thể phải rời bỏ trường học để đi đến trường đời, chưa biết thế nào ở nơi sắp đến, chưa có những lời ân cần khuyên nhủ, đối nhân xử thế trong trường đời, mà chỉ áp má vào nhau khóc sụt sùi!
Có lần tôi thấy hai cô bé,
áp má vào nhau khóc sụt sùi,
Hai bóng chung lưng thành một bóng,
Đường về nhà chị chắc xa xôi.
Đến dạng thứ hai là người yêu tiễn nhau, chả biết mới yêu hay yêu lâu rồi, nhưng nay phải xa nhau, đi bao lâu? Bao giờ về, không biết những lời thề non hứa biển, hẹn ước có thuỷ chung không? Có gan bền dạ sắt được bao lâu? Có quyết tâm chờ đợi bền vững không mà chỉ là cầm tay họ bóng xiêu xiêu!
Dạng thứ ba là hai người bạn cũ, hai bạn già hay trẻ, nam hay nữ cũng thế, chắc là thân thiết chí cốt, họ đã nói với nhau nhiều rồi, căn dặn những điều gì cần nói, cần làm, ai mà biết được? Nhưng khi tàu sắp chạy vẫn còn bịn rịn bên nhau, bên toa tàu. Họ lo cho nhau: người đi, người về mà đường về còn xa, trời tối, có thể lại sắp mưa, nên đã giục nhau về ba, bốn bận:
Hai người bạn cũ tiễn chân nhau ,
Kẻ ở trên toa kẻ dưới tàu.
Họ giục nhau về ba bốn bận,
Bóng nhoà trong bóng tối từ lâu.
Dạng thứ tư là cảnh vợ chồng phải xa nhau, tiễn đưa nhau, nhớ thương nhau lắm lắm, nhưng cái ngày ấy cách đây gần 70 năm còn phong kiến xấu hổ, sợ dư luận chê cười nên không dám cùng sánh đôi bên nhau, không có cảnh ôm eo, càng không có cảnh hôn nhau thắm thiết lộ liễu như đôi khi ta thấy bây giờ! Nên mới thèn thẹn ngượng ngùng đi hàng một, và bóng họ mới chạy dài. Người vợ thương chồng nhiều lắm, lo sợ chồng ốm đau ngã nước bệnh tật, lo chồng không có tiền tiêu, mở khăn trầu ra lấy tiền đưa cho chồng, cái khăn trầu thời đó thường gói vài lá trầu không, một tý vôi, vài miếng cau, mấy lát vỏ đều là các thứ ẩm ướt mà để tiền trong đó hẳn phải là tiền xu, tiền chinh, đồng Bảo Đại bằng kim loại. Vỉ ở quê nhà bị địa chủ cường hào áp bức bóc lột nghèo khổ quá, phải ra đi kiếm sống, vả lại còn mẹ già, người chồng không nỡ cầm mấy đồng xu để tiêu một mình, cho nên cứ dùng dằng mãi, chị cởi ra, anh thắt lại và anh quyết không lấy, vì tấm lòng hiếu thảo với mẹ già, những đồng tiền này còn phải nuôi lấy mẹ già và con thơ. (thực là “Một sự nghèo đáng quý”)
Có lần tôi thấy vợ chồng ai,
Thèn thẹn đưa nhau bóng chạy dài,
Chị cởi khăn trầu anh thắt lại.
Mình về nuôi lấy mẹ mình ơi.
Đến dạng thứ năm là cảnh bà tiễn con đi lính (năm ấy người ta gọi đi lính lên biên giới là trấn ải xa). Bà mẹ cũng chưa biết ải xa ở đâu, song thương nhớ con lắm, lo cho con trai ăn ở luyện tập nơi trại lính thế nào? Có khi nhà bà ở cách Ga hàng chục cây số, vì thương con bà đã lặn lội đến Ga cùng người con trai yêu quý thân thiết nhất, và bà cũng không có bạn bè ngoài người con trai duy nhất sắp xa mẹ tại Ga này, không biết nói gì nữa nói với ai khi con trai đã lên tàu và tàu chạy rồi, bà muốn gục xuống sân ga vì nhớ thương con rất nhiều.
Có lần tôi thấy một bà già
Đưa tiễn con đi trấn ải xa,
Tàu chạy lâu rồi bà vẫn đứng.
Lưng còng đổ xuống bóng sân ga.
Đến dạng thứ sáu: dạng cuối của bài thơ này, Nguyễn Bính cũng không quên đưa vào là dạng một người đi, cái người này có khi là chính anh, phải, chính anh đã đi đi về về nhiều lần trong Nam ngoài Bắc. Ta thấy toát ra cái sự lẻ loi đơn chiếc ly biệt, cô đơn, cái người này đi đâu, về đâu, ai mà biết được? Lại cũng không thấy ai ra tiễn đưa, mà một mình đi hay ở vẫn con người ấy, nam hay nữ cũng thế thôi. Dùng chữ hững hờ, bóng lẻ trong trường hợp này thật là hay là đúng với con người cô đơn, chỉ có một mình.
Có lần tôi thấy một người đi,
Chẳng hiểu về đâu, nghĩ ngợi gì?
Chân bước hững hờ theo bóng lẻ.
Một mình làm cả cuộc phân ly.
Bài thơ chưa hết. Bây giờ tàu sắp lăn bánh chuẩn bị chạy, một hồi còi dài như báo hiệu giây phút biệt ly sẽ đến, bao nhiêu điều cần nói cần làm đã dặn dò nhau hứa hẹn sẽ làm hết cho nhau đủ rồi, con tàu từ từ lăn bánh và sẽ khuất dần sau những rặng cây mái nhà. Nguyễn Bính gửi vào đây những từ thổn thức như khóc than nhớ nhung. Cái hay, cái độc đáo đặc biệt của thơ anh mà người đọc hay thích, hay nhớ là tính sử dụng những “Điệp từ” trong thơ anh, vẫn chữ ấy, từ ấy nhưng nghĩa đen nghĩa bóng lại khác, của người khác:
Những chiếc khăn màu thổn thức bay,
Những bàn tay vẫy những bàn tay,
Những đôi mắt ướt tìm đôi mắt,
Buồn ở đâu hơn ở chốn này?
Đó là Sân Ga, nhà Ga cách đây gần 70 năm là thế đó!?
(Báo Văn nghệ)
Hoàng Châu Kỳ
Bài “Những bóng người trên sân Ga” của Nguyễn Bính làm năm 1937.
Bài “Những bóng người trên sân Ga” của Nguyễn Bính làm năm 1937. đến Ga ra đi để kiếm sống, anh đã thấy nhiều nhà Ga, anh thông cảm với khách đi tầu, anh hiểu họ, thương họ, anh đã sáng tác ra bài thơ về Sân Ga mà gần 70 năm nay không biết có người thanh niên nào, nhà thơ nào nói về Sân Ga với sáu dạng người, và có hồn thơ hay hơn anh không?
Biết rằng vào những năm đó (1937) hầu như rất ít người đi chơi, du lịch, thăm hỏi, mà phần đông phải đi phu đi lính, đi “tha phương cầu thực” để kiếm sống nuôi mình và nuôi vợ con, bố mẹ già, lúc đó ra đi là ly biệt, là “tan đàn sẻ nghé”, chưa biết được ngày về đoàn tụ cùng ai?!
Hầu hết thơ Nguyễn Bính thường chứa đựng 1 hay cả 4 nội dung về Nông thôn, Ly biệt, Giang hồ và Tình yêu, lời thơ của anh thường mang phong vị đồng quê rất đậm đà thân thuộc, cảm động, dễ đọc, dễ nhớ như ca dao.
Bài: “Những bóng người trên sân Ga” đã nói lên cái cảnh Ly biệt của sáu dạng người ta thường thấy ở Sân Ga năm đó (có thể còn thiếu dạng người đi buôn bán, đem đơn đi kiện cáo, tìm mộ người thân ...) nhưng về tình cảm giữa người với người thì 6 dạng trong bài là phổ biến nhất.
Mở đầu bằng bốn câu: Biệt ly, Chia lìa, Đứt dây, Cô đơn đến não ruột, xé lòng:
Những cuộc chia lìa khởi từ đây,
Cây đàn sum họp đứt từng dây.
Những đời phiêu bạt thân đơn chiếc,
Lần lượl theo nhau suốt tối ngày.
Vào bài ta thấy người đầu tiên trong thơ là hai cô bé, gọi cô bé là phải dưới tuổi anh (19), khác với bài GHEN của anh đã gọi “Cô nhân tình bé nhỏ của tôi ơi” vậy hai cô bé khoảng 15,16. Ôi cái tuổi còn phải đi học tuổi đang thích ca hát chạy nhảy đã phải đi tha phương để kiếm sống thời ấy là thế đó! Tại sao không thấy người lớn tiễn mà lại là bạn gái trẻ với tình cảm còn ngây thơ, họ còn rất trẻ, còn non nớt, có thể phải rời bỏ trường học để đi đến trường đời, chưa biết thế nào ở nơi sắp đến, chưa có những lời ân cần khuyên nhủ, đối nhân xử thế trong trường đời, mà chỉ áp má vào nhau khóc sụt sùi!
Có lần tôi thấy hai cô bé,
áp má vào nhau khóc sụt sùi,
Hai bóng chung lưng thành một bóng,
Đường về nhà chị chắc xa xôi.
Đến dạng thứ hai là người yêu tiễn nhau, chả biết mới yêu hay yêu lâu rồi, nhưng nay phải xa nhau, đi bao lâu? Bao giờ về, không biết những lời thề non hứa biển, hẹn ước có thuỷ chung không? Có gan bền dạ sắt được bao lâu? Có quyết tâm chờ đợi bền vững không mà chỉ là cầm tay họ bóng xiêu xiêu!
Dạng thứ ba là hai người bạn cũ, hai bạn già hay trẻ, nam hay nữ cũng thế, chắc là thân thiết chí cốt, họ đã nói với nhau nhiều rồi, căn dặn những điều gì cần nói, cần làm, ai mà biết được? Nhưng khi tàu sắp chạy vẫn còn bịn rịn bên nhau, bên toa tàu. Họ lo cho nhau: người đi, người về mà đường về còn xa, trời tối, có thể lại sắp mưa, nên đã giục nhau về ba, bốn bận:
Hai người bạn cũ tiễn chân nhau ,
Kẻ ở trên toa kẻ dưới tàu.
Họ giục nhau về ba bốn bận,
Bóng nhoà trong bóng tối từ lâu.
Dạng thứ tư là cảnh vợ chồng phải xa nhau, tiễn đưa nhau, nhớ thương nhau lắm lắm, nhưng cái ngày ấy cách đây gần 70 năm còn phong kiến xấu hổ, sợ dư luận chê cười nên không dám cùng sánh đôi bên nhau, không có cảnh ôm eo, càng không có cảnh hôn nhau thắm thiết lộ liễu như đôi khi ta thấy bây giờ! Nên mới thèn thẹn ngượng ngùng đi hàng một, và bóng họ mới chạy dài. Người vợ thương chồng nhiều lắm, lo sợ chồng ốm đau ngã nước bệnh tật, lo chồng không có tiền tiêu, mở khăn trầu ra lấy tiền đưa cho chồng, cái khăn trầu thời đó thường gói vài lá trầu không, một tý vôi, vài miếng cau, mấy lát vỏ đều là các thứ ẩm ướt mà để tiền trong đó hẳn phải là tiền xu, tiền chinh, đồng Bảo Đại bằng kim loại. Vỉ ở quê nhà bị địa chủ cường hào áp bức bóc lột nghèo khổ quá, phải ra đi kiếm sống, vả lại còn mẹ già, người chồng không nỡ cầm mấy đồng xu để tiêu một mình, cho nên cứ dùng dằng mãi, chị cởi ra, anh thắt lại và anh quyết không lấy, vì tấm lòng hiếu thảo với mẹ già, những đồng tiền này còn phải nuôi lấy mẹ già và con thơ. (thực là “Một sự nghèo đáng quý”)
Có lần tôi thấy vợ chồng ai,
Thèn thẹn đưa nhau bóng chạy dài,
Chị cởi khăn trầu anh thắt lại.
Mình về nuôi lấy mẹ mình ơi.
Đến dạng thứ năm là cảnh bà tiễn con đi lính (năm ấy người ta gọi đi lính lên biên giới là trấn ải xa). Bà mẹ cũng chưa biết ải xa ở đâu, song thương nhớ con lắm, lo cho con trai ăn ở luyện tập nơi trại lính thế nào? Có khi nhà bà ở cách Ga hàng chục cây số, vì thương con bà đã lặn lội đến Ga cùng người con trai yêu quý thân thiết nhất, và bà cũng không có bạn bè ngoài người con trai duy nhất sắp xa mẹ tại Ga này, không biết nói gì nữa nói với ai khi con trai đã lên tàu và tàu chạy rồi, bà muốn gục xuống sân ga vì nhớ thương con rất nhiều.
Có lần tôi thấy một bà già
Đưa tiễn con đi trấn ải xa,
Tàu chạy lâu rồi bà vẫn đứng.
Lưng còng đổ xuống bóng sân ga.
Đến dạng thứ sáu: dạng cuối của bài thơ này, Nguyễn Bính cũng không quên đưa vào là dạng một người đi, cái người này có khi là chính anh, phải, chính anh đã đi đi về về nhiều lần trong Nam ngoài Bắc. Ta thấy toát ra cái sự lẻ loi đơn chiếc ly biệt, cô đơn, cái người này đi đâu, về đâu, ai mà biết được? Lại cũng không thấy ai ra tiễn đưa, mà một mình đi hay ở vẫn con người ấy, nam hay nữ cũng thế thôi. Dùng chữ hững hờ, bóng lẻ trong trường hợp này thật là hay là đúng với con người cô đơn, chỉ có một mình.
Có lần tôi thấy một người đi,
Chẳng hiểu về đâu, nghĩ ngợi gì?
Chân bước hững hờ theo bóng lẻ.
Một mình làm cả cuộc phân ly.
Bài thơ chưa hết. Bây giờ tàu sắp lăn bánh chuẩn bị chạy, một hồi còi dài như báo hiệu giây phút biệt ly sẽ đến, bao nhiêu điều cần nói cần làm đã dặn dò nhau hứa hẹn sẽ làm hết cho nhau đủ rồi, con tàu từ từ lăn bánh và sẽ khuất dần sau những rặng cây mái nhà. Nguyễn Bính gửi vào đây những từ thổn thức như khóc than nhớ nhung. Cái hay, cái độc đáo đặc biệt của thơ anh mà người đọc hay thích, hay nhớ là tính sử dụng những “Điệp từ” trong thơ anh, vẫn chữ ấy, từ ấy nhưng nghĩa đen nghĩa bóng lại khác, của người khác:
Những chiếc khăn màu thổn thức bay,
Những bàn tay vẫy những bàn tay,
Những đôi mắt ướt tìm đôi mắt,
Buồn ở đâu hơn ở chốn này?
Đó là Sân Ga, nhà Ga cách đây gần 70 năm là thế đó!?
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,