Phảng phất hơi may
Đỗ Chu
Vậy mà đã trọn một năm kể từ ngày nhà văn Nguyễn Đình Thi qua đời. Giờ đây mỗi chúng ta vẫn như đang còn thấy bóng dáng anh quẩn quanh đâu đây. Phảng phất trong hơi may, phảng trong mưa bụi, trong hoa cỏ giêng hai quê nhà có hồn anh ở đó. Nhớ mấy câu thơ anh để lại sau cùng, “Cây lá rào rào phấp phới, tôi đi trong đêm nay, hồn tôi bay lượn, trái tim không ngừng khẽ đập đập”. Vẫn nụ cười ấy anh đang chuyện trò cùng ta, vẫn ánh mắt ấy anh đang nhìn về Hà Nội với xiết bao nhân ái, xiết bao hồn hậu khiêm cung.
Anh là người vốn ít lý sự, hà tiện rao giảng, rất ngại kể về bản thân cũng như ngại kể về những người cùng thời với mình. Người ta thấy anh ngày càng thu mình kín đáo, ngày càng nhiều im lặng, mà ai chả rõ anh là một người sớm trải, sớm biết nhiều.
Hai mươi hai tuổi đứng lên điều hành phiên họp thứ nhất của Quốc hội đầu tiên Việt Nam dân chủ cộng hòa, trân trọng giới thiệu Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến, tóm tắt ý kiến của cụ Chủ tịch... Một tuổi hai mươi dễ có mấy ai. Tuổi hai mươi của một thế hệ ngực trần ôm súng chạy lên đón nhận ngọn gió tự do, tuổi hai mươi của một thế hệ làm tướng và làm thơ, đánh giặc và hát tiến quân ca, dám chết cho nền độc lập dân tộc. Sẽ còn lâu chúng ta hôm nay mới có thể hiểu hết lẽ sống của họ, những người đã có mặt trong buổi đầu dựng nước.
Nhiều năm ta ở bên anh, anh như cái bóng nhã nhặn che chở mà chẳng hề làm cớm một ai. Đẹp trong sống, đẹp trong sự sáng tạo, Nguyễn Đình Thi luôn luôn đứng trong số không nhiều những nhà văn ra đi mà vẫn còn để lại mãi mãi tận đáy lòng đông đảo người đọc, tận đáy lòng đồng nghiệp anh em những ấn tượng khó phai lạt, khiến ta như có đôi phần bùi ngùi ghen tị.
Không hề quá chút nào khi cụ lang Bách, người có Nho học của Hà Nội, một hôm đã chọn mấy chữ của Phạm Quý Thích để viết tặng cho anh Thi lúc anh còn sống, chữ rằng: Tài tình thiên cổ lụy.
Sớm hôm qua, Hội Nhà văn đã cử một đoàn xuống nghĩa trang Mai Dịch viếng anh nhân ngày giỗ đầu. Tôi đã thấy cỏ xanh phủ khắp mồ anh. Nhà thơ Hữu Thỉnh đứng im hồi lâu trong mưa, tay cầm ô che cho nắm hương thơm cắm trên mồ anh cháy đến chân nhang. Đó là một cử chỉ văn hóa, nghiêng mình trước một giá trị văn hóa. Là cái cách khu xử, cái cách sống không thể khác, đã có từ mấy nghìn năm nay của những ai còn muốn xứng đáng để người đời gọi mình là kẻ sĩ.
Có một lời dặn dành cho những ai đến sau, để mọi người tự chiêm nghiệm mà biết dè chừng trước những dại dột, trước những kiêu ngạo rất xấu hổ thường dễ có, lời dặn ấy là của Khổng Tử: “Ngồi vào chỗ của người xưa thì dễ mà làm được như người xưa thì khó lắm thay!”.
Những năm vừa qua, tôi có may mắn đôi lần được ngồi nghe anh Nguyễn Đình Thi nhỏ nhẹ chuyện trò, cũng như tôi đã có may mắn đôi lần được ngồi nghe anh Tố Hữu nhỏ nhẹ chuyện trò. Bất chợt, tôi bỗng nhận ra cả hai người ấy đều đã gặp nhau trong một mối quan tâm có ý nghĩa rất chủ yếu, đó là lớp trẻ, là các cây bút trẻ. Đặt rất nhiều kỳ vọng, rất nhiều tin cậy, và cũng rất nhiều băn khoăn, rất nhiều đòi hỏi gắt gao. Là vì họ là kế cận. Là những tác giả ngày mai sẽ đóng vai trò quyết định làm nên diện mạo tương lai của nền văn học nước nhà. Không thể xem đấy là một gánh vác nhẹ nhàng được. Và càng không thể đùa bỡn buông tu?ng trong công việc đó được.
Vẫn biết cả hai ông đều là những người giỏi rồi, nhưng tôi vẫn không khỏi kinh ngạc trước kiến văn uyên bác, trước những am tường và sự nhạy cảm đặc biệt của cả hai ông trong lúc nhận định về tình hình văn nghệ nói chung.
Cả hai ông đều rất coi trọng sứ mệnh cá nhân của mỗi nhà văn, những cống hiến bằng tác phẩm cụ thể của họ và mơ ước cuối đời của hai ông là giá mà có được một đội ngũ chuyên nghiệp tinh và mạnh.
Khi không ít người trong chúng ta đã quá vui mừng trước một thực trạng số lượng in ấn thơ văn ngày càng rầm rộ, rồi sức thu hút tập hợp của các Hội chuyên ngành của chúng ta ngày càng mãnh liệt, thì hai ông lại như có sự phân vân, có một thoáng e ngại thì phải.
Đã đành là phải vui rồi, có thể vui đến trào nước mắt ấy chứ. Làm sao không vui trong khi con cháu của đám đông hôm qua ngập ngụa trong bãi lầy, nô lệ, mà nay bước lên trong khát vọng được sáng tạo, nhận ra cái nhân quyền sáng tạo của mình bấy nay đã bị cướp mất. Đó chính là một sự phát triển mang tính đột biến cảm động của đời sống cách mạng. Nhưng nếu như trước tình hình ấy, bằng sự trải nghiệm, bằng bề dày văn hóa của mình, hai ông vẫn cứ thấy phải băn khoăn, cứ phải có đôi phần e ngại thì đấy lại là vì những gì khác có thể chỉ các ông mới lường tới được. Có lẽ các ông đã nhìn ra ngoài cánh đồng xa kia cỏ lan cỏ chi có ngày sẽ bị những cỏ gà cỏ bồng chìm lấn tràn ngập. Còn gì đẹp hơn cỏ lan cỏ chi, nhưng cũng còn gì mong manh yếu đuối bằng chúng trên thế gian quá nhiều dữ dằn độc ác này.
Tôi tìm thấy ở cả hai ông sự yêu thương, trân trọng cái đẹp một cách đầy lương thiện và cũng rất hồn nhiên.
Hai ông cũng thường hay bàn đến con đường sáng tạo nghệ thuật như bất kỳ ai trong chúng ta. Nhiều ý tưởng đúng nhưng phải nói thật là cũng ít có gì mới trong đó. Sáng tạo là một con đường dài, dài đến bao nhiêu là do cái tài cái đức có đến bao nhiêu. Quy luật đào thải nghiệt ngã diễn ra thường xuyên, họa may ra ở cuối con đường xa lắc xa lơ kia còn lại được dăm ba bóng. Lịch sử lại chỉ có thói quen chào đón những người như thế, đó cũng là sự công bằng vốn có của nó, cho nên có một người Pháp đã nói, lịch sử văn học chính là lịch sử của những cái đỉnh.
Bất luận tình huống nào cũng phải cố gắng để nền văn nghệ giữ được chút tính hàn lâm quý báu từng có của nó. Ngàn năm qua các cụ ta đã để lại cho con cháu một nền văn học có mang bản lĩnh đó, đó là niềm kiêu hãnh của một nhân dân tuy nghèo khó nhưng chưa bao giờ chịu thấp hèn. Đó là tinh thần rất cơ bản không phải chỉ khuôn hẹp trong khu vực văn học nghệ thuật mà thôi. Nó chính là cốt lõi của cái mà giờ đây ta đang nói đến nhiều, đậm đà bản sắc dân tộc. Thế nào là bản sắc dân tộc, câu hỏi ấy tưởng dễ mà thật rất khó gọi ra cho đúng. Có thể xem nó tựa như những đài sen trong sớm mai chăng. Rất tự trọng, rất sang trọng - một tác phẩm văn học đúng nghĩa cũng rất gần với một đài sen, một con người cũng vậy, đó là những phẩm chất lớn, mảnh mai mà kiêu kỳ, nó nhắc nhở, nó nhẹ nhàng d¹y cho con người ta việc đầu tiên là phải biết xấu hổ.
Quay về với tình hình văn nghệ, vậy thì phải làm sao đây? Có lẽ đã đến lúc phải nghĩ đến việc xây dựng củng cố một đội ngũ chuyên nghiệp. Tính chuyên nghiệp cao chính là điều kiện cần thiết phải có để nền văn nghệ nước nhà bước ra khỏi tình trạng quê mùa rất khó bàn mực chuẩn, hay nói khác đi là một đẳng cấp, còn mang rất rõ tính khu vực.
Sẽ là một sự cay đắng khi trong nền văn nghệ ta lâu nay đang còn thiếu vắng, rất thiếu vắng, những tác giả lớn, những nhà cử đỉnh, những ngọn núi cao nhiều sức tỏa sáng, nhiều sức hấp dẫn vẫy gọi.
Tôi nhắc lại chuyện này là để muốn nói, lễ tưởng niệm anh Thi hôm nay không phải chỉ là tưởng niệm một nhà văn lớn mà còn là tưởng niệm một cán bộ Đảng nòng cốt, từng hết lòng tận tụy góp phần gây dựng, đặt nền móng cho nền văn nghệ mới.
Mấy tháng nay cả nước đang mở hội hành quân trở lại Điện Biên. Trong niềm vui rạo rực khi nghĩ về chiến công năm xưa, và trong nỗi lo âu thắc thỏm trước những ngổn ngang việc nước của những năm tháng hết sức phức tạp này, chúng ta ngồi lại đây cùng nhau thắp hương tưởng niệm một nhà thơ chiến sĩ, một nhà thơ với tấm lòng yêu thương đất nước Việt Nam không bao giờ vơi cạn, đó là Nguyễn Đình Thi. Tôi hình dung ra anh Thi đang lấm láp bùn đất đứng dưới một chiến hào cùng các anh lính xung kích, giống như trong bức sơn mài tuyệt vời mà họa sĩ Nguyễn Sáng đã để lại cho chúng ta. Giống như bức sơn dầu mà họa sĩ Tô Ngọc Vân khi ngã xuống vẫn còn đang ấp ủ chưa kịp đưa nó lên toan. Và anh Thi đứng đó đọc bài thơ Hoa nghệ, một bài thơ hay trong những bài thơ hay của anh.
Sớm nay giữa Điện Biên dữ dội
Những chiến hào bỗng thấy mùa xuân
Ô lạ, khắp mặt đồi đen trụi
Hoa nghệ xôn xao nở tím hồng
Anh ngắt đóa hoa đồng tươi nhỏ
Dành cho em ở cuối trời xa
Em ạ, dù trong cơn bão lửa
Tình yêu không ngừng vẫn nở hoa.
Đây đâu phải là một bài thơ tình. Nếu chỉ thế thì thật nhạt. Đây là cách nghĩ cách sống trong một thời nhiều tao loạn, lắm thác ghềnh và không ít những hiểm nghèo rình rập.
Nhớ đến Nguyễn Đình Thi, không hiểu sao tôi thường thấy lòng mình trở nên thanh thản và ấm áp.
Kể ra trong một kiếp người không lấy gì làm dài, nếu mà ông giời cho gặp được dăm ba người như anh thì cũng đã đủ là một an ủi lớn. Cứ mỗi năm lại thấy quanh mình vắng đi một vài người thân thiết, rồi trông vào gương thấy tóc mình cũng đã bạc trắng cả, lòng không khỏi cô quạnh. Lại càng thấy phải yêu quý, lại càng thấy phải biết nhường nhịn và có lẽ cũng sắp phải học lấy sự lặng lẽ lịch duyệt của anh.
Thôi tôi dừng ở đây. Một lần nữa cảm ơn các bác, các anh, các chị đã dành cho tôi vinh dự được phát biểu trong buổi lễ tôn nghiêm này.
Hà Nội, 17 tháng 4 năm 2004
(Báo Văn nghệ)
Đỗ Chu
Vậy mà đã trọn một năm kể từ ngày nhà văn Nguyễn Đình Thi qua đời. Giờ đây mỗi chúng ta vẫn như đang còn thấy bóng dáng anh quẩn quanh đâu đây. Phảng phất trong hơi may, phảng trong mưa bụi, trong hoa cỏ giêng hai quê nhà có hồn anh ở đó. Nhớ mấy câu thơ anh để lại sau cùng, “Cây lá rào rào phấp phới, tôi đi trong đêm nay, hồn tôi bay lượn, trái tim không ngừng khẽ đập đập”. Vẫn nụ cười ấy anh đang chuyện trò cùng ta, vẫn ánh mắt ấy anh đang nhìn về Hà Nội với xiết bao nhân ái, xiết bao hồn hậu khiêm cung.
Anh là người vốn ít lý sự, hà tiện rao giảng, rất ngại kể về bản thân cũng như ngại kể về những người cùng thời với mình. Người ta thấy anh ngày càng thu mình kín đáo, ngày càng nhiều im lặng, mà ai chả rõ anh là một người sớm trải, sớm biết nhiều.
Hai mươi hai tuổi đứng lên điều hành phiên họp thứ nhất của Quốc hội đầu tiên Việt Nam dân chủ cộng hòa, trân trọng giới thiệu Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến, tóm tắt ý kiến của cụ Chủ tịch... Một tuổi hai mươi dễ có mấy ai. Tuổi hai mươi của một thế hệ ngực trần ôm súng chạy lên đón nhận ngọn gió tự do, tuổi hai mươi của một thế hệ làm tướng và làm thơ, đánh giặc và hát tiến quân ca, dám chết cho nền độc lập dân tộc. Sẽ còn lâu chúng ta hôm nay mới có thể hiểu hết lẽ sống của họ, những người đã có mặt trong buổi đầu dựng nước.
Nhiều năm ta ở bên anh, anh như cái bóng nhã nhặn che chở mà chẳng hề làm cớm một ai. Đẹp trong sống, đẹp trong sự sáng tạo, Nguyễn Đình Thi luôn luôn đứng trong số không nhiều những nhà văn ra đi mà vẫn còn để lại mãi mãi tận đáy lòng đông đảo người đọc, tận đáy lòng đồng nghiệp anh em những ấn tượng khó phai lạt, khiến ta như có đôi phần bùi ngùi ghen tị.
Không hề quá chút nào khi cụ lang Bách, người có Nho học của Hà Nội, một hôm đã chọn mấy chữ của Phạm Quý Thích để viết tặng cho anh Thi lúc anh còn sống, chữ rằng: Tài tình thiên cổ lụy.
Sớm hôm qua, Hội Nhà văn đã cử một đoàn xuống nghĩa trang Mai Dịch viếng anh nhân ngày giỗ đầu. Tôi đã thấy cỏ xanh phủ khắp mồ anh. Nhà thơ Hữu Thỉnh đứng im hồi lâu trong mưa, tay cầm ô che cho nắm hương thơm cắm trên mồ anh cháy đến chân nhang. Đó là một cử chỉ văn hóa, nghiêng mình trước một giá trị văn hóa. Là cái cách khu xử, cái cách sống không thể khác, đã có từ mấy nghìn năm nay của những ai còn muốn xứng đáng để người đời gọi mình là kẻ sĩ.
Có một lời dặn dành cho những ai đến sau, để mọi người tự chiêm nghiệm mà biết dè chừng trước những dại dột, trước những kiêu ngạo rất xấu hổ thường dễ có, lời dặn ấy là của Khổng Tử: “Ngồi vào chỗ của người xưa thì dễ mà làm được như người xưa thì khó lắm thay!”.
Những năm vừa qua, tôi có may mắn đôi lần được ngồi nghe anh Nguyễn Đình Thi nhỏ nhẹ chuyện trò, cũng như tôi đã có may mắn đôi lần được ngồi nghe anh Tố Hữu nhỏ nhẹ chuyện trò. Bất chợt, tôi bỗng nhận ra cả hai người ấy đều đã gặp nhau trong một mối quan tâm có ý nghĩa rất chủ yếu, đó là lớp trẻ, là các cây bút trẻ. Đặt rất nhiều kỳ vọng, rất nhiều tin cậy, và cũng rất nhiều băn khoăn, rất nhiều đòi hỏi gắt gao. Là vì họ là kế cận. Là những tác giả ngày mai sẽ đóng vai trò quyết định làm nên diện mạo tương lai của nền văn học nước nhà. Không thể xem đấy là một gánh vác nhẹ nhàng được. Và càng không thể đùa bỡn buông tu?ng trong công việc đó được.
Vẫn biết cả hai ông đều là những người giỏi rồi, nhưng tôi vẫn không khỏi kinh ngạc trước kiến văn uyên bác, trước những am tường và sự nhạy cảm đặc biệt của cả hai ông trong lúc nhận định về tình hình văn nghệ nói chung.
Cả hai ông đều rất coi trọng sứ mệnh cá nhân của mỗi nhà văn, những cống hiến bằng tác phẩm cụ thể của họ và mơ ước cuối đời của hai ông là giá mà có được một đội ngũ chuyên nghiệp tinh và mạnh.
Khi không ít người trong chúng ta đã quá vui mừng trước một thực trạng số lượng in ấn thơ văn ngày càng rầm rộ, rồi sức thu hút tập hợp của các Hội chuyên ngành của chúng ta ngày càng mãnh liệt, thì hai ông lại như có sự phân vân, có một thoáng e ngại thì phải.
Đã đành là phải vui rồi, có thể vui đến trào nước mắt ấy chứ. Làm sao không vui trong khi con cháu của đám đông hôm qua ngập ngụa trong bãi lầy, nô lệ, mà nay bước lên trong khát vọng được sáng tạo, nhận ra cái nhân quyền sáng tạo của mình bấy nay đã bị cướp mất. Đó chính là một sự phát triển mang tính đột biến cảm động của đời sống cách mạng. Nhưng nếu như trước tình hình ấy, bằng sự trải nghiệm, bằng bề dày văn hóa của mình, hai ông vẫn cứ thấy phải băn khoăn, cứ phải có đôi phần e ngại thì đấy lại là vì những gì khác có thể chỉ các ông mới lường tới được. Có lẽ các ông đã nhìn ra ngoài cánh đồng xa kia cỏ lan cỏ chi có ngày sẽ bị những cỏ gà cỏ bồng chìm lấn tràn ngập. Còn gì đẹp hơn cỏ lan cỏ chi, nhưng cũng còn gì mong manh yếu đuối bằng chúng trên thế gian quá nhiều dữ dằn độc ác này.
Tôi tìm thấy ở cả hai ông sự yêu thương, trân trọng cái đẹp một cách đầy lương thiện và cũng rất hồn nhiên.
Hai ông cũng thường hay bàn đến con đường sáng tạo nghệ thuật như bất kỳ ai trong chúng ta. Nhiều ý tưởng đúng nhưng phải nói thật là cũng ít có gì mới trong đó. Sáng tạo là một con đường dài, dài đến bao nhiêu là do cái tài cái đức có đến bao nhiêu. Quy luật đào thải nghiệt ngã diễn ra thường xuyên, họa may ra ở cuối con đường xa lắc xa lơ kia còn lại được dăm ba bóng. Lịch sử lại chỉ có thói quen chào đón những người như thế, đó cũng là sự công bằng vốn có của nó, cho nên có một người Pháp đã nói, lịch sử văn học chính là lịch sử của những cái đỉnh.
Bất luận tình huống nào cũng phải cố gắng để nền văn nghệ giữ được chút tính hàn lâm quý báu từng có của nó. Ngàn năm qua các cụ ta đã để lại cho con cháu một nền văn học có mang bản lĩnh đó, đó là niềm kiêu hãnh của một nhân dân tuy nghèo khó nhưng chưa bao giờ chịu thấp hèn. Đó là tinh thần rất cơ bản không phải chỉ khuôn hẹp trong khu vực văn học nghệ thuật mà thôi. Nó chính là cốt lõi của cái mà giờ đây ta đang nói đến nhiều, đậm đà bản sắc dân tộc. Thế nào là bản sắc dân tộc, câu hỏi ấy tưởng dễ mà thật rất khó gọi ra cho đúng. Có thể xem nó tựa như những đài sen trong sớm mai chăng. Rất tự trọng, rất sang trọng - một tác phẩm văn học đúng nghĩa cũng rất gần với một đài sen, một con người cũng vậy, đó là những phẩm chất lớn, mảnh mai mà kiêu kỳ, nó nhắc nhở, nó nhẹ nhàng d¹y cho con người ta việc đầu tiên là phải biết xấu hổ.
Quay về với tình hình văn nghệ, vậy thì phải làm sao đây? Có lẽ đã đến lúc phải nghĩ đến việc xây dựng củng cố một đội ngũ chuyên nghiệp. Tính chuyên nghiệp cao chính là điều kiện cần thiết phải có để nền văn nghệ nước nhà bước ra khỏi tình trạng quê mùa rất khó bàn mực chuẩn, hay nói khác đi là một đẳng cấp, còn mang rất rõ tính khu vực.
Sẽ là một sự cay đắng khi trong nền văn nghệ ta lâu nay đang còn thiếu vắng, rất thiếu vắng, những tác giả lớn, những nhà cử đỉnh, những ngọn núi cao nhiều sức tỏa sáng, nhiều sức hấp dẫn vẫy gọi.
Tôi nhắc lại chuyện này là để muốn nói, lễ tưởng niệm anh Thi hôm nay không phải chỉ là tưởng niệm một nhà văn lớn mà còn là tưởng niệm một cán bộ Đảng nòng cốt, từng hết lòng tận tụy góp phần gây dựng, đặt nền móng cho nền văn nghệ mới.
Mấy tháng nay cả nước đang mở hội hành quân trở lại Điện Biên. Trong niềm vui rạo rực khi nghĩ về chiến công năm xưa, và trong nỗi lo âu thắc thỏm trước những ngổn ngang việc nước của những năm tháng hết sức phức tạp này, chúng ta ngồi lại đây cùng nhau thắp hương tưởng niệm một nhà thơ chiến sĩ, một nhà thơ với tấm lòng yêu thương đất nước Việt Nam không bao giờ vơi cạn, đó là Nguyễn Đình Thi. Tôi hình dung ra anh Thi đang lấm láp bùn đất đứng dưới một chiến hào cùng các anh lính xung kích, giống như trong bức sơn mài tuyệt vời mà họa sĩ Nguyễn Sáng đã để lại cho chúng ta. Giống như bức sơn dầu mà họa sĩ Tô Ngọc Vân khi ngã xuống vẫn còn đang ấp ủ chưa kịp đưa nó lên toan. Và anh Thi đứng đó đọc bài thơ Hoa nghệ, một bài thơ hay trong những bài thơ hay của anh.
Sớm nay giữa Điện Biên dữ dội
Những chiến hào bỗng thấy mùa xuân
Ô lạ, khắp mặt đồi đen trụi
Hoa nghệ xôn xao nở tím hồng
Anh ngắt đóa hoa đồng tươi nhỏ
Dành cho em ở cuối trời xa
Em ạ, dù trong cơn bão lửa
Tình yêu không ngừng vẫn nở hoa.
Đây đâu phải là một bài thơ tình. Nếu chỉ thế thì thật nhạt. Đây là cách nghĩ cách sống trong một thời nhiều tao loạn, lắm thác ghềnh và không ít những hiểm nghèo rình rập.
Nhớ đến Nguyễn Đình Thi, không hiểu sao tôi thường thấy lòng mình trở nên thanh thản và ấm áp.
Kể ra trong một kiếp người không lấy gì làm dài, nếu mà ông giời cho gặp được dăm ba người như anh thì cũng đã đủ là một an ủi lớn. Cứ mỗi năm lại thấy quanh mình vắng đi một vài người thân thiết, rồi trông vào gương thấy tóc mình cũng đã bạc trắng cả, lòng không khỏi cô quạnh. Lại càng thấy phải yêu quý, lại càng thấy phải biết nhường nhịn và có lẽ cũng sắp phải học lấy sự lặng lẽ lịch duyệt của anh.
Thôi tôi dừng ở đây. Một lần nữa cảm ơn các bác, các anh, các chị đã dành cho tôi vinh dự được phát biểu trong buổi lễ tôn nghiêm này.
Hà Nội, 17 tháng 4 năm 2004
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,