Ngẫu hứng qua mây gió
Trần Đăng Khoa-Nguyễn Văn Thọ
(Trong thời gian gần đây, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp lại “nổi tiếng” không phải bằng tác phẩm mà bằng những lời tuyên bố, đặc biệt là bài báo "Trò chuyện với hoa thuỷ tiên và những nhầm lẫn của nhà văn” in liên tiếp trên ba số tạp chí “Ngày nay”, cơ quan của Câu lạc bộ Unesco Việt Nam (Số 4 ngày 15/2, số 5 ngày 30/2 và số 6 ngày 15/3/2004). Bài báo đã gây bất bình trong giới cầm bút và cả bạn đọc. Nhiều nhà văn nhà báo đã lên tiếng về sự không lành mạnh ấy. Nhân dịp này, trong số chuyên đề cuối tháng, chúng tôi giới thiệu cuộc trao đổi của nhà thơ Trần Đăng Khoa với nhà văn Nguyễn Văn Thọ, một cây bút đã nhiều năm chiến đấu ở chiến trường, hiện đang làm việc tại Cộng hoà Liên bang Đức. Đây là một góc nhìn có tính tổng quan về sự nghiệp văn chương và “hiện tượng” Nguyễn Huy Thiệp để chúng ta cùng tham khảo).
Trần Đăng Khoa - Nguyễn Văn Thọ: Gọi " Ngẫu hứng qua mây gió", nghe õng ẹo quá, làm duyên làm dáng quá. Nhưng không. Đó lại là sự thực. Vì đây là cuộc trò chuyện qua không gian. Chúng tôi ở cách nhau gần nửa vòng trái đất. Dùng ngôn ngữ âm thanh thì không thể tới được. Chúng tôi đành nói chuyện với nhau theo cách của người câm. Nghĩa là nói bằng tay, bằng những cú nhấn phím. Cám ơn thời đại công nghệ. Với những phát triển của khoa học kỹ thuật, trái đất bỗng trở nên bé nhỏ, chỉ nằm gọn trong lòng bàn tay...
Cuộc trò chuyện ngẫu hứng này, chúng tôi bàn về một con người cụ thể: Đó là nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Cả hai chúng tôi đều yêu mến anh, một hiện tượng của văn học đương đại. Xin bạn đọc đừng nghĩ là chúng tôi tự mâu thuẫn, vì câu trước khen, câu sau có thể lại chê. Đời văn ai chả có khúc hay, khúc dở. Không nên vì cái dở mà xoá đi cái hay. Cũng không nên vì cái hay mà lờ đi những cái dở. Hay thì khen và dở thì chê. Đấy là cái nhìn khách quan, cũng chỉ vì yêu mến Nguyễn Huy Thiệp....
Nguyễn Văn Thọ: Ông Khoa ơi! Bây giờ là ba giờ sáng. Tôi vẫn biết từ bên kia trái đất, ông thức dậy và làm việc lúc bốn giờ. Múi giờ mùa hè. Chúng ta lệch nhau 5 tiếng đồng hồ, có nghĩa là ông thức dậy, làm việc trước tôi bốn giờ.
Bây giờ ông về rồi. Gian phòng chỉ có mình tôi thôi. Nơi ông vẫn thường nghỉ, cái đi văng mầu mận còn kia, bàn trà, hai cái cốc uống chè của chúng ta vẫn nguyên chỗ cũ. Tôi vẫn muốn để chúng nguyên chỗ cũ... Và, những câu chuyện liên miên của ông, của tôi, suốt những ngày ông ở đây, tưởng như chưa khi nào dứt. Bây giờ, tôi cũng muốn trò chuyện với ông, mà ông thì đã "muôn trùng xa cách". Thôi tôi đành phải “gọi hồn’’ ông bằng một cú nhấn phím. Thế là người về, kẻ ở, ta lại dốc bầu tâm sự. Đôi lúc, nói chuyện với ông, tôi lại chợt nhớ tới những cánh đồng lúa ven đô, nhớ tới con đường với hàng sấu Lý Nam Đế, ở đó có toà soạn Văn nghệ Quân đội, những cái lá rớt xuống, cong lên, như có biết bao con thuyền nhỏ bồng bềnh trôi theo nước mưa mùa hạ. Ta bỗng tươi xanh như thời thơ ấu. Những chiếc lá đã chết ấy, vẫn còn đủ sức ban cho chúng ta giấc mơ cải lão hoàn đồng...Và tôi lại nhớ ông, người bạn đã cùng tôi lang thang trên nước Đức với anh em, bà con người Việt của chúng ta nơi đất khách, quê người...
Người đầu tiên tôi muốn trao đổi với ông là Nguyễn Huy Thiệp. Khoa ạ. Cứ ngẫm lại mà xem, văn học nước ta, giai đoạn từ 1985 tới 1996 có ai hơn ông ấy về thể tài truyện ngắn? Ông ấy xuất hiện như vệt sét đầu thời đổi mới. Có thể nói, Nguyễn Huy Thiệp đã gặp thời. Dù khi ấy nhiều ý kiến khác nhau nhưng chung lại, Nguyễn Huy Thiệp lúc bấy giờ đã đẻ ra được một loạt tác phẩm giá trị. Tiếng sấm đầu là Tướng về hưu, kế đó là một loạt truyện ngắn đặc sắc. Tôi đặc biệt thích lối kể lạnh lùng của ông Thiệp ở những tác phẩm này, rồi tiếp đến là những tác phẩm có tính ảo, tính huyền thoại mà mở đầu là Những ngọn gió Hua Tat, Chảy đi sông ơi rồi Con gái thuỷ thần... Đời người cầm bút với từng ấy tác phẩm cũng đủ dựng chân dung một nhà văn có cỡ rồi. Và chỉ thế cũng đã tốn biết bao giấy mực của thiên hạ. Còn nói như cái ông Nguyễn Hoàng Đức thì cũng là nói lấy được, làm gì mà ông Thiệp trước sau chỉ có Tướng về hưu- Vừa là vé vào cửa vừa là vương miện. Tướng về hưu “rằng hay thì thật là hay”, nhưng nó cũng chỉ là một tác phẩm theo dòng hiện thực mà trước đó, nhiều nhà văn đã viết nhưng không được công bố. Những tác phẩm sau Tướng về hưu của Thiệp mới thực sự mang dấu ấn riêng, làm mới mẻ bộ mặt văn chương nước nhà. Một mâm cỗ thịnh soạn đấy chứ, vì cho tới hôm nay, có ăn lại vẫn ngào ngạt hương vị. Văn chương cũng giống như món ăn. Thứ tưởng sơn hào hải vị, hôm sau thấy nhạt hoét, ấy là thứ sơn hào hải vị rởm. Tôi nghĩ, có người kính nể ông Thiệp, vì bản thân ông ấy tự làm ra một thương hiệu văn chương của thời kì đầu Đổi mới, giống như ở làng quê ta, ai có công gì cho dân làng, người ta làm bài vị để thờ. Nhưng chỉ làng đó thờ thôi, đằng này suốt hơn chục năm, hàng ngàn người hâm mộ Thiệp, bao nhiêu kẻ bắt chước Thiệp, tôn thờ Nguyễn Huy Thiệp. Ngay giới phê bình, cả kẻ yêu và người ghét, khối anh sau này nhìn đâu cũng thấy Nguyễn Huy Thiệp, kể cả những tác phẩm chả liên quan gì tới nhãn quan, giọng điệu Nguyễn Huy Thiệp. Thế là nhất rồi còn gì.
Trần Đăng Khoa: Tôi đồng ý với ông là từ năm 1985 đến 1996, ở mảng truyện ngắn, không ai viết hay hơn Nguyễn Huy Thiệp. Nét đặc sắc nhất của Nguyễn Huy Thiệp là ông ta đã tạo được cho mình một giọng điệu riêng, riêng đến không thể trộn lẫn. Cắt tên đi, đọc văn, chỉ mươi dòng, người ta cũng nhận ra ngay Nguyễn Huy Thiệp. Điều ấy là vô hạn quan trọng. Không có giọng riêng thì không phải nhà văn. Mặc dù nghe giọng Nguyễn Huy Thiệp, người ta cứ mang máng nhớ những ông Tầu thời cổ đại, thuở Tam Quốc và Đông Chu Liệt Quốc... Đó là một lối kể lạnh và sắc, không vòng vo, không dông dài. Vì có giọng như thế, lại có cái nhìn rất khác người, nên văn Nguyễn Huy Thiệp rất hấp dẫn. Đã cầm lên là phải đọc bằng hết. Mặc dù, có cái đọc xong, thấy cũng chẳng có quái gì cả. Chẳng có gì, nhưng vẫn cứ phải đọc cho bằng hết. Nguyễn Huy Thiệp có khả năng bắt vít người đọc vào những trang giấy như có ma ám của mình. Đó thực sự là một thứ văn không phải của người thường. Nó chỉ có thể là văn của thánh thần, hoặc ma quỷ. Nhưng tôi thấy nó sục lên mùi ma quỷ nhiều hơn. Chính vì có hơi ma quỷ nên nó mới ám được người đọc. Từ khi có Nguyễn Huy Thiệp, quả là chúng ta không thể viết như trước, đọc như trước. Cái lão phù thuỷ quái quỷ này quả đã cho ta một liều thuốc quỷ, khiến ta thấy "kinh", thấy dị ứng trước những món tẻ nhạt, mà trước đây ta vẫn quen xơi và cứ tưởng là sơn hào hải vị. Tôi quý Nguyễn Huy Thiệp, cũng như quý Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Tô Hoài, Nguyễn Khắc Trường, Bảo Ninh, Lê Minh Khuê, Lê Lựu, Chu Lai, Trung Trung Đỉnh... và rất nhiều nhà văn khác.
Nguyễn Văn Thọ: Một trong cách tạo ấn tượng của Nguyễn Huy Thiệp là lối nói tung tẩy mà ta hay gặp trong truyện của ông ta. ´y là trong mỗi truyện Nguyễn Huy Thiệp bao giờ cũng đưa đẩy những chiêm nghiệm lửng lơ kiểu như: Tình yêu đấy là một hung thần , hoặc: Người ta luôn lầm lẫn, hay: Đàn bà đứng về phía trật tự...đàn bà rất thích những ngôi nhà có cửa sổ rộng để chuồn ra ngoài... Không tin, ông cứ mở sách ra đi, bất cứ truyện nào của Nguyễn Huy Thiệp ta cũng nhặt được dăm câu đại loại như vậy. Cái đó cũng là đặc điểm Nguyễn Huy Thiệp, nhưng cũng có người cho đấy như những lời thánh phán...
Tôi thấy ban đầu Nguyễn Huy Thiệp phán thiêng lắm. Sự ẩn dụ nhiều chiều trong văn chương, lại ở trong một văn cảnh hợp lí nào đó, giúp Nguyễn Huy Thiệp buộc bạn đọc phải suy nghĩ trăn trở để tìm giải đáp cho mấy câu buông sõng ấy. Mặc dù nó nguy hiểm ở chỗ, những lời tương tự lửng lơ nếu đặt đúng chỗ có thể ám ảnh bàn dân thiên hạ, còn không, một là nó giả tạo cho nhân vật, hai là nhiều câu phán ấy, khi buông sõng, mơ hồ sẽ được hiểu theo nhiều chiều, hoặc những chiêm nghiệm có tính cá biệt đẩy con người tới sự hoang mang với cuộc sống thực tại. Và thật giả, đen trắng thành một khối mù mờ. Chính vì thế, đọc xong, người ta hoặc là ong ong cái đầu, hoặc là thấy lơ mơ đâu đó như có tiếng thì thào vào tai, nhiều lời có tính triết lí, nửa như tiên tri, nửa như lời ma quỷ đưa lối và tạo thành một thứ “ma từ”. Ai yếu bóng vía thì thấy sợ. Lửng lơ lúc nào cũng thấy một Nguyễn Huy Thiệp trên đầu. Nhà văn Lê Minh Hà tận Tây Đức từng vẽ “Chân dung Nguyễn Huy Thiệp từ một thế nhìn”: Ông buông bắt người đọc bằng khả năng viết không thay được một chữ; hoặc thậm chí: tôi bị khuất lụy vô điều kiện bởi Nguyễn Huy Thiệp, tới mức: thuộc lòng từng đoạn từng truyện của Nguyễn Huy Thiệp. Sao lại phải tới nỗi thế?. Theo tôi, đấy chỉ là một trong nhiều thủ pháp tiểu xảo của nhà văn biết cách lạ hóa. Khác lạ là ăn tiền. Tôi thấy ông Thiệp có chỗ khác và lạ. Đúng như ông nói, Nguyễn Huy Thiệp đã tạo được cho mình một giọng điệu riêng, gửi gấm được nhiều quan niệm để trình làng một mâm cỗ kiến tạo với quan niệm thẩm mỹ của Thiệp. Theo tôi đấy là khác. Còn lối viết như tôi dẫn chứng trên, đấy là lạ. Nhưng cái lạ sẽ hỏng và thực buồn cười nếu không đúng chỗ. Cũng sẽ chẳng còn lạ nếu cứ lặp đi lặp lại. Ông có nhớ Thương nhớ đồng quê không? Đấy cũng là một truyện hay sau này của Nguyễn Huy Thiệp? Ông ta ở thủ đô, đi xe máy Uớc mơ, chủ tiệm ăn Hoa Ban mơ mộng mà viết được về đồng quê Việt Nam cả một giai đoạn dài tới như vậy. Bao nhiêu người, bao nhiêu suy nghĩ và bao nhiêu chi tiết rất sinh động của làng quê một thời, được Nguyễn Huy Thiệp cô đọng, dựng nên truyện. Vẫn cái gịong khác ấy, lạnh lùng ấy, Tướng về hưu làm người ta bàng hoàng đau đớn, nhưng tới Thương nhớ đồng quê người ta bùi ngùi, vì những việc, chi tiết quen thuộc, thậm chí lẩm cẩm, vớ vẩn mà ông Thiệp nhặt nhạnh, lắp ghép, tái dựng trong trí tưởng tượng của một bàn tay tài hoa. Chỉ thế thì tài, vì nó đã mang gần như đầy đủ cái Khác! Nhưng cũng trong Thương nhớ đồng quê, Nguyễn Huy Thiệp đã sai lầm, khi ông ta chấm mầu, làm đậm lên nhiều cái lạ. Cái lạ ở đây khi đã đậm đặc, lại thành những hạt sạn, làm người đọc gặp phải muốn nhè ngay ra miếng cơm dẻo đang bùi. Tôi đồ rằng, ông Thiệp viết truyện này và nhiều truyện dở khác nữa ở quán Hoa Ban…
Trần Đăng Khoa: Truyện đã dở thì viết ở đâu cũng chẳng quan trọng. Địa điểm viết nào có ý nghĩa gì, khi cái truyện không có sức sống. Ông là người trọng lý luận, nên ông nâng thành lý luận hai đặc điểm trong những sáng tác thành công của ông Thiệp là lạ và khác. Lạ và khác thì cũng chỉ là một mà thôi, tuy ở hai cấp độ, có khác nhau tí chút. Tôi trọng thực tiễn. Tôi thấy ông Thiệp chỉ có mỗi một mẹo, và ông ta cũng chỉ sử dụng có mỗi một mẹo ấy để làm nên sức hấp dẫn của mình. Đó là phép nói ngược. Tất cả chỉ có thế. Người đời dựng Trương Chi là một anh chàng lãng mạn, ông Thiệp đưa ra một Trương Chi bất đắc chí, cục súc và thích văng tục. Ngay khi vừa xuất hiện, Trương Chi đã tung "cứt" ra rồi. Rồi chàng vung "cứt" ra khắp các trang sách. Trương Chi của Nguyễn Huy Thiệp chẳng khác gì một tên du thủ du thực. Người ta luôn nghĩ các vị Thánh thường rất cao vợi và linh thiêng, ông Thiệp qua các sáng tác, đã chỉ ra rằng, Thánh cũng chỉ là người trần mắt thịt trong cõi vô minh ở chốn phàm trần. Thánh cũng ve gái, cũng uất ức vì không chinh phục được một cô gái ở hạng thứ cấp, mà người đời vẫn coi là mạt hạng, là xướng ca vô loài...Hầu hết các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp đều mang âm hưởng như thế. Và ở ngoài đời, ông Thiệp cũng sống như vậy. Nghĩa là vẫn gây ấn tượng bằng những cú nói ngược. Tôi kể ông nghe về cuộc Hội thảo của đoàn nhà văn ta với độc giả Thụy Điển chiều 28 tháng 9 năm vừa qua giữa Hội chợ sách Bắc Âu mà tôi được chứng kiến. Tôi không đi theo đoàn nhà văn mà là thành viên của Quỹ Văn hóa Việt Nam - Thụy Điển. Chiều đó, đoàn của Quỹ Văn hóa có đến dự với tư cách là những khán giả. Cuộc hội thảo do nhà văn lớn Thụy Điển Xara Lidman điều khiển và đề dẫn. Xara Lidman rất yêu Việt Nam, từng ủng hộ cuộc chiến tranh của chúng ta những năm trước đây. Bà nói lại những ấn tượng tốt đẹp của bà về những năm tháng rất đáng ghi nhớ ấy. Nhưng đến Nguyễn Huy Thiệp thì anh xổ toẹt: “Đối với thế hệ chúng tôi, cuộc chiến tranh ấy thật đáng lộn mửa’’ Bà Xara Lidman không hiểu ra làm sao cả. Bà lại nghĩ rằng, hình như ở Việt Nam đang có mối mâu thuẫn giữa các nhà văn đã qua chiến tranh và những thế hệ cầm bút sau chiến tranh. Thực ra, Nguyễn Huy Thiệp đâu phải thế hệ sinh ra sau chiến tranh. Ông cùng thời với hàng triệu người chết trận, hàng triệu người đang sống còn mang bao nhiêu vết thương nhức nhối. Nhà văn Phan Thị Vàng Anh đúng là thế hệ sau chiến tranh lại phải điều chỉnh: Nếu có chút gì gọi là mâu thuẫn, có chăng chỉ thế này thôi, là các nhà văn đã qua chiến tranh viết về chiến tranh cũng chưa được thật hay. Thế thôi. Còn cuộc chiến tranh của chúng tôi là cuộc chiến tranh giữ nhà. Tôi rất tự hào về cuộc chiến tranh ấy. Nhiều khi tôi cứ muốn xoay ngược kim đồng hồ, để được làm người tham dự cuộc chiến tranh, muốn biết thực chất cuộc chiến tranh ấy thế nào, mà hôm nay, có người tự hào vì đã đổ máu cho nó, có người lại cho việc đổ máu ấy là ngu ngốc. Cũng lối nói ngược ấy, ông Thiệp bảo, đến Hội chợ sách, tôi thấy lo sợ cho Thụy Điển, vì Thụy Điển in quá nhiều sách. Đó là một việc làm rất nguy hiểm. Mà in như thế để làm gì. Bây giờ có ai đọc sách đâu. Người ta chỉ đọc sách trước tuổi 30 thôi. Điều này có thể đúng với ông Thiệp, nhưng không đúng với các độc giả, ngay cả các độc giả Việt Nam, chứ đừng nói đến các độc giả Thụy Điển. Bây giờ ở Việt Nam trên giời dưới sách. Sách được in rất nhiều và in rất đẹp. Nếu không ai đọc thì người ta in sách ra để làm gì? Và Hội chợ sách tổ chức linh đình ở Thụy Điển cũng chỉ để nhằm tôn vinh các nhà văn, các học giả và bạn đọc khả kính. Nếu không đọc, không muốn tìm sách hay thì làm sao có hàng triệu lượt người đến hội chợ sách hôm ấy. Vé cả đợt vào cửa là 352 USD mỗi người. Số tiền ấy đâu có rẻ đối với ngay cả đồng lương của người Thụy Điển. Vậy mà Nguyễn Huy Thiệp lại bảo người ta không đọc. Bà Xara Lidman kinh ngạc: “Lần đầu tiên tôi được nghe ý kiến như thế. Tại sao anh lại nói vậy? Anh căn cứ vào đâu mà nói thế? ở nước tôi, ngay cả những vùng quê hẻo lánh, người ta đọc cũng rất nhiều...’’. “Không ai đọc sách đâu. Đấy là một sự thật. - Ông Thiệp bảo. - Nếu có đọc sách thì người ta cũng chỉ đọc giả vờ. Ngay cả sách của bà, người ta cũng không đọc. Bản chất của con người là nhầm lẫn...’’. Nói thế là liều lĩnh lắm. Suy cho cùng, Nguyễn Huy Thiệp chỉ tạo dựng sự độc đáo của mình bằng phép nói ngược mà thôi. Ông cứ bình tĩnh đọc lại toàn bộ tác phẩm của ông Thiệp thì rõ. Lối nói ngược bao giờ cũng ấn tượng, hấp dẫn. Nhưng để xử dụng được cái mẹo này, phải có vốn văn hoá sâu rộng và lại phải rất cao tay, như một vị phù thuỷ có bùa mê thuốc lú. Chỉ như thế mới mê hoặc được công chúng. Nếu không sẽ ăn đòn ngay, vì bị cho là kẻ phá đám, là thằng nghịch tặc. Nguyễn Huy Thiệp từng chịu nhiều cú đòn. Hầu hết những trận đòn ấy cũng đều bắt đầu từ chuyện nói ngược đó thôi.
Nguyễn Văn Thọ: Việc ông Thiệp phát biểu như thế, theo tôi đấy cũng là một dạng “mơ hồ Nguyễn Huy Thiệp”, để ai hiểu thế nào cũng được về hai mặt của chiến tranh. Đấy là điều nguy hiểm cho bạn đọc. Với cuộc sống thực, Nguyễn Huy Thiệp hay né tránh trách nhiệm khi phát biểu ở nước ngoài, né tránh trách nhiệm với đồng bào và bè bạn của ông. Điều đáng buồn là Nguyễn Huy Thiệp đã rất vô trách nhiệm khi phát biểu trên đất nước xét giải Nobel? Tôi tin bè bạn Thuỵ Điển đủ thông minh để thận trọng nhận biết khi nghe Nguyễn Huy Thiệp. Vả lại, một nhà văn ra nước ngoài, không cá nhân nào có quyền thay thế cho chúng tôi, ít ra là tôi và bè bạn tôi, phỉ báng nốt vào phần máu cuối cùng mà chúng ta đã đổ trong cuộc chiến tranh đã qua. Tôi hy vọng, nhà văn nữ Thụy Điển kia, người đã từng đứng về phía Việt nam trong chiến tranh, tỉnh táo nhận ra điều ấy. Nhận ra, ông Nguyễn Huy Thiệp chỉ là một cá thể.
Vấn đề này, phải nói là rất đau lòng. Có lẽ tôi với ông phải mở hẳn một chuyên đề hai ta thảo luận, nhìn nhận hiện tượng này cho rõ. Bởi vì vừa qua, cũng không ít nhà văn học cách nói điêu, nói dối. Họ đã đẻ ra nhiều dị dạng quái thai. Họ có trực tiếp nhìn thấy máu đâu mà biết về máu, phỉ báng máu! Sự nghe hơi nồi chõ, cưỡi ngựa xem hoa, khi rơi vào văn chương minh họa, hoặc phản tỉnh cũng đều hạn chế như thế. Nhất là lại tái hiện cuộc chiến hoặc những vấn đề của thời thế khi ngửi thấy làn gió của thời thế mới. Tôi gọi, đó là sự vô luân có thể hiểu được của một vài người cầm bút. Thế hệ sau có thể không trực tiếp tham gia chiến tranh, nhưng sẽ viết hay về cuộc chiến, nếu như họ có niềm thức tỉnh minh triết và nghiên cứu thận trọng, trong câu hỏi vì sao chúng ta đã làm nên chiến thắng. Cả tuổi xanh của tôi đã chôn vùi trong chiến tranh, bây giờ nhìn lại, tôi thấy rõ chiến tranh, ở mặt trái của nó khốc liệt như thế nào mà cả dân tộc ta đã phải chịu đựng, nhưng bóp méo những gì đã xảy ra trong lịch sử chiến tranh của đồng đội tôi, những gì nhân dân và bộ đội đã một thời vì lòng tự tôn dân tộc, thực sự tin và sống chết với niềm tin của nhân dân khi ấy, tôi coi đấy là một sai lạc khó mà tha thứ. Tôi không tô hồng chiến tranh, luôn nhớ tới những mất mát không bao giờ bù đắp nổi của biết bao người, song chúng tôi khi ấy, nếu như không có sự hy vọng về ngày chiến thắng của một dân tộc, hỏi làm gì có ngày cuối cùng mà biết bao người đã đi qua cái chết tới thành phố Sài Gòn? Với lối nhìn ra vẻ phản đối chiến tranh, bịa tạc hay quá nhấn vào mặt bản năng người, bôi xóa mặt hoành tráng có thực trong đại đa số tâm hồn của người lính thời đại ấy, là lối nói nhăng cuội! Nhà văn phải dũng cảm và trung thực. Trung thực ngay với cả bản thân mình, không để bất cứ hoàn cảnh ngoại quan và điều vụ lợi lấn lướt, chi phối. Điều mà Nguyễn Huy Thiệp phát biểu trên, một lần bộc lộ tâm can hiện tại của ông ấy. Nguyễn Huy Thiệp, nếu đồng cảm với những nỗi đau có thực trước nhân dân, đẻ ra nhiều truyện ngắn hay trước đây làm tôi tâm phục khẩu phục, thì hôm nay ông ấy sẽ phải thận trọng hơn, nhất là khi ra nước ngoài, trả lời những câu hỏi của bạn bè từng nhiều năm sát cánh với chúng ta. Vậy là ông Thiệp mông lung, mập mờ với nhiều quan niệm của mình. Hay đó là sự mông lung của một con người nhiều ham hố. Nhà văn như vậy, dù có tư tưởng, cũng không thể lớn được.
Trần Đăng Khoa: Tôi nghĩ đó cũng chỉ là trò “nói ngược” để tạo ra những cú sốc của ông Thiệp. Ngay gần đây nhất là bài “Trò chuyện với hoa thuỷ tiên và những nhầm lẫn của nhà văn” ông Thiệp cho in liên tiếp trên ba số tạp chí “Ngày nay”. Tôi thực sự ngạc nhiên, không biết ông Thiệp “moi” ở đâu ra mà lắm nhà thơ nhà văn thế? Hiện nay, danh sách toàn bộ Hội viên Hội nhà văn mới chỉ có 798 người, trong đó chỉ có gần 300 nhà thơ, thế mà ông Thiệp bảo “Trong số hơn ngàn Hội viên hội nhà văn”, có 80% là các nhà thơ. Ông gọi họ là “đám giặc già lăng nhăng thơ phú”. Ông muốn Hội nhà văn chỉ nên là sân chơi của những người trẻ tuổi. Yêu mến, nâng đỡ thế hệ trẻ là điều rất tốt, nhưng cũng không nên vì quý lớp trẻ mà lại khinh miệt, phỉ báng lớp già, lại đuổi những người già ra khỏi cái sân chơi rất đỗi quen thuộc và vui vẻ có tên là Hội Nhà văn. Chúng ta rồi ai cũng đến lúc thành người già. Cả ông Thiệp cũng thế. Tuổi cao mà vẫn chạy đua được với lớp trẻ, vẫn kẽo kẹt kéo cày trên cánh đồng chữ đầy bất chắc và giông gió thì tốt quá chứ. Họ đáng kính trọng gấp hai lần. Vậy thì hà cớ gì mà lại tẩy chay những người đáng thương nhất trong những người đáng thương ở cái kiếp cầm bút chúng ta. Không nên tạo ra mối mâu thuẫn giữa các thế hệ. Các cây bút chống Mỹ, thời còn rất trẻ, họ cũng đâu có phân biệt thế hệ, khinh miệt lớp đàn anh? Và các nhà văn cao tuổi cũng vậy, họ đâu có ghét bỏ, vùi dập lớp trẻ. Việc khen chê nếu có cũng chỉ là sự thẩm định trên từng tác phẩm cụ thể. Đó là quyền của bất kỳ người đọc nào, cũng là chuyện bình thường trong sinh hoạt văn chương lành mạnh, không phải sự xung đột thế hệ. Vậy thì tại sao lại cứ phải tạo ra những hố ngăn cách giả giữa các thế hệ nhà văn như thế để làm cái gì?
Nguyễn Văn Thọ: Trở lại tác phẩm cụ thể của Nguyễn Huy Thiệp, thời ông ấy còn vang bóng, tôi tiếc cho Thương nhớ đồng quê. Giá ông Thiệp không bắt thằng trẻ trâu, cái cậu Nhâm đáng thương ấy, nhìn và cảm như một người quá từng trải. Cái chuyện cũng bị nhòe đi, vì tác giả đưa vào những bài thơ phụ đồng bắt ếch lơ ngơ, mang tính bùa chú. Nhưng có người ại bảo, văn Nguyễn Huy Thiệp mà ông đòi tước đi mấy thứ đó thì có khác gì giết chết ông ấy! Nói như vậy, nhưng về mặt thành công, bao gồm những truyện ngắn hay của Nguyễn Huy Thiệp đọng lại, tựa như tiếng sấm báo hiệu một thời kì mới của văn chương quê mình. Này, ông Khoa ơi, sau tiếng sấm ấy, là chớp và mưa! Nhà văn Nguyễn Khải còn nói là sẽ bẻ bút(!). Đấy là sự xấu hổ có thực dẫu là bên bàn trà tiệc rượu, lề đường, nhất là khi mấy bố hứng lên.
Trần Đăng Khoa: Chết, sao ông lại tin cụ Khải. Ông già vui tính ấy hay nói đùa lắm đấy. Nói cho vui rồi quên ngay thôi. Có một nhà văn nữ tặng Nguyễn Khải cuốn sách. Ông cụ bảo: “Văn của chị là em cứ phải đội lên đầu đấy nhé!’’ Câu nói với đầy vẻ sùng kính của một nhà văn lớn lại có tiếng là sắc sảo tinh đời, khiến nữ nhà văn rung động, run hết cả các tứ chi. Nhưng thực tình, cụ Khải có đọc đâu. Nếu đọc, tôi dám chắc cụ ấy chả dám đội lên đầu. Nhà văn Nguyễn Khải tuyên bố bẻ bút khi xuất hiện Nguyễn Huy Thiệp. Tôi thì nghĩ đó chỉ là lời đồn nhằng của công chúng nhằm đề cao Nguyễn Huy Thiệp. Khi ấy, Nguyễn Huy Thiệp đã cho đăng liên tiếp mấy truyện ngắn rồi. Ông Thiệp xuất hiện với gương mặt âm âm tối. Một gương mặt sinh ra dường như chỉ để thách thức các nhà nhiếp ảnh, và ngay cả những bác phó nháy đại tài cũng cảm thấy rất khó chụp, vì gương mặt ông Thiệp lúc nào cũng như thiếu sáng. Một con người lạ hoắc, lại vác một khuôn mặt âm u bí hiểm như thế, khiến các nhà chức trách luôn thấy bứt rứt vì nghi ngờ, bạn bè đồng nghiệp thì ngỡ ngàng và không ít người khó chịu, đã nhảy phóc một cái vào ngôi đền thiêng văn chương, lại ngồi đàng hoàng trên cái chiếu Tiên chỉ, khiến cả văn đàn một thời nháo nhác. Người vỗ tay hoan hô. Người hằm hằm tức giận. Nguyễn Khải cũng vỗ tay rất náo nhiệt, nhưng ông Tiên chỉ có tiếng là khôn ngoan này cũng có “bẻ bút’’ đâu. Mà việc gì phải "bẻ bút"? Nguyễn Khải có vị thế của Nguyễn Khải. Ông cụ là bậc đại bút. Một thợ đấu lực lưỡng. Sách cụ Khải vẫn ra kìn kìn. Và cuốn nào cũng giống cuốn nào. Nghĩa là rất hấp dẫn và luôn có tính cập nhật, lại cứ đều thau tháu như đúc ra từ một cái khuôn...
Nguyễn Văn Thọ: Nhưng sự thực thì cũng có người bẻ bút thật. Trên đường đời, cách nhau một dặm là ghê, nhưng cố vẫn đuổi nhau được. Còn ở Văn chương cách nhau chỉ một bước, một phân, thậm chí một milidem...có khi cả đời lẽo đẽo làm kẻ theo sau... Đằng này, thoắt một cái, Nguyễn Huy Thiệp vươn mình, phẩy bút bỏ xa bao người! Ông ấy tiến lên phía trước, rùng mình biến tất cả những điều chỉ riêng ông ta làm ra, thành dãy thạch nhũ lấp lánh. Tôi rất lấy làm tiếc khi một số các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp đáng được xét, được tặng giải Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1989, khi tập sách đầu tiên của Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện! Vậy mà không hề và cho tận tới hôm nay, chưa bao giờ Nguyễn Huy Thiệp được nhận một giải thưởng nào cả.
Trần Đăng Khoa: Trao Giải Hội Nhà Văn cũng không phải là phong thánh. Và cũng không nên quan trọng hóa những tác phẩm được trao giải. Sở dĩ, ông có cảm giác văn Nguyễn Huy Thiệp có sức ám ảnh, vì ngoài phép nói ngược, văn ông ta rất gần với thơ. Nghĩa là nó có sức gợi, sức dư ba. Nói như các cụ thì "ý tại ngôn ngoại". Mặc dù xét về ngôn ngữ, chữ của ông Thiệp kình địch với thơ nhất, vì nó bỗ bã và xuồng xã. Nguyễn Huy Thiệp không thi vị hoá đời sống. Ông cũng không qua bất cứ một khâu trung gian nào mà cứ gọi thẳng sự vật ra bằng tên thật của nó. Ví như cứt thì cứ gọi là cứt, chứ không gọi là đồ phế thải hay chút hương thừa. Lối viết bốc mùi vỉa hè cống rãnh của đời sống bụi bặm này, thoạt đầu làm cho không ít người choáng, nhất là những ai quen với lối văn thanh lọc kiểu cổ điển. Nhưng rồi quen dần lại thấy mê. Mê vì nó thật. Câu chữ bỗ bã, nhưng ý tưởng lại thâm hậu. Bởi thế, tôi mới bảo văn ông ta gần với thơ. Và gần ở phía bản chất. Nguyễn Huy Thiệp không bao giờ nói hết, nói đến trơ gốc trơ rễ, mà chỉ thoáng vài nét chấm phá, đủ để tạo sức gợi. Nét chắt lọc này nằm ngay trong toàn truyện cho đến từng câu văn. Ví như truyện Con gái thuỷ thần viết cách đây đã hơn hai chục năm. Phải nói, ông ta tạo không khí rất giỏi. Một không khí huyền thoại. Vừa thực lại vừa ảo. Không tạo được cái không khí ma quái này thì truyện giả ngay. Và như thế là hỏng hoàn toàn. Cả một vùng quê sống chết cho một huyền thoại. Huyền thoại có cái tên rất ghê rợn là Mẹ Cả. Rút cục, Mẹ Cả chỉ là khúc gỗ mục, chôn ở trước cửa đền, do một lão già bệnh hoạn, quái thai nghĩ ra. Cái kết thật bất ngờ. Đọc hãi quá. Sau đó, ông Thiệp lại kéo cái truyện ra thành lê thê. Các phần sau lại kể chuyện đi tìm Mẹ Cả với những tình tiết có vẻ như là hiện thực thì lại hỏng rồi. Truyện đã hết mà Nguyễn Huy Thiệp cứ bôi phết ra. Tất nhiên, nhờ tài văn, ông viết vẫn hấp dẫn, nhưng gấp lại, chẳng thấy gì, cũng chẳng còn gì. Nhung tuyết đã bay hết. Đọc thấy trơ thổ địa những ý tứ sống sít và lổn nhổn. Cái phần hỏng này, lại có sức lây nhiễm, làm nham nhở cả cái phần đã hoàn thiện ở trên kia. Thực tâm, tôi rất lấy làm tiếc cho Nguyễn Huy Thiệp. Người Việt ta, nhìn chung không có sức dẻo dai, ông ạ. Ví như bóng đá là dễ thấy nhất. Nếu gồng mình lên để thắng thì thắng ngay từ keo đầu. Đã đá đến hiệp phụ thì nhất định thất bại. Văn chương cũng thế. Tiểu thuyết Sóng gầm của Nguyên Hồng tập I khá hay, đến các tập sau thì không còn đọc được nữa. Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi cũng vậy. Tập II toàn chạy theo minh hoạ các sự kiện lịch sử, và minh hoạ một cách quấy quá, sống sít. Dù có quí ông cụ tài hoa này đến đâu, tôi vẫn phải đau đớn mà nói thẳng ra như vậy. Nói thế cũng là để chia xẻ nỗi vất vả trong nghiệp sáng tạo của ông cụ thôi. Nguyễn Trọng Oánh cũng có một cuốn sách rất hay. Đó là tiểu thuyết Đất trắng. Nếu chỉ dừng lại ở tập I thì cuốn sách cũng đã hoàn thiện rồi. Trong tiểu thuyết này, có một nhân vật tôi rất thích. Đó là Thượng tá Tám Hàn. Ông ta là Chính uỷ, một cán bộ cao cấp, linh hồn của cả mặt trận. Một con người rất tốt, rất tận tụy. Nhưng rồi cuộc chiến khốc liệt quá, không thể chịu đựng nổi, ông ta đã chiêu hồi. Khi đầu hàng địch, nhảy sang hàng ngũ địch, ông ta cứ day dứt ân hận, không phải ân hận vì sự chiêu hồi, mà ân hận vì khi ra đi, ông đã quên, không nhắn anh em di chuyển địa điểm đóng quân, vì khi đầu hàng rồi, tất nhiên ông ta sẽ khai và địch sẽ ném bom tàn sát khu rừng mà anh em đang trú ngụ. Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, Nguyễn Trọng Oánh nhìn nhân vật phản diện với con mắt không hề đơn giản. Cuộc chiến tranh hiện lên thật khốc liệt. Người tốt kẻ xấu đã phô bày một cách khá trọn vẹn. Nói như một thi sĩ: "Những gì đã cháy thì thành tro rồi - Những gì còn lại thì thành thép tôi". Và như thế cuốn sách đã xong rồi. Nguyễn Trọng Oánh mới chính là nhà văn đầu tiên của công cuộc đổi mới. Ông còn xuất hiện trước khi có công cuộc đổi mới. Đó là năm 1981. Đương thời, cuốn sách này từng bị không ít bạn đọc phê phán rất gay gắt, đặc biệt là ở chính nơi cuốn sách đề cập, phản ánh. Nhưng nó mới chính là tia chớp đầu tiên của cơn mưa đổi mới. Nó báo hiệu sự xuất hiện của một dòng văn học mới, với sự hiện diện của Nguyễn Minh Châu với hàng loạt truyện ngắn, Lê Lựu với "Thời xa vắng", Nguyễn Khắc Trường với "Mảnh đất lắm người nhiều ma", Nguyễn Trí Huân với "Chim én bay", Dương Hướng với "Bến không chồng", Bảo Ninh với "Thân phận tình yêu". Nhưng phải đến mãi sau này, khi xuất hiện Nguyễn Huy Thiệp thì mới thành một cú sốc, khiến người ta nhận ra đầy đủ diện mạo, tầm vóc của dòng Văn học mới này. Tôi chỉ tiếc, sau đó Nguyễn Trọng Oánh lại ra tiếp tập II, khiến Đất trắng đã hoàn thiện lại trở thành một cuốn sách nham nhở và nhạt nhoà, khiến người ta không còn nhận ra gương mặt ông nữa. Và rồi người ta cũng quên luôn vai trò mở đường tiên phong của ông. Quả các nhà văn của ta không có khả năng chạy Ma ra tông, vì sức dẻo dai rất kém. Sự trồi sụt này không chỉ ở những bộ sách trường thiên, mà còn nằm ngay trong một cuốn tiểu thuyết. Đến cả lão tướng Tô Hoài, thường phần đầu các tiểu thuyết, ông cụ viết rất kỹ và hay, sau cũng đuối dần. Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường cũng vậy. Nguyễn Huy Thiệp đâu phải ngoại lệ. Vì thế, tôi không tin tiểu thuyết Tuổi 20 yêu dấu của ông Thiệp lại có thể hay. Không có đâu. Tôi nói vậy, không phải là võ đoán. Tôi đã đọc ở trên mạng rồi. Và cuốn sách này cũng đã trích in trên Tạp chí Hợp Lưu. Và như thế thì chúng ta đã có cơ sở mang ra bàn được. Nó chẳng ra làm sao cả. Ông Thiệp thì bảo: "Cuốn sách ấy nếu ra được sẽ là một cú sốc cho văn học đương đại Việt Nam". Tôi cũng tin như thế, nhưng nếu có cú sốc là sốc ở chỗ này: Những người từng hâm mộ ông Thiệp, trong đó có cả tôi và ông sẽ bị choáng, vì không ngờ một bút lực cỡ như Nguyễn Huy Thiệp, lại viết kém đến mức như thế. Với cuốn sách ấy, ông Thiệp đã tự đẩy mình xuống đội ngũ những cây bút nghiệp dư. Có lẽ cái tạng chung của người Việt là không trường lực. Sức lực của ông Thiệp cũng chỉ vừa đủ cho những truyện ngắn. Con gái Thuỷ thần, nếu dừng lại ở phần một thì cái truyện thật đặc sắc. Truyện khép ở con chữ, nhưng ý tưởng lại mở về phía bạn đọc, mở vào cõi vô biên. Tôi nói văn ông Thiệp có sức gợi là vì thế. Ngay trong từng câu văn, ông ta viết cũng rất kiệm lời. Ông chỉ chém vài nhát chữ là ra ngay dung mạo, cốt cách nhân vật. Những đoạn tả cảnh cũng vậy. Ông không miêu tả chi li, chỉ phẩy đôi nét cốt để gợi. Rồi người đọc tự nghĩ tiếp, tự tưởng tượng sáng tạo tiếp. Cái này phải nói là ông Thiệp tài lắm. Còn truyện Thương nhớ đồng quê mà ông khen thì tôi lại thấy vừa thôi. Cùng đề tài này, Những bài học nông thôn khá hơn, tuy không toàn bích, vì trong đó có đoạn Nguyễn Huy Thiệp để anh giáo Triệu phán về chính trị, xã hội, nhân dân với một thằng bé con mới nứt mắt thì gượng gạo lắm. Vả lại, cái ngôn ngữ du thủ du thực ấy, không phải là ngôn ngữ của một anh giáo, nhất là anh giáo quê, lại sống ở thôn quê. Ngay cái đoạn văn bàn về đàn bà, vợ con cũng vậy. Ta hãy nghe anh giáo luận bàn: "Chú có biết hoa này không?...Hoa này lạ lắm, trông y như cái miệng cười, vớ vẩn có chú muỗi nào rơi vào là nó khép ngay cánh lại. Nó có cái lạ là cứ để yên thì chẳng làm sao, nhưng hễ đụng đến là thơm lựng lên. Người ta đặt tên là hoa cỏ đĩ. Y hệt đàn bà, để yên thì hạnh kiểm phi thường, đụng vào tan nát như chơi, đầu tiên nát tiền, đến nát tâm hồn, rồi tan gia đình, tan cơ nghiệp". Tôi cười: "Anh có vợ chưa?" Anh Triệu bảo: "Chưa. Vợ người thì đẹp. Vợ mình lại tử tế. Khốn thế". Phải công nhận, đoạn văn này, Nguyễn Huy Thiệp tỏ ra rất lọc lõi. Nhưng đó là ngôn ngữ của một gã trác táng, rất am tường đàn bà và cũng rất chán vợ, nhưng lại không có khả năng bỏ vợ vì trong gã vẫn còn có một chút lương tâm. Đây không phải là ngôn ngữ của một anh giáo nhà quê chưa vợ. Nguyễn Huy Thiệp luôn bắt nhân vật làm một con rối, làm một cái loa phát ngôn cho những câu thánh phán rất dớ dẩn của mình. Lời thánh mà đặt vào mồm trẻ trâu thì không còn thiêng nữa. Đấy là điều tôi rất lấy làm tiếc cho ông Thiệp. Trong truyện Thương nhớ đồng quê mà ông khen, cũng có nhiều đoạn ông Thiệp viết rất giỏi. Nó như một cái tiểu thuyết dài dồn nén lại. Nhưng vì quá dồn nén nên nhiều chỗ ôm đồm, chỉ lổn nhổn những sự việc. Có chỗ sơ sài như phác hoạ kịch bản phim tài liệu truyền hình. Này, hãy xem ông viết về đám ma hai cô bé chết trẻ: "Chiều hôm ấy phải làm đám ma cho hai em tôi. Cũng như mọi đám ma ở làng, ở đấy có rất nhiều nước mắt, nhiều lời than vãn". Tất nhiên, mục đích của ông Thiệp trong truyện này không phải tả đám ma, vì thế, ông chỉ lướt qua để nói những chuyện khác. Nhưng văn lướt cũng có những quy củ phép tắc của nó. Không phải chỉ nói vuốt cho xong. Văn chương mà viết như thế là rất cẩu thả, bố Thọ ạ.
Đấy, chính vì thế, mà những câu văn có sức lay động, một số người kính phục coi như thánh phán, thực chất cũng chẳng phải thần thánh gì đâu. Đó là những lời kiêu bạc của một gã chán đời. Cuộc đời vốn có nhiều cái đáng chán, nên gặp những câu nói ấy, người ta dễ dàng đón nhận, và thấy có gì tiên tri như những lời sấm ký. Thực ra, nó chỉ là giọng điệu của một lão già đã biết hết sự đời và chán hết mọi sự đời. Còn những lời phán thật của ông Thiệp thì lại liều mạng, lỗ mỗ. Ông nói lung tung cho vui thôi. Ví như những bài viết khen Đồng Đức Bốn. Tôi công nhận Đồng Đức Bốn là cây bút có tài. Nhưng thơ anh óng ánh như những phoi bạc chống ra đa. Ông từng là lính ông biết đấy. Những sợi nhiễu ấy mà tung ra thì khiếp lắm. Cứ mù trời, mù đất. Lộng lẫy, kỳ vĩ lắm. Những người yếu bóng vía rất dễ choáng ngợp. Nhưng gom lại, bóp lại thì không đầy một chét tay. Đồng Đức Bốn chỉ giỏi mài rũa mấy con chữ. Vì thế, tôi gọi anh là ông thợ kim hoàn bậc 9/7. Nói thế cũng là đề cao tài nghệ của anh ấy lắm. Nhưng thơ anh long lanh một thứ vàng mạ. Chỉ óng ánh trang kim, nhưng nhẹ tếch chẳng có gì. Gạt cái vỏ mạ vàng ra, bên trong chỉ lễnh loãng một chút sương khói. Thế mà ông Thiệp bảo Nguyễn Du trao y bát thơ lục bát cho Tản Đà, Tản Đà trao cho Nguyễn Bính, và đến lượt mình, Nguyễn Bính trao cho Đồng Đức Bốn thì rất buồn cười. Mặc dù ông Thiệp chỉ khuôn trong thể thơ lục bát, nhưng ngay cả trong thể thơ lục bát, Nguyễn Du, Tản Đà, Nguyễn Bính, tuy ở các cấp độ rất khác nhau, dù Tản Đà có chỗ tưởng như rất phóng khoáng, nhưng cũng đều là thứ thơ chiêm nghiệm, nặng trĩu nỗi đời, sự đời. Thơ ông Bốn chỉ là thơ lãng du của một gã tài tử, nên không thể so sánh, ví von thế được. Ông Thiệp lại còn chia thơ ra thành mấy loại, loại thơ Thần, thơ Thánh, thơ Khởi nghĩa, thơ Trí năng và Ngộ năng. Rồi cao hơn thơ, vượt lên trên thơ là Triết học thì đúng là say rượu rồi. Cao hơn thơ phải là thơ Thần, thơ Thánh, chứ sao lại là Triết học? Triết và thơ là hai thể loại khác nhau, hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau. Trong thơ có thể có Triết, nhưng Triết học không thể lại là thơ ca được. Cũng như đàn ông là đàn ông. Đàn bà là đàn bà. Người đàn ông đẹp nhất cũng không thể lại là người đàn bà đẹp được. Đấy là lời phán của một lão say khướt chứ không phải của người tỉnh táo, càng không phải của thánh thần.
Ông phê phán Nguyễn Hoàng Đức bởi những nhận định có phần cực đoan của anh ấy về Nguyễn Huy Thiệp. Tôi cũng không hoàn toàn đồng ý với Nguyễn Hoàng Đức. Nhưng có một nhận xét của Nguyễn Hoàng Đức mà tôi nghĩ chúng ta cũng nên suy ngẫm. Đó là Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn của những mệnh đề đơn giản. Văn Nguyễn Huy Thiệp hầu hết đều là những câu đơn giản. Đại loại:" Chị Ngữ là chị dâu tôi, lấy anh Kỳ. Anh Kỳ đang làm công nhân trên mỏ thiếc Tĩnh Túc Cao Bằng. Chị Ngữ là con ông giáo Quý. Ông giáo Quý có nhiều sách. Mọi người bảo ông là "Đồ gàn", lại bảo ông là "lão dê già", "Quý dê". Ông giáo Quý có hai vợ, vợ cả sinh ra chị Ngữ, chị dâu tôi. Vợ Hai là thím Nhung, vừa là thợ may, vừa bán quán, sinh ra thằng Văn bạn tôi. Thím Nhung trước kia là gái giang hồ ở Hải Phòng ông giáo Quý lấy về làm vợ nên uy tín chẳng còn gì". Cũng theo Nguyễn Hoàng Đức, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đầy rẫy các tai nạn chết ngẫu nhiên. "Chảy đi sông ơi": Thắm chết. "Tướng về hưu": cha mẹ đều chết. "Cún": cha chết. "Không có vua": lão Kiên chết. "Đời thế mà vui", ông Khách ngoẻo. "Tội ác và trừng phạt": vài người chết. "Những bài học nông thôn": anh Triệu ngẫu nhiên bị trâu húc chết. "Thương nhớ đồng quê": "Cái Minh em tôi và cái Mi con dì Lưu đèo nhau đi học về, qua ngã ba thì thì bị ô tô chở cột điện cán chết". Cả hai cái chết đó chỉ phục vụ cho tác giả đọc một bài thơ đám ma. Bi kịch là gì? Là tác giả phải tạo lên cả một quá trình để nhân vật dù không phải bằng xương bằng thịt cũng phải "được chết" trong nguyên lý, không thể có cái chết vu vơ tuỳ tiện giành cho nhân vật. Vậy Nguyễn Huy Thiệp bắt nhân vật phải chết ngẫu nhiên để làm gì? Vì theo tâm lý làng xã, mọi người xem chèo, xem cải lương về thường bảo nhau: "Vở kịch hay quá. Tôi khóc từ đầu đến cuối". Thêm nữa, cái chết bao giờ cũng ru người ta vào sự vừa thương tiếc, vừa hệ trọng. Thế là truyện của Nguyễn Huy Thiệp được đưa vào khung cảnh lâm li. Điều này là không thể chối cãi được, vì tác giả của bi kịch phải là tác giả của tư tưởng, mà Nguyễn Huy Thiệp với trình độ chưa có nổi tư tưởng, thì buộc phải tạo ra những cái chết ngẫu nhiên. Trông giống bi kịch mà không phải. Riêng điểm này cũng đủ nói lên trình độ bút pháp của Nguyễn Huy Thiệp hết sức ấu trĩ và tuỳ tiện. Những nhận định như thế của Nguyễn Hoàng Đức phải nói là nghiệt ngã và khinh bạc, nhưng không phải là không có lý.
Tôi cũng đồng ý với ông là chúng ta rất tiếc khi Nguyễn Huy Thiệp chưa được trao giải thưởng Hội Nhà văn, nhất là trong giai đoạn sáng tác ban đầu. Bây giờ có muốn trao cho ông ấy cũng không được nữa. Vì thực chất, mười năm nay, ông Thiệp viết rất sút. Hình như lực đã cạn và hơi cũng kiệt rồi. Trên bầu trời văn đàn chúng ta, vẫn còn nguyên vệt sáng Nguyễn Huy Thiệp, nhưng thực chất, đó là ánh hào quang phất lại của một ngôi sao đã tắt. Nhưng cũng đừng trách Nguyễn Huy Thiệp. Dù Nguyễn Huy Thiệp không viết nữa thì ông ấy cũng vẫn là Nguyễn Huy Thiệp. Những gì ông ấy có, cũng đủ thành một sự nghiệp rất đáng được trân trọng. Không ít nhà văn có lượng sách đồ sộ, thực chất không bằng ông. Có thể gọi Nguyễn Huy Thiệp là tài năng, hay một tài năng lớn cũng được. Nhưng đó là tài năng của một tâm thức bất định. Nguyễn Huy Thiệp là sự thăng hoa của những tâm thức bất định đó. Đây là điểm mạnh của Nguyễn Huy Thiệp, đồng thời cũng là nhược điểm không thể cứu vãn nổi của ông ấy. Nguyễn Huy Thiệp là nỗi may mắn hiếm có và đồng thời cũng là niềm bất hạnh của cả nền văn học chúng ta. Lùi sâu về thời gian, khi trời êm bể lặng rồi, tôi tin người ta lại tìm đến Nam Cao thôi. Nam Cao mới là người của muôn đời. Cố nhiên, Nguyễn Huy Thiệp cũng không phải là con người của một buổi...
(Tạp chí Văn nghệ quân đội)
Trần Đăng Khoa-Nguyễn Văn Thọ
(Trong thời gian gần đây, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp lại “nổi tiếng” không phải bằng tác phẩm mà bằng những lời tuyên bố, đặc biệt là bài báo "Trò chuyện với hoa thuỷ tiên và những nhầm lẫn của nhà văn” in liên tiếp trên ba số tạp chí “Ngày nay”, cơ quan của Câu lạc bộ Unesco Việt Nam (Số 4 ngày 15/2, số 5 ngày 30/2 và số 6 ngày 15/3/2004). Bài báo đã gây bất bình trong giới cầm bút và cả bạn đọc. Nhiều nhà văn nhà báo đã lên tiếng về sự không lành mạnh ấy. Nhân dịp này, trong số chuyên đề cuối tháng, chúng tôi giới thiệu cuộc trao đổi của nhà thơ Trần Đăng Khoa với nhà văn Nguyễn Văn Thọ, một cây bút đã nhiều năm chiến đấu ở chiến trường, hiện đang làm việc tại Cộng hoà Liên bang Đức. Đây là một góc nhìn có tính tổng quan về sự nghiệp văn chương và “hiện tượng” Nguyễn Huy Thiệp để chúng ta cùng tham khảo).
Trần Đăng Khoa - Nguyễn Văn Thọ: Gọi " Ngẫu hứng qua mây gió", nghe õng ẹo quá, làm duyên làm dáng quá. Nhưng không. Đó lại là sự thực. Vì đây là cuộc trò chuyện qua không gian. Chúng tôi ở cách nhau gần nửa vòng trái đất. Dùng ngôn ngữ âm thanh thì không thể tới được. Chúng tôi đành nói chuyện với nhau theo cách của người câm. Nghĩa là nói bằng tay, bằng những cú nhấn phím. Cám ơn thời đại công nghệ. Với những phát triển của khoa học kỹ thuật, trái đất bỗng trở nên bé nhỏ, chỉ nằm gọn trong lòng bàn tay...
Cuộc trò chuyện ngẫu hứng này, chúng tôi bàn về một con người cụ thể: Đó là nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Cả hai chúng tôi đều yêu mến anh, một hiện tượng của văn học đương đại. Xin bạn đọc đừng nghĩ là chúng tôi tự mâu thuẫn, vì câu trước khen, câu sau có thể lại chê. Đời văn ai chả có khúc hay, khúc dở. Không nên vì cái dở mà xoá đi cái hay. Cũng không nên vì cái hay mà lờ đi những cái dở. Hay thì khen và dở thì chê. Đấy là cái nhìn khách quan, cũng chỉ vì yêu mến Nguyễn Huy Thiệp....
Nguyễn Văn Thọ: Ông Khoa ơi! Bây giờ là ba giờ sáng. Tôi vẫn biết từ bên kia trái đất, ông thức dậy và làm việc lúc bốn giờ. Múi giờ mùa hè. Chúng ta lệch nhau 5 tiếng đồng hồ, có nghĩa là ông thức dậy, làm việc trước tôi bốn giờ.
Bây giờ ông về rồi. Gian phòng chỉ có mình tôi thôi. Nơi ông vẫn thường nghỉ, cái đi văng mầu mận còn kia, bàn trà, hai cái cốc uống chè của chúng ta vẫn nguyên chỗ cũ. Tôi vẫn muốn để chúng nguyên chỗ cũ... Và, những câu chuyện liên miên của ông, của tôi, suốt những ngày ông ở đây, tưởng như chưa khi nào dứt. Bây giờ, tôi cũng muốn trò chuyện với ông, mà ông thì đã "muôn trùng xa cách". Thôi tôi đành phải “gọi hồn’’ ông bằng một cú nhấn phím. Thế là người về, kẻ ở, ta lại dốc bầu tâm sự. Đôi lúc, nói chuyện với ông, tôi lại chợt nhớ tới những cánh đồng lúa ven đô, nhớ tới con đường với hàng sấu Lý Nam Đế, ở đó có toà soạn Văn nghệ Quân đội, những cái lá rớt xuống, cong lên, như có biết bao con thuyền nhỏ bồng bềnh trôi theo nước mưa mùa hạ. Ta bỗng tươi xanh như thời thơ ấu. Những chiếc lá đã chết ấy, vẫn còn đủ sức ban cho chúng ta giấc mơ cải lão hoàn đồng...Và tôi lại nhớ ông, người bạn đã cùng tôi lang thang trên nước Đức với anh em, bà con người Việt của chúng ta nơi đất khách, quê người...
Người đầu tiên tôi muốn trao đổi với ông là Nguyễn Huy Thiệp. Khoa ạ. Cứ ngẫm lại mà xem, văn học nước ta, giai đoạn từ 1985 tới 1996 có ai hơn ông ấy về thể tài truyện ngắn? Ông ấy xuất hiện như vệt sét đầu thời đổi mới. Có thể nói, Nguyễn Huy Thiệp đã gặp thời. Dù khi ấy nhiều ý kiến khác nhau nhưng chung lại, Nguyễn Huy Thiệp lúc bấy giờ đã đẻ ra được một loạt tác phẩm giá trị. Tiếng sấm đầu là Tướng về hưu, kế đó là một loạt truyện ngắn đặc sắc. Tôi đặc biệt thích lối kể lạnh lùng của ông Thiệp ở những tác phẩm này, rồi tiếp đến là những tác phẩm có tính ảo, tính huyền thoại mà mở đầu là Những ngọn gió Hua Tat, Chảy đi sông ơi rồi Con gái thuỷ thần... Đời người cầm bút với từng ấy tác phẩm cũng đủ dựng chân dung một nhà văn có cỡ rồi. Và chỉ thế cũng đã tốn biết bao giấy mực của thiên hạ. Còn nói như cái ông Nguyễn Hoàng Đức thì cũng là nói lấy được, làm gì mà ông Thiệp trước sau chỉ có Tướng về hưu- Vừa là vé vào cửa vừa là vương miện. Tướng về hưu “rằng hay thì thật là hay”, nhưng nó cũng chỉ là một tác phẩm theo dòng hiện thực mà trước đó, nhiều nhà văn đã viết nhưng không được công bố. Những tác phẩm sau Tướng về hưu của Thiệp mới thực sự mang dấu ấn riêng, làm mới mẻ bộ mặt văn chương nước nhà. Một mâm cỗ thịnh soạn đấy chứ, vì cho tới hôm nay, có ăn lại vẫn ngào ngạt hương vị. Văn chương cũng giống như món ăn. Thứ tưởng sơn hào hải vị, hôm sau thấy nhạt hoét, ấy là thứ sơn hào hải vị rởm. Tôi nghĩ, có người kính nể ông Thiệp, vì bản thân ông ấy tự làm ra một thương hiệu văn chương của thời kì đầu Đổi mới, giống như ở làng quê ta, ai có công gì cho dân làng, người ta làm bài vị để thờ. Nhưng chỉ làng đó thờ thôi, đằng này suốt hơn chục năm, hàng ngàn người hâm mộ Thiệp, bao nhiêu kẻ bắt chước Thiệp, tôn thờ Nguyễn Huy Thiệp. Ngay giới phê bình, cả kẻ yêu và người ghét, khối anh sau này nhìn đâu cũng thấy Nguyễn Huy Thiệp, kể cả những tác phẩm chả liên quan gì tới nhãn quan, giọng điệu Nguyễn Huy Thiệp. Thế là nhất rồi còn gì.
Trần Đăng Khoa: Tôi đồng ý với ông là từ năm 1985 đến 1996, ở mảng truyện ngắn, không ai viết hay hơn Nguyễn Huy Thiệp. Nét đặc sắc nhất của Nguyễn Huy Thiệp là ông ta đã tạo được cho mình một giọng điệu riêng, riêng đến không thể trộn lẫn. Cắt tên đi, đọc văn, chỉ mươi dòng, người ta cũng nhận ra ngay Nguyễn Huy Thiệp. Điều ấy là vô hạn quan trọng. Không có giọng riêng thì không phải nhà văn. Mặc dù nghe giọng Nguyễn Huy Thiệp, người ta cứ mang máng nhớ những ông Tầu thời cổ đại, thuở Tam Quốc và Đông Chu Liệt Quốc... Đó là một lối kể lạnh và sắc, không vòng vo, không dông dài. Vì có giọng như thế, lại có cái nhìn rất khác người, nên văn Nguyễn Huy Thiệp rất hấp dẫn. Đã cầm lên là phải đọc bằng hết. Mặc dù, có cái đọc xong, thấy cũng chẳng có quái gì cả. Chẳng có gì, nhưng vẫn cứ phải đọc cho bằng hết. Nguyễn Huy Thiệp có khả năng bắt vít người đọc vào những trang giấy như có ma ám của mình. Đó thực sự là một thứ văn không phải của người thường. Nó chỉ có thể là văn của thánh thần, hoặc ma quỷ. Nhưng tôi thấy nó sục lên mùi ma quỷ nhiều hơn. Chính vì có hơi ma quỷ nên nó mới ám được người đọc. Từ khi có Nguyễn Huy Thiệp, quả là chúng ta không thể viết như trước, đọc như trước. Cái lão phù thuỷ quái quỷ này quả đã cho ta một liều thuốc quỷ, khiến ta thấy "kinh", thấy dị ứng trước những món tẻ nhạt, mà trước đây ta vẫn quen xơi và cứ tưởng là sơn hào hải vị. Tôi quý Nguyễn Huy Thiệp, cũng như quý Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Tô Hoài, Nguyễn Khắc Trường, Bảo Ninh, Lê Minh Khuê, Lê Lựu, Chu Lai, Trung Trung Đỉnh... và rất nhiều nhà văn khác.
Nguyễn Văn Thọ: Một trong cách tạo ấn tượng của Nguyễn Huy Thiệp là lối nói tung tẩy mà ta hay gặp trong truyện của ông ta. ´y là trong mỗi truyện Nguyễn Huy Thiệp bao giờ cũng đưa đẩy những chiêm nghiệm lửng lơ kiểu như: Tình yêu đấy là một hung thần , hoặc: Người ta luôn lầm lẫn, hay: Đàn bà đứng về phía trật tự...đàn bà rất thích những ngôi nhà có cửa sổ rộng để chuồn ra ngoài... Không tin, ông cứ mở sách ra đi, bất cứ truyện nào của Nguyễn Huy Thiệp ta cũng nhặt được dăm câu đại loại như vậy. Cái đó cũng là đặc điểm Nguyễn Huy Thiệp, nhưng cũng có người cho đấy như những lời thánh phán...
Tôi thấy ban đầu Nguyễn Huy Thiệp phán thiêng lắm. Sự ẩn dụ nhiều chiều trong văn chương, lại ở trong một văn cảnh hợp lí nào đó, giúp Nguyễn Huy Thiệp buộc bạn đọc phải suy nghĩ trăn trở để tìm giải đáp cho mấy câu buông sõng ấy. Mặc dù nó nguy hiểm ở chỗ, những lời tương tự lửng lơ nếu đặt đúng chỗ có thể ám ảnh bàn dân thiên hạ, còn không, một là nó giả tạo cho nhân vật, hai là nhiều câu phán ấy, khi buông sõng, mơ hồ sẽ được hiểu theo nhiều chiều, hoặc những chiêm nghiệm có tính cá biệt đẩy con người tới sự hoang mang với cuộc sống thực tại. Và thật giả, đen trắng thành một khối mù mờ. Chính vì thế, đọc xong, người ta hoặc là ong ong cái đầu, hoặc là thấy lơ mơ đâu đó như có tiếng thì thào vào tai, nhiều lời có tính triết lí, nửa như tiên tri, nửa như lời ma quỷ đưa lối và tạo thành một thứ “ma từ”. Ai yếu bóng vía thì thấy sợ. Lửng lơ lúc nào cũng thấy một Nguyễn Huy Thiệp trên đầu. Nhà văn Lê Minh Hà tận Tây Đức từng vẽ “Chân dung Nguyễn Huy Thiệp từ một thế nhìn”: Ông buông bắt người đọc bằng khả năng viết không thay được một chữ; hoặc thậm chí: tôi bị khuất lụy vô điều kiện bởi Nguyễn Huy Thiệp, tới mức: thuộc lòng từng đoạn từng truyện của Nguyễn Huy Thiệp. Sao lại phải tới nỗi thế?. Theo tôi, đấy chỉ là một trong nhiều thủ pháp tiểu xảo của nhà văn biết cách lạ hóa. Khác lạ là ăn tiền. Tôi thấy ông Thiệp có chỗ khác và lạ. Đúng như ông nói, Nguyễn Huy Thiệp đã tạo được cho mình một giọng điệu riêng, gửi gấm được nhiều quan niệm để trình làng một mâm cỗ kiến tạo với quan niệm thẩm mỹ của Thiệp. Theo tôi đấy là khác. Còn lối viết như tôi dẫn chứng trên, đấy là lạ. Nhưng cái lạ sẽ hỏng và thực buồn cười nếu không đúng chỗ. Cũng sẽ chẳng còn lạ nếu cứ lặp đi lặp lại. Ông có nhớ Thương nhớ đồng quê không? Đấy cũng là một truyện hay sau này của Nguyễn Huy Thiệp? Ông ta ở thủ đô, đi xe máy Uớc mơ, chủ tiệm ăn Hoa Ban mơ mộng mà viết được về đồng quê Việt Nam cả một giai đoạn dài tới như vậy. Bao nhiêu người, bao nhiêu suy nghĩ và bao nhiêu chi tiết rất sinh động của làng quê một thời, được Nguyễn Huy Thiệp cô đọng, dựng nên truyện. Vẫn cái gịong khác ấy, lạnh lùng ấy, Tướng về hưu làm người ta bàng hoàng đau đớn, nhưng tới Thương nhớ đồng quê người ta bùi ngùi, vì những việc, chi tiết quen thuộc, thậm chí lẩm cẩm, vớ vẩn mà ông Thiệp nhặt nhạnh, lắp ghép, tái dựng trong trí tưởng tượng của một bàn tay tài hoa. Chỉ thế thì tài, vì nó đã mang gần như đầy đủ cái Khác! Nhưng cũng trong Thương nhớ đồng quê, Nguyễn Huy Thiệp đã sai lầm, khi ông ta chấm mầu, làm đậm lên nhiều cái lạ. Cái lạ ở đây khi đã đậm đặc, lại thành những hạt sạn, làm người đọc gặp phải muốn nhè ngay ra miếng cơm dẻo đang bùi. Tôi đồ rằng, ông Thiệp viết truyện này và nhiều truyện dở khác nữa ở quán Hoa Ban…
Trần Đăng Khoa: Truyện đã dở thì viết ở đâu cũng chẳng quan trọng. Địa điểm viết nào có ý nghĩa gì, khi cái truyện không có sức sống. Ông là người trọng lý luận, nên ông nâng thành lý luận hai đặc điểm trong những sáng tác thành công của ông Thiệp là lạ và khác. Lạ và khác thì cũng chỉ là một mà thôi, tuy ở hai cấp độ, có khác nhau tí chút. Tôi trọng thực tiễn. Tôi thấy ông Thiệp chỉ có mỗi một mẹo, và ông ta cũng chỉ sử dụng có mỗi một mẹo ấy để làm nên sức hấp dẫn của mình. Đó là phép nói ngược. Tất cả chỉ có thế. Người đời dựng Trương Chi là một anh chàng lãng mạn, ông Thiệp đưa ra một Trương Chi bất đắc chí, cục súc và thích văng tục. Ngay khi vừa xuất hiện, Trương Chi đã tung "cứt" ra rồi. Rồi chàng vung "cứt" ra khắp các trang sách. Trương Chi của Nguyễn Huy Thiệp chẳng khác gì một tên du thủ du thực. Người ta luôn nghĩ các vị Thánh thường rất cao vợi và linh thiêng, ông Thiệp qua các sáng tác, đã chỉ ra rằng, Thánh cũng chỉ là người trần mắt thịt trong cõi vô minh ở chốn phàm trần. Thánh cũng ve gái, cũng uất ức vì không chinh phục được một cô gái ở hạng thứ cấp, mà người đời vẫn coi là mạt hạng, là xướng ca vô loài...Hầu hết các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp đều mang âm hưởng như thế. Và ở ngoài đời, ông Thiệp cũng sống như vậy. Nghĩa là vẫn gây ấn tượng bằng những cú nói ngược. Tôi kể ông nghe về cuộc Hội thảo của đoàn nhà văn ta với độc giả Thụy Điển chiều 28 tháng 9 năm vừa qua giữa Hội chợ sách Bắc Âu mà tôi được chứng kiến. Tôi không đi theo đoàn nhà văn mà là thành viên của Quỹ Văn hóa Việt Nam - Thụy Điển. Chiều đó, đoàn của Quỹ Văn hóa có đến dự với tư cách là những khán giả. Cuộc hội thảo do nhà văn lớn Thụy Điển Xara Lidman điều khiển và đề dẫn. Xara Lidman rất yêu Việt Nam, từng ủng hộ cuộc chiến tranh của chúng ta những năm trước đây. Bà nói lại những ấn tượng tốt đẹp của bà về những năm tháng rất đáng ghi nhớ ấy. Nhưng đến Nguyễn Huy Thiệp thì anh xổ toẹt: “Đối với thế hệ chúng tôi, cuộc chiến tranh ấy thật đáng lộn mửa’’ Bà Xara Lidman không hiểu ra làm sao cả. Bà lại nghĩ rằng, hình như ở Việt Nam đang có mối mâu thuẫn giữa các nhà văn đã qua chiến tranh và những thế hệ cầm bút sau chiến tranh. Thực ra, Nguyễn Huy Thiệp đâu phải thế hệ sinh ra sau chiến tranh. Ông cùng thời với hàng triệu người chết trận, hàng triệu người đang sống còn mang bao nhiêu vết thương nhức nhối. Nhà văn Phan Thị Vàng Anh đúng là thế hệ sau chiến tranh lại phải điều chỉnh: Nếu có chút gì gọi là mâu thuẫn, có chăng chỉ thế này thôi, là các nhà văn đã qua chiến tranh viết về chiến tranh cũng chưa được thật hay. Thế thôi. Còn cuộc chiến tranh của chúng tôi là cuộc chiến tranh giữ nhà. Tôi rất tự hào về cuộc chiến tranh ấy. Nhiều khi tôi cứ muốn xoay ngược kim đồng hồ, để được làm người tham dự cuộc chiến tranh, muốn biết thực chất cuộc chiến tranh ấy thế nào, mà hôm nay, có người tự hào vì đã đổ máu cho nó, có người lại cho việc đổ máu ấy là ngu ngốc. Cũng lối nói ngược ấy, ông Thiệp bảo, đến Hội chợ sách, tôi thấy lo sợ cho Thụy Điển, vì Thụy Điển in quá nhiều sách. Đó là một việc làm rất nguy hiểm. Mà in như thế để làm gì. Bây giờ có ai đọc sách đâu. Người ta chỉ đọc sách trước tuổi 30 thôi. Điều này có thể đúng với ông Thiệp, nhưng không đúng với các độc giả, ngay cả các độc giả Việt Nam, chứ đừng nói đến các độc giả Thụy Điển. Bây giờ ở Việt Nam trên giời dưới sách. Sách được in rất nhiều và in rất đẹp. Nếu không ai đọc thì người ta in sách ra để làm gì? Và Hội chợ sách tổ chức linh đình ở Thụy Điển cũng chỉ để nhằm tôn vinh các nhà văn, các học giả và bạn đọc khả kính. Nếu không đọc, không muốn tìm sách hay thì làm sao có hàng triệu lượt người đến hội chợ sách hôm ấy. Vé cả đợt vào cửa là 352 USD mỗi người. Số tiền ấy đâu có rẻ đối với ngay cả đồng lương của người Thụy Điển. Vậy mà Nguyễn Huy Thiệp lại bảo người ta không đọc. Bà Xara Lidman kinh ngạc: “Lần đầu tiên tôi được nghe ý kiến như thế. Tại sao anh lại nói vậy? Anh căn cứ vào đâu mà nói thế? ở nước tôi, ngay cả những vùng quê hẻo lánh, người ta đọc cũng rất nhiều...’’. “Không ai đọc sách đâu. Đấy là một sự thật. - Ông Thiệp bảo. - Nếu có đọc sách thì người ta cũng chỉ đọc giả vờ. Ngay cả sách của bà, người ta cũng không đọc. Bản chất của con người là nhầm lẫn...’’. Nói thế là liều lĩnh lắm. Suy cho cùng, Nguyễn Huy Thiệp chỉ tạo dựng sự độc đáo của mình bằng phép nói ngược mà thôi. Ông cứ bình tĩnh đọc lại toàn bộ tác phẩm của ông Thiệp thì rõ. Lối nói ngược bao giờ cũng ấn tượng, hấp dẫn. Nhưng để xử dụng được cái mẹo này, phải có vốn văn hoá sâu rộng và lại phải rất cao tay, như một vị phù thuỷ có bùa mê thuốc lú. Chỉ như thế mới mê hoặc được công chúng. Nếu không sẽ ăn đòn ngay, vì bị cho là kẻ phá đám, là thằng nghịch tặc. Nguyễn Huy Thiệp từng chịu nhiều cú đòn. Hầu hết những trận đòn ấy cũng đều bắt đầu từ chuyện nói ngược đó thôi.
Nguyễn Văn Thọ: Việc ông Thiệp phát biểu như thế, theo tôi đấy cũng là một dạng “mơ hồ Nguyễn Huy Thiệp”, để ai hiểu thế nào cũng được về hai mặt của chiến tranh. Đấy là điều nguy hiểm cho bạn đọc. Với cuộc sống thực, Nguyễn Huy Thiệp hay né tránh trách nhiệm khi phát biểu ở nước ngoài, né tránh trách nhiệm với đồng bào và bè bạn của ông. Điều đáng buồn là Nguyễn Huy Thiệp đã rất vô trách nhiệm khi phát biểu trên đất nước xét giải Nobel? Tôi tin bè bạn Thuỵ Điển đủ thông minh để thận trọng nhận biết khi nghe Nguyễn Huy Thiệp. Vả lại, một nhà văn ra nước ngoài, không cá nhân nào có quyền thay thế cho chúng tôi, ít ra là tôi và bè bạn tôi, phỉ báng nốt vào phần máu cuối cùng mà chúng ta đã đổ trong cuộc chiến tranh đã qua. Tôi hy vọng, nhà văn nữ Thụy Điển kia, người đã từng đứng về phía Việt nam trong chiến tranh, tỉnh táo nhận ra điều ấy. Nhận ra, ông Nguyễn Huy Thiệp chỉ là một cá thể.
Vấn đề này, phải nói là rất đau lòng. Có lẽ tôi với ông phải mở hẳn một chuyên đề hai ta thảo luận, nhìn nhận hiện tượng này cho rõ. Bởi vì vừa qua, cũng không ít nhà văn học cách nói điêu, nói dối. Họ đã đẻ ra nhiều dị dạng quái thai. Họ có trực tiếp nhìn thấy máu đâu mà biết về máu, phỉ báng máu! Sự nghe hơi nồi chõ, cưỡi ngựa xem hoa, khi rơi vào văn chương minh họa, hoặc phản tỉnh cũng đều hạn chế như thế. Nhất là lại tái hiện cuộc chiến hoặc những vấn đề của thời thế khi ngửi thấy làn gió của thời thế mới. Tôi gọi, đó là sự vô luân có thể hiểu được của một vài người cầm bút. Thế hệ sau có thể không trực tiếp tham gia chiến tranh, nhưng sẽ viết hay về cuộc chiến, nếu như họ có niềm thức tỉnh minh triết và nghiên cứu thận trọng, trong câu hỏi vì sao chúng ta đã làm nên chiến thắng. Cả tuổi xanh của tôi đã chôn vùi trong chiến tranh, bây giờ nhìn lại, tôi thấy rõ chiến tranh, ở mặt trái của nó khốc liệt như thế nào mà cả dân tộc ta đã phải chịu đựng, nhưng bóp méo những gì đã xảy ra trong lịch sử chiến tranh của đồng đội tôi, những gì nhân dân và bộ đội đã một thời vì lòng tự tôn dân tộc, thực sự tin và sống chết với niềm tin của nhân dân khi ấy, tôi coi đấy là một sai lạc khó mà tha thứ. Tôi không tô hồng chiến tranh, luôn nhớ tới những mất mát không bao giờ bù đắp nổi của biết bao người, song chúng tôi khi ấy, nếu như không có sự hy vọng về ngày chiến thắng của một dân tộc, hỏi làm gì có ngày cuối cùng mà biết bao người đã đi qua cái chết tới thành phố Sài Gòn? Với lối nhìn ra vẻ phản đối chiến tranh, bịa tạc hay quá nhấn vào mặt bản năng người, bôi xóa mặt hoành tráng có thực trong đại đa số tâm hồn của người lính thời đại ấy, là lối nói nhăng cuội! Nhà văn phải dũng cảm và trung thực. Trung thực ngay với cả bản thân mình, không để bất cứ hoàn cảnh ngoại quan và điều vụ lợi lấn lướt, chi phối. Điều mà Nguyễn Huy Thiệp phát biểu trên, một lần bộc lộ tâm can hiện tại của ông ấy. Nguyễn Huy Thiệp, nếu đồng cảm với những nỗi đau có thực trước nhân dân, đẻ ra nhiều truyện ngắn hay trước đây làm tôi tâm phục khẩu phục, thì hôm nay ông ấy sẽ phải thận trọng hơn, nhất là khi ra nước ngoài, trả lời những câu hỏi của bạn bè từng nhiều năm sát cánh với chúng ta. Vậy là ông Thiệp mông lung, mập mờ với nhiều quan niệm của mình. Hay đó là sự mông lung của một con người nhiều ham hố. Nhà văn như vậy, dù có tư tưởng, cũng không thể lớn được.
Trần Đăng Khoa: Tôi nghĩ đó cũng chỉ là trò “nói ngược” để tạo ra những cú sốc của ông Thiệp. Ngay gần đây nhất là bài “Trò chuyện với hoa thuỷ tiên và những nhầm lẫn của nhà văn” ông Thiệp cho in liên tiếp trên ba số tạp chí “Ngày nay”. Tôi thực sự ngạc nhiên, không biết ông Thiệp “moi” ở đâu ra mà lắm nhà thơ nhà văn thế? Hiện nay, danh sách toàn bộ Hội viên Hội nhà văn mới chỉ có 798 người, trong đó chỉ có gần 300 nhà thơ, thế mà ông Thiệp bảo “Trong số hơn ngàn Hội viên hội nhà văn”, có 80% là các nhà thơ. Ông gọi họ là “đám giặc già lăng nhăng thơ phú”. Ông muốn Hội nhà văn chỉ nên là sân chơi của những người trẻ tuổi. Yêu mến, nâng đỡ thế hệ trẻ là điều rất tốt, nhưng cũng không nên vì quý lớp trẻ mà lại khinh miệt, phỉ báng lớp già, lại đuổi những người già ra khỏi cái sân chơi rất đỗi quen thuộc và vui vẻ có tên là Hội Nhà văn. Chúng ta rồi ai cũng đến lúc thành người già. Cả ông Thiệp cũng thế. Tuổi cao mà vẫn chạy đua được với lớp trẻ, vẫn kẽo kẹt kéo cày trên cánh đồng chữ đầy bất chắc và giông gió thì tốt quá chứ. Họ đáng kính trọng gấp hai lần. Vậy thì hà cớ gì mà lại tẩy chay những người đáng thương nhất trong những người đáng thương ở cái kiếp cầm bút chúng ta. Không nên tạo ra mối mâu thuẫn giữa các thế hệ. Các cây bút chống Mỹ, thời còn rất trẻ, họ cũng đâu có phân biệt thế hệ, khinh miệt lớp đàn anh? Và các nhà văn cao tuổi cũng vậy, họ đâu có ghét bỏ, vùi dập lớp trẻ. Việc khen chê nếu có cũng chỉ là sự thẩm định trên từng tác phẩm cụ thể. Đó là quyền của bất kỳ người đọc nào, cũng là chuyện bình thường trong sinh hoạt văn chương lành mạnh, không phải sự xung đột thế hệ. Vậy thì tại sao lại cứ phải tạo ra những hố ngăn cách giả giữa các thế hệ nhà văn như thế để làm cái gì?
Nguyễn Văn Thọ: Trở lại tác phẩm cụ thể của Nguyễn Huy Thiệp, thời ông ấy còn vang bóng, tôi tiếc cho Thương nhớ đồng quê. Giá ông Thiệp không bắt thằng trẻ trâu, cái cậu Nhâm đáng thương ấy, nhìn và cảm như một người quá từng trải. Cái chuyện cũng bị nhòe đi, vì tác giả đưa vào những bài thơ phụ đồng bắt ếch lơ ngơ, mang tính bùa chú. Nhưng có người ại bảo, văn Nguyễn Huy Thiệp mà ông đòi tước đi mấy thứ đó thì có khác gì giết chết ông ấy! Nói như vậy, nhưng về mặt thành công, bao gồm những truyện ngắn hay của Nguyễn Huy Thiệp đọng lại, tựa như tiếng sấm báo hiệu một thời kì mới của văn chương quê mình. Này, ông Khoa ơi, sau tiếng sấm ấy, là chớp và mưa! Nhà văn Nguyễn Khải còn nói là sẽ bẻ bút(!). Đấy là sự xấu hổ có thực dẫu là bên bàn trà tiệc rượu, lề đường, nhất là khi mấy bố hứng lên.
Trần Đăng Khoa: Chết, sao ông lại tin cụ Khải. Ông già vui tính ấy hay nói đùa lắm đấy. Nói cho vui rồi quên ngay thôi. Có một nhà văn nữ tặng Nguyễn Khải cuốn sách. Ông cụ bảo: “Văn của chị là em cứ phải đội lên đầu đấy nhé!’’ Câu nói với đầy vẻ sùng kính của một nhà văn lớn lại có tiếng là sắc sảo tinh đời, khiến nữ nhà văn rung động, run hết cả các tứ chi. Nhưng thực tình, cụ Khải có đọc đâu. Nếu đọc, tôi dám chắc cụ ấy chả dám đội lên đầu. Nhà văn Nguyễn Khải tuyên bố bẻ bút khi xuất hiện Nguyễn Huy Thiệp. Tôi thì nghĩ đó chỉ là lời đồn nhằng của công chúng nhằm đề cao Nguyễn Huy Thiệp. Khi ấy, Nguyễn Huy Thiệp đã cho đăng liên tiếp mấy truyện ngắn rồi. Ông Thiệp xuất hiện với gương mặt âm âm tối. Một gương mặt sinh ra dường như chỉ để thách thức các nhà nhiếp ảnh, và ngay cả những bác phó nháy đại tài cũng cảm thấy rất khó chụp, vì gương mặt ông Thiệp lúc nào cũng như thiếu sáng. Một con người lạ hoắc, lại vác một khuôn mặt âm u bí hiểm như thế, khiến các nhà chức trách luôn thấy bứt rứt vì nghi ngờ, bạn bè đồng nghiệp thì ngỡ ngàng và không ít người khó chịu, đã nhảy phóc một cái vào ngôi đền thiêng văn chương, lại ngồi đàng hoàng trên cái chiếu Tiên chỉ, khiến cả văn đàn một thời nháo nhác. Người vỗ tay hoan hô. Người hằm hằm tức giận. Nguyễn Khải cũng vỗ tay rất náo nhiệt, nhưng ông Tiên chỉ có tiếng là khôn ngoan này cũng có “bẻ bút’’ đâu. Mà việc gì phải "bẻ bút"? Nguyễn Khải có vị thế của Nguyễn Khải. Ông cụ là bậc đại bút. Một thợ đấu lực lưỡng. Sách cụ Khải vẫn ra kìn kìn. Và cuốn nào cũng giống cuốn nào. Nghĩa là rất hấp dẫn và luôn có tính cập nhật, lại cứ đều thau tháu như đúc ra từ một cái khuôn...
Nguyễn Văn Thọ: Nhưng sự thực thì cũng có người bẻ bút thật. Trên đường đời, cách nhau một dặm là ghê, nhưng cố vẫn đuổi nhau được. Còn ở Văn chương cách nhau chỉ một bước, một phân, thậm chí một milidem...có khi cả đời lẽo đẽo làm kẻ theo sau... Đằng này, thoắt một cái, Nguyễn Huy Thiệp vươn mình, phẩy bút bỏ xa bao người! Ông ấy tiến lên phía trước, rùng mình biến tất cả những điều chỉ riêng ông ta làm ra, thành dãy thạch nhũ lấp lánh. Tôi rất lấy làm tiếc khi một số các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp đáng được xét, được tặng giải Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1989, khi tập sách đầu tiên của Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện! Vậy mà không hề và cho tận tới hôm nay, chưa bao giờ Nguyễn Huy Thiệp được nhận một giải thưởng nào cả.
Trần Đăng Khoa: Trao Giải Hội Nhà Văn cũng không phải là phong thánh. Và cũng không nên quan trọng hóa những tác phẩm được trao giải. Sở dĩ, ông có cảm giác văn Nguyễn Huy Thiệp có sức ám ảnh, vì ngoài phép nói ngược, văn ông ta rất gần với thơ. Nghĩa là nó có sức gợi, sức dư ba. Nói như các cụ thì "ý tại ngôn ngoại". Mặc dù xét về ngôn ngữ, chữ của ông Thiệp kình địch với thơ nhất, vì nó bỗ bã và xuồng xã. Nguyễn Huy Thiệp không thi vị hoá đời sống. Ông cũng không qua bất cứ một khâu trung gian nào mà cứ gọi thẳng sự vật ra bằng tên thật của nó. Ví như cứt thì cứ gọi là cứt, chứ không gọi là đồ phế thải hay chút hương thừa. Lối viết bốc mùi vỉa hè cống rãnh của đời sống bụi bặm này, thoạt đầu làm cho không ít người choáng, nhất là những ai quen với lối văn thanh lọc kiểu cổ điển. Nhưng rồi quen dần lại thấy mê. Mê vì nó thật. Câu chữ bỗ bã, nhưng ý tưởng lại thâm hậu. Bởi thế, tôi mới bảo văn ông ta gần với thơ. Và gần ở phía bản chất. Nguyễn Huy Thiệp không bao giờ nói hết, nói đến trơ gốc trơ rễ, mà chỉ thoáng vài nét chấm phá, đủ để tạo sức gợi. Nét chắt lọc này nằm ngay trong toàn truyện cho đến từng câu văn. Ví như truyện Con gái thuỷ thần viết cách đây đã hơn hai chục năm. Phải nói, ông ta tạo không khí rất giỏi. Một không khí huyền thoại. Vừa thực lại vừa ảo. Không tạo được cái không khí ma quái này thì truyện giả ngay. Và như thế là hỏng hoàn toàn. Cả một vùng quê sống chết cho một huyền thoại. Huyền thoại có cái tên rất ghê rợn là Mẹ Cả. Rút cục, Mẹ Cả chỉ là khúc gỗ mục, chôn ở trước cửa đền, do một lão già bệnh hoạn, quái thai nghĩ ra. Cái kết thật bất ngờ. Đọc hãi quá. Sau đó, ông Thiệp lại kéo cái truyện ra thành lê thê. Các phần sau lại kể chuyện đi tìm Mẹ Cả với những tình tiết có vẻ như là hiện thực thì lại hỏng rồi. Truyện đã hết mà Nguyễn Huy Thiệp cứ bôi phết ra. Tất nhiên, nhờ tài văn, ông viết vẫn hấp dẫn, nhưng gấp lại, chẳng thấy gì, cũng chẳng còn gì. Nhung tuyết đã bay hết. Đọc thấy trơ thổ địa những ý tứ sống sít và lổn nhổn. Cái phần hỏng này, lại có sức lây nhiễm, làm nham nhở cả cái phần đã hoàn thiện ở trên kia. Thực tâm, tôi rất lấy làm tiếc cho Nguyễn Huy Thiệp. Người Việt ta, nhìn chung không có sức dẻo dai, ông ạ. Ví như bóng đá là dễ thấy nhất. Nếu gồng mình lên để thắng thì thắng ngay từ keo đầu. Đã đá đến hiệp phụ thì nhất định thất bại. Văn chương cũng thế. Tiểu thuyết Sóng gầm của Nguyên Hồng tập I khá hay, đến các tập sau thì không còn đọc được nữa. Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi cũng vậy. Tập II toàn chạy theo minh hoạ các sự kiện lịch sử, và minh hoạ một cách quấy quá, sống sít. Dù có quí ông cụ tài hoa này đến đâu, tôi vẫn phải đau đớn mà nói thẳng ra như vậy. Nói thế cũng là để chia xẻ nỗi vất vả trong nghiệp sáng tạo của ông cụ thôi. Nguyễn Trọng Oánh cũng có một cuốn sách rất hay. Đó là tiểu thuyết Đất trắng. Nếu chỉ dừng lại ở tập I thì cuốn sách cũng đã hoàn thiện rồi. Trong tiểu thuyết này, có một nhân vật tôi rất thích. Đó là Thượng tá Tám Hàn. Ông ta là Chính uỷ, một cán bộ cao cấp, linh hồn của cả mặt trận. Một con người rất tốt, rất tận tụy. Nhưng rồi cuộc chiến khốc liệt quá, không thể chịu đựng nổi, ông ta đã chiêu hồi. Khi đầu hàng địch, nhảy sang hàng ngũ địch, ông ta cứ day dứt ân hận, không phải ân hận vì sự chiêu hồi, mà ân hận vì khi ra đi, ông đã quên, không nhắn anh em di chuyển địa điểm đóng quân, vì khi đầu hàng rồi, tất nhiên ông ta sẽ khai và địch sẽ ném bom tàn sát khu rừng mà anh em đang trú ngụ. Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, Nguyễn Trọng Oánh nhìn nhân vật phản diện với con mắt không hề đơn giản. Cuộc chiến tranh hiện lên thật khốc liệt. Người tốt kẻ xấu đã phô bày một cách khá trọn vẹn. Nói như một thi sĩ: "Những gì đã cháy thì thành tro rồi - Những gì còn lại thì thành thép tôi". Và như thế cuốn sách đã xong rồi. Nguyễn Trọng Oánh mới chính là nhà văn đầu tiên của công cuộc đổi mới. Ông còn xuất hiện trước khi có công cuộc đổi mới. Đó là năm 1981. Đương thời, cuốn sách này từng bị không ít bạn đọc phê phán rất gay gắt, đặc biệt là ở chính nơi cuốn sách đề cập, phản ánh. Nhưng nó mới chính là tia chớp đầu tiên của cơn mưa đổi mới. Nó báo hiệu sự xuất hiện của một dòng văn học mới, với sự hiện diện của Nguyễn Minh Châu với hàng loạt truyện ngắn, Lê Lựu với "Thời xa vắng", Nguyễn Khắc Trường với "Mảnh đất lắm người nhiều ma", Nguyễn Trí Huân với "Chim én bay", Dương Hướng với "Bến không chồng", Bảo Ninh với "Thân phận tình yêu". Nhưng phải đến mãi sau này, khi xuất hiện Nguyễn Huy Thiệp thì mới thành một cú sốc, khiến người ta nhận ra đầy đủ diện mạo, tầm vóc của dòng Văn học mới này. Tôi chỉ tiếc, sau đó Nguyễn Trọng Oánh lại ra tiếp tập II, khiến Đất trắng đã hoàn thiện lại trở thành một cuốn sách nham nhở và nhạt nhoà, khiến người ta không còn nhận ra gương mặt ông nữa. Và rồi người ta cũng quên luôn vai trò mở đường tiên phong của ông. Quả các nhà văn của ta không có khả năng chạy Ma ra tông, vì sức dẻo dai rất kém. Sự trồi sụt này không chỉ ở những bộ sách trường thiên, mà còn nằm ngay trong một cuốn tiểu thuyết. Đến cả lão tướng Tô Hoài, thường phần đầu các tiểu thuyết, ông cụ viết rất kỹ và hay, sau cũng đuối dần. Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường cũng vậy. Nguyễn Huy Thiệp đâu phải ngoại lệ. Vì thế, tôi không tin tiểu thuyết Tuổi 20 yêu dấu của ông Thiệp lại có thể hay. Không có đâu. Tôi nói vậy, không phải là võ đoán. Tôi đã đọc ở trên mạng rồi. Và cuốn sách này cũng đã trích in trên Tạp chí Hợp Lưu. Và như thế thì chúng ta đã có cơ sở mang ra bàn được. Nó chẳng ra làm sao cả. Ông Thiệp thì bảo: "Cuốn sách ấy nếu ra được sẽ là một cú sốc cho văn học đương đại Việt Nam". Tôi cũng tin như thế, nhưng nếu có cú sốc là sốc ở chỗ này: Những người từng hâm mộ ông Thiệp, trong đó có cả tôi và ông sẽ bị choáng, vì không ngờ một bút lực cỡ như Nguyễn Huy Thiệp, lại viết kém đến mức như thế. Với cuốn sách ấy, ông Thiệp đã tự đẩy mình xuống đội ngũ những cây bút nghiệp dư. Có lẽ cái tạng chung của người Việt là không trường lực. Sức lực của ông Thiệp cũng chỉ vừa đủ cho những truyện ngắn. Con gái Thuỷ thần, nếu dừng lại ở phần một thì cái truyện thật đặc sắc. Truyện khép ở con chữ, nhưng ý tưởng lại mở về phía bạn đọc, mở vào cõi vô biên. Tôi nói văn ông Thiệp có sức gợi là vì thế. Ngay trong từng câu văn, ông ta viết cũng rất kiệm lời. Ông chỉ chém vài nhát chữ là ra ngay dung mạo, cốt cách nhân vật. Những đoạn tả cảnh cũng vậy. Ông không miêu tả chi li, chỉ phẩy đôi nét cốt để gợi. Rồi người đọc tự nghĩ tiếp, tự tưởng tượng sáng tạo tiếp. Cái này phải nói là ông Thiệp tài lắm. Còn truyện Thương nhớ đồng quê mà ông khen thì tôi lại thấy vừa thôi. Cùng đề tài này, Những bài học nông thôn khá hơn, tuy không toàn bích, vì trong đó có đoạn Nguyễn Huy Thiệp để anh giáo Triệu phán về chính trị, xã hội, nhân dân với một thằng bé con mới nứt mắt thì gượng gạo lắm. Vả lại, cái ngôn ngữ du thủ du thực ấy, không phải là ngôn ngữ của một anh giáo, nhất là anh giáo quê, lại sống ở thôn quê. Ngay cái đoạn văn bàn về đàn bà, vợ con cũng vậy. Ta hãy nghe anh giáo luận bàn: "Chú có biết hoa này không?...Hoa này lạ lắm, trông y như cái miệng cười, vớ vẩn có chú muỗi nào rơi vào là nó khép ngay cánh lại. Nó có cái lạ là cứ để yên thì chẳng làm sao, nhưng hễ đụng đến là thơm lựng lên. Người ta đặt tên là hoa cỏ đĩ. Y hệt đàn bà, để yên thì hạnh kiểm phi thường, đụng vào tan nát như chơi, đầu tiên nát tiền, đến nát tâm hồn, rồi tan gia đình, tan cơ nghiệp". Tôi cười: "Anh có vợ chưa?" Anh Triệu bảo: "Chưa. Vợ người thì đẹp. Vợ mình lại tử tế. Khốn thế". Phải công nhận, đoạn văn này, Nguyễn Huy Thiệp tỏ ra rất lọc lõi. Nhưng đó là ngôn ngữ của một gã trác táng, rất am tường đàn bà và cũng rất chán vợ, nhưng lại không có khả năng bỏ vợ vì trong gã vẫn còn có một chút lương tâm. Đây không phải là ngôn ngữ của một anh giáo nhà quê chưa vợ. Nguyễn Huy Thiệp luôn bắt nhân vật làm một con rối, làm một cái loa phát ngôn cho những câu thánh phán rất dớ dẩn của mình. Lời thánh mà đặt vào mồm trẻ trâu thì không còn thiêng nữa. Đấy là điều tôi rất lấy làm tiếc cho ông Thiệp. Trong truyện Thương nhớ đồng quê mà ông khen, cũng có nhiều đoạn ông Thiệp viết rất giỏi. Nó như một cái tiểu thuyết dài dồn nén lại. Nhưng vì quá dồn nén nên nhiều chỗ ôm đồm, chỉ lổn nhổn những sự việc. Có chỗ sơ sài như phác hoạ kịch bản phim tài liệu truyền hình. Này, hãy xem ông viết về đám ma hai cô bé chết trẻ: "Chiều hôm ấy phải làm đám ma cho hai em tôi. Cũng như mọi đám ma ở làng, ở đấy có rất nhiều nước mắt, nhiều lời than vãn". Tất nhiên, mục đích của ông Thiệp trong truyện này không phải tả đám ma, vì thế, ông chỉ lướt qua để nói những chuyện khác. Nhưng văn lướt cũng có những quy củ phép tắc của nó. Không phải chỉ nói vuốt cho xong. Văn chương mà viết như thế là rất cẩu thả, bố Thọ ạ.
Đấy, chính vì thế, mà những câu văn có sức lay động, một số người kính phục coi như thánh phán, thực chất cũng chẳng phải thần thánh gì đâu. Đó là những lời kiêu bạc của một gã chán đời. Cuộc đời vốn có nhiều cái đáng chán, nên gặp những câu nói ấy, người ta dễ dàng đón nhận, và thấy có gì tiên tri như những lời sấm ký. Thực ra, nó chỉ là giọng điệu của một lão già đã biết hết sự đời và chán hết mọi sự đời. Còn những lời phán thật của ông Thiệp thì lại liều mạng, lỗ mỗ. Ông nói lung tung cho vui thôi. Ví như những bài viết khen Đồng Đức Bốn. Tôi công nhận Đồng Đức Bốn là cây bút có tài. Nhưng thơ anh óng ánh như những phoi bạc chống ra đa. Ông từng là lính ông biết đấy. Những sợi nhiễu ấy mà tung ra thì khiếp lắm. Cứ mù trời, mù đất. Lộng lẫy, kỳ vĩ lắm. Những người yếu bóng vía rất dễ choáng ngợp. Nhưng gom lại, bóp lại thì không đầy một chét tay. Đồng Đức Bốn chỉ giỏi mài rũa mấy con chữ. Vì thế, tôi gọi anh là ông thợ kim hoàn bậc 9/7. Nói thế cũng là đề cao tài nghệ của anh ấy lắm. Nhưng thơ anh long lanh một thứ vàng mạ. Chỉ óng ánh trang kim, nhưng nhẹ tếch chẳng có gì. Gạt cái vỏ mạ vàng ra, bên trong chỉ lễnh loãng một chút sương khói. Thế mà ông Thiệp bảo Nguyễn Du trao y bát thơ lục bát cho Tản Đà, Tản Đà trao cho Nguyễn Bính, và đến lượt mình, Nguyễn Bính trao cho Đồng Đức Bốn thì rất buồn cười. Mặc dù ông Thiệp chỉ khuôn trong thể thơ lục bát, nhưng ngay cả trong thể thơ lục bát, Nguyễn Du, Tản Đà, Nguyễn Bính, tuy ở các cấp độ rất khác nhau, dù Tản Đà có chỗ tưởng như rất phóng khoáng, nhưng cũng đều là thứ thơ chiêm nghiệm, nặng trĩu nỗi đời, sự đời. Thơ ông Bốn chỉ là thơ lãng du của một gã tài tử, nên không thể so sánh, ví von thế được. Ông Thiệp lại còn chia thơ ra thành mấy loại, loại thơ Thần, thơ Thánh, thơ Khởi nghĩa, thơ Trí năng và Ngộ năng. Rồi cao hơn thơ, vượt lên trên thơ là Triết học thì đúng là say rượu rồi. Cao hơn thơ phải là thơ Thần, thơ Thánh, chứ sao lại là Triết học? Triết và thơ là hai thể loại khác nhau, hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau. Trong thơ có thể có Triết, nhưng Triết học không thể lại là thơ ca được. Cũng như đàn ông là đàn ông. Đàn bà là đàn bà. Người đàn ông đẹp nhất cũng không thể lại là người đàn bà đẹp được. Đấy là lời phán của một lão say khướt chứ không phải của người tỉnh táo, càng không phải của thánh thần.
Ông phê phán Nguyễn Hoàng Đức bởi những nhận định có phần cực đoan của anh ấy về Nguyễn Huy Thiệp. Tôi cũng không hoàn toàn đồng ý với Nguyễn Hoàng Đức. Nhưng có một nhận xét của Nguyễn Hoàng Đức mà tôi nghĩ chúng ta cũng nên suy ngẫm. Đó là Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn của những mệnh đề đơn giản. Văn Nguyễn Huy Thiệp hầu hết đều là những câu đơn giản. Đại loại:" Chị Ngữ là chị dâu tôi, lấy anh Kỳ. Anh Kỳ đang làm công nhân trên mỏ thiếc Tĩnh Túc Cao Bằng. Chị Ngữ là con ông giáo Quý. Ông giáo Quý có nhiều sách. Mọi người bảo ông là "Đồ gàn", lại bảo ông là "lão dê già", "Quý dê". Ông giáo Quý có hai vợ, vợ cả sinh ra chị Ngữ, chị dâu tôi. Vợ Hai là thím Nhung, vừa là thợ may, vừa bán quán, sinh ra thằng Văn bạn tôi. Thím Nhung trước kia là gái giang hồ ở Hải Phòng ông giáo Quý lấy về làm vợ nên uy tín chẳng còn gì". Cũng theo Nguyễn Hoàng Đức, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đầy rẫy các tai nạn chết ngẫu nhiên. "Chảy đi sông ơi": Thắm chết. "Tướng về hưu": cha mẹ đều chết. "Cún": cha chết. "Không có vua": lão Kiên chết. "Đời thế mà vui", ông Khách ngoẻo. "Tội ác và trừng phạt": vài người chết. "Những bài học nông thôn": anh Triệu ngẫu nhiên bị trâu húc chết. "Thương nhớ đồng quê": "Cái Minh em tôi và cái Mi con dì Lưu đèo nhau đi học về, qua ngã ba thì thì bị ô tô chở cột điện cán chết". Cả hai cái chết đó chỉ phục vụ cho tác giả đọc một bài thơ đám ma. Bi kịch là gì? Là tác giả phải tạo lên cả một quá trình để nhân vật dù không phải bằng xương bằng thịt cũng phải "được chết" trong nguyên lý, không thể có cái chết vu vơ tuỳ tiện giành cho nhân vật. Vậy Nguyễn Huy Thiệp bắt nhân vật phải chết ngẫu nhiên để làm gì? Vì theo tâm lý làng xã, mọi người xem chèo, xem cải lương về thường bảo nhau: "Vở kịch hay quá. Tôi khóc từ đầu đến cuối". Thêm nữa, cái chết bao giờ cũng ru người ta vào sự vừa thương tiếc, vừa hệ trọng. Thế là truyện của Nguyễn Huy Thiệp được đưa vào khung cảnh lâm li. Điều này là không thể chối cãi được, vì tác giả của bi kịch phải là tác giả của tư tưởng, mà Nguyễn Huy Thiệp với trình độ chưa có nổi tư tưởng, thì buộc phải tạo ra những cái chết ngẫu nhiên. Trông giống bi kịch mà không phải. Riêng điểm này cũng đủ nói lên trình độ bút pháp của Nguyễn Huy Thiệp hết sức ấu trĩ và tuỳ tiện. Những nhận định như thế của Nguyễn Hoàng Đức phải nói là nghiệt ngã và khinh bạc, nhưng không phải là không có lý.
Tôi cũng đồng ý với ông là chúng ta rất tiếc khi Nguyễn Huy Thiệp chưa được trao giải thưởng Hội Nhà văn, nhất là trong giai đoạn sáng tác ban đầu. Bây giờ có muốn trao cho ông ấy cũng không được nữa. Vì thực chất, mười năm nay, ông Thiệp viết rất sút. Hình như lực đã cạn và hơi cũng kiệt rồi. Trên bầu trời văn đàn chúng ta, vẫn còn nguyên vệt sáng Nguyễn Huy Thiệp, nhưng thực chất, đó là ánh hào quang phất lại của một ngôi sao đã tắt. Nhưng cũng đừng trách Nguyễn Huy Thiệp. Dù Nguyễn Huy Thiệp không viết nữa thì ông ấy cũng vẫn là Nguyễn Huy Thiệp. Những gì ông ấy có, cũng đủ thành một sự nghiệp rất đáng được trân trọng. Không ít nhà văn có lượng sách đồ sộ, thực chất không bằng ông. Có thể gọi Nguyễn Huy Thiệp là tài năng, hay một tài năng lớn cũng được. Nhưng đó là tài năng của một tâm thức bất định. Nguyễn Huy Thiệp là sự thăng hoa của những tâm thức bất định đó. Đây là điểm mạnh của Nguyễn Huy Thiệp, đồng thời cũng là nhược điểm không thể cứu vãn nổi của ông ấy. Nguyễn Huy Thiệp là nỗi may mắn hiếm có và đồng thời cũng là niềm bất hạnh của cả nền văn học chúng ta. Lùi sâu về thời gian, khi trời êm bể lặng rồi, tôi tin người ta lại tìm đến Nam Cao thôi. Nam Cao mới là người của muôn đời. Cố nhiên, Nguyễn Huy Thiệp cũng không phải là con người của một buổi...
(Tạp chí Văn nghệ quân đội)
Love mickey,