Andersen - Không chỉ là người kể chuyện cổ tích
Johan De MyLius
(Năm 2005 Đan Mạch và cả thế giới kỷ niệm 200 năm ngày sinh đại văn hào Hans Christian Andersen (1805-1875). Từ trước đến nay độc giả biết đến ông nhiều hơn như một nhà văn viết chuyện cổ tích, nhưng thực ra sự nghiệp sáng tác của ông rộng hơn nhiều. Người ta tính được, ngoài 175 truyện cổ tích, Andersen còn có 770 bài thơ, 6 cuốn tiểu thuyết và vô số kịch bản.
Johan de Mylius là chuyên gia hàng đầu chuyên nghiên cứu về các tác phẩm cũng như cuộc đời của đại văn hào Andersen, làm việc tại Trung tâm H.C.Andersen ở Copenhagen. Nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Đại văn hào Andersen, xin giới thiệu bài viết của bà về nhà văn)
Hans Christian Andersen là sản phẩm của hai thành phố, hai môi trường xã hội, hai thế giới và hai thời đại. Bởi vậy, như một con người và như một nhà văn, ông thường xuyên đổi thay và lớn khôn, nhưng cũng thường xuyên đối thoại với chính mình, thậm chí có lúc giằng xé với chính mình. Chính sự phát triển về mặt xã hội của ông đã tạo ra những mô típ cả trực tiếp lẫn gián tiếp cho nhiều truyện cổ, tiểu thuyết và kịch bản của ông; là nguồn giúp ông tìm kiếm một bản ngã mới, tổng thể hơn, nhưng cũng là nguồn gây ra những vết thương suốt đời không thể chữa lành.
Hai thành phố
Hai thành phố có ảnh hưởng then chốt đến Andersen là Odense quê ông và Copenhaghen, nơi sống và làm việc phần lớn cuộc đời mình.
Odense là thành phố tỉnh lẻ duy nhất thời ấy ở Đan Mạch có nhà hát kịch. Đây là một yếu tố quan trọng đã định hướng cuộc đời Andersen và kéo theo cuộc ra đi của ông tới thủ đô năm 1819. Bên cạnh niềm say mê sách được truyền từ người cha, sự tiếp xúc với nhà hát cũng mang lại kiến thức và định hướng ước mơ, nỗi đam mê mới. Năm 14 tuổi, ông bỏ nhà tìm kiếm tương lai ở Nhà hát hoàng gia Copenhaghen. Mặc dù chuyến phiêu lưu này không mang lại thành công, nhưng từ đây Andersen suốt đời gắn bó với nhà hát, trở thành nơi gửi gắm hy vọng của ông. Có thể nói rằng, nếu Andersen sinh ra tại một thành phố khác, con đường sự nghiệp của ông sẽ không như bây giờ.
Những năm đầu lên Copenhagen từ 1819 đến 1822, Andersen phải vật lộn để kiếm một chân trong nhà hát, dù đó là vũ công ba lê, diễn viên hay ca sĩ. Cuối cùng, khi mọi cố gắng đều không thành, cậu viết kịch bản, nhưng cũng không có kết quả nốt. Tuy nhiên, giám đốc nhà hát đã quyết định gửi cậu học hát ở trường nghệ thuật cũng thuộc nhà hát. Đoạn đời này cũng đóng vai trò quan trọng không kém những năm thơ ấu ở Odense. ở Copenhagen Andersen làm quen được với hai gia đình nhà Collins và nhà Wulffs và trở thành thân thiết với nhau như người nhà. Tại đây ông làm quen với cả hai cuộc sống của giai cấp tư sản thủ đô và những người vô sản dưới đáy xã hội. Ông hiểu thế nào là cuộc đấu tranh vì sự tồn tại, vị đắng của vị thế cầu xin, mong chờ vào lòng hảo tâm của người khác.
Rời bỏ Odense và dấn thân vào con đường nghệ thuật, Andersen chỉ còn sự lựa chọn duy nhất: Phải thành công. Trên con đường đó, Andersen đã phải trải qua sự khổ nhục khi rời bỏ thế giới này nhưng không được thế giới kia chấp nhận hoàn toàn. Tình cảnh này được phản ánh trong các tác phẩm của Andersen như Nàng tiên cá (1837), tiểu thuyết O.T (1836) và vở kịch Con lai (1840).
Tuy nhiên, thời gian này cũng có chút gì đó tích cực đối với Andersen: Tại đây ông tiếp nhận được nền văn hóa và giáo dục của tầng lớp thượng lưu Thời đại vàng (Golden Age) những năm cuối của chế độ quân chủ tuyệt đối. Vốn là người nhạy cảm, Andersen học được phong cách nhẹ nhàng, dí dỏm thị dân Copenhagen, nhất là từ gia đình Collins và nhà phê bình, nhà viết kịch Johan Ludvig Heiberg cùng những người bạn của ông. Toàn bộ truyện cổ Andersen nằm giữa hai cực này, trái tim và trí óc, lòng trắc ẩn và sự châm biếm, thiên nhiên và văn hoá, tạo ra độ căng trong chúng.
Đan Mạch và châu Âu
Chuyến phiêu lưu từ Odense tới Copenhagen được tiếp tục bởi hành trình đi về giữa Đan Mạch và châu Âu, mà nước Đức là ngôi nhà thứ hai của Andersen. Ông là nhà văn Đan Mạch chu du nhiều nhất thời ấy, tính ra 29 lần ông ra nước ngoài, tổng cộng 9 năm ông ở nước ngoài. Những chuyến đi này mở đường cho niềm vinh quang trên toàn thế giới của ông. Andersen cũng cảm thấy thoải mái, hưng phấn hơn khi ở châu Âu, nhất là ở ý, nơi đã để lại những ấn tượng khó quên về thiên nhiên, cuộc sống và nghệ thuật. Ông có tình cảm rất phức tạp đối với Đan Mạch quê hương, đất nước mà ông không thể làm gì nếu thiếu nó, nhưng đôi lúc ông thấy ghét nó vì sự nhỏ nhoi của nó.
Hai thời đại
Dần dần Andersen trở thành vị khách thường xuyên trong nhà các vị quý tộc, quốc vương, hoàng tử Đan Mạch và nước ngoài. Cuộc sống của ông là tấm gương phản ánh những đổi thay trong xã hội do nền dân chủ tư sản mang lại kể từ khi Hiến pháp năm 1849 ra đời ở Đan Mạch. Cuộc đời và sự nghiệp của ông bắt rễ sâu trong nền văn hoá những năm cuối cùng của chế độ quân chủ tuyệt đối, nhưng vốn là một kẻ ngoài lề về mặt xã hội buộc phải tiếp nhận những tư tưởng của nền văn hoá của thời đại, ông có những tư tưởng hiện đại và cấp tiến hơn các nhà văn Đan Mạch cùng thời. Andersen có lý do để từ bỏ sự tôn sùng của các nhà lãng mạn đối với quá khứ, thay vào đó ông đặt mọi hy vọng vào sự phát triển trong tương lai, tin tưởng vào tính nhân văn và sự khai sáng. Hoặc ông hào hứng với những thành tựu khoa học kỹ thuật liên quan đến du lịch.
Như vậy, quan điểm của Andersen về mặt văn học cũng như chính trị trải rộng qua hai nền văn hoá, hai thời đại, hai hệ thống xã hội và hai giai đoạn văn học – chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực.
Đức tin tôn giáo
Cảm nhận tôn giáo của Andersen ẩn hiện trong mọi tác phẩm của ông, một dạng Thiên chúa giáo bắt nguồn từ con tim và cảm xúc vốn bao bọc bản chất con người và thế giới thiên nhiên xung quanh chúng ta. Cảm nhận này là điểm xuất phát cho niềm mong mỏi đối với Chúa Trời (như trong Nàng tiên cá, 1837 và Ước mơ cuối cùng của bác sồi già, 1858). Thái độ của Andersen đối với tôn giáo rất thánh thiện, chân thật đến ngây thơ. Tuy nhiên, niềm tin của Andersen không phải là bất biến. Qua các tác phẩm của ông, có khá nhiều sự chua cay, bi quan, trống rỗng.
Vinh quang
Vinh quang văn học đến với Andersen từ giữa những năm 1830, khi tiểu thuyết của ông được xuất bản rộng rãi ở Đức. Từ năm 1839 truyện cổ của ông có tiếng tăm khác thường ở nước này. Từ giữa những năm 1840 cả tiểu thuyết và truyện cổ tích của Andersen đột phá vào Anh và Mỹ.
Andersen thỉnh thoảng mới về thăm lại quê nhà Odense. Năm 1866, khi ông được phong tặng tước ủy viên Hội đồng Nhà nước, thành phố Odense chào mừng đứa con vĩ đại của mình và tôn vinh ông làm công dân vĩnh cửu của thành phố.
Nơi yên nghỉ
Andersen được mai táng tại nghĩa trang Assistens Kirkegard ở Copenhagen, chung một mảnh đất an táng với người bạn của ông là Edward Collin và vợ ông này. Vào những năm 1920, khi công luận lên tiếng lo ngại phần mộ Andersen sẽ không được chăm sóc tử tế, hậu duệ của Collin đã dời mộ chí của ông và người vợ đến khu mộ gia đình, và bây giờ mộ chí của Andersen đứng một mình trong nghĩa trang.
Nguyên Lâm dịch
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Johan De MyLius
(Năm 2005 Đan Mạch và cả thế giới kỷ niệm 200 năm ngày sinh đại văn hào Hans Christian Andersen (1805-1875). Từ trước đến nay độc giả biết đến ông nhiều hơn như một nhà văn viết chuyện cổ tích, nhưng thực ra sự nghiệp sáng tác của ông rộng hơn nhiều. Người ta tính được, ngoài 175 truyện cổ tích, Andersen còn có 770 bài thơ, 6 cuốn tiểu thuyết và vô số kịch bản.
Johan de Mylius là chuyên gia hàng đầu chuyên nghiên cứu về các tác phẩm cũng như cuộc đời của đại văn hào Andersen, làm việc tại Trung tâm H.C.Andersen ở Copenhagen. Nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Đại văn hào Andersen, xin giới thiệu bài viết của bà về nhà văn)
Hans Christian Andersen là sản phẩm của hai thành phố, hai môi trường xã hội, hai thế giới và hai thời đại. Bởi vậy, như một con người và như một nhà văn, ông thường xuyên đổi thay và lớn khôn, nhưng cũng thường xuyên đối thoại với chính mình, thậm chí có lúc giằng xé với chính mình. Chính sự phát triển về mặt xã hội của ông đã tạo ra những mô típ cả trực tiếp lẫn gián tiếp cho nhiều truyện cổ, tiểu thuyết và kịch bản của ông; là nguồn giúp ông tìm kiếm một bản ngã mới, tổng thể hơn, nhưng cũng là nguồn gây ra những vết thương suốt đời không thể chữa lành.
Hai thành phố
Hai thành phố có ảnh hưởng then chốt đến Andersen là Odense quê ông và Copenhaghen, nơi sống và làm việc phần lớn cuộc đời mình.
Odense là thành phố tỉnh lẻ duy nhất thời ấy ở Đan Mạch có nhà hát kịch. Đây là một yếu tố quan trọng đã định hướng cuộc đời Andersen và kéo theo cuộc ra đi của ông tới thủ đô năm 1819. Bên cạnh niềm say mê sách được truyền từ người cha, sự tiếp xúc với nhà hát cũng mang lại kiến thức và định hướng ước mơ, nỗi đam mê mới. Năm 14 tuổi, ông bỏ nhà tìm kiếm tương lai ở Nhà hát hoàng gia Copenhaghen. Mặc dù chuyến phiêu lưu này không mang lại thành công, nhưng từ đây Andersen suốt đời gắn bó với nhà hát, trở thành nơi gửi gắm hy vọng của ông. Có thể nói rằng, nếu Andersen sinh ra tại một thành phố khác, con đường sự nghiệp của ông sẽ không như bây giờ.
Những năm đầu lên Copenhagen từ 1819 đến 1822, Andersen phải vật lộn để kiếm một chân trong nhà hát, dù đó là vũ công ba lê, diễn viên hay ca sĩ. Cuối cùng, khi mọi cố gắng đều không thành, cậu viết kịch bản, nhưng cũng không có kết quả nốt. Tuy nhiên, giám đốc nhà hát đã quyết định gửi cậu học hát ở trường nghệ thuật cũng thuộc nhà hát. Đoạn đời này cũng đóng vai trò quan trọng không kém những năm thơ ấu ở Odense. ở Copenhagen Andersen làm quen được với hai gia đình nhà Collins và nhà Wulffs và trở thành thân thiết với nhau như người nhà. Tại đây ông làm quen với cả hai cuộc sống của giai cấp tư sản thủ đô và những người vô sản dưới đáy xã hội. Ông hiểu thế nào là cuộc đấu tranh vì sự tồn tại, vị đắng của vị thế cầu xin, mong chờ vào lòng hảo tâm của người khác.
Rời bỏ Odense và dấn thân vào con đường nghệ thuật, Andersen chỉ còn sự lựa chọn duy nhất: Phải thành công. Trên con đường đó, Andersen đã phải trải qua sự khổ nhục khi rời bỏ thế giới này nhưng không được thế giới kia chấp nhận hoàn toàn. Tình cảnh này được phản ánh trong các tác phẩm của Andersen như Nàng tiên cá (1837), tiểu thuyết O.T (1836) và vở kịch Con lai (1840).
Tuy nhiên, thời gian này cũng có chút gì đó tích cực đối với Andersen: Tại đây ông tiếp nhận được nền văn hóa và giáo dục của tầng lớp thượng lưu Thời đại vàng (Golden Age) những năm cuối của chế độ quân chủ tuyệt đối. Vốn là người nhạy cảm, Andersen học được phong cách nhẹ nhàng, dí dỏm thị dân Copenhagen, nhất là từ gia đình Collins và nhà phê bình, nhà viết kịch Johan Ludvig Heiberg cùng những người bạn của ông. Toàn bộ truyện cổ Andersen nằm giữa hai cực này, trái tim và trí óc, lòng trắc ẩn và sự châm biếm, thiên nhiên và văn hoá, tạo ra độ căng trong chúng.
Đan Mạch và châu Âu
Chuyến phiêu lưu từ Odense tới Copenhagen được tiếp tục bởi hành trình đi về giữa Đan Mạch và châu Âu, mà nước Đức là ngôi nhà thứ hai của Andersen. Ông là nhà văn Đan Mạch chu du nhiều nhất thời ấy, tính ra 29 lần ông ra nước ngoài, tổng cộng 9 năm ông ở nước ngoài. Những chuyến đi này mở đường cho niềm vinh quang trên toàn thế giới của ông. Andersen cũng cảm thấy thoải mái, hưng phấn hơn khi ở châu Âu, nhất là ở ý, nơi đã để lại những ấn tượng khó quên về thiên nhiên, cuộc sống và nghệ thuật. Ông có tình cảm rất phức tạp đối với Đan Mạch quê hương, đất nước mà ông không thể làm gì nếu thiếu nó, nhưng đôi lúc ông thấy ghét nó vì sự nhỏ nhoi của nó.
Hai thời đại
Dần dần Andersen trở thành vị khách thường xuyên trong nhà các vị quý tộc, quốc vương, hoàng tử Đan Mạch và nước ngoài. Cuộc sống của ông là tấm gương phản ánh những đổi thay trong xã hội do nền dân chủ tư sản mang lại kể từ khi Hiến pháp năm 1849 ra đời ở Đan Mạch. Cuộc đời và sự nghiệp của ông bắt rễ sâu trong nền văn hoá những năm cuối cùng của chế độ quân chủ tuyệt đối, nhưng vốn là một kẻ ngoài lề về mặt xã hội buộc phải tiếp nhận những tư tưởng của nền văn hoá của thời đại, ông có những tư tưởng hiện đại và cấp tiến hơn các nhà văn Đan Mạch cùng thời. Andersen có lý do để từ bỏ sự tôn sùng của các nhà lãng mạn đối với quá khứ, thay vào đó ông đặt mọi hy vọng vào sự phát triển trong tương lai, tin tưởng vào tính nhân văn và sự khai sáng. Hoặc ông hào hứng với những thành tựu khoa học kỹ thuật liên quan đến du lịch.
Như vậy, quan điểm của Andersen về mặt văn học cũng như chính trị trải rộng qua hai nền văn hoá, hai thời đại, hai hệ thống xã hội và hai giai đoạn văn học – chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực.
Đức tin tôn giáo
Cảm nhận tôn giáo của Andersen ẩn hiện trong mọi tác phẩm của ông, một dạng Thiên chúa giáo bắt nguồn từ con tim và cảm xúc vốn bao bọc bản chất con người và thế giới thiên nhiên xung quanh chúng ta. Cảm nhận này là điểm xuất phát cho niềm mong mỏi đối với Chúa Trời (như trong Nàng tiên cá, 1837 và Ước mơ cuối cùng của bác sồi già, 1858). Thái độ của Andersen đối với tôn giáo rất thánh thiện, chân thật đến ngây thơ. Tuy nhiên, niềm tin của Andersen không phải là bất biến. Qua các tác phẩm của ông, có khá nhiều sự chua cay, bi quan, trống rỗng.
Vinh quang
Vinh quang văn học đến với Andersen từ giữa những năm 1830, khi tiểu thuyết của ông được xuất bản rộng rãi ở Đức. Từ năm 1839 truyện cổ của ông có tiếng tăm khác thường ở nước này. Từ giữa những năm 1840 cả tiểu thuyết và truyện cổ tích của Andersen đột phá vào Anh và Mỹ.
Andersen thỉnh thoảng mới về thăm lại quê nhà Odense. Năm 1866, khi ông được phong tặng tước ủy viên Hội đồng Nhà nước, thành phố Odense chào mừng đứa con vĩ đại của mình và tôn vinh ông làm công dân vĩnh cửu của thành phố.
Nơi yên nghỉ
Andersen được mai táng tại nghĩa trang Assistens Kirkegard ở Copenhagen, chung một mảnh đất an táng với người bạn của ông là Edward Collin và vợ ông này. Vào những năm 1920, khi công luận lên tiếng lo ngại phần mộ Andersen sẽ không được chăm sóc tử tế, hậu duệ của Collin đã dời mộ chí của ông và người vợ đến khu mộ gia đình, và bây giờ mộ chí của Andersen đứng một mình trong nghĩa trang.
Nguyên Lâm dịch
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,