Raxul Gamzatov- Lòng nhân ái là cốt lõi của văn học
(Nhà thơ Xô Viết Ra-xul Gam-za-tôv, người Avar nước cộng hoà Đa-ghe-xtăng (thuộc Nga) được mệnh danh là nhà thơ cho mọi thời đại. Ông thuộc lớp người được trưởng thành từ Cách mạng tháng Mười Nga 1917. Người con của dân tộc Avar lớn lên trong đại gia đình hòa thuận các dân tộc của Liên Bang Xô Viết và đã trở thành nghệ sĩ ngôn từ nổi tiếng thế giới. Ông là tấm gương chói lọi về lòng yêu nước. Thơ của ông đậm bản sắc dân tộc và trữ tình, thấm đẫm truyền thống fol-klor vùng Kav-kaz và giàu chất nhân văn. Ông qua đời ngày 3-11-2003, hưởng thọ 81 tuổi. Khi còn sống, về Việt Nam, ông đã nói một câu với đại ý là: Nếu như có một lịch sử về những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của các dân tộc trên thế giới, thì đầu tiên là phải ca ngợi tinh thần anh dũng của nhân dân Việt Nam. Trong một cuộc gặp gỡ với các đồng nghiệp Việt Nam sang thăm Nga vào năm 1994, ông đã tỏ ý tiếc không được đến Việt Nam trong những năm khi Việt Nam đấu tranh gian khổ chống xâm lược. Còn bây giờ đến thăm nước này khi đã hoà bình, thì có một cái gì đó không phải đạo. Trước khi đi xa, nhà thơ đã kịp dành cho báo “Nước Nga văn học” cuộc trả lời phỏng vấn cuối cùng đề cập tới nhiều vấn đề. Dưới đây chúng tôi xin trích phần ông bày tỏ suy nghĩ của mình về văn học)
Người ta thường gọi văn học là nhân học. Tôi công nhận điều này. Những với riêng tôi, văn học không chỉ là môn khoa học nghiên cứu con người. Cái cốt lõi của nó là lòng nhân ái. Nhân học đòi hỏi chân lí. Nhưng một chân lí chưa đủ. Cần phải biểu hiện nó bằng tài năng và lòng yêu thương con người. Nói chung mỗi nhà văn đều có định nghĩa riêng của mình về văn học. Riêng tôi cho rằng lòng nhân ái phải là hàng đầu. Đó là cơ sở để lựa chọn hình thức và thể loại. Một người không thể đưa ra định nghĩa về văn học. Có những quan điểm khác nhau: Giống nhau và không giống nhau. Những quan điểm đó bổ sung nhau và tất cả đều đúng.
Cần phải nói về những tác phẩm cụ thể, chứ không phải về khái niệm đã bị quên lãng. Một số người này cho rằng văn học có ý nghĩa giáo dục, còn những người khác thì cho văn học có ý nghĩa nhận thức. Theo tôi, trong văn học cần phải hội đủ 3 yếu tố: Giáo dục, nhận thức và thẩm mĩ. Nhưng không nên bị quá câu nệ vào điều này. Một nhà văn chân chính không bao giờ dạy đời, mà thường bắt người ta phải suy ngẫm. Vì thế, nền tảng của bất kì tác phẩm nào phải là chân lí được khắc hoạ bằng tất cả tài nghệ của nhà văn. Cần phải hát đúng giai điệu của thời đại mình và phải miêu tả nó một cách trung thực bằng những hình ảnh hấp dẫn, không chút giả tạo. Người ta thường nói về những nhiệm vụ mà văn học cần phải giải quyết. Nhưng nếu như nhà văn đặt ra cho mình nhiệm vụ phải viết một tác phẩm nhằm mục đích giáo dục và nhận thức, thì anh ta sẽ thất bại. Nhà văn không bao giờ được nghĩ tới điều đó. Anh ta thường trăn trở một điều gì đó và thể hiện nó. Nỗi băn khoăn và trăn trở là cái nghiệp của nhà văn. Nếu chỉ có một điều trăn trở thì chưa đủ, cần phải biết thể hiện suy nghĩ và tình cảm để trong tác phẩm xuất hiện hạt nhân duy lí. Hoà quyện tình cảm với duy lí là điều không đơn giản. Tuy nhiên, nhà văn không chỉ cần phải biểu hiện những cảm xúc của mình, mà hơn thế, phải biết khơi dạy ở người đọc những cảm xúc đó.
Hiện nay, trong thời buổi của tiến bộ khoa học kĩ thuật thường vang lên những tiếng nói cho rằng văn học không có tầm quan trọng lớn lao như trước đây nữa, mà người ta sớm vứt bỏ nó khỏi con tàu hiện đại. Nhưng thời gian đã chứng minh văn học là cần thiết. Toàn bộ lịch sử loài người được chia ra làm hai thời kì: Trước và sau khi xuất hiện văn học. Mỗi người phải có trách nhiệm học tập ở những người khác. Nhà văn cũng vậy. Cần phải lấy bài học ở thời đại, ở những thế hệ trước. Không được bắt chước, mà phải kế tục cái mà những con người vĩ đại trước chúng ta đã khai mở.
Còn đối với tôi, nhiệm vụ chính là sáng tác mà tôi đã và đang tiếp tục dâng hiến cho bạn đọc và mọi người. Tôi sinh ra ở làng Txe-đa tại vùng Đa-ghe-xtăng nhỏ bé và rất đỗi yêu quí của tôi, nhưng tôi đã được nhìn thấy cả thế giới và tìm cho mình những người bạn ở khắp các châu lục. Số phận đã ban tặng cho tôi ba lứa tuổi: Tuổi trẻ, tuổi chín chắn và tuổi già. Nhưng nhà thơ cần phải có thêm một lứa tuổi thứ tư. Nhà thơ là người đồng niên không chỉ với những người đang sống hôm nay, mà cả với những ai đã khuất và thậm chí với cả những đứa trẻ đang nằm trong bụng mẹ chuẩn bị cất tiếng khóc chào đời. Điều cốt yếu với chúng ta là nhận biết ngày hôm nay. Ngày hôm nay là kết quả của ngày hôm qua và của toàn bộ lịch sử nói chung. Nhưng trong lòng của hôm nay có chứa đựng cả dự báo cho ngày mai và nhiều năm tiếp theo.
Bao giờ cũng có nhiều vị thủ trưởng nêu ra định nghĩa văn học, coi mình là “người chỉ huy văn học” đặt ra trước các nhà văn những nhiệm vụ. Dù họ có cố gắng đến đâu, thì họ cũng chẳng được gì cả. Các nhà xuất bản, các quan chức và nhà khoa học cũng không thể đưa ra đánh giá về văn học, mà chỉ có nhân dân và thời gian mới có thể làm được điều này. Tôi quả không muốn lợi dụng những từ ngữ này, nhưng chẳng có cách nào khác, mà chỉ đứng từ xa mới có thể bao quát rõ điều lớn lao. Chỉ có qua một thế kỉ mới có thể nói về tầm vĩ đại của nhà văn này hay khác, bởi vì hiện nay qua một thiên niên kỉ chúng ta mới nói được về sự vĩ đại vĩnh cửu của Ô-ma-ra Hai-a-ma.
Trong văn học không có và không thể có những người lãnh đạo và bị lãnh đạo. Đã từng có nền văn học của đảng, của đoàn thanh niên Côm-xô-môn, của nông dân và v.v... Những điều đó không đúng. Văn học cao hơn mọi cấp bậc. Không nên dồn văn học vào những sơ đồ mang tính khuôn mẫu đã đặt ra trong nhiều thập niên. Khi còn sống, có một lần Khơ-rut-sôv đã gọi các nhà văn là người có tài tưởng tượng và hư cấu. Thực ra, hoàn toàn không phải như vậy. Nhà văn là người thể hiện nỗi đau của thời đại. Lev Đa-vi-đô-vich Trôt-ski khi là Bộ trưởng Quốc phòng Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết Liên bang Nga cũng đã quyết định chống lại những người theo chủ nghĩa vị lai trong văn học. Hồi đó một trong những người theo chủ nghĩa vị lai đã đến gặp vị Bộ trưởng này và nói: “Này đồng chí Lev Đa-vi-đô-vich, chúng tôi gồm 11 người theo chủ nghĩa vị lai đáng đói làm sao có thể địch nổi được không quân, bộ binh và pháo hạng nặng đang dưới quyền điều khiển của đồng chí. Đây là một cuộc chiến đấu rất không cân sức.” Nhưng rốt cục, những người theo chủ nghĩa vị lai đã chiến thắng. Trước đây cả tỉnh uỷ, cả huyện uỷ và cả chi bộ đều đặt ra trước các nhà văn những nhiệm vụ. Họ muốn dạy viết những câu thơ của Pas-tec-năc và Ê-xê-nhin. Trôt-xki chống lại những người theo chủ nghĩa vị lai, Bu-kha-rin chống lại Ê-xê-nhin, Khơ-rut-sôv chống lại những người đi tiên phong. Nhưng văn học không có và không thể có những lãnh tụ. Người ta thường gọi nhà văn là kĩ sư tâm hồn. Có thể đồng ý với định nghĩa này.
Khi Khơ-rut-sôv đi Mĩ, ông ta đã quyết định đưa theo Sô-lô-khôv như một tấp danh thiếp của nền văn học Xô Viết. Còn khi Ai-sen-hao thăm đáp lễ Liên Xô cũng muốn đưa theo Hê-minh-uê. Nhưng nhà văn này từ chối lời đề nghị của ngài Tổng thống Mĩ. Ngay từ lúc đầu Hê-minh-uê đã nghĩ rằng đây chỉ là trò đùa. “Tôi đi tháp tùng Ai-sen-hao để làm gì? - Hê-minh-uê nói, - Tốt hơn là để người đứng đầu nước Mĩ đi tháp tùng tôi.” Hê-minh-uê mới đúng là một nhà văn đích thực. Còn những nhà văn bé nhỏ của chúng ta, rất buồn là, lại không biết là mình bé nhỏ. Vì thế, những đòi hỏi của họ lại lớn.
Nói chung, không nên chỉ thị cho các nhà văn: Các anh phải viết nhiều về cái này hay phải viết ít về cái kia. Nếu như vậy, thì không thể có văn học. Vào những năm 30 của thế kỉ trước đã có một nhà thơ nổi tiếng của đoàn thanh niên Côm-xô-môn tên là A-lec-xăng-đrơ Bê-zư-men-xki. Từ đại hội nhà văn đầu tiên tiến hành năm 1934 ông bố tôi đã cùng với nhiều người khác mang cả ảnh chân dung nhà thơ này. Lúc đó chỉ một chút nữa là nhà thơ này đã là nhà kinh điển. Thế nhưng, nhà thơ đó đã không còn tồn tại trong nền văn học lớn. Các nhà thơ cần phải thuộc về của dân tộc. Sáng tác của họ cần phải thấm đẫm cài hồn quê hương. Qua những thi phẩm của Ê-xê-nhin mà có thể biết, tác giả xuất sứ từ đâu, ai là mẹ, là chị gái, là người vợ yêu quí của thi sĩ. Ê-xê-nhin không giấu giếm bạn đọc gì hết. Phơi bày toàn bộ thế giới nội tâm của mình trước bạn đọc. Chính là phải như thế. Nếu không như thế, thì tất cả chỉ là giả tạo. Chúng ta đều biết đến những câu chuyện tình của Pus-kin, của Mai-a-côv-xki.
Những người thầy thuốc viết bệnh sử của con người, còn nhà văn viết bệnh sử của nhân loại. Các bạn hãy xem nền văn học Nga của thế kỉ 19: Pus-kin, Ler-môn-tôv, Đôx-tôi-ev-xki, Tôl-xtôi, những tác phẩm của họ đều viết lịch sử những căn bệnh của đất nước. Trong thời kì Xô Viết người ta đã ép buộc văn phải làm những điều vốn rất xa lạ với nó là huênh hoang, nói trạng, thậm chí là nói dỗi nữa. Vì thế, nền văn học của thế kỉ XIX có tầm cỡ hơn nhiều. Những vấn đề do nền văn học thế kỉ XIX đặt ra cho đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự, mà tôi cho rằng nó mãi mãi mang tính thời sự.
Nói chung văn học là một công việc nặng nhọc. Khoa học văn học đã chấp nhận việc phân kì văn học: văn học của thời kì chiến tranh giữ nước vĩ đại, văn học của thời kì xây dựng hoà bình và v.v... Nhưng theo tôi, điều này không đúng. Than ôi, chúng ta phải xác định các thời kì trong nền văn học của chúng ta bằng những ngày tháng buồn. Hiện thời ở phương Tây người ta viết như sau: Văn học Nga trước cái chết của Hu-mi-li-ôv, trước cái chết của E-xê-nhin, trước cái chết của Mai-a-côv-xki. Điều này đúng. Chính mỗi một nhà văn này là một thời đại.
Không ai được phép đặt nhiệm vụ cho các nhà văn. Chính các nhà văn phải đặt nhiệm vụ ra cho toàn thế giới. Đã từng như vậy và sẽ vẫn như vậy. Thời đại Sênh-pia đã làm cho thế giới phải bối rối trước câu hỏi “Tồn tại hay không tồn tại?”.
Làm gì? Ai có lỗi? Ngày mai đang chuẩn bị gì cho chúng ta? Số phận của những sự kiện dẫn chúng ta tới đâu? Ai ở nước Nga được sống hạnh phúc? Quốc hội nào, Chính phủ nào nếu ra những vấn đề bức xúc một cách chính xác và rộng lớn hơn trên phạm vi toàn thế giới? Đây, chính những câu hỏi này do văn học nêu ra. Còn những đề tài mang tính chất vĩnh cửu về chiến tranh và hoà bình, về tội ác và trừng phạt – không phải là theo đơn đặt hàng của bộ quốc phòng hay bộ ngoại giao. Tôl-xtôi và Đôx-tôi-ev-xki đã nêu lên những đề tài này.
Than ôi, các thời đại đã bị biến đổi. Ngày nay người ta đang đi tìm những câu trả lời mới cho những câu hỏi muôn thuở. Trước đây chỉ phạm một tội nhỏ là bị chặt đầu, còn bây giờ phạm tội lớn đôi khi còn được thưởng. Trước đây cha nói với con: tao đẻ ra mày, tao có quyền bắt mày phải chết. Còn bây giờ thì ngược lại. Trước đây cả thế giới đều biết đến một lời nói thầm của nhà thơ, còn giờ đây chẳng ai thèm nghe gì dù người ta có hét trên đài hoặc trên màn ảnh tivi.
Điều ghê sợ nhất là chúng ta đã mất bạn đọc, bạn nghe và bạn xem. Nhưng tôi tin rằng văn học đích thực sẽ không bao giờ bị chết. Bởi văn học hướng và khuyến thiện con người mà thiếu điều này thế giới trở nên vô nghĩa. Niềm hi vọng về những điều tốt đẹp mãi mãi bừng sáng và tồn tại.
Mới đây tôi đã có cuộc gặp gỡ với anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa Na-ri-man A-li-ev, giám đốc nông trường trồng nho và được anh kể cho nghe một câu chuyện buồn của những người trồng nho Đa-ghe-xtăng. Trong thời kì chiến dịch cấm uống rượu của những năm 1980 họ đã bị ra lệnh phải chặt hết nho đi. Bây giờ lại phải đầu tư bạc triệu để phục hồi lại những vùng trồng nho mà trước đây đã bị phá trụi. Văn học cũng bị lâm vào tình trạng như vậy. Trước đây văn học là đứng ở hàng đầu trong đội ngũ trí thức. Đã có 7 nhà văn là đại biểu Xô Viết tối cao Liên Xô, còn bây giờ chẳng có một ai trong quốc hội Nga của chúng ta.
Đã có một số năm dường như Nhà nước không để tâm tới văn học. Rất may, hiện nay đang hồi sinh sự quan tâm tới ngành nghiên cứu con người mà cái lõi của nó là lòng nhân ái. Hi vọng sẽ xuất hiện những tên tuổi mới và những tác phẩm mới.
(Báo Văn nghệ)
Giữ vững và phát huy bản sắc văn hoá: Bài học từ tranh sơn mài
GS. Phan Ngọc
Trong hoàn cảnh hiện nay, đâu đâu cũng bàn về tiếp xúc văn hoá, về việc giữ vững bản sắc và phát huy nó trong tiếp xúc. Là người thao tác luận, tôi không xét động cơ, mà xét kết quả. Có khi động cơ rất tốt, nhưng kết quả lại không như vậy. Thí dụ: trong vài chục năm qua, chúng ta hết lời ca ngợi kinh tế bao cấp. Động cơ có thể hết sức tốt, nhưng kết quả hình như không khả quan. Điều này ít nhất cũng giúp chúng ta thấy tuyên truyền, vận động và cả giáo dục nhiều khi không giúp ta đạt được kết quả mong muốn. Không phải vì ta thiếu thiện chí, nhưng vì chuyện nào có quy luật khách quan của chuyện ấy. Văn hoá Việt Nam muốn giữ vững bản sắc của mình và phát huy bản sắc ấy để làm nhân dân lao động Việt Nam giàu có bằng thu nhập riêng về văn hoá cũng phải tuân theo những quy luật chung của văn hoá thế giới trong giai đoạn hiện tại, giai đoạn của kinh tế hậu công nghiệp.
Tôi xin bắt đầu bằng một thành tựu văn hoá có thực, có khả năng phát huy trong giai đoạn mới, để từ đó rút ra một vài thao tác cần làm.
Chuyện sơn mài. Chúng ta đều biết tranh sơn mài là một cống hiến nghệ thuật của Việt Nam vào văn hoá thế giới. Câu chuyện là khá gần đây. Trước kia, Việt Nam chỉ dùng sơn mài trong nghề trang trí, chủ yếu là đối với các đồ thờ, các câu đối. Một số nghệ sĩ Việt Nam mà trước hết là Nguyễn Gia Trí đã chuyển ngành thủ công thấp kém này nâng nó lên thành nghệ thuật, đưa nó vào hội hoạ. Tôi nhớ ngày nó mới ra đời có người có ý kiến chống lại, đòi kéo sơn mài về quá khứ trang trí trước đây. Nhưng những nghệ sĩ giàu tinh thần tự hào dân tộc, với say mê nghệ thuật, quyết tâm lao động cho văn hóa đất nước vẫn kiên quyết đi con đường đã chọn. Tôi đọc bài của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân nói về sơn mài và tương lai của nó vô cùng xúc động và sung sướng. Sau mấy chục năm với sự cố gắng của nhiều thế hệ hoạ sĩ, sơn mài đã đứng vững như một đóng góp của nghệ thuật Việt Nam vào nghệ thuật thế giới.
Ta hãy phân tích hiện tượng có thực này để hiểu muốn bước vào nghệ thuật vào văn hoá thế giới, đem đến giàu có cho những người lao động nghệ thuật, Việt Nam cần phải làm gì. Trước hết có một cái đã có trong dân tộc, nghề làm sơn mài. Một cái nghề của dân tộc, dựa vào những nguyên liệu sẵn có trong nước, có một truyền thống lâu dài trong nước, quen thuộc với nhân dân ta. Tạm gọi nó là bản sắc dân tộc. Đó là yếu tố thứ nhất. Nhưng nếu cái bản sắc cứ nằm trơ ra đó thì chẳng bao giờ có nghệ thuật sơn mài. Phải có yếu tố thứ hai: con người tài giỏi, yêu nghệ thuật và quyết tâm sống chết cho nó. Con người ấy không thể là một nghệ sĩ lèm nhèm, vì nghệ sĩ lèm nhèm làm sao hiểu được cái phi thường ẩn nấp tiềm tàng trong cái có vẻ tầm thường? Nhà nghệ sĩ ấy phải rất lớn, nắm vững nghệ thuật Đông và Tây, chứ không thể chỉ biết Đông hay chỉ biết Tây, trong đó cái biết Tây là chủ đạo, còn hơn cả cái biết về Đông. Người ta sẽ trách tôi là sùng bái phương Tây, nhưng đối với tôi, điều quan trọng không phải tôi được khen hay bị chê, mà có kết quả thực sự. Phải nắm được cái mới mới có thể chuyển hoá cũ thành mới, về đề tài, bố cục, màu sắc, kỹ thuật thực hiện; phải am hiểu cái mới tận xương tuỷ thì mới phá vỡ được cái cũ, đẩy nó sang hiện đại. Còn không thì cái cũ cứ bám lấy con người làm anh ta suốt đời mang kiếp cá chép không bao giờ hoá rồng được. Chính vì vậy sơn mài chỉ có thể nhờ Nguyễn Gia Trí, con người mà ngay ở lĩnh vực hội hoạ hiện đại cũng là lỗi lạc. Yếu tố thứ hai này là quyết định. Thiếu một Nguyễn Gia Trí vẫn có thể có tranh sơn mài, nhưng ngành này còn phải mò mẫm chán mới len được vào hội hoạ. Vai trò của nhà nghệ sĩ lớn là cực kỳ quan trọng. Rồi sau đó những người khác tiếp tục cải tiến, làm cho ngành nghệ thuật mới ngày càng đa dạng và phong phú về chất liệu, màu sắc, khả năng diễn tả… Theo tôi, nghệ sĩ Nguyễn Gia Trí xứng đáng là ông tổ trong nghề tranh sơn mài.
Nhưng vẫn chưa đủ. Còn một yếu tố thứ ba cực kỳ quan trọng là sự tham gia của khoa học, kỹ thuật. Cần có sự đóng góp của các nhà hoá học để cho tranh sơn mài chịu được mọi khí hậu, không bị nứt nẻ trong khí hậu ôn đới. Cần có sự đóng góp của các nhà văn hoá học để nêu rõ ở nền văn hoá thì loại đề tài nào là phù hợp với từng nền văn hóa một, với sở thích người Nhật, người Mỹ, người Pháp… Phải khảo sát xem ở từng nước, trong từng thời kỳ, trường phái nào là ăn khách, cách bố cục nào là hấp dẫn. Rồi sau đó mới đến các nghệ nhân làm theo mẫu. Chỉ có như thế ta mới tạo nên được một thị trường sơn mài đem lại danh tiếng và cả đô la cho đất nước. Và khi sơn mài đã nhập vào cái lưới tiếp thị trong đó dĩ nhiên phải có đầu tư.
Bài học về sơn mài có thể mở rộng.
(Báo Văn nghệ)
Nguyễn Nhược Pháp và xuất xứ bài thơ Chùa Hương
Hà Quốc Hữu
Đến nay, bài thơ Chùa Hương đã tròn 70 tuổi, Nguyễn Nhược Pháp đã qua đời được 65 năm. Năm 1946 bài thơ đã được nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ nhạc song không mấy phổ biến rộng rãi. Phải tới gần 60 năm sau, nghệ sĩ Trung Đức qua lần đi Hương Sơn cảm tác phổ nhạc bài thơ, thêm bớt lời để thành bài hát Hôm qua em đi Chùa Hương.
Lễ hội Chùa Hương là lễ hội nổi tiếng nhất, kéo dài nhất và đông người trẩy hội nhất trong vô vàn các lễ hội ở Việt Nam. Cảnh sắc nơi đây đẹp tuyệt vời:
Một vùng non nước bao la
Rằng đây lạc quốc hay là Đào Nguyên
Hương Sơn là chốn non tiên
Bồng lai mà thấy ở miền nhân gian
Sách Lịch triều hiến chương loại chí của nhà bác học Phan Huy Chú đã ca ngợi: “Theo khe nước đi ngược, leo nhiều tầng núi, vào tầng núi sâu thì có động. Cảnh thiên nhiên như có quỷ thần tạc ra rất lạ và khéo, là động đẹp thứ nhất ở miền Nam Hải. Mỗi năm về ngày tế xuân, thiện nam tín nữ ở khắp các phương đến động này dâng lễ bái. Những tiếng niệm Phật ồn ào vang khắp hang núi, là một hội vui hơn hết ở cõi trời Nam”.
Nhiều bậc thánh thơ của các triều đại đến đây cảm tác lên những thi phẩm kỳ tài diệu bút khiến non nước Hương Sơn đã đẹp càng thêm huyền ảo, lung linh. Nhiều nhạc sĩ cũng tìm đến để lại nhiều ca khúc ca ngợi Hương Sơn. Nhưng ca khúc: Hôm qua em đi Chùa Hương của nghệ sĩ Trung Đức, phổ thơ Nguyễn Nhược Pháp là nổi tiếng và được phổ biến rộng rãi hơn cả. Bài hát đã khắc sâu vào tâm thức của người nghe những nốt nhạc trẻ trung, trữ tình, lãng mạn nhưng cũng rất ngọt ngào làm rung động lòng người. Nhưng cuộc đời thi sĩ và xuất xứ bài thơ Chùa Hương thì không phải ai cũng biết.
Nguyễn Nhược Pháp, sinh ngày 12-12-1914, quê làng Phượng Vũ - Phú Xuyên - Hà Tây. Cha ông là Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) nhà văn, nhà báo, dịch giả nổi tiếng từng là chủ bút của nhiều tờ báo (Đại nam đăng cổ tùng báo, Học báo, Trung Bắc tân văn, Đông Dương tạp chí…), là người có công lớn với quốc văn, hội hợp được những cây bút có tiếng gây nên phong trào yêu mến quốc Văn trong đám thanh niên trí thức đương thời. Thuở nhỏ, Nguyễn Nhược Pháp học trường Xa - rô và đậu bằng Tú tài. Năm 18 tuổi, ông bắt đầu sự nghiệp viết báo, làm thơ, truyện ngắn và kịch. Tuy sáng tác trên nhiều lĩnh vực văn học và nghệ thuật nhưng nổi hơn cả và được người đời nhớ đến vẫn là thơ. Tập Ngày xưa của ông được nhà xuất bản Nguyễn Dương nhà in Lê Cường xuất bản năm 1935 có vị trí vững chắc trong cả hai dòng thơ Mới và Truyền thống. Nguyễn Nhược Pháp được hai nhà phê bình thơ nổi tiếng nhất lịch sử Việt Nam Hoài Thanh, Hoài Chân đánh giá: “Thơ in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp”. Cái tài của ông chỉ: “Với vài ba nét đơn sơ Nguyễn Nhược Pháp đã làm sống lại cả một thời xưa. Thơ ông đậm đà những nét phong tục xưa, những nếp văn hoá truyền thống được thể hiện qua những nét tinh tế mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc nhưng không thể thấy dấu tích một nhà thơ xưa nào. Người mất năm 24 tuổi trong lòng trắng như hồi còn thơ”.
Các bài Sơn Tinh, Thủy Tinh, Mị Châu; Tay Ngà là những bài thơ nổi tiếng một thời được Thi nhân Việt Nam đánh giá rất cao. Đặc biệt với Chùa Hương - Thiên phóng sự về cô bé ngày xưa mang thuần hậu phong tục Việt Nam mà vẫn chứa đựng nét hiện đại của thơ Mới. Với Chùa Hương, chàng thi sĩ 20 tuổi đã thể hiện tình cảm của mình với cô bé 15 tuổi thanh tao đến thánh thiện, đằm thắm mà không uỷ mị, nồng cháy mà vẫn thanh lịch, trữ tình mà tinh tế, cả tâm hồn và hiện thực hoà quyện vào nhau hài hoà đủ cho Chùa Hương có vị trí xứng đáng trong thi đàn: “Người mến cô bé đi Chùa Hương và cùng cô bé san sẻ mọi ước mơ, sung sướng, buồn rầu”.
Thi phẩm Chùa Hương ra đời trong hoàn cảnh rất kỳ thú. Hội Chùa Hương năm 1934, ông cùng Nguyễn Vỹ (nhà văn tiền chiến, người đề xướng lối thư Bạch Nga “chí cao nhưng tài mọn (lời bình của Hoài Thanh - Hoài Chân)” cùng hai người bạn nữ sinh Hà Thành đi trẩy hội. Đến rừng mơ, hai văn nhân gặp một bà mẹ cùng cô gái độ tuổi trăng rằm vừa bước lên những bậc đá vừa niệm Phật “Nam mô cứu khổ quan thế âm Bồ Tát”. Vẻ đẹp thánh thiện mang nét chân quê của cô gái đã hớp hồn hai chàng thi sĩ khiến họ trân trân nhìn quên cả hai bạn gái cùng đi. Nguyễn Nhược Pháp lại gần đến hỏi “Tại sao trông thấy chúng tôi cô lại không niệm Phật nữa?”. Cô gái bối rối thẹn thùng như muốn khóc. Hai người bạn gái gọi hai chàng thi sĩ để đi tiếp nhưng họ đã bị hớp hồn tai đâu còn nghe thấy. Giận dỗi họ bỏ đi. Lúc bừng tỉnh, hai văn nhân không thấy các cô đâu vội lên len thốc len tháo lách qua những dòng người đang trẩy hội nhưng tìm đâu cho thấy. Mệt và ngán ngẩm, hai thi sĩ quay lại tìm cô gái chân quê thì cả hai mẹ con cũng đã lẫn vào dòng người.
Đêm đó, Nguyễn Nhược Pháp không sao chợp mắt được. Hình ảnh cô gái chân quê đi Chùa Hương khiến ông xúc động viết lên những vần thơ có sắc màu tươi vui, hình ảnh ngộ nghĩnh, cả hồn người lẫn vẻ đẹp của ngày xưa hiện lên trên từng câu thơ, từng chữ:
Hôm qua em đi Chùa Hương
Hoa cỏ còn mờ hơi sương
Cùng thầy mẹ em dậy
Em vấn đầu soi gương.
Nho nhỏ cái đuôi gà cao;
Em đeo dải yếm đảo;
Quần lĩnh, áo the mới;
Tay cầm nón quai thao…
Thuyền đi qua Bến Đục
Mỗi lúc gặp người ra,
Thẹn thùng em không nói
“Nam mô A Di Đà”…
Cô gái chùa Hương khi in vào tập Ngày xưa hai chữ Cô gái bị bỏ đi chỉ còn Chùa Hương. Năm 1946 bài thơ đã được nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ nhạc song không mấy phổ biến rộng rãi. Phải tới gần 60 năm sau, nghệ sĩ Trung Đức qua lần đi Hương Sơn cảm tác phổ nhạc bài thơ, thêm bớt lời để thành bài hát Hôm qua em đi Chùa Hương. Ngay từ lần phát sóng đầu tiên, Hôm qua em đi Chùa Hương được đông đảo thính giả ưa thích và được phổ biến rộng rãi.
Cứ mỗi dịp xuân về, dòng người đi trẩy hội Chùa Hương nhiều người mang băng, đĩa đài để nghe ca khúc Hôm qua em đi Chùa Hương. Đến nay, bài thơ Chùa Hương đã tròn 70 tuổi, Nguyễn Nhược Pháp đã qua đời được 65 năm, song Chùa Hương nhờ được nghệ sĩ Trung Đức phổ nhạc thành bài hát được nhiều người ưa thích mà tên tuổi của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp cùng nhạc sĩ, ca sĩ Trung Đức nổi tiếng sống mãi với Chùa Hương, với thời gian.
(Báo Văn nghệ)

(Nhà thơ Xô Viết Ra-xul Gam-za-tôv, người Avar nước cộng hoà Đa-ghe-xtăng (thuộc Nga) được mệnh danh là nhà thơ cho mọi thời đại. Ông thuộc lớp người được trưởng thành từ Cách mạng tháng Mười Nga 1917. Người con của dân tộc Avar lớn lên trong đại gia đình hòa thuận các dân tộc của Liên Bang Xô Viết và đã trở thành nghệ sĩ ngôn từ nổi tiếng thế giới. Ông là tấm gương chói lọi về lòng yêu nước. Thơ của ông đậm bản sắc dân tộc và trữ tình, thấm đẫm truyền thống fol-klor vùng Kav-kaz và giàu chất nhân văn. Ông qua đời ngày 3-11-2003, hưởng thọ 81 tuổi. Khi còn sống, về Việt Nam, ông đã nói một câu với đại ý là: Nếu như có một lịch sử về những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của các dân tộc trên thế giới, thì đầu tiên là phải ca ngợi tinh thần anh dũng của nhân dân Việt Nam. Trong một cuộc gặp gỡ với các đồng nghiệp Việt Nam sang thăm Nga vào năm 1994, ông đã tỏ ý tiếc không được đến Việt Nam trong những năm khi Việt Nam đấu tranh gian khổ chống xâm lược. Còn bây giờ đến thăm nước này khi đã hoà bình, thì có một cái gì đó không phải đạo. Trước khi đi xa, nhà thơ đã kịp dành cho báo “Nước Nga văn học” cuộc trả lời phỏng vấn cuối cùng đề cập tới nhiều vấn đề. Dưới đây chúng tôi xin trích phần ông bày tỏ suy nghĩ của mình về văn học)
Người ta thường gọi văn học là nhân học. Tôi công nhận điều này. Những với riêng tôi, văn học không chỉ là môn khoa học nghiên cứu con người. Cái cốt lõi của nó là lòng nhân ái. Nhân học đòi hỏi chân lí. Nhưng một chân lí chưa đủ. Cần phải biểu hiện nó bằng tài năng và lòng yêu thương con người. Nói chung mỗi nhà văn đều có định nghĩa riêng của mình về văn học. Riêng tôi cho rằng lòng nhân ái phải là hàng đầu. Đó là cơ sở để lựa chọn hình thức và thể loại. Một người không thể đưa ra định nghĩa về văn học. Có những quan điểm khác nhau: Giống nhau và không giống nhau. Những quan điểm đó bổ sung nhau và tất cả đều đúng.
Cần phải nói về những tác phẩm cụ thể, chứ không phải về khái niệm đã bị quên lãng. Một số người này cho rằng văn học có ý nghĩa giáo dục, còn những người khác thì cho văn học có ý nghĩa nhận thức. Theo tôi, trong văn học cần phải hội đủ 3 yếu tố: Giáo dục, nhận thức và thẩm mĩ. Nhưng không nên bị quá câu nệ vào điều này. Một nhà văn chân chính không bao giờ dạy đời, mà thường bắt người ta phải suy ngẫm. Vì thế, nền tảng của bất kì tác phẩm nào phải là chân lí được khắc hoạ bằng tất cả tài nghệ của nhà văn. Cần phải hát đúng giai điệu của thời đại mình và phải miêu tả nó một cách trung thực bằng những hình ảnh hấp dẫn, không chút giả tạo. Người ta thường nói về những nhiệm vụ mà văn học cần phải giải quyết. Nhưng nếu như nhà văn đặt ra cho mình nhiệm vụ phải viết một tác phẩm nhằm mục đích giáo dục và nhận thức, thì anh ta sẽ thất bại. Nhà văn không bao giờ được nghĩ tới điều đó. Anh ta thường trăn trở một điều gì đó và thể hiện nó. Nỗi băn khoăn và trăn trở là cái nghiệp của nhà văn. Nếu chỉ có một điều trăn trở thì chưa đủ, cần phải biết thể hiện suy nghĩ và tình cảm để trong tác phẩm xuất hiện hạt nhân duy lí. Hoà quyện tình cảm với duy lí là điều không đơn giản. Tuy nhiên, nhà văn không chỉ cần phải biểu hiện những cảm xúc của mình, mà hơn thế, phải biết khơi dạy ở người đọc những cảm xúc đó.
Hiện nay, trong thời buổi của tiến bộ khoa học kĩ thuật thường vang lên những tiếng nói cho rằng văn học không có tầm quan trọng lớn lao như trước đây nữa, mà người ta sớm vứt bỏ nó khỏi con tàu hiện đại. Nhưng thời gian đã chứng minh văn học là cần thiết. Toàn bộ lịch sử loài người được chia ra làm hai thời kì: Trước và sau khi xuất hiện văn học. Mỗi người phải có trách nhiệm học tập ở những người khác. Nhà văn cũng vậy. Cần phải lấy bài học ở thời đại, ở những thế hệ trước. Không được bắt chước, mà phải kế tục cái mà những con người vĩ đại trước chúng ta đã khai mở.
Còn đối với tôi, nhiệm vụ chính là sáng tác mà tôi đã và đang tiếp tục dâng hiến cho bạn đọc và mọi người. Tôi sinh ra ở làng Txe-đa tại vùng Đa-ghe-xtăng nhỏ bé và rất đỗi yêu quí của tôi, nhưng tôi đã được nhìn thấy cả thế giới và tìm cho mình những người bạn ở khắp các châu lục. Số phận đã ban tặng cho tôi ba lứa tuổi: Tuổi trẻ, tuổi chín chắn và tuổi già. Nhưng nhà thơ cần phải có thêm một lứa tuổi thứ tư. Nhà thơ là người đồng niên không chỉ với những người đang sống hôm nay, mà cả với những ai đã khuất và thậm chí với cả những đứa trẻ đang nằm trong bụng mẹ chuẩn bị cất tiếng khóc chào đời. Điều cốt yếu với chúng ta là nhận biết ngày hôm nay. Ngày hôm nay là kết quả của ngày hôm qua và của toàn bộ lịch sử nói chung. Nhưng trong lòng của hôm nay có chứa đựng cả dự báo cho ngày mai và nhiều năm tiếp theo.
Bao giờ cũng có nhiều vị thủ trưởng nêu ra định nghĩa văn học, coi mình là “người chỉ huy văn học” đặt ra trước các nhà văn những nhiệm vụ. Dù họ có cố gắng đến đâu, thì họ cũng chẳng được gì cả. Các nhà xuất bản, các quan chức và nhà khoa học cũng không thể đưa ra đánh giá về văn học, mà chỉ có nhân dân và thời gian mới có thể làm được điều này. Tôi quả không muốn lợi dụng những từ ngữ này, nhưng chẳng có cách nào khác, mà chỉ đứng từ xa mới có thể bao quát rõ điều lớn lao. Chỉ có qua một thế kỉ mới có thể nói về tầm vĩ đại của nhà văn này hay khác, bởi vì hiện nay qua một thiên niên kỉ chúng ta mới nói được về sự vĩ đại vĩnh cửu của Ô-ma-ra Hai-a-ma.
Trong văn học không có và không thể có những người lãnh đạo và bị lãnh đạo. Đã từng có nền văn học của đảng, của đoàn thanh niên Côm-xô-môn, của nông dân và v.v... Những điều đó không đúng. Văn học cao hơn mọi cấp bậc. Không nên dồn văn học vào những sơ đồ mang tính khuôn mẫu đã đặt ra trong nhiều thập niên. Khi còn sống, có một lần Khơ-rut-sôv đã gọi các nhà văn là người có tài tưởng tượng và hư cấu. Thực ra, hoàn toàn không phải như vậy. Nhà văn là người thể hiện nỗi đau của thời đại. Lev Đa-vi-đô-vich Trôt-ski khi là Bộ trưởng Quốc phòng Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết Liên bang Nga cũng đã quyết định chống lại những người theo chủ nghĩa vị lai trong văn học. Hồi đó một trong những người theo chủ nghĩa vị lai đã đến gặp vị Bộ trưởng này và nói: “Này đồng chí Lev Đa-vi-đô-vich, chúng tôi gồm 11 người theo chủ nghĩa vị lai đáng đói làm sao có thể địch nổi được không quân, bộ binh và pháo hạng nặng đang dưới quyền điều khiển của đồng chí. Đây là một cuộc chiến đấu rất không cân sức.” Nhưng rốt cục, những người theo chủ nghĩa vị lai đã chiến thắng. Trước đây cả tỉnh uỷ, cả huyện uỷ và cả chi bộ đều đặt ra trước các nhà văn những nhiệm vụ. Họ muốn dạy viết những câu thơ của Pas-tec-năc và Ê-xê-nhin. Trôt-xki chống lại những người theo chủ nghĩa vị lai, Bu-kha-rin chống lại Ê-xê-nhin, Khơ-rut-sôv chống lại những người đi tiên phong. Nhưng văn học không có và không thể có những lãnh tụ. Người ta thường gọi nhà văn là kĩ sư tâm hồn. Có thể đồng ý với định nghĩa này.
Khi Khơ-rut-sôv đi Mĩ, ông ta đã quyết định đưa theo Sô-lô-khôv như một tấp danh thiếp của nền văn học Xô Viết. Còn khi Ai-sen-hao thăm đáp lễ Liên Xô cũng muốn đưa theo Hê-minh-uê. Nhưng nhà văn này từ chối lời đề nghị của ngài Tổng thống Mĩ. Ngay từ lúc đầu Hê-minh-uê đã nghĩ rằng đây chỉ là trò đùa. “Tôi đi tháp tùng Ai-sen-hao để làm gì? - Hê-minh-uê nói, - Tốt hơn là để người đứng đầu nước Mĩ đi tháp tùng tôi.” Hê-minh-uê mới đúng là một nhà văn đích thực. Còn những nhà văn bé nhỏ của chúng ta, rất buồn là, lại không biết là mình bé nhỏ. Vì thế, những đòi hỏi của họ lại lớn.
Nói chung, không nên chỉ thị cho các nhà văn: Các anh phải viết nhiều về cái này hay phải viết ít về cái kia. Nếu như vậy, thì không thể có văn học. Vào những năm 30 của thế kỉ trước đã có một nhà thơ nổi tiếng của đoàn thanh niên Côm-xô-môn tên là A-lec-xăng-đrơ Bê-zư-men-xki. Từ đại hội nhà văn đầu tiên tiến hành năm 1934 ông bố tôi đã cùng với nhiều người khác mang cả ảnh chân dung nhà thơ này. Lúc đó chỉ một chút nữa là nhà thơ này đã là nhà kinh điển. Thế nhưng, nhà thơ đó đã không còn tồn tại trong nền văn học lớn. Các nhà thơ cần phải thuộc về của dân tộc. Sáng tác của họ cần phải thấm đẫm cài hồn quê hương. Qua những thi phẩm của Ê-xê-nhin mà có thể biết, tác giả xuất sứ từ đâu, ai là mẹ, là chị gái, là người vợ yêu quí của thi sĩ. Ê-xê-nhin không giấu giếm bạn đọc gì hết. Phơi bày toàn bộ thế giới nội tâm của mình trước bạn đọc. Chính là phải như thế. Nếu không như thế, thì tất cả chỉ là giả tạo. Chúng ta đều biết đến những câu chuyện tình của Pus-kin, của Mai-a-côv-xki.
Những người thầy thuốc viết bệnh sử của con người, còn nhà văn viết bệnh sử của nhân loại. Các bạn hãy xem nền văn học Nga của thế kỉ 19: Pus-kin, Ler-môn-tôv, Đôx-tôi-ev-xki, Tôl-xtôi, những tác phẩm của họ đều viết lịch sử những căn bệnh của đất nước. Trong thời kì Xô Viết người ta đã ép buộc văn phải làm những điều vốn rất xa lạ với nó là huênh hoang, nói trạng, thậm chí là nói dỗi nữa. Vì thế, nền văn học của thế kỉ XIX có tầm cỡ hơn nhiều. Những vấn đề do nền văn học thế kỉ XIX đặt ra cho đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự, mà tôi cho rằng nó mãi mãi mang tính thời sự.
Nói chung văn học là một công việc nặng nhọc. Khoa học văn học đã chấp nhận việc phân kì văn học: văn học của thời kì chiến tranh giữ nước vĩ đại, văn học của thời kì xây dựng hoà bình và v.v... Nhưng theo tôi, điều này không đúng. Than ôi, chúng ta phải xác định các thời kì trong nền văn học của chúng ta bằng những ngày tháng buồn. Hiện thời ở phương Tây người ta viết như sau: Văn học Nga trước cái chết của Hu-mi-li-ôv, trước cái chết của E-xê-nhin, trước cái chết của Mai-a-côv-xki. Điều này đúng. Chính mỗi một nhà văn này là một thời đại.
Không ai được phép đặt nhiệm vụ cho các nhà văn. Chính các nhà văn phải đặt nhiệm vụ ra cho toàn thế giới. Đã từng như vậy và sẽ vẫn như vậy. Thời đại Sênh-pia đã làm cho thế giới phải bối rối trước câu hỏi “Tồn tại hay không tồn tại?”.
Làm gì? Ai có lỗi? Ngày mai đang chuẩn bị gì cho chúng ta? Số phận của những sự kiện dẫn chúng ta tới đâu? Ai ở nước Nga được sống hạnh phúc? Quốc hội nào, Chính phủ nào nếu ra những vấn đề bức xúc một cách chính xác và rộng lớn hơn trên phạm vi toàn thế giới? Đây, chính những câu hỏi này do văn học nêu ra. Còn những đề tài mang tính chất vĩnh cửu về chiến tranh và hoà bình, về tội ác và trừng phạt – không phải là theo đơn đặt hàng của bộ quốc phòng hay bộ ngoại giao. Tôl-xtôi và Đôx-tôi-ev-xki đã nêu lên những đề tài này.
Than ôi, các thời đại đã bị biến đổi. Ngày nay người ta đang đi tìm những câu trả lời mới cho những câu hỏi muôn thuở. Trước đây chỉ phạm một tội nhỏ là bị chặt đầu, còn bây giờ phạm tội lớn đôi khi còn được thưởng. Trước đây cha nói với con: tao đẻ ra mày, tao có quyền bắt mày phải chết. Còn bây giờ thì ngược lại. Trước đây cả thế giới đều biết đến một lời nói thầm của nhà thơ, còn giờ đây chẳng ai thèm nghe gì dù người ta có hét trên đài hoặc trên màn ảnh tivi.
Điều ghê sợ nhất là chúng ta đã mất bạn đọc, bạn nghe và bạn xem. Nhưng tôi tin rằng văn học đích thực sẽ không bao giờ bị chết. Bởi văn học hướng và khuyến thiện con người mà thiếu điều này thế giới trở nên vô nghĩa. Niềm hi vọng về những điều tốt đẹp mãi mãi bừng sáng và tồn tại.
Mới đây tôi đã có cuộc gặp gỡ với anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa Na-ri-man A-li-ev, giám đốc nông trường trồng nho và được anh kể cho nghe một câu chuyện buồn của những người trồng nho Đa-ghe-xtăng. Trong thời kì chiến dịch cấm uống rượu của những năm 1980 họ đã bị ra lệnh phải chặt hết nho đi. Bây giờ lại phải đầu tư bạc triệu để phục hồi lại những vùng trồng nho mà trước đây đã bị phá trụi. Văn học cũng bị lâm vào tình trạng như vậy. Trước đây văn học là đứng ở hàng đầu trong đội ngũ trí thức. Đã có 7 nhà văn là đại biểu Xô Viết tối cao Liên Xô, còn bây giờ chẳng có một ai trong quốc hội Nga của chúng ta.
Đã có một số năm dường như Nhà nước không để tâm tới văn học. Rất may, hiện nay đang hồi sinh sự quan tâm tới ngành nghiên cứu con người mà cái lõi của nó là lòng nhân ái. Hi vọng sẽ xuất hiện những tên tuổi mới và những tác phẩm mới.
(Báo Văn nghệ)
Giữ vững và phát huy bản sắc văn hoá: Bài học từ tranh sơn mài
GS. Phan Ngọc
Trong hoàn cảnh hiện nay, đâu đâu cũng bàn về tiếp xúc văn hoá, về việc giữ vững bản sắc và phát huy nó trong tiếp xúc. Là người thao tác luận, tôi không xét động cơ, mà xét kết quả. Có khi động cơ rất tốt, nhưng kết quả lại không như vậy. Thí dụ: trong vài chục năm qua, chúng ta hết lời ca ngợi kinh tế bao cấp. Động cơ có thể hết sức tốt, nhưng kết quả hình như không khả quan. Điều này ít nhất cũng giúp chúng ta thấy tuyên truyền, vận động và cả giáo dục nhiều khi không giúp ta đạt được kết quả mong muốn. Không phải vì ta thiếu thiện chí, nhưng vì chuyện nào có quy luật khách quan của chuyện ấy. Văn hoá Việt Nam muốn giữ vững bản sắc của mình và phát huy bản sắc ấy để làm nhân dân lao động Việt Nam giàu có bằng thu nhập riêng về văn hoá cũng phải tuân theo những quy luật chung của văn hoá thế giới trong giai đoạn hiện tại, giai đoạn của kinh tế hậu công nghiệp.
Tôi xin bắt đầu bằng một thành tựu văn hoá có thực, có khả năng phát huy trong giai đoạn mới, để từ đó rút ra một vài thao tác cần làm.
Chuyện sơn mài. Chúng ta đều biết tranh sơn mài là một cống hiến nghệ thuật của Việt Nam vào văn hoá thế giới. Câu chuyện là khá gần đây. Trước kia, Việt Nam chỉ dùng sơn mài trong nghề trang trí, chủ yếu là đối với các đồ thờ, các câu đối. Một số nghệ sĩ Việt Nam mà trước hết là Nguyễn Gia Trí đã chuyển ngành thủ công thấp kém này nâng nó lên thành nghệ thuật, đưa nó vào hội hoạ. Tôi nhớ ngày nó mới ra đời có người có ý kiến chống lại, đòi kéo sơn mài về quá khứ trang trí trước đây. Nhưng những nghệ sĩ giàu tinh thần tự hào dân tộc, với say mê nghệ thuật, quyết tâm lao động cho văn hóa đất nước vẫn kiên quyết đi con đường đã chọn. Tôi đọc bài của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân nói về sơn mài và tương lai của nó vô cùng xúc động và sung sướng. Sau mấy chục năm với sự cố gắng của nhiều thế hệ hoạ sĩ, sơn mài đã đứng vững như một đóng góp của nghệ thuật Việt Nam vào nghệ thuật thế giới.
Ta hãy phân tích hiện tượng có thực này để hiểu muốn bước vào nghệ thuật vào văn hoá thế giới, đem đến giàu có cho những người lao động nghệ thuật, Việt Nam cần phải làm gì. Trước hết có một cái đã có trong dân tộc, nghề làm sơn mài. Một cái nghề của dân tộc, dựa vào những nguyên liệu sẵn có trong nước, có một truyền thống lâu dài trong nước, quen thuộc với nhân dân ta. Tạm gọi nó là bản sắc dân tộc. Đó là yếu tố thứ nhất. Nhưng nếu cái bản sắc cứ nằm trơ ra đó thì chẳng bao giờ có nghệ thuật sơn mài. Phải có yếu tố thứ hai: con người tài giỏi, yêu nghệ thuật và quyết tâm sống chết cho nó. Con người ấy không thể là một nghệ sĩ lèm nhèm, vì nghệ sĩ lèm nhèm làm sao hiểu được cái phi thường ẩn nấp tiềm tàng trong cái có vẻ tầm thường? Nhà nghệ sĩ ấy phải rất lớn, nắm vững nghệ thuật Đông và Tây, chứ không thể chỉ biết Đông hay chỉ biết Tây, trong đó cái biết Tây là chủ đạo, còn hơn cả cái biết về Đông. Người ta sẽ trách tôi là sùng bái phương Tây, nhưng đối với tôi, điều quan trọng không phải tôi được khen hay bị chê, mà có kết quả thực sự. Phải nắm được cái mới mới có thể chuyển hoá cũ thành mới, về đề tài, bố cục, màu sắc, kỹ thuật thực hiện; phải am hiểu cái mới tận xương tuỷ thì mới phá vỡ được cái cũ, đẩy nó sang hiện đại. Còn không thì cái cũ cứ bám lấy con người làm anh ta suốt đời mang kiếp cá chép không bao giờ hoá rồng được. Chính vì vậy sơn mài chỉ có thể nhờ Nguyễn Gia Trí, con người mà ngay ở lĩnh vực hội hoạ hiện đại cũng là lỗi lạc. Yếu tố thứ hai này là quyết định. Thiếu một Nguyễn Gia Trí vẫn có thể có tranh sơn mài, nhưng ngành này còn phải mò mẫm chán mới len được vào hội hoạ. Vai trò của nhà nghệ sĩ lớn là cực kỳ quan trọng. Rồi sau đó những người khác tiếp tục cải tiến, làm cho ngành nghệ thuật mới ngày càng đa dạng và phong phú về chất liệu, màu sắc, khả năng diễn tả… Theo tôi, nghệ sĩ Nguyễn Gia Trí xứng đáng là ông tổ trong nghề tranh sơn mài.
Nhưng vẫn chưa đủ. Còn một yếu tố thứ ba cực kỳ quan trọng là sự tham gia của khoa học, kỹ thuật. Cần có sự đóng góp của các nhà hoá học để cho tranh sơn mài chịu được mọi khí hậu, không bị nứt nẻ trong khí hậu ôn đới. Cần có sự đóng góp của các nhà văn hoá học để nêu rõ ở nền văn hoá thì loại đề tài nào là phù hợp với từng nền văn hóa một, với sở thích người Nhật, người Mỹ, người Pháp… Phải khảo sát xem ở từng nước, trong từng thời kỳ, trường phái nào là ăn khách, cách bố cục nào là hấp dẫn. Rồi sau đó mới đến các nghệ nhân làm theo mẫu. Chỉ có như thế ta mới tạo nên được một thị trường sơn mài đem lại danh tiếng và cả đô la cho đất nước. Và khi sơn mài đã nhập vào cái lưới tiếp thị trong đó dĩ nhiên phải có đầu tư.
Bài học về sơn mài có thể mở rộng.
(Báo Văn nghệ)
Nguyễn Nhược Pháp và xuất xứ bài thơ Chùa Hương
Hà Quốc Hữu
Đến nay, bài thơ Chùa Hương đã tròn 70 tuổi, Nguyễn Nhược Pháp đã qua đời được 65 năm. Năm 1946 bài thơ đã được nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ nhạc song không mấy phổ biến rộng rãi. Phải tới gần 60 năm sau, nghệ sĩ Trung Đức qua lần đi Hương Sơn cảm tác phổ nhạc bài thơ, thêm bớt lời để thành bài hát Hôm qua em đi Chùa Hương.
Lễ hội Chùa Hương là lễ hội nổi tiếng nhất, kéo dài nhất và đông người trẩy hội nhất trong vô vàn các lễ hội ở Việt Nam. Cảnh sắc nơi đây đẹp tuyệt vời:
Một vùng non nước bao la
Rằng đây lạc quốc hay là Đào Nguyên
Hương Sơn là chốn non tiên
Bồng lai mà thấy ở miền nhân gian
Sách Lịch triều hiến chương loại chí của nhà bác học Phan Huy Chú đã ca ngợi: “Theo khe nước đi ngược, leo nhiều tầng núi, vào tầng núi sâu thì có động. Cảnh thiên nhiên như có quỷ thần tạc ra rất lạ và khéo, là động đẹp thứ nhất ở miền Nam Hải. Mỗi năm về ngày tế xuân, thiện nam tín nữ ở khắp các phương đến động này dâng lễ bái. Những tiếng niệm Phật ồn ào vang khắp hang núi, là một hội vui hơn hết ở cõi trời Nam”.
Nhiều bậc thánh thơ của các triều đại đến đây cảm tác lên những thi phẩm kỳ tài diệu bút khiến non nước Hương Sơn đã đẹp càng thêm huyền ảo, lung linh. Nhiều nhạc sĩ cũng tìm đến để lại nhiều ca khúc ca ngợi Hương Sơn. Nhưng ca khúc: Hôm qua em đi Chùa Hương của nghệ sĩ Trung Đức, phổ thơ Nguyễn Nhược Pháp là nổi tiếng và được phổ biến rộng rãi hơn cả. Bài hát đã khắc sâu vào tâm thức của người nghe những nốt nhạc trẻ trung, trữ tình, lãng mạn nhưng cũng rất ngọt ngào làm rung động lòng người. Nhưng cuộc đời thi sĩ và xuất xứ bài thơ Chùa Hương thì không phải ai cũng biết.
Nguyễn Nhược Pháp, sinh ngày 12-12-1914, quê làng Phượng Vũ - Phú Xuyên - Hà Tây. Cha ông là Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) nhà văn, nhà báo, dịch giả nổi tiếng từng là chủ bút của nhiều tờ báo (Đại nam đăng cổ tùng báo, Học báo, Trung Bắc tân văn, Đông Dương tạp chí…), là người có công lớn với quốc văn, hội hợp được những cây bút có tiếng gây nên phong trào yêu mến quốc Văn trong đám thanh niên trí thức đương thời. Thuở nhỏ, Nguyễn Nhược Pháp học trường Xa - rô và đậu bằng Tú tài. Năm 18 tuổi, ông bắt đầu sự nghiệp viết báo, làm thơ, truyện ngắn và kịch. Tuy sáng tác trên nhiều lĩnh vực văn học và nghệ thuật nhưng nổi hơn cả và được người đời nhớ đến vẫn là thơ. Tập Ngày xưa của ông được nhà xuất bản Nguyễn Dương nhà in Lê Cường xuất bản năm 1935 có vị trí vững chắc trong cả hai dòng thơ Mới và Truyền thống. Nguyễn Nhược Pháp được hai nhà phê bình thơ nổi tiếng nhất lịch sử Việt Nam Hoài Thanh, Hoài Chân đánh giá: “Thơ in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp”. Cái tài của ông chỉ: “Với vài ba nét đơn sơ Nguyễn Nhược Pháp đã làm sống lại cả một thời xưa. Thơ ông đậm đà những nét phong tục xưa, những nếp văn hoá truyền thống được thể hiện qua những nét tinh tế mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc nhưng không thể thấy dấu tích một nhà thơ xưa nào. Người mất năm 24 tuổi trong lòng trắng như hồi còn thơ”.
Các bài Sơn Tinh, Thủy Tinh, Mị Châu; Tay Ngà là những bài thơ nổi tiếng một thời được Thi nhân Việt Nam đánh giá rất cao. Đặc biệt với Chùa Hương - Thiên phóng sự về cô bé ngày xưa mang thuần hậu phong tục Việt Nam mà vẫn chứa đựng nét hiện đại của thơ Mới. Với Chùa Hương, chàng thi sĩ 20 tuổi đã thể hiện tình cảm của mình với cô bé 15 tuổi thanh tao đến thánh thiện, đằm thắm mà không uỷ mị, nồng cháy mà vẫn thanh lịch, trữ tình mà tinh tế, cả tâm hồn và hiện thực hoà quyện vào nhau hài hoà đủ cho Chùa Hương có vị trí xứng đáng trong thi đàn: “Người mến cô bé đi Chùa Hương và cùng cô bé san sẻ mọi ước mơ, sung sướng, buồn rầu”.
Thi phẩm Chùa Hương ra đời trong hoàn cảnh rất kỳ thú. Hội Chùa Hương năm 1934, ông cùng Nguyễn Vỹ (nhà văn tiền chiến, người đề xướng lối thư Bạch Nga “chí cao nhưng tài mọn (lời bình của Hoài Thanh - Hoài Chân)” cùng hai người bạn nữ sinh Hà Thành đi trẩy hội. Đến rừng mơ, hai văn nhân gặp một bà mẹ cùng cô gái độ tuổi trăng rằm vừa bước lên những bậc đá vừa niệm Phật “Nam mô cứu khổ quan thế âm Bồ Tát”. Vẻ đẹp thánh thiện mang nét chân quê của cô gái đã hớp hồn hai chàng thi sĩ khiến họ trân trân nhìn quên cả hai bạn gái cùng đi. Nguyễn Nhược Pháp lại gần đến hỏi “Tại sao trông thấy chúng tôi cô lại không niệm Phật nữa?”. Cô gái bối rối thẹn thùng như muốn khóc. Hai người bạn gái gọi hai chàng thi sĩ để đi tiếp nhưng họ đã bị hớp hồn tai đâu còn nghe thấy. Giận dỗi họ bỏ đi. Lúc bừng tỉnh, hai văn nhân không thấy các cô đâu vội lên len thốc len tháo lách qua những dòng người đang trẩy hội nhưng tìm đâu cho thấy. Mệt và ngán ngẩm, hai thi sĩ quay lại tìm cô gái chân quê thì cả hai mẹ con cũng đã lẫn vào dòng người.
Đêm đó, Nguyễn Nhược Pháp không sao chợp mắt được. Hình ảnh cô gái chân quê đi Chùa Hương khiến ông xúc động viết lên những vần thơ có sắc màu tươi vui, hình ảnh ngộ nghĩnh, cả hồn người lẫn vẻ đẹp của ngày xưa hiện lên trên từng câu thơ, từng chữ:
Hôm qua em đi Chùa Hương
Hoa cỏ còn mờ hơi sương
Cùng thầy mẹ em dậy
Em vấn đầu soi gương.
Nho nhỏ cái đuôi gà cao;
Em đeo dải yếm đảo;
Quần lĩnh, áo the mới;
Tay cầm nón quai thao…
Thuyền đi qua Bến Đục
Mỗi lúc gặp người ra,
Thẹn thùng em không nói
“Nam mô A Di Đà”…
Cô gái chùa Hương khi in vào tập Ngày xưa hai chữ Cô gái bị bỏ đi chỉ còn Chùa Hương. Năm 1946 bài thơ đã được nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ nhạc song không mấy phổ biến rộng rãi. Phải tới gần 60 năm sau, nghệ sĩ Trung Đức qua lần đi Hương Sơn cảm tác phổ nhạc bài thơ, thêm bớt lời để thành bài hát Hôm qua em đi Chùa Hương. Ngay từ lần phát sóng đầu tiên, Hôm qua em đi Chùa Hương được đông đảo thính giả ưa thích và được phổ biến rộng rãi.
Cứ mỗi dịp xuân về, dòng người đi trẩy hội Chùa Hương nhiều người mang băng, đĩa đài để nghe ca khúc Hôm qua em đi Chùa Hương. Đến nay, bài thơ Chùa Hương đã tròn 70 tuổi, Nguyễn Nhược Pháp đã qua đời được 65 năm, song Chùa Hương nhờ được nghệ sĩ Trung Đức phổ nhạc thành bài hát được nhiều người ưa thích mà tên tuổi của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp cùng nhạc sĩ, ca sĩ Trung Đức nổi tiếng sống mãi với Chùa Hương, với thời gian.
(Báo Văn nghệ)

Love mickey,