Gonzalo Rojas -Thi ca là một hành động thiêng liêng
Sự nghiệp văn chương của Gonzalo Rojas được ghi nhận bởi nhiều giải thưởng gắn liền với những danh tiếng quốc tế như Octavio Paz, Hose Hernandes, giải thưởng Quốc gia Chile và mới đây nhất là giải thưởng Cervantes- “giải Nobel của các nền văn học viết bằng tiếng Tây Ban Nha”- vì những đóng góp to lớn vào văn học ngôn ngữ Tây Ban Nha trong suốt nửa thế kỷ qua... Sáng tạo của nhà thơ này vừa mang dấu ấn của truyền thống Tây Ban Nha - Mỹ Latin, vừa chịu ảnh hưởng của nhiều bậc đại danh như nhà thơ Nicaragua đi tiên phong trong phong trào cách tân Ruben Dario, nhà thơ Peru theo chủ nghĩa xã hội Cezar Valleho, Nhà thơ Mexico độc đáo đoạt giải Nobel Octavio Paz, hai nhà thơ đồng hương Vicente Ujidobro và Pablo Neruda. Bản thân nhan đề các tập thơ đã xuất bản của ông (Hợp tuyển không khí, Chống lại cái chết, Chốn cư ngụ giữa Baltic...) đủ nói lên điều đó.
Tuổi cao sức yếu, Golzalo Rojas đi đâu ở đâu cũng “chịu” sự giám sát của người con trai - một tiến sĩ trong ngành Giáo dục. Theo lời mời của Viện Cervantes (Liên bang Nga), Gonzalo Rojas vừa sang thăm Matxcơva nên có cuộc trò chuyện này...
- Thưa ngài Rojas, hồi đó điều gì đã cổ vũ ngài, một thanh niên Chile làm thơ?
- Kể ra tôi không phải người Chile, mà là người Mỹ gốc Ibero. Không thể nói ra rằng với tôi đã có điều gì đó đặc biệt, chỉ đơn giản là hễ bắt đầu biết hít thở, anh đã biết rằng mình ở trong một hoàn cảnh nào đó như bị mê hoặc. Thế là anh trút vào trang giấy những dòng thơ sinh ra bởi hơi thở ấy và những suy tư nào đó nữa, tuy rằng không phải lúc nào cũng có được sự suy tư. Chúng tôi ở Chile không phải là lũ trẻ con của thành phố, mà là lũ trẻ con của thiên nhiên, có rất nhiều quan hệ gần gũi với thiên nhiên, cho nên phần lớn các nhà thơ Chile đều rất hồn nhiên. Bà Gabriela Mistran chẳng hạn, thơ của bà là đá, đầy chất đá xù xì góc cạnh. Chính cái vết va chạm ban đầu khi mới gặp bà đã tác động rất mạnh đến chúng tôi, và từ đó, có thể nói là khởi nguồn cho sự sáng tạo.
- Ngài đã rơi vào nhóm “Mandragora” như thế nào, và sự tham gia Hội văn chương đó có ý nghĩa như thế nào đối với ngài?
- Tôi gia nhập nhóm khi họ đã có ba người trẻ tuổi nhưng đều lớn hơn tôi. Đó là một nhóm siêu thực mà chúng tôi muốn dựng lên ở khu vực, để cho khu vực chúng tôi cũng có một chi nhánh của chủ nghĩa siêu thực thế giới. Khi ấy, các nhóm siêu thực đã tồn tại ở nhiều phần khác nhau của thế giới: Châu Âu, Bắc Mỹ, và ở Nam Mỹ nữa. Tại Chile, chủ nghĩa siêu thực xuất hiện muộn hơn, vào năm 1938. Đó là một năm hết sức ý nghĩa đối với không riêng chúng tôi, người Mỹ Latin, mà với cả châu Âu nữa, có thể cảm thấy rõ điều đó trong bầu không khí của Thế chiến thứ hai. Một hội như thế ở Pháp đã tan rã. Tôi là thành viên thứ tư của nhóm, nhưng được mười tháng sau thì bắt đầu rời nhóm bởi thấy nó giống như một hội văn học chung chung chứ không phải chuyên về thơ như tôi mong muốn. Sau đó tôi bôn ba khắp các thành phố tìm kiếm việc làm và lúc đó tôi hiểu ra rằng đấy chính là siêu thực.
- Năm 1968, Julio Cortazar có viết về ngài rằng: “Hãy trả lại cho thơ tất cả những gì mà thơ đã bị người ta cướp mất” và gọi ngài là “nhà thơ-người giải phóng”. Như thế có ngụ ý gì?
- ý ông ấy muốn nói rằng trong các tác phẩm, các sáng tạo của mình, tôi là một người vừa biết tiến lên vừa biết ngoái lại.
- Nghe nói ngài đã từng sống ở Trung Quốc và Liên Xô?
- Tôi sống ở Trung Quốc không lâu, năm 1953 tôi làm tùy viên văn hoá thuộc Đại sứ quán. Tôi thăm Liên Xô trên đường sang Trung Quốc, có ghé qua một số thủ đô của châu Âu như London, Paris và Matxcơva, không đặt sẵn một mục đích gì, chỉ là tham quan thành phố. Nhưng về sau, năm 1965, tôi có trở lại và còn giảng bài cho Đại học Tổng hợp Quốc gia Lomonosov.
- Có hồi ngài định tổ chức “Cuộc gặp gỡ các nhà văn toàn quốc lần thứ nhất” nhưng không được suôn sẻ cho lắm phải không?
- Thoạt đầu mọi chuyện thuận lợi, rất nhiều nhà văn toàn châu lục, có cả một số nhà thơ Mỹ nữa, cũng sang Chile. Bản thân tôi suốt trong những năm 1958-1962 cũng đã đến nhiều nước, đích thân gặp và mời các nhà văn, nhà thơ, vì chẳng phải ai cũng có điện thoại lúc ấy. Rồi cũng tiến hành được một số cuộc gặp gỡ-hội thảo. Nhưng xã hội lại coi đó chưa phải là phương cách tốt nhất, mọi người đều cho rằng tôi muốn tập hợp các nhà hoạt động văn học thế giới ở nước mình là nhằm hướng sự tập trung vào nền văn học của riêng quốc gia mình. Kịch liệt phản đối tôi là những người phái hữu, trong khi đó chính tôi lại thuộc phái ấy.
- Người ta thường gọi ngài là “nhà thơ phả hệ”, vì sao?
- Hừm... Có hàng loạt nhà thơ được sinh ra đã từ lâu, xuất thân từ quá khứ, từ thời cổ xưa, còn tôi thì trong một ý nghĩa nào đó, tôi muốn làm một nhà cách tân hơn. Tôi làm, nhưng lại không chịu chạy theo mốt, bởi bất kỳ mốt nào rồi cũng sẽ già đi. Trong một nhà thơ cần có hai thực thể: truyền thống và hiện đại. Tôi phấn đấu theo hướng đó. Song tôi không thể tự phong cho mình danh hiệu nhà thơ viết hoa và cũng không nhằm làm cho mình độc đáo. Thơ tôi chỉ là những bài tập dùng để luyện thanh cho một giọng hát vốn là cấu thành của dàn đồng ca.
- Ngài có cảm thấy rằng sau vô số giải thưởng uy tín ghi nhận thành tựu của ngài, liệu ngài có nhún mình quá không khi gọi đó là những bài thơ- bài tập?
- Tôi hoàn toàn không tin vào những giải thưởng và phần thưởng, tôi có vài chục giải rồi và tôi nào có để ý gì đến chúng đâu. Song, tôi đã thấy cái hang mà Cervantes từng sống và chết trong đó. Có ai cho Người đồng tiền nào đâu? Có ai trao giải thưởng cho Dostoievsky ở Nga? Có ai trao giải thưởng nào cho Kafka? Giải thưởng chẳng qua chỉ là cái tiếng. Con người có được ngôn ngữ là để giữ lại dấu vết- đó chính là một trong những ân sủng nguy hiểm nhất mà tạo hoá ban cho chúng ta. Vấn đề ở đây không phải là sự nhún mình, tôi có thể nói là tôi đã thực hiện được bổn phận của mình đối với thi ca, bởi đó là công việc khó khăn, nhưng chúng ta vẫn cứ nói rằng “Tôi yêu nàng bởi vì đó là cả một khó khăn”. Song bài tập này không khó đến mức khiến ta không dám thử sức. Thơ không thể hiện được tất cả, nhưng lại tiếp cận được những gì để biểu hiện chân lý, mà theo tôi nhớ, Vinhenschtein từng nói như thế này: “Hầu như tất cả - nhưng kỳ thực thì lại hơi khác”. Xin đừng cho rằng tôi muốn hạ thấp thơ. Thi ca- đó là một hành động thiêng liêng.
- Ngài có cảm thấy hiện nay ý nghĩa của thơ so với các thể loại văn học khác đang khá là thấp?
- Thơ hiện nay không chết mà còn sống hơn tất cả các sự sống khác, bởi làm thơ là công việc đồng thời, vừa khó khăn lại vừa thiêng liêng. Thơ tuyệt đối cần thiết để biểu hiện sự thật bằng ngôn ngữ.
- Có lần ngài đã nói rằng văn xuôi - đó cũng chính là một dạng của thi ca.
Ví dụ, những gì mà nhà văn Mexico Juan Rulfo đã viết- đó là văn xuôi chứ, nhưng kỳ thực lại còn là những câu thơ kỳ diệu nữa. Nói xa hơn, thì hãy nhìn xem: Cervantez về thực chất chính là một nhà thơ. Những gì Người đã viết trong Don Quixote đều có gốc rễ từ thi ca, đọc lên ta cảm thấy có vần có nhịp. Một lần tự nói về mình, Cervantez bảo là Người cố gắng bắt chước nhà thơ mà thôi, chứ không được trời phú cho tài thơ. Cũng với giọng tương tự, một người nữa nói lại- đó là nhà văn Argentina Jorge Luis Borgez. Ông là người cực kỳ tinh nghịch, bao giờ cũng giữ vị trí người ngoài cuộc để quan sát, theo dõi những gì mình đang làm, do đó sáng tạo của ông hàm chứa đầy sự sắc sảo mà vẫn duyên dáng. Đấy là một sự thật, các nhà thơ không thể nào diễn tả chính xác được một cái gì, nhưng hoá ra đó lại chính là một cách thể hiện chân lý. Nhà thơ càng giống nhà vật lý hơn nữa khi cũng chẳng nắm bắt đích xác một cái gì. Tôi có hỏi một số nhà vật lý: vật chất là gì - họ thành thực trả lời không rõ. Tôi hỏi thời gian là gì - họ bảo cũng không rõ nữa. Tựu trung lại, các nhà thơ - họ cũng là sinh linh ở cõi.
(Báo Văn nghệ)
Sự nghiệp văn chương của Gonzalo Rojas được ghi nhận bởi nhiều giải thưởng gắn liền với những danh tiếng quốc tế như Octavio Paz, Hose Hernandes, giải thưởng Quốc gia Chile và mới đây nhất là giải thưởng Cervantes- “giải Nobel của các nền văn học viết bằng tiếng Tây Ban Nha”- vì những đóng góp to lớn vào văn học ngôn ngữ Tây Ban Nha trong suốt nửa thế kỷ qua... Sáng tạo của nhà thơ này vừa mang dấu ấn của truyền thống Tây Ban Nha - Mỹ Latin, vừa chịu ảnh hưởng của nhiều bậc đại danh như nhà thơ Nicaragua đi tiên phong trong phong trào cách tân Ruben Dario, nhà thơ Peru theo chủ nghĩa xã hội Cezar Valleho, Nhà thơ Mexico độc đáo đoạt giải Nobel Octavio Paz, hai nhà thơ đồng hương Vicente Ujidobro và Pablo Neruda. Bản thân nhan đề các tập thơ đã xuất bản của ông (Hợp tuyển không khí, Chống lại cái chết, Chốn cư ngụ giữa Baltic...) đủ nói lên điều đó.
Tuổi cao sức yếu, Golzalo Rojas đi đâu ở đâu cũng “chịu” sự giám sát của người con trai - một tiến sĩ trong ngành Giáo dục. Theo lời mời của Viện Cervantes (Liên bang Nga), Gonzalo Rojas vừa sang thăm Matxcơva nên có cuộc trò chuyện này...
- Thưa ngài Rojas, hồi đó điều gì đã cổ vũ ngài, một thanh niên Chile làm thơ?
- Kể ra tôi không phải người Chile, mà là người Mỹ gốc Ibero. Không thể nói ra rằng với tôi đã có điều gì đó đặc biệt, chỉ đơn giản là hễ bắt đầu biết hít thở, anh đã biết rằng mình ở trong một hoàn cảnh nào đó như bị mê hoặc. Thế là anh trút vào trang giấy những dòng thơ sinh ra bởi hơi thở ấy và những suy tư nào đó nữa, tuy rằng không phải lúc nào cũng có được sự suy tư. Chúng tôi ở Chile không phải là lũ trẻ con của thành phố, mà là lũ trẻ con của thiên nhiên, có rất nhiều quan hệ gần gũi với thiên nhiên, cho nên phần lớn các nhà thơ Chile đều rất hồn nhiên. Bà Gabriela Mistran chẳng hạn, thơ của bà là đá, đầy chất đá xù xì góc cạnh. Chính cái vết va chạm ban đầu khi mới gặp bà đã tác động rất mạnh đến chúng tôi, và từ đó, có thể nói là khởi nguồn cho sự sáng tạo.
- Ngài đã rơi vào nhóm “Mandragora” như thế nào, và sự tham gia Hội văn chương đó có ý nghĩa như thế nào đối với ngài?
- Tôi gia nhập nhóm khi họ đã có ba người trẻ tuổi nhưng đều lớn hơn tôi. Đó là một nhóm siêu thực mà chúng tôi muốn dựng lên ở khu vực, để cho khu vực chúng tôi cũng có một chi nhánh của chủ nghĩa siêu thực thế giới. Khi ấy, các nhóm siêu thực đã tồn tại ở nhiều phần khác nhau của thế giới: Châu Âu, Bắc Mỹ, và ở Nam Mỹ nữa. Tại Chile, chủ nghĩa siêu thực xuất hiện muộn hơn, vào năm 1938. Đó là một năm hết sức ý nghĩa đối với không riêng chúng tôi, người Mỹ Latin, mà với cả châu Âu nữa, có thể cảm thấy rõ điều đó trong bầu không khí của Thế chiến thứ hai. Một hội như thế ở Pháp đã tan rã. Tôi là thành viên thứ tư của nhóm, nhưng được mười tháng sau thì bắt đầu rời nhóm bởi thấy nó giống như một hội văn học chung chung chứ không phải chuyên về thơ như tôi mong muốn. Sau đó tôi bôn ba khắp các thành phố tìm kiếm việc làm và lúc đó tôi hiểu ra rằng đấy chính là siêu thực.
- Năm 1968, Julio Cortazar có viết về ngài rằng: “Hãy trả lại cho thơ tất cả những gì mà thơ đã bị người ta cướp mất” và gọi ngài là “nhà thơ-người giải phóng”. Như thế có ngụ ý gì?
- ý ông ấy muốn nói rằng trong các tác phẩm, các sáng tạo của mình, tôi là một người vừa biết tiến lên vừa biết ngoái lại.
- Nghe nói ngài đã từng sống ở Trung Quốc và Liên Xô?
- Tôi sống ở Trung Quốc không lâu, năm 1953 tôi làm tùy viên văn hoá thuộc Đại sứ quán. Tôi thăm Liên Xô trên đường sang Trung Quốc, có ghé qua một số thủ đô của châu Âu như London, Paris và Matxcơva, không đặt sẵn một mục đích gì, chỉ là tham quan thành phố. Nhưng về sau, năm 1965, tôi có trở lại và còn giảng bài cho Đại học Tổng hợp Quốc gia Lomonosov.
- Có hồi ngài định tổ chức “Cuộc gặp gỡ các nhà văn toàn quốc lần thứ nhất” nhưng không được suôn sẻ cho lắm phải không?
- Thoạt đầu mọi chuyện thuận lợi, rất nhiều nhà văn toàn châu lục, có cả một số nhà thơ Mỹ nữa, cũng sang Chile. Bản thân tôi suốt trong những năm 1958-1962 cũng đã đến nhiều nước, đích thân gặp và mời các nhà văn, nhà thơ, vì chẳng phải ai cũng có điện thoại lúc ấy. Rồi cũng tiến hành được một số cuộc gặp gỡ-hội thảo. Nhưng xã hội lại coi đó chưa phải là phương cách tốt nhất, mọi người đều cho rằng tôi muốn tập hợp các nhà hoạt động văn học thế giới ở nước mình là nhằm hướng sự tập trung vào nền văn học của riêng quốc gia mình. Kịch liệt phản đối tôi là những người phái hữu, trong khi đó chính tôi lại thuộc phái ấy.
- Người ta thường gọi ngài là “nhà thơ phả hệ”, vì sao?
- Hừm... Có hàng loạt nhà thơ được sinh ra đã từ lâu, xuất thân từ quá khứ, từ thời cổ xưa, còn tôi thì trong một ý nghĩa nào đó, tôi muốn làm một nhà cách tân hơn. Tôi làm, nhưng lại không chịu chạy theo mốt, bởi bất kỳ mốt nào rồi cũng sẽ già đi. Trong một nhà thơ cần có hai thực thể: truyền thống và hiện đại. Tôi phấn đấu theo hướng đó. Song tôi không thể tự phong cho mình danh hiệu nhà thơ viết hoa và cũng không nhằm làm cho mình độc đáo. Thơ tôi chỉ là những bài tập dùng để luyện thanh cho một giọng hát vốn là cấu thành của dàn đồng ca.
- Ngài có cảm thấy rằng sau vô số giải thưởng uy tín ghi nhận thành tựu của ngài, liệu ngài có nhún mình quá không khi gọi đó là những bài thơ- bài tập?
- Tôi hoàn toàn không tin vào những giải thưởng và phần thưởng, tôi có vài chục giải rồi và tôi nào có để ý gì đến chúng đâu. Song, tôi đã thấy cái hang mà Cervantes từng sống và chết trong đó. Có ai cho Người đồng tiền nào đâu? Có ai trao giải thưởng cho Dostoievsky ở Nga? Có ai trao giải thưởng nào cho Kafka? Giải thưởng chẳng qua chỉ là cái tiếng. Con người có được ngôn ngữ là để giữ lại dấu vết- đó chính là một trong những ân sủng nguy hiểm nhất mà tạo hoá ban cho chúng ta. Vấn đề ở đây không phải là sự nhún mình, tôi có thể nói là tôi đã thực hiện được bổn phận của mình đối với thi ca, bởi đó là công việc khó khăn, nhưng chúng ta vẫn cứ nói rằng “Tôi yêu nàng bởi vì đó là cả một khó khăn”. Song bài tập này không khó đến mức khiến ta không dám thử sức. Thơ không thể hiện được tất cả, nhưng lại tiếp cận được những gì để biểu hiện chân lý, mà theo tôi nhớ, Vinhenschtein từng nói như thế này: “Hầu như tất cả - nhưng kỳ thực thì lại hơi khác”. Xin đừng cho rằng tôi muốn hạ thấp thơ. Thi ca- đó là một hành động thiêng liêng.
- Ngài có cảm thấy hiện nay ý nghĩa của thơ so với các thể loại văn học khác đang khá là thấp?
- Thơ hiện nay không chết mà còn sống hơn tất cả các sự sống khác, bởi làm thơ là công việc đồng thời, vừa khó khăn lại vừa thiêng liêng. Thơ tuyệt đối cần thiết để biểu hiện sự thật bằng ngôn ngữ.
- Có lần ngài đã nói rằng văn xuôi - đó cũng chính là một dạng của thi ca.
Ví dụ, những gì mà nhà văn Mexico Juan Rulfo đã viết- đó là văn xuôi chứ, nhưng kỳ thực lại còn là những câu thơ kỳ diệu nữa. Nói xa hơn, thì hãy nhìn xem: Cervantez về thực chất chính là một nhà thơ. Những gì Người đã viết trong Don Quixote đều có gốc rễ từ thi ca, đọc lên ta cảm thấy có vần có nhịp. Một lần tự nói về mình, Cervantez bảo là Người cố gắng bắt chước nhà thơ mà thôi, chứ không được trời phú cho tài thơ. Cũng với giọng tương tự, một người nữa nói lại- đó là nhà văn Argentina Jorge Luis Borgez. Ông là người cực kỳ tinh nghịch, bao giờ cũng giữ vị trí người ngoài cuộc để quan sát, theo dõi những gì mình đang làm, do đó sáng tạo của ông hàm chứa đầy sự sắc sảo mà vẫn duyên dáng. Đấy là một sự thật, các nhà thơ không thể nào diễn tả chính xác được một cái gì, nhưng hoá ra đó lại chính là một cách thể hiện chân lý. Nhà thơ càng giống nhà vật lý hơn nữa khi cũng chẳng nắm bắt đích xác một cái gì. Tôi có hỏi một số nhà vật lý: vật chất là gì - họ thành thực trả lời không rõ. Tôi hỏi thời gian là gì - họ bảo cũng không rõ nữa. Tựu trung lại, các nhà thơ - họ cũng là sinh linh ở cõi.
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,