Mấy căn bệnh trong phê bình văn học Trung Quốc gần đây
Theo tổng thuật của Báo văn nghệ, Nghiên cứu Văn nghệ Trung Quốc gần đây, giới phê bình văn học là vũ khí quan trọng làm cho sự nghiệp văn học phát triển phồn vinh. Có không ít nhà phê bình với tinh thần trách nhiệm cao đang làm việc ngày đêm, thành tích của họ đã trở thành dòng chính lành mạnh trong công tác phê bình. Nhưng trong giới phê bình cũng có không ít khuyết điểm không thể bỏ qua được. Báo chí gần đây cũng có nhiều bài lên tiếng phê phán giới phê bình văn học, có báo còn mở chuyên mục thảo luận về phê bình văn học. Điều đó chứng tỏ quần chúng rất quan tâm đến sự nghiệp phê bình văn học.
Nhà văn lão thành Tô Lê luôn quan tâm đến sự nghiệp phê bình văn học. Ông từng chỉ ra rằng: "Những bài viết gần đây chỉ có hai kiểu, một là thổi nịnh không biết ngượng mồm, hai là chế tác văn từ, chế tác chủ nghĩa, khiên cưỡng gán ghép, chẳng ra làm sao cả". "Những năm gần đây, bình luận văn học biến thành thổi nịnh, cố ý làm cho người ta bị mê hoặc, thoát ly thực tế. Con đường của nhà văn chỉ là ra vào trong tửu điếm, lên xuống khán đài lĩnh thưởng. Việc mất đi sự phê bình văn học chân chính, làm cho tác phẩm giả tạo kém cỏi tràn ngập thị trường". Các báo phê phán hiện trạng phê bình văn học, chủ yếu ở mấy mặt: Đánh mất chức năng phê bình, vô trách nhiệm trong phê bình, phê bình biến thành nô lệ của đồng tiền.v.v…
Đánh mất chức năng phê bình. Có nhiều bài dùng từ "khuyết chỗ" để khái quát hiện tượng bỏ mất chức năng phê bình đối với hiện tượng văn học phức tạp. Có người nói từ thập kỷ 90 trở lại đây, sáng tác ngày một phong phú phức tạp, càng cần đến đội ngũ phê bình phát huy sức mạnh tự thân, nhưng phê bình phản ứng chậm chạp, hiện nay là thời kỳ tính chủ thể của phê bình đang mất đi một cách thảm hại. Có người nói: "Năm 1993 có một số tiểu thuyết được mọi người đua nhau tìm đọc; đặc biệt là truyện dài, thế mà giới phê bình chân chính không hề lên tiếng. Báo chí đưa tin ầm lên, còn giới phê bình thì im lặng, bỏ mất chức trách của mình". Giới phê bình đã đánh mất hoặc yếu dần ý thức chủ thể, ý thức độc lập và ý thức khoa học trong phê bình.
Thiếu trách nhiệm trong phê bình. Thiếu trách nhiệm biểu hiện nổi bật ở sự "thổi nịnh", "bốc thơm". Có người nói: "Có nhà bình luận đã trở thành công cụ của sự "thổi nịnh", "bốc thơm". Đó là căn bệnh ung thư của các nhà phê bình. Giá trị tự thân của tác phẩm văn học nghệ thuật dường như không được bình luận công tâm mà thường dựa vào sự "lừa phỉnh" mang tính chất thương trường để định giá. Các báo đua nhau gọi sự "phỉnh nịnh" đó bằng một tên mỹ miều là "đóng gói". Dưới phong trào "đóng gói" thời thượng đó, không những khiếm khuyết thậm chí thất bại trong sáng tác của một số nhà văn mà những ưu điểm thành công trong sáng tác của nhà văn khác cũng không được bình luận công bằng với thái độ chân thành, từ đó làm cho một số nhà văn trở nên hoang mang.
Quý tộc hoá phê bình. Mọi người dùng từ "chơi" để miêu tả một cách hình tượng khuynh hướng quý tộc hoá trong phê bình. Có người cho rằng, cơ cấu theo kiểu du hý của giới phê bình dẫn đến tình trạng làm cho "tự ngã" của chủ thể phê bình mất phương hướng. Họ nói: Giới phê bình có khuynh hướng thích ăn sống nuốt tươi phương pháp phê bình của phương Tây, đưa ra những thuật ngữ, những hình thức tân kỳ xa lạ. Phương pháp mới, hình thức mới cố nhiên là giúp cho phê bình đi sâu vào văn bản, nhưng trào lưu phê bình hình thức chủ nghĩa với những mỹ từ kiểu du hý thì không có cách gì che lấp được sự phê bình ngày một xuống dốc và bất lực. Nhất là phê bình hình thức chủ nghĩa dẫn đến sự lũng đoạn trong phê bình, phê bình trở thành cuộc so tài trí tuệ Olympic của một số ít người sáng tạo ra những từ mới lạ, như phê bình phái tiên phong, phê bình hậu hiện đại. Đại chúng thì không biết đâu mà lần, thuần tuý trở thành người ngoài cuộc đứng coi. Cuối cùng giới phê bình đứng một mình ở chỗ không người và dần dần bị người đời quên lãng. Có người cho rằng có một số nhà phê bình rất sợ bàn đến những vấn đề xã hội, nhân sinh, tình cảm cao thượng v.v… mà chạy sang kỹ xảo phê bình của phương Tây, chìm đắm trong hệ thống mật mã như thần chú, xa lạ với quần chúng và cường điệu phê bình không nên có bất cứ một trách nhiệm xã hội nào. Có người đề cập đến vấn đề phê bình văn học thông tục. Họ cho rằng ngày nay số lượng tác phẩm văn học thông tục ngày một nhiều, ngày càng có nhiều nhà văn nghiêm túc lao vào sáng tác loại văn học đó, nhưng giới phê bình tỏ ra coi thường nó, né tránh hiện tượng đó, ngăn trở sự giao lưu giữa giới phê bình và quảng đại độc giả, làm cho nền phê bình bị thu hẹp lại và mỗi ngày một xa cuộc sống sôi động. Họ kêu gọi các nhà phê bình hãy thoát ra khỏi tháp ngà, hãy phê bình nghiêm túc và sâu sắc đối với văn học thông tục.
Phê bình biến thành nô lệ của đồng tiền. Có người miêu tả một cách hình ảnh lối phê bình để kiếm lời như sau: "Những cuộc toạ đàm do người có tiền tổ chức, các nhà phê bình nhận được giấy mời có giá trị như tờ ngân phiếu vội vàng đến họp, rồi phát biểu những lời giả dối làm cho người có tiền sung sướng". "Phê bình văn nghệ bất giác trở thành vật có giá, trở thành vợ bé lắm tiền, trở thành tặng phẩm cho các anh chị". "Phê bình văn nghệ bị ô nhiễm bởi thói con buôn, do đó nó mất đi phẩm chất cao quý vốn có của nó". Trước tình hình đó, độc giả không trông mong được ở nhà phê bình có một lập trường khách quan. Hiện nay các cuộc hội thảo về tác phẩm đều có "phong bao" cho các nhà phê bình và trở thành thông lệ. Tại sao phê bình văn học bây giờ lại mắc căn bệnh trầm trọng đó, có nhiều bài báo đã chẩn đoán khá tỉ mỉ.
Mất phương hướng. Có người cho rằng, muốn cải tiến công tác phê bình văn nghệ, đầu tiên là phải giải quyết vấn đề phương hướng. Họ nói: "Phê bình cần tài năng, nhưng cái căn bản nhất lại là tinh thần trách nhiệm và ý thức sứ mạng đối với nhân dân và sự nghiệp. Dùng một câu nói cũ tức là "tinh thần phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội". Không có phẩm chất đó thì tài năng, học thức cũng có thể vận dụng sai lệch. Có người nói, nhà phê bình chuyên nghiệp ngoài việc cần có khả năng thẩm định nghệ thuật chắc chắn, còn cần phải có ý thức tôn trọng nghề nghiệp, phải có thái độ tự trọng trong việc sử dụng cái quyền giải thích tác phẩm. Có người cho rằng chỗ đứng của công tác phê bình còn chưa được giải quyết, thì nhà phê bình sẽ không hứng thú với những ý kiến của quần chúng. Cần nhấn mạnh việc các nhà phê bình hãy lắng nghe nhiều những ý kiến của nhân dân đối với văn học nghệ thuật.
Bị mê hoặc trước lý luận văn học phương Tây. Có người chỉ ra những thuật ngữ "ngụ ngôn", "phản phúng", "kết cấu", "lạ hoá", "nhị nguyên đối lập", "chủ nghĩa hiện đại"… trong lý luận của phái Học viện đều lấy từ lý luận văn học hiện đại phương Tây, và do nguyên nhân thanh thế lớn mạnh của văn hoá phương Tây, nguyện vọng bức thiết đi tìm sự tiếp nối với học thuật quốc tế, khát vọng được tổ chức học thuật Âu Mỹ thừa nhận, thậm chí kết nạp càng làm cho những thuật ngữ trên được các nhà phê bình Trung Quốc ưa dùng. Họ chỉ ra "khi lặp lại ngôn ngữ của đối phương thì đồng thời các nhà phê bình bị chìm lấp". Trong đối thoại, các nhà phê bình rất ít có tiếng nói của mình. Họ vô tình hay hữu ý đóng vai trò đội thu dung, đưa những thứ mình đọc được xếp bừa vào "chủ nghĩa hiện thực huyền ảo", "dòng ý thức", "giải cấu" hoặc "hậu hiện đại"…
Thiếu tư tưởng và lý luận của mình. Có người nói: "Các nhà phê bình chúng ta không có tư tưởng phê bình của mình, những điều tổng kết trong hiện thực, những điều đề xuất từ trong hiện tượng văn học của các nhà phê bình rất là hạn chế". "Do thiếu cơ sở lý luận, chúng ta chỉ bê lý luận của nước ngoài vào, thêm vào đó vấn đề Trung Quốc hoá lý luận chưa giải quyết thành công, phê bình rơi vào trạng thái du kích, nay Jameson, mai Loytard, ngày kia Haller hoặc Hassan, bề ngoài ra vẻ rất phong phú nhưng kỳ thực không thể che lấp sự nghèo nàn về tư tưởng". Có người cho rằng vấn đề phê bình còn đề cập đến vấn đề tố chất tu dưỡng của những người làm văn học đương đại. Họ nói: "Trong những người nghiên cứu trẻ, có mấy người đã nắm được kinh, sư, tử, tập, thích, đạo, thiền? Có mấy người tinh thông được vài ngoại ngữ? Nếu chưa thì làm sao có thể bàn đến cổ kim đông tây được?" Có người nói: "Sở dĩ phê bình hiện nay ảm đạm buồn tẻ là vì thiếu sự phản tỉnh tự ngã, cứ mặc cho phê bình vàng thau lẫn lộn, đối với phê bình và phê bình của phê bình thiếu một quy phạm lý luận. Muốn cho phê bình xác đáng tâm phục khẩu phục thì lý luận phải được chỉ đạo cẩn thận".
Bối cảnh văn hoá xã hội hài hoà. Có người cho rằng, phê bình văn học cần phải có hệ thống lý luận của mình, nhưng xây dựng lý luận cần có cơ sở lý luận khác làm cơ sở, "bước vào thập kỷ 90, khoa học nhân văn của chúng ta thiếu sự đột phá lớn, triết học vẫn nghèo nàn, tâm lý học không tiến lên được, điều đó ảnh hưởng sâu sắc đến phê bình văn học". Có người nói: "ở Trung Quốc, một quốc gia mà tố chất văn hoá của quốc dân còn thấp thì "phê bình kiểu xào xáo" vẫn dễ dàng tồn tại". Có người nói: "Mầm mống bệnh thái của phê bình phần lớn là vì chúng ta hiện nay đang bước vào thời kỳ xã hội chuyển biến từ kinh tế kế hoạch truyền thống sang kinh tế thị trường. Chúng ta đang tiến lên theo phương hướng kinh tế thị trường thì sự phát triển của phê bình văn học chúng ta cũng cần phải đảm bảo cho cơ chế vận hành ngoại tại tương ứng".
Có không ít bài viết nêu lên những ý kiến mang tính xây dựng với việc phát triển nền phê bình văn học, hy vọng nhà phê bình tích cực thâm nhập vào thực tế sáng tác văn học, đứng vững trên tầm cao tư tưởng Macxit, đứng trên lập trường nhân dân đại chúng, dùng tiêu chuẩn mỹ học và lịch sử để phê bình tác phẩm, hay thì nói là hay, dở thì nói là dở, triển khai nền phê bình văn học xã hội chủ nghĩa một cách lành mạnh.
Lê Huy Tiêu
Theo tổng thuật của Báo văn nghệ, Nghiên cứu Văn nghệ Trung Quốc gần đây, giới phê bình văn học là vũ khí quan trọng làm cho sự nghiệp văn học phát triển phồn vinh. Có không ít nhà phê bình với tinh thần trách nhiệm cao đang làm việc ngày đêm, thành tích của họ đã trở thành dòng chính lành mạnh trong công tác phê bình. Nhưng trong giới phê bình cũng có không ít khuyết điểm không thể bỏ qua được. Báo chí gần đây cũng có nhiều bài lên tiếng phê phán giới phê bình văn học, có báo còn mở chuyên mục thảo luận về phê bình văn học. Điều đó chứng tỏ quần chúng rất quan tâm đến sự nghiệp phê bình văn học.
Nhà văn lão thành Tô Lê luôn quan tâm đến sự nghiệp phê bình văn học. Ông từng chỉ ra rằng: "Những bài viết gần đây chỉ có hai kiểu, một là thổi nịnh không biết ngượng mồm, hai là chế tác văn từ, chế tác chủ nghĩa, khiên cưỡng gán ghép, chẳng ra làm sao cả". "Những năm gần đây, bình luận văn học biến thành thổi nịnh, cố ý làm cho người ta bị mê hoặc, thoát ly thực tế. Con đường của nhà văn chỉ là ra vào trong tửu điếm, lên xuống khán đài lĩnh thưởng. Việc mất đi sự phê bình văn học chân chính, làm cho tác phẩm giả tạo kém cỏi tràn ngập thị trường". Các báo phê phán hiện trạng phê bình văn học, chủ yếu ở mấy mặt: Đánh mất chức năng phê bình, vô trách nhiệm trong phê bình, phê bình biến thành nô lệ của đồng tiền.v.v…
Đánh mất chức năng phê bình. Có nhiều bài dùng từ "khuyết chỗ" để khái quát hiện tượng bỏ mất chức năng phê bình đối với hiện tượng văn học phức tạp. Có người nói từ thập kỷ 90 trở lại đây, sáng tác ngày một phong phú phức tạp, càng cần đến đội ngũ phê bình phát huy sức mạnh tự thân, nhưng phê bình phản ứng chậm chạp, hiện nay là thời kỳ tính chủ thể của phê bình đang mất đi một cách thảm hại. Có người nói: "Năm 1993 có một số tiểu thuyết được mọi người đua nhau tìm đọc; đặc biệt là truyện dài, thế mà giới phê bình chân chính không hề lên tiếng. Báo chí đưa tin ầm lên, còn giới phê bình thì im lặng, bỏ mất chức trách của mình". Giới phê bình đã đánh mất hoặc yếu dần ý thức chủ thể, ý thức độc lập và ý thức khoa học trong phê bình.
Thiếu trách nhiệm trong phê bình. Thiếu trách nhiệm biểu hiện nổi bật ở sự "thổi nịnh", "bốc thơm". Có người nói: "Có nhà bình luận đã trở thành công cụ của sự "thổi nịnh", "bốc thơm". Đó là căn bệnh ung thư của các nhà phê bình. Giá trị tự thân của tác phẩm văn học nghệ thuật dường như không được bình luận công tâm mà thường dựa vào sự "lừa phỉnh" mang tính chất thương trường để định giá. Các báo đua nhau gọi sự "phỉnh nịnh" đó bằng một tên mỹ miều là "đóng gói". Dưới phong trào "đóng gói" thời thượng đó, không những khiếm khuyết thậm chí thất bại trong sáng tác của một số nhà văn mà những ưu điểm thành công trong sáng tác của nhà văn khác cũng không được bình luận công bằng với thái độ chân thành, từ đó làm cho một số nhà văn trở nên hoang mang.
Quý tộc hoá phê bình. Mọi người dùng từ "chơi" để miêu tả một cách hình tượng khuynh hướng quý tộc hoá trong phê bình. Có người cho rằng, cơ cấu theo kiểu du hý của giới phê bình dẫn đến tình trạng làm cho "tự ngã" của chủ thể phê bình mất phương hướng. Họ nói: Giới phê bình có khuynh hướng thích ăn sống nuốt tươi phương pháp phê bình của phương Tây, đưa ra những thuật ngữ, những hình thức tân kỳ xa lạ. Phương pháp mới, hình thức mới cố nhiên là giúp cho phê bình đi sâu vào văn bản, nhưng trào lưu phê bình hình thức chủ nghĩa với những mỹ từ kiểu du hý thì không có cách gì che lấp được sự phê bình ngày một xuống dốc và bất lực. Nhất là phê bình hình thức chủ nghĩa dẫn đến sự lũng đoạn trong phê bình, phê bình trở thành cuộc so tài trí tuệ Olympic của một số ít người sáng tạo ra những từ mới lạ, như phê bình phái tiên phong, phê bình hậu hiện đại. Đại chúng thì không biết đâu mà lần, thuần tuý trở thành người ngoài cuộc đứng coi. Cuối cùng giới phê bình đứng một mình ở chỗ không người và dần dần bị người đời quên lãng. Có người cho rằng có một số nhà phê bình rất sợ bàn đến những vấn đề xã hội, nhân sinh, tình cảm cao thượng v.v… mà chạy sang kỹ xảo phê bình của phương Tây, chìm đắm trong hệ thống mật mã như thần chú, xa lạ với quần chúng và cường điệu phê bình không nên có bất cứ một trách nhiệm xã hội nào. Có người đề cập đến vấn đề phê bình văn học thông tục. Họ cho rằng ngày nay số lượng tác phẩm văn học thông tục ngày một nhiều, ngày càng có nhiều nhà văn nghiêm túc lao vào sáng tác loại văn học đó, nhưng giới phê bình tỏ ra coi thường nó, né tránh hiện tượng đó, ngăn trở sự giao lưu giữa giới phê bình và quảng đại độc giả, làm cho nền phê bình bị thu hẹp lại và mỗi ngày một xa cuộc sống sôi động. Họ kêu gọi các nhà phê bình hãy thoát ra khỏi tháp ngà, hãy phê bình nghiêm túc và sâu sắc đối với văn học thông tục.
Phê bình biến thành nô lệ của đồng tiền. Có người miêu tả một cách hình ảnh lối phê bình để kiếm lời như sau: "Những cuộc toạ đàm do người có tiền tổ chức, các nhà phê bình nhận được giấy mời có giá trị như tờ ngân phiếu vội vàng đến họp, rồi phát biểu những lời giả dối làm cho người có tiền sung sướng". "Phê bình văn nghệ bất giác trở thành vật có giá, trở thành vợ bé lắm tiền, trở thành tặng phẩm cho các anh chị". "Phê bình văn nghệ bị ô nhiễm bởi thói con buôn, do đó nó mất đi phẩm chất cao quý vốn có của nó". Trước tình hình đó, độc giả không trông mong được ở nhà phê bình có một lập trường khách quan. Hiện nay các cuộc hội thảo về tác phẩm đều có "phong bao" cho các nhà phê bình và trở thành thông lệ. Tại sao phê bình văn học bây giờ lại mắc căn bệnh trầm trọng đó, có nhiều bài báo đã chẩn đoán khá tỉ mỉ.
Mất phương hướng. Có người cho rằng, muốn cải tiến công tác phê bình văn nghệ, đầu tiên là phải giải quyết vấn đề phương hướng. Họ nói: "Phê bình cần tài năng, nhưng cái căn bản nhất lại là tinh thần trách nhiệm và ý thức sứ mạng đối với nhân dân và sự nghiệp. Dùng một câu nói cũ tức là "tinh thần phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội". Không có phẩm chất đó thì tài năng, học thức cũng có thể vận dụng sai lệch. Có người nói, nhà phê bình chuyên nghiệp ngoài việc cần có khả năng thẩm định nghệ thuật chắc chắn, còn cần phải có ý thức tôn trọng nghề nghiệp, phải có thái độ tự trọng trong việc sử dụng cái quyền giải thích tác phẩm. Có người cho rằng chỗ đứng của công tác phê bình còn chưa được giải quyết, thì nhà phê bình sẽ không hứng thú với những ý kiến của quần chúng. Cần nhấn mạnh việc các nhà phê bình hãy lắng nghe nhiều những ý kiến của nhân dân đối với văn học nghệ thuật.
Bị mê hoặc trước lý luận văn học phương Tây. Có người chỉ ra những thuật ngữ "ngụ ngôn", "phản phúng", "kết cấu", "lạ hoá", "nhị nguyên đối lập", "chủ nghĩa hiện đại"… trong lý luận của phái Học viện đều lấy từ lý luận văn học hiện đại phương Tây, và do nguyên nhân thanh thế lớn mạnh của văn hoá phương Tây, nguyện vọng bức thiết đi tìm sự tiếp nối với học thuật quốc tế, khát vọng được tổ chức học thuật Âu Mỹ thừa nhận, thậm chí kết nạp càng làm cho những thuật ngữ trên được các nhà phê bình Trung Quốc ưa dùng. Họ chỉ ra "khi lặp lại ngôn ngữ của đối phương thì đồng thời các nhà phê bình bị chìm lấp". Trong đối thoại, các nhà phê bình rất ít có tiếng nói của mình. Họ vô tình hay hữu ý đóng vai trò đội thu dung, đưa những thứ mình đọc được xếp bừa vào "chủ nghĩa hiện thực huyền ảo", "dòng ý thức", "giải cấu" hoặc "hậu hiện đại"…
Thiếu tư tưởng và lý luận của mình. Có người nói: "Các nhà phê bình chúng ta không có tư tưởng phê bình của mình, những điều tổng kết trong hiện thực, những điều đề xuất từ trong hiện tượng văn học của các nhà phê bình rất là hạn chế". "Do thiếu cơ sở lý luận, chúng ta chỉ bê lý luận của nước ngoài vào, thêm vào đó vấn đề Trung Quốc hoá lý luận chưa giải quyết thành công, phê bình rơi vào trạng thái du kích, nay Jameson, mai Loytard, ngày kia Haller hoặc Hassan, bề ngoài ra vẻ rất phong phú nhưng kỳ thực không thể che lấp sự nghèo nàn về tư tưởng". Có người cho rằng vấn đề phê bình còn đề cập đến vấn đề tố chất tu dưỡng của những người làm văn học đương đại. Họ nói: "Trong những người nghiên cứu trẻ, có mấy người đã nắm được kinh, sư, tử, tập, thích, đạo, thiền? Có mấy người tinh thông được vài ngoại ngữ? Nếu chưa thì làm sao có thể bàn đến cổ kim đông tây được?" Có người nói: "Sở dĩ phê bình hiện nay ảm đạm buồn tẻ là vì thiếu sự phản tỉnh tự ngã, cứ mặc cho phê bình vàng thau lẫn lộn, đối với phê bình và phê bình của phê bình thiếu một quy phạm lý luận. Muốn cho phê bình xác đáng tâm phục khẩu phục thì lý luận phải được chỉ đạo cẩn thận".
Bối cảnh văn hoá xã hội hài hoà. Có người cho rằng, phê bình văn học cần phải có hệ thống lý luận của mình, nhưng xây dựng lý luận cần có cơ sở lý luận khác làm cơ sở, "bước vào thập kỷ 90, khoa học nhân văn của chúng ta thiếu sự đột phá lớn, triết học vẫn nghèo nàn, tâm lý học không tiến lên được, điều đó ảnh hưởng sâu sắc đến phê bình văn học". Có người nói: "ở Trung Quốc, một quốc gia mà tố chất văn hoá của quốc dân còn thấp thì "phê bình kiểu xào xáo" vẫn dễ dàng tồn tại". Có người nói: "Mầm mống bệnh thái của phê bình phần lớn là vì chúng ta hiện nay đang bước vào thời kỳ xã hội chuyển biến từ kinh tế kế hoạch truyền thống sang kinh tế thị trường. Chúng ta đang tiến lên theo phương hướng kinh tế thị trường thì sự phát triển của phê bình văn học chúng ta cũng cần phải đảm bảo cho cơ chế vận hành ngoại tại tương ứng".
Có không ít bài viết nêu lên những ý kiến mang tính xây dựng với việc phát triển nền phê bình văn học, hy vọng nhà phê bình tích cực thâm nhập vào thực tế sáng tác văn học, đứng vững trên tầm cao tư tưởng Macxit, đứng trên lập trường nhân dân đại chúng, dùng tiêu chuẩn mỹ học và lịch sử để phê bình tác phẩm, hay thì nói là hay, dở thì nói là dở, triển khai nền phê bình văn học xã hội chủ nghĩa một cách lành mạnh.
Lê Huy Tiêu
Love mickey,