Nhân đọc người lính - nhà văn của Hồng Diệu .
Nguyễn Thanh Tú
Câu “Văn là người” thật đúng với nhà phê bình văn học Hồng Diệu: giản dị, đúng mực, ưa sự dứt khoát, sẵn sàng đối thoại để bảo vệ đến cùng chính kiến của mình, dù có phần cực đoan (cực đoan hiểu theo một nghĩa nào đó). Theo tôi, đó là một cá tính mà cả ở trong văn lẫn ở ngoài đời đều đáng quý.
Hồng Diệu đến với phê bình văn chương không hề tình cờ, mà bằng một niềm đam mê có từ nhỏ. Lớn lên, vào bộ đội, làm cái nghề xa lạ với văn chương, nhưng say văn mà bước vào làng lý luận phê bình văn học với mấy bài phê bình (đăng ở báo Văn nghệ). Tuy là những bài đầu tiên nhưng chúng đã làm nhiều người chú ý và tạo được dư luận. Hồng Diệu trở thành thành viên của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, một tạp chí có uy tín, biên tập và làm trưởng ban lý luận phê bình, gần đây chuyển sang phụ trách trang Văn học nước ngoài (công việc ấy cũng thật hợp với anh vì cái vốn tiếng Nga và tiếng Trung Quốc được đào tạo ở nhà trường quân đội và ở cả nước ngoài). Cho đến nay, Hồng Diệu đã có ba tập phê bình tiểu luận: Nhà văn - trang sách (1993), Phía sau dòng chữ (1997), Người lính - nhà văn (1998); trong đó Người lính - nhà văn là tập lý luận phê bình văn học được giải thưởng Bộ Quốc phòng năm năm 1994 - 1999. Cuối năm 2003 vừa rồi, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân tái bản tập Người lính - nhà văn, có chọn lọc bổ sung một số bài từ hai tập trước. Như vậy, tập Người lính- nhà văn in năm 2003 không phải tuyển tập, mà là tuyển chọn các bài tiểu luận phê bình của Hồng Diệu từ năm 1977 đến năm 1998.
Có một đặc điểm chung của nhiều nhà văn quân đội hiện đang tại ngũ, theo tôi biết, là vững vàng về tư tưởng, già dặn về bản lĩnh, mà biểu hiện cụ thể ở họ là khẳng định một cách mạnh mẽ, đồng thời đấu tranh triệt để với những quan điểm lệch lạc, phiến diện để bảo vệ thành quả của văn học cách mạng. Điều đáng quý là khi khẳng định hay đấu tranh, họ đều dựa trên tình lý rõ ràng, chứ không hề chung chung. Với Hồng Diệu, anh đã khẳng định một cách thuyết phục quan điểm của mình khi cho rằng các nhà thơ cầm súng những năm chống Mỹ đã đưa thơ lên một vị trí nổi nhất, cao nhất so với đương thời, và trong dàn đồng ca thơ khoẻ mạnh ấy, xuất hiện những nhà thơ độc đáo. Như một hệ quả của ý thức tư tưởng chính trị, ở Hồng Diệu có một cách phê bình khoa học, khách quan, thiên về lý trí, tỉnh táo, chặt chẽ. Với cái nhìn toàn diện, hệ thống, anh không đồng tình với cách nghiên cứu của một nhà phê bình chỉ muốn thấy các đỉnh cao của lịch sử văn học. Anh rất có lý khi cho rằng, các nhà nghiên cứu, giảng dạy văn học, ngoài việc “nhìn thấy những đỉnh cao” còn phải có trách nhiệm “nhìn thấy cả những đỉnh thấp và cả mặt bằng”. Cái bất cập ở văn phê bình của anh lại nằm ngay trong thế mạnh này. Nếu có thể hình dung phê bình văn học như một dòng sông chảy giữa đôi bờ khoa học và nghệ thuật, thì theo ý riêng tôi, Hồng Diệu luôn cùng con thuyền văn của mình không xuôi ở giữa dòng mà thường men theo bờ khoa học, bờ của lý trí. Điều ấy làm cho văn anh rõ ràng, rạch ròi, chắc chắn, nhưng thiếu một sự uyển chuyển mềm mại, đôi chỗ sa vào duy lý khô khan. Hồng Diệu viết không nhiều, mấy chục năm cầm bút, đến nay mới có ba quyển sách in riêng, cho dù năm nay anh sắp có một tập mới nữa thì tổng số có lẽ cũng chưa đến một ngàn trang; theo tôi, cũng đúng với “tạng” phê bình của anh: cẩn trọng quá nên viết ít, nhưng bù lại, chắc và tinh.
Hai mái chèo để Hồng Diệu chèo lái con thuyền phê bình của mình, theo tôi là quan điểm duy vật (cả duy vật lịch sử và duy vật biện chứng) và hướng nghiên cứu bản thể luận. Người chèo thuyền thạo nghề biết lúc nào chỉ cần dùng một mái chèo để giữ sức, lúc nào phải dùng cả hai để đưa thuyền đi nhanh. Hồng Diệu là người đã “thạo nghề” phê bình, khi anh đứng trên quan điểm lịch sử để đấu tranh với những người hoặc vô tình hoặc cố ý phủ nhận những niềm vui, những tiếng cười, những cái đẹp của thơ bộ đội thời chống Mỹ hay theo hướng nghiên cứu bản thể để tìm ra nét riêng, nét độc đáo của sự đối xứng trong văn học, hay luật bằng trắc trong thơ... Nhưng cái in rõ bản sắc Hồng Diệu nhất, để lại dấu ấn nơi bạn đọc là ở những bài anh dùng cả hai “mái chèo” một cách nhịp nhàng, nhuần nhuyễn (Nửa thế kỷ văn học, nhìn từ một đặc điểm quan trọng, Mấy ý nghĩ về thơ bộ đội…, Nét riêng của thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, Mấy cái lạ ở trường hợp thơ Phùng Khắc Bắc, Lời chúc tác giả tập thơ “Lời chúc”…) Tôi cứ hình dung, đứng trước một vấn đề văn học, tư duy phê bình của Hồng Diệu sẽ có mấy thao tác sau: đi sâu vào cấu trúc bản thể; đặt trong sự vận động, phát triển; đặt trong thời điểm lịch sử cụ thể; đặt trong thế đối chiếu so sánh. Vì vậy, anh khen chê đều đích đáng. Anh khen rất có cơ sở thơ Phạm Tiến Duật, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phùng Khắc Bắc... và chê rất có lý, chê không cãi được, thơ của các cây đại thụ Huy Cận (trong Những câu thơ bắc cầu), Xuân Diệu (trong tập thơ Hồn tôi đôi cánh)… phản bác có sức thuyết phục nhận định của các nhà nghiên cứu như GS Lê Đình Kỵ khi ông suy diễn về một bài thơ của Nguyễn Bính; hay GS Phan Ngọc khi ông có một số nhận định thiếu chuẩn xác về ca dao, vè, thành ngữ, Truyện Kiều hay Thơ mới; và GS Phong Lê, khi ông cho rằng trong thơ cách mạng “không có lấy một bài buồn”... Trong lập luận, Hồng Diệu không quanh co dài dòng, mà thường có một lối văn ngắn gọn, rõ ràng, đi thẳng vào vấn đề mà mình phát hiện hay đề cập. (Đặc điểm này còn thấy khi anh tham gia bàn về các vấn đề của đời sống xã hội, như cần phải có sự xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng của người phát ngôn Bộ Ngoại giao, hay những việc cần làm ngay để bóng đá Việt Nam phát triển - những bài này đều đã đăng báo Văn nghệ).
Hồng Diệu viết phê bình khá đa dạng, cả văn học trong nước và văn học nước ngoài, hướng tới nhiều thể loại, nhưng dễ thấy thể loại ưa thích và cũng là đóng góp của anh là ở hai lĩnh vực phê bình thơ và dựng chân dung văn học. Đây là ngòi bút có khả năng khám phá khá tinh tế các chi tiết ở cõi vi mô, phát hiện được cái đặc sắc riêng về cái nhìn, về cách cảm nhận cuộc sống của nhà thơ, từ đó phác hoạ một phong cách thơ, gọi ra được cái hồn cốt riêng ở mỗi tập thơ, bài thơ. Các bài viết về tập thơ Giữa những ngày xuân của Tế Hanh, Hồn tôi đôi cánh của Xuân Diệu và thơ Tố Hữu… là những bài có sức thuyết phục, có lý có tình, giàu tâm huyết. Cũng nhờ cái nhìn biện chứng, nhờ cách “trẻ thơ hoá” chủ thể phê bình để cảm nhận, phân tích, mà Hồng Diệu rất có lý khi cho rằng nhà thơ Trần Đăng Khoa chữa lại thơ thời nhỏ của mình đã làm mất đi chất thơ của sự hồn nhiên chỉ có ở trẻ em (Nghe lại “Tiếng chim năm ngoái”). Trung thành với nguyên tắc: xem văn để biết người, biết người để hiểu thêm văn, nên các bài viết dựng chân dung văn học của Hồng Diệu hài hoà phần đời và phần thơ, toát lên được thần thái ở mỗi nhà văn. Các bài viết về nhà thơ Thanh Tịnh, Thâm Tâm, Trần Mai Ninh, Vũ Cao tạo được ấn tượng nơi bạn đọc nhờ có sự bổ sung các chi tiết về đời, có kiến giải riêng, khá sâu về văn, tạo cho các chân dung sống động, mới và thật hơn. Bài viết về Tào Mạt thật có tình, cảm động, có nét tài hoa, còn bài về Bàn Tài Đoàn vừa toàn diện, có hệ thống, vừa sâu, đề xuất được cách hiểu hợp lý về thi pháp thơ của một nhà thơ “còn mạnh tính bản năng, gần gũi với thiên nhiên, chim muông, cây cỏ, gắn chặt với lối nói, cách nghĩ của đồng bào các dân tộc thiểu số”? Tôi chợt nhớ lại bài anh viết về nhà văn Trần Thanh Mại, đăng ở báo Văn nghệ số ra gần đây, mà có bạn đọc (cũng trên báo Văn nghệ) đánh giá cao theo tôi là có cơ sở, bởi Hồng Diệu dựng chân dung văn học công phu, kỹ lưỡng và có hồn.
Tôi không coi đặc điểm sau trong văn phê bình của Hồng Diệu là ưu hay nhược điểm mà chỉ coi là một đặc tính: Đọc hết một bài phê bình của anh người ta có cảm giác vấn đề đã trở nên rõ ràng, ổn thoả, xong xuôi, hiển nhiên phải là như vậy và nên kết thúc, khép lại ở đây. Tôi gọi đó là kiểu phê bình rốt ráo, triệt để, đẩy vấn đề tới tận cùng đúng sai, khác với kiểu phê bình đặt vấn đề, chưa giải quyết triệt để, mời gọi mọi người cùng tham gia. Mỗi nhà phê bình đều có cách đi riêng của mình, nhưng tôi vẫn muốn Hồng Diệu có nhiều lối viết khác nhau để bài viết đa dạng, linh hoạt, gần với “cây đời xanh tươi” hơn nữa.
(Báo Văn nghệ)
Nguyễn Thanh Tú
Câu “Văn là người” thật đúng với nhà phê bình văn học Hồng Diệu: giản dị, đúng mực, ưa sự dứt khoát, sẵn sàng đối thoại để bảo vệ đến cùng chính kiến của mình, dù có phần cực đoan (cực đoan hiểu theo một nghĩa nào đó). Theo tôi, đó là một cá tính mà cả ở trong văn lẫn ở ngoài đời đều đáng quý.
Hồng Diệu đến với phê bình văn chương không hề tình cờ, mà bằng một niềm đam mê có từ nhỏ. Lớn lên, vào bộ đội, làm cái nghề xa lạ với văn chương, nhưng say văn mà bước vào làng lý luận phê bình văn học với mấy bài phê bình (đăng ở báo Văn nghệ). Tuy là những bài đầu tiên nhưng chúng đã làm nhiều người chú ý và tạo được dư luận. Hồng Diệu trở thành thành viên của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, một tạp chí có uy tín, biên tập và làm trưởng ban lý luận phê bình, gần đây chuyển sang phụ trách trang Văn học nước ngoài (công việc ấy cũng thật hợp với anh vì cái vốn tiếng Nga và tiếng Trung Quốc được đào tạo ở nhà trường quân đội và ở cả nước ngoài). Cho đến nay, Hồng Diệu đã có ba tập phê bình tiểu luận: Nhà văn - trang sách (1993), Phía sau dòng chữ (1997), Người lính - nhà văn (1998); trong đó Người lính - nhà văn là tập lý luận phê bình văn học được giải thưởng Bộ Quốc phòng năm năm 1994 - 1999. Cuối năm 2003 vừa rồi, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân tái bản tập Người lính - nhà văn, có chọn lọc bổ sung một số bài từ hai tập trước. Như vậy, tập Người lính- nhà văn in năm 2003 không phải tuyển tập, mà là tuyển chọn các bài tiểu luận phê bình của Hồng Diệu từ năm 1977 đến năm 1998.
Có một đặc điểm chung của nhiều nhà văn quân đội hiện đang tại ngũ, theo tôi biết, là vững vàng về tư tưởng, già dặn về bản lĩnh, mà biểu hiện cụ thể ở họ là khẳng định một cách mạnh mẽ, đồng thời đấu tranh triệt để với những quan điểm lệch lạc, phiến diện để bảo vệ thành quả của văn học cách mạng. Điều đáng quý là khi khẳng định hay đấu tranh, họ đều dựa trên tình lý rõ ràng, chứ không hề chung chung. Với Hồng Diệu, anh đã khẳng định một cách thuyết phục quan điểm của mình khi cho rằng các nhà thơ cầm súng những năm chống Mỹ đã đưa thơ lên một vị trí nổi nhất, cao nhất so với đương thời, và trong dàn đồng ca thơ khoẻ mạnh ấy, xuất hiện những nhà thơ độc đáo. Như một hệ quả của ý thức tư tưởng chính trị, ở Hồng Diệu có một cách phê bình khoa học, khách quan, thiên về lý trí, tỉnh táo, chặt chẽ. Với cái nhìn toàn diện, hệ thống, anh không đồng tình với cách nghiên cứu của một nhà phê bình chỉ muốn thấy các đỉnh cao của lịch sử văn học. Anh rất có lý khi cho rằng, các nhà nghiên cứu, giảng dạy văn học, ngoài việc “nhìn thấy những đỉnh cao” còn phải có trách nhiệm “nhìn thấy cả những đỉnh thấp và cả mặt bằng”. Cái bất cập ở văn phê bình của anh lại nằm ngay trong thế mạnh này. Nếu có thể hình dung phê bình văn học như một dòng sông chảy giữa đôi bờ khoa học và nghệ thuật, thì theo ý riêng tôi, Hồng Diệu luôn cùng con thuyền văn của mình không xuôi ở giữa dòng mà thường men theo bờ khoa học, bờ của lý trí. Điều ấy làm cho văn anh rõ ràng, rạch ròi, chắc chắn, nhưng thiếu một sự uyển chuyển mềm mại, đôi chỗ sa vào duy lý khô khan. Hồng Diệu viết không nhiều, mấy chục năm cầm bút, đến nay mới có ba quyển sách in riêng, cho dù năm nay anh sắp có một tập mới nữa thì tổng số có lẽ cũng chưa đến một ngàn trang; theo tôi, cũng đúng với “tạng” phê bình của anh: cẩn trọng quá nên viết ít, nhưng bù lại, chắc và tinh.
Hai mái chèo để Hồng Diệu chèo lái con thuyền phê bình của mình, theo tôi là quan điểm duy vật (cả duy vật lịch sử và duy vật biện chứng) và hướng nghiên cứu bản thể luận. Người chèo thuyền thạo nghề biết lúc nào chỉ cần dùng một mái chèo để giữ sức, lúc nào phải dùng cả hai để đưa thuyền đi nhanh. Hồng Diệu là người đã “thạo nghề” phê bình, khi anh đứng trên quan điểm lịch sử để đấu tranh với những người hoặc vô tình hoặc cố ý phủ nhận những niềm vui, những tiếng cười, những cái đẹp của thơ bộ đội thời chống Mỹ hay theo hướng nghiên cứu bản thể để tìm ra nét riêng, nét độc đáo của sự đối xứng trong văn học, hay luật bằng trắc trong thơ... Nhưng cái in rõ bản sắc Hồng Diệu nhất, để lại dấu ấn nơi bạn đọc là ở những bài anh dùng cả hai “mái chèo” một cách nhịp nhàng, nhuần nhuyễn (Nửa thế kỷ văn học, nhìn từ một đặc điểm quan trọng, Mấy ý nghĩ về thơ bộ đội…, Nét riêng của thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, Mấy cái lạ ở trường hợp thơ Phùng Khắc Bắc, Lời chúc tác giả tập thơ “Lời chúc”…) Tôi cứ hình dung, đứng trước một vấn đề văn học, tư duy phê bình của Hồng Diệu sẽ có mấy thao tác sau: đi sâu vào cấu trúc bản thể; đặt trong sự vận động, phát triển; đặt trong thời điểm lịch sử cụ thể; đặt trong thế đối chiếu so sánh. Vì vậy, anh khen chê đều đích đáng. Anh khen rất có cơ sở thơ Phạm Tiến Duật, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phùng Khắc Bắc... và chê rất có lý, chê không cãi được, thơ của các cây đại thụ Huy Cận (trong Những câu thơ bắc cầu), Xuân Diệu (trong tập thơ Hồn tôi đôi cánh)… phản bác có sức thuyết phục nhận định của các nhà nghiên cứu như GS Lê Đình Kỵ khi ông suy diễn về một bài thơ của Nguyễn Bính; hay GS Phan Ngọc khi ông có một số nhận định thiếu chuẩn xác về ca dao, vè, thành ngữ, Truyện Kiều hay Thơ mới; và GS Phong Lê, khi ông cho rằng trong thơ cách mạng “không có lấy một bài buồn”... Trong lập luận, Hồng Diệu không quanh co dài dòng, mà thường có một lối văn ngắn gọn, rõ ràng, đi thẳng vào vấn đề mà mình phát hiện hay đề cập. (Đặc điểm này còn thấy khi anh tham gia bàn về các vấn đề của đời sống xã hội, như cần phải có sự xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng của người phát ngôn Bộ Ngoại giao, hay những việc cần làm ngay để bóng đá Việt Nam phát triển - những bài này đều đã đăng báo Văn nghệ).
Hồng Diệu viết phê bình khá đa dạng, cả văn học trong nước và văn học nước ngoài, hướng tới nhiều thể loại, nhưng dễ thấy thể loại ưa thích và cũng là đóng góp của anh là ở hai lĩnh vực phê bình thơ và dựng chân dung văn học. Đây là ngòi bút có khả năng khám phá khá tinh tế các chi tiết ở cõi vi mô, phát hiện được cái đặc sắc riêng về cái nhìn, về cách cảm nhận cuộc sống của nhà thơ, từ đó phác hoạ một phong cách thơ, gọi ra được cái hồn cốt riêng ở mỗi tập thơ, bài thơ. Các bài viết về tập thơ Giữa những ngày xuân của Tế Hanh, Hồn tôi đôi cánh của Xuân Diệu và thơ Tố Hữu… là những bài có sức thuyết phục, có lý có tình, giàu tâm huyết. Cũng nhờ cái nhìn biện chứng, nhờ cách “trẻ thơ hoá” chủ thể phê bình để cảm nhận, phân tích, mà Hồng Diệu rất có lý khi cho rằng nhà thơ Trần Đăng Khoa chữa lại thơ thời nhỏ của mình đã làm mất đi chất thơ của sự hồn nhiên chỉ có ở trẻ em (Nghe lại “Tiếng chim năm ngoái”). Trung thành với nguyên tắc: xem văn để biết người, biết người để hiểu thêm văn, nên các bài viết dựng chân dung văn học của Hồng Diệu hài hoà phần đời và phần thơ, toát lên được thần thái ở mỗi nhà văn. Các bài viết về nhà thơ Thanh Tịnh, Thâm Tâm, Trần Mai Ninh, Vũ Cao tạo được ấn tượng nơi bạn đọc nhờ có sự bổ sung các chi tiết về đời, có kiến giải riêng, khá sâu về văn, tạo cho các chân dung sống động, mới và thật hơn. Bài viết về Tào Mạt thật có tình, cảm động, có nét tài hoa, còn bài về Bàn Tài Đoàn vừa toàn diện, có hệ thống, vừa sâu, đề xuất được cách hiểu hợp lý về thi pháp thơ của một nhà thơ “còn mạnh tính bản năng, gần gũi với thiên nhiên, chim muông, cây cỏ, gắn chặt với lối nói, cách nghĩ của đồng bào các dân tộc thiểu số”? Tôi chợt nhớ lại bài anh viết về nhà văn Trần Thanh Mại, đăng ở báo Văn nghệ số ra gần đây, mà có bạn đọc (cũng trên báo Văn nghệ) đánh giá cao theo tôi là có cơ sở, bởi Hồng Diệu dựng chân dung văn học công phu, kỹ lưỡng và có hồn.
Tôi không coi đặc điểm sau trong văn phê bình của Hồng Diệu là ưu hay nhược điểm mà chỉ coi là một đặc tính: Đọc hết một bài phê bình của anh người ta có cảm giác vấn đề đã trở nên rõ ràng, ổn thoả, xong xuôi, hiển nhiên phải là như vậy và nên kết thúc, khép lại ở đây. Tôi gọi đó là kiểu phê bình rốt ráo, triệt để, đẩy vấn đề tới tận cùng đúng sai, khác với kiểu phê bình đặt vấn đề, chưa giải quyết triệt để, mời gọi mọi người cùng tham gia. Mỗi nhà phê bình đều có cách đi riêng của mình, nhưng tôi vẫn muốn Hồng Diệu có nhiều lối viết khác nhau để bài viết đa dạng, linh hoạt, gần với “cây đời xanh tươi” hơn nữa.
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,