Thơ mãi mãi là bí mật
Thanh Thảo
“Điều bí mật của anh, không cho em biết
kìa kẻ cùng đi đã tới gần... nhưng”
Điều bí mật ấy, dù có chữ “nhưng”, làm như Apollinaire định nói ra, nhưng mãi mãi, không bao giờ ông nói ra. Lorca thì than “Bao giờ ta tới được Cordoba?” Nghĩa là, mãi mãi không tới được cái thành Cordoba - giả - tưởng ấy, nơi cất giấu bí mật vĩnh hằng của Thơ. Không thể nói ra, không thể tới, dù có thể tin: “Em có một vòng hoa chờ đợi - Tận cùng muôn thế kỷ về sau”, như Maiacôpxki đã tin. Với Maia, thơ là ánh nắng, quý hay không còn tuỳ người, tùy hoàn cảnh:
“Ai thường thấy hàng ngày ánh nắng
thì coi thường:
Nắng niếc báu gì đâu?”
Nhưng Maia nói, anh cứ thử ngồi trong nhà ngục xem, dù nhà ngục kia chính là thân xác anh, thì
“một ánh nắng
vàng
hoe cửa buồng giam
tôi đánh đổi cả cuộc đời không tiếc”
Cái ánh nắng “hoe” ấy, có thể vô nghĩa với người khác, nhưng với tôi là chuyện sống còn! Tôi ngắm nhìn nó như thể lần đầu và lần cuối được nhìn. ánh nắng ấy là thơ, mà sự bí ẩn của nó không chia đều cho tất cả mọi người, trong tất cả mọi thời điểm của cuộc đời. Nó có thể với người này, lúc này, với người khác, lúc khác. Bất chợt hiện và bất chợt tan. Nhưng nó là cái bí ẩn an ủi được con người, khiến con người trong khoảnh khắc nào đó tự thấy được ý nghĩa đời mình, thấy cái vô lý và có lý được sống. “Chào tôi đi? Tôi đang ghé Bến lạ một chiều nâu alfa đây, anh có nhớ? Bên quán Têta... ngồi ăn những hình thù im lặng...”. Câu chào của Đặng Đình Hưng nghe nghèn nghẹn, bởi ông đã thoáng nhìn thấy, thấp thoáng nơi Bến lạ kia đã là Cõi khác, nơi ông chỉ có thể ngồi ăn “những hình thù im lặng”. Không phải là người Việt Nam đầu tiên bay vào vũ trụ, Đặng Đình Hưng lại có thể là người Việt Nam đầu tiên dám một mình, cô đơn, đi sâu hun hút vào bản thể mình, mong tìm thấy Bến lạ.
Ông đã dám húc đầu vào sự bất khả, nơi mà nhiều nhà thơ khác chỉ chờn vờn, nhìn ngó từ xa. Không có một remote nào điều khiển được sự bất khả. Chỉ có cả hồn và xác mình dám chạm mặt, dám đụng đầu với nó, đến bật máu, đến toé lửa. Máu ấy, lửa ấy sẽ là thơ, còn Bến lạ thì mãi mãi vẫn là Bến lạ. Trước Đặng Đình Hưng, từng có một người trong những lúc đau đớn nhất của xác và hồn, đã cắm ngập được tiếng kêu của mình vào sự bất khả. Đó là Hàn Mặc Tử. Với Hàn Mặc Tử, cái Bến lạ ấy là một Bến Trăng, nó chạm đến từng đầu dây thần kinh đau đớn của ông, khiến ông phải kêu lên, thét lên. Trước Hàn Mặc Tử khoảng 80 năm, Baudelaire cũng từng thét lên như thế, khi ông tự nguyện đi vào con đường hầm hun hút của thân phận con người, nó còn tối tăm và kinh khủng hơn hệ thống cống ngầm Paris mà Giăng - Van - Giăng phải đi nhiều. Sẽ không có ý nghĩa gì cả nếu ta gọi họ là những nhà thơ cách tân. Đúng hơn, nên gọi họ là những nhà thơ cảm tử, những nhà thơ xuyên phá. Nhiều người trong số họ đã nổ tung như phi thuyền Challenger (Kẻ thách thức) đã nổ tung sau bảy giây rời mặt đất. Nhưng những mảnh - vụn - thơ còn lại của họ đã cắm sâu vào tâm hồn biết bao người, kêu gọi, kích thích những con người ấy lao mình vào cái chưa biết, khát khao sự bí ẩn. Về cuối đời, Albert Einstein đã rất thành kính khi nói đến sự bí ẩn. Là con trai Thần Mặt trời, cha đẻ thuyết Tương đối, người hình dung rõ nhất, như sắp chạm được vào Hoà điệu Vũ Trụ, lại là con người của thơ ca và âm nhạc. Einstein thấy ở âm nhạc con đường tìm đến bí mật của Hoà điệu Vũ trụ, và thấy ở Thơ như những “đường ống” mà trong đó hiện diện cùng lúc cả bốn chiều không- thời gian, nơi cất giấu bí mật của những chuyến bay tuyệt vời đến những Thiên hà khác. Theo một cách nào đó, thì tất cả những nhà bác học lớn đều là những nhà thơ, bởi họ đều sống trong trường (the field) mơ mộng. Mơ mộng cái gì? Chắc chắn, là mơ mộng sự bí ẩn. Chỉ có sự bí ẩn, chỉ có cái chưa biết mới khiến con người khao khát, mơ mộng, hành động, suy nghĩ, tưởng tượng. Chúng ta ngạc nhiên vì sao trẻ con lại thích những chuyện hoang đường như “Bảy viên ngọc rồng” hay “Thuỷ thủ mặt trăng” bởi một lẽ đơn giản là trong những chuyện ấy, trẻ con được cùng các nhân vật hành động trong tưởng tượng, khám phá sự bí ẩn, và được thấy trong con người nhỏ bé của mình một sức mạnh siêu phàm. Vâng, sự bí ẩn, trước tiên, nằm trong chính mỗi con người. Kahlil Gibran, thi sĩ người Li Băng đã khẳng định: “Cuộc đời thường nhật của bạn là ngôi đền của bạn và là tôn giáo của bạn”. Và “khi nào bạn vào đó, hãy mang theo toàn bộ con người mình”. Với một người đã từng trải, như Đặng Đình Hưng chẳng hạn, nhiều khi những miền đất lạ lại nằm sâu trong chính con người mình. Trong đó, có cuộc đời mà anh trải qua trộn lẫn những gì anh muốn giấu và những gì anh không dám giãi bày, những âm - thanh - tiền - thức- tỉnh. Khi những âm thanh ấy tìm được một dòng chảy, ấy là lúc có thơ. Paul Eluard có bài thơ “Tự Do” nổi tiếng, là một bài thơ tranh đấu, một bài thơ của người yêu nước, yêu tự do, nhưng tất cả những khái niệm ấy đã hoà trong dòng chảy từ sâu thẳm con người ông, nó vọt trào, tuôn chảy tưởng như không gì ngăn được:
“Trên các mảnh trời xanh
Trên ao mặt trời mốc
Trên hồ trăng lung linh
Ta viết tên em”
Và:
“Trên con chó của ta háu ăn và dịu dàng
Trên tai nó vểnh lên
Trên chân nó vụng về
Ta viết tên em”
( Bản dịch của Tế Hanh)
Khi Eluard viết được thế, nghĩa là Tự Do đã cư trú trong ông, trong tim ông và trong cái nhìn của ông đối với thế giới. Và cái bí ẩn của bài thơ - cũng là cái bí ẩn của tự do - là ta có thể đọc to, thét to từng đoạn thơ, hoặc chỉ lẩm nhẩm như đọc những đoạn kinh cầu, hoặc chỉ im lặng để từng dòng thơ xâm chiếm, tràn ngập con người mình. Thơ không từ chối bất cứ cái gì, nhưng thơ khao khát sự bí ẩn. Thơ có thể cùng một lúc kích động được nhiều người, nhưng thơ lại chỉ dành cho từng con người riêng biệt, từng con người muốn qua cảm nhận thơ để cảm nhận chính con người mình, và qua chính con người mình mà cảm nhận thế giới. Một thế giới vừa chuyển động vừa đăm đắm nhìn, một cái nhìn mơ màng và thức tỉnh.
(Báo văn nghệ, Thơ số 7+8)
Thanh Thảo
“Điều bí mật của anh, không cho em biết
kìa kẻ cùng đi đã tới gần... nhưng”
Điều bí mật ấy, dù có chữ “nhưng”, làm như Apollinaire định nói ra, nhưng mãi mãi, không bao giờ ông nói ra. Lorca thì than “Bao giờ ta tới được Cordoba?” Nghĩa là, mãi mãi không tới được cái thành Cordoba - giả - tưởng ấy, nơi cất giấu bí mật vĩnh hằng của Thơ. Không thể nói ra, không thể tới, dù có thể tin: “Em có một vòng hoa chờ đợi - Tận cùng muôn thế kỷ về sau”, như Maiacôpxki đã tin. Với Maia, thơ là ánh nắng, quý hay không còn tuỳ người, tùy hoàn cảnh:
“Ai thường thấy hàng ngày ánh nắng
thì coi thường:
Nắng niếc báu gì đâu?”
Nhưng Maia nói, anh cứ thử ngồi trong nhà ngục xem, dù nhà ngục kia chính là thân xác anh, thì
“một ánh nắng
vàng
hoe cửa buồng giam
tôi đánh đổi cả cuộc đời không tiếc”
Cái ánh nắng “hoe” ấy, có thể vô nghĩa với người khác, nhưng với tôi là chuyện sống còn! Tôi ngắm nhìn nó như thể lần đầu và lần cuối được nhìn. ánh nắng ấy là thơ, mà sự bí ẩn của nó không chia đều cho tất cả mọi người, trong tất cả mọi thời điểm của cuộc đời. Nó có thể với người này, lúc này, với người khác, lúc khác. Bất chợt hiện và bất chợt tan. Nhưng nó là cái bí ẩn an ủi được con người, khiến con người trong khoảnh khắc nào đó tự thấy được ý nghĩa đời mình, thấy cái vô lý và có lý được sống. “Chào tôi đi? Tôi đang ghé Bến lạ một chiều nâu alfa đây, anh có nhớ? Bên quán Têta... ngồi ăn những hình thù im lặng...”. Câu chào của Đặng Đình Hưng nghe nghèn nghẹn, bởi ông đã thoáng nhìn thấy, thấp thoáng nơi Bến lạ kia đã là Cõi khác, nơi ông chỉ có thể ngồi ăn “những hình thù im lặng”. Không phải là người Việt Nam đầu tiên bay vào vũ trụ, Đặng Đình Hưng lại có thể là người Việt Nam đầu tiên dám một mình, cô đơn, đi sâu hun hút vào bản thể mình, mong tìm thấy Bến lạ.
Ông đã dám húc đầu vào sự bất khả, nơi mà nhiều nhà thơ khác chỉ chờn vờn, nhìn ngó từ xa. Không có một remote nào điều khiển được sự bất khả. Chỉ có cả hồn và xác mình dám chạm mặt, dám đụng đầu với nó, đến bật máu, đến toé lửa. Máu ấy, lửa ấy sẽ là thơ, còn Bến lạ thì mãi mãi vẫn là Bến lạ. Trước Đặng Đình Hưng, từng có một người trong những lúc đau đớn nhất của xác và hồn, đã cắm ngập được tiếng kêu của mình vào sự bất khả. Đó là Hàn Mặc Tử. Với Hàn Mặc Tử, cái Bến lạ ấy là một Bến Trăng, nó chạm đến từng đầu dây thần kinh đau đớn của ông, khiến ông phải kêu lên, thét lên. Trước Hàn Mặc Tử khoảng 80 năm, Baudelaire cũng từng thét lên như thế, khi ông tự nguyện đi vào con đường hầm hun hút của thân phận con người, nó còn tối tăm và kinh khủng hơn hệ thống cống ngầm Paris mà Giăng - Van - Giăng phải đi nhiều. Sẽ không có ý nghĩa gì cả nếu ta gọi họ là những nhà thơ cách tân. Đúng hơn, nên gọi họ là những nhà thơ cảm tử, những nhà thơ xuyên phá. Nhiều người trong số họ đã nổ tung như phi thuyền Challenger (Kẻ thách thức) đã nổ tung sau bảy giây rời mặt đất. Nhưng những mảnh - vụn - thơ còn lại của họ đã cắm sâu vào tâm hồn biết bao người, kêu gọi, kích thích những con người ấy lao mình vào cái chưa biết, khát khao sự bí ẩn. Về cuối đời, Albert Einstein đã rất thành kính khi nói đến sự bí ẩn. Là con trai Thần Mặt trời, cha đẻ thuyết Tương đối, người hình dung rõ nhất, như sắp chạm được vào Hoà điệu Vũ Trụ, lại là con người của thơ ca và âm nhạc. Einstein thấy ở âm nhạc con đường tìm đến bí mật của Hoà điệu Vũ trụ, và thấy ở Thơ như những “đường ống” mà trong đó hiện diện cùng lúc cả bốn chiều không- thời gian, nơi cất giấu bí mật của những chuyến bay tuyệt vời đến những Thiên hà khác. Theo một cách nào đó, thì tất cả những nhà bác học lớn đều là những nhà thơ, bởi họ đều sống trong trường (the field) mơ mộng. Mơ mộng cái gì? Chắc chắn, là mơ mộng sự bí ẩn. Chỉ có sự bí ẩn, chỉ có cái chưa biết mới khiến con người khao khát, mơ mộng, hành động, suy nghĩ, tưởng tượng. Chúng ta ngạc nhiên vì sao trẻ con lại thích những chuyện hoang đường như “Bảy viên ngọc rồng” hay “Thuỷ thủ mặt trăng” bởi một lẽ đơn giản là trong những chuyện ấy, trẻ con được cùng các nhân vật hành động trong tưởng tượng, khám phá sự bí ẩn, và được thấy trong con người nhỏ bé của mình một sức mạnh siêu phàm. Vâng, sự bí ẩn, trước tiên, nằm trong chính mỗi con người. Kahlil Gibran, thi sĩ người Li Băng đã khẳng định: “Cuộc đời thường nhật của bạn là ngôi đền của bạn và là tôn giáo của bạn”. Và “khi nào bạn vào đó, hãy mang theo toàn bộ con người mình”. Với một người đã từng trải, như Đặng Đình Hưng chẳng hạn, nhiều khi những miền đất lạ lại nằm sâu trong chính con người mình. Trong đó, có cuộc đời mà anh trải qua trộn lẫn những gì anh muốn giấu và những gì anh không dám giãi bày, những âm - thanh - tiền - thức- tỉnh. Khi những âm thanh ấy tìm được một dòng chảy, ấy là lúc có thơ. Paul Eluard có bài thơ “Tự Do” nổi tiếng, là một bài thơ tranh đấu, một bài thơ của người yêu nước, yêu tự do, nhưng tất cả những khái niệm ấy đã hoà trong dòng chảy từ sâu thẳm con người ông, nó vọt trào, tuôn chảy tưởng như không gì ngăn được:
“Trên các mảnh trời xanh
Trên ao mặt trời mốc
Trên hồ trăng lung linh
Ta viết tên em”
Và:
“Trên con chó của ta háu ăn và dịu dàng
Trên tai nó vểnh lên
Trên chân nó vụng về
Ta viết tên em”
( Bản dịch của Tế Hanh)
Khi Eluard viết được thế, nghĩa là Tự Do đã cư trú trong ông, trong tim ông và trong cái nhìn của ông đối với thế giới. Và cái bí ẩn của bài thơ - cũng là cái bí ẩn của tự do - là ta có thể đọc to, thét to từng đoạn thơ, hoặc chỉ lẩm nhẩm như đọc những đoạn kinh cầu, hoặc chỉ im lặng để từng dòng thơ xâm chiếm, tràn ngập con người mình. Thơ không từ chối bất cứ cái gì, nhưng thơ khao khát sự bí ẩn. Thơ có thể cùng một lúc kích động được nhiều người, nhưng thơ lại chỉ dành cho từng con người riêng biệt, từng con người muốn qua cảm nhận thơ để cảm nhận chính con người mình, và qua chính con người mình mà cảm nhận thế giới. Một thế giới vừa chuyển động vừa đăm đắm nhìn, một cái nhìn mơ màng và thức tỉnh.
(Báo văn nghệ, Thơ số 7+8)
Love mickey,