Tôi không tin có hai bài thơ chồng khít nhau
Vinh Bảo
(Trao đổi với nhà thơ Thạch Quỳ về Tính duy nhất của Thơ)
Nhà thơ Huy Cận từng tâm sự, khi viết câu Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà trong bài thơ Tràng giang, ông đã chịu ảnh hưởng của đôi câu kết bài Lầu Hoàng Hạc của Thôi Hiệu: “Chiều xuống, quê hương xưa đâu tá?/ Sóng dỡn sương buông não dạ người!” (bản dịch của Kiều Văn). Có điều ở Tràng giang, ông đã kế thừa và đi xa hơn so với Thôi Hiệu. Thi nhân đời Đường đã chạnh lòng nhớ cố hương vào một buổi chiều khi thấy sương khói mênh mang trên sông nước, còn thi nhân của chúng ta thì đau đáu nỗi nhớ nhà dù trên sông vào buổi hoàng hôn không bợn chút khói sương...
Sự học hỏi, kế thừa, ảnh hưởng lẫn nhau trong văn học là điều bình thường. Nhưng cũng chỉ bình thường khi tác giả có dụng ý học hỏi, kế thừa người đi trước, như trường hợp Huy Cận vừa nêu trên đây. Còn nếu như cố tình lặp lại người khác, hoặc “vay mượn” không khéo, lại là chuyện khác.
Là một độc giả, tuy không có thời gian đọc nhiều, nhưng đôi khi tôi cũng gặp trong thơ sự trùng lặp ngẫu nhiên nào đó, kể cả trong lĩnh vực dịch thuật. Đành rằng, trong dịch thuật, vì xuất nguồn từ cùng một câu thơ, một bài thơ gốc, nên các bản dịch sẽ có khả năng trùng lặp cao hơn so với trong sáng tác. Tuy nhiên, sự trùng khít hoàn toàn của 2 bản dịch cũng chưa hề xuất hiện. Có chăng chỉ trùng một đôi câu.
Có những tác giả vô tình để lẫn trong thơ mình một vài câu tương tự những câu quen thuộc của một tác giả mà không biết, như trường hợp bài Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa của Nguyễn Duy (tập thơ Mẹ và em, Nxb Văn học, 1987) có hai câu: Ta đi trọn kiếp con người/ Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru, gợi nhớ về hai câu trong bài Lời ru nổi tiếng của cố thi sĩ Xuân Quỳnh in trong Hoa dọc chiến hào xuất bản năm 1968: Dẫu con đi đến suốt đời/ Vẫn không đi hết những lời mẹ ru.
Rồi trong bài Thơ tình người lính biển của Trần Đăng Khoa có câu: Biển một bên và em một bên. Sau này, có người phát hiện câu này gần như trùng với một câu làm trước đó của Tế Hanh, và hỏi ông thì ông trả lời đại ý câu của Khoa khác câu của ông một chữ, trong câu thơ của ông không có chữ “và”. Vậy là không phải là hai câu thơ trùng nhau hoàn toàn. Tuy vậy, trong những lần tái bản bài thơ kể trên, Trần Đăng Khoa vẫn thận trọng chú thích “Câu thơ của Tế Hanh”.
Trong bài Tâm hồn anh (tập thơ Mạnh hơn tuyệt vọng của Anh Ngọc, 2001) có câu: Tâm hồn anh hoá đá tự bao giờ, hoàn toàn trùng với câu thơ của Tạ Phương trong bài Hồn đá (tập Biển thức Nxb Văn học, 1995). Có điều tương đối chắc là cho đến khi viết Tâm hồn anh, Anh Ngọc chưa đọc tập Biển thức của Tạ Phương.
Thế mới biết, hai câu thơ hoàn toàn trùng lặp, nhất là những câu thơ dài, là điều hiếm gặp. Và không một nhà thơ nào muốn điều này, nếu biết thì họ đã tìm cách tránh sự trùng lặp phiền phức đó.
Đối với những câu thơ ngắn, từ 2 đến 5 chữ, thì xác xuất trùng lặp có thể cao hơn. Nhưng trùng lặp hoàn toàn 2 câu trở lên, hoặc toàn bài thơ, là điều chưa từng có, ít nhất cũng chưa bao giờ được công bố. Đặc biệt là ở các nhà thơ tài năng. Một số bài thơ có nét gì đó hao hao giống một bài thơ của tác giả nổi tiếng nào đó thường được xem là bị ảnh hưởng, vô tình hoặc hữu ý. Sau đây xin dẫn một ví dụ:
Trên báo Giáo dục và Thời đại số 39 (14-5-1996), có đăng bài thơ Hoàng hôn như mai sớm của cố thi sĩ Thuý Bắc. Bài thơ này ngắn gọn, gồm 12 câu. Nguyên văn như sau:
Hoàng hôn như mai sớm
Con đi như mùa đi
Trống trơn căn nhà mẹ
Tháng nối ngày lặng lẽ
Bầu bạn làm phên che
Những mong sớm xuân về
Sợi vàng đan chi chít
Rồi con lại về thăm
Cây nhà xanh lộc biếc
Buồn vui trên trang viết
Góp nhặt cả cho con
Hoàng hôn như mai sớm
Ngóng hạ vàng nắng lên
Cả bài thơ thấp thoáng âm điệu và ngôn từ của bài Tình ca ban mai của cố thi sĩ Chế Lan Viên, in trong tập ánh sáng và phù sa (Nxb Văn học, 1960). Có thể trích một số câu của Chế Lan Viên trong bài thơ kể trên để đối sánh:
Em đi như chiều đi
Gọi chim vườn bay hết
...Em ở trời trưa ở
Nắng sáng màu xanh che
Tình em như sao khuya
Rãi hạt vàng chi chít
...
Tình ta như lộc biếc
Gọi ban mai lại về
...
Hạnh phúc trên đầu ta
Mọc sao vàng chi chít
...
Dù không có câu nào trùng lặp hoàn toàn, nhưng người đọc vẫn dễ nhận ra điều gì đó như là sự lặp lại bài thơ hay của một tác giả nổi tiếng, về cả ngôn từ lẫn hình thức thể hiện. Tôi không tin là khi viết Hoàng hôn như mai sớm Thuý Bắc chưa hề đọc Tình ca ban mai.
Nói vậy để thấy, nếu có một bài thơ giống hệt, không khác bài Tình ca ban mai một chữ nào, thì liệu có ai tin là không phải của Chế Lan Viên? Cứ cho là Tình ca ban mai là một bài thơ “chuẩn mực”, và thực sự đó là một bài thơ hay.
Trong bài viết trao đổi với nhà thơ Thạch Quỳ, tác giả Hà Văn Thuỳ (Phụ san Thơ số 4) đồng ý là có luật đỉnh điểm, hay tính duy nhất của thi ca. Ông cho rằng “với mỗi đề tài nhất định sẽ xuất hiện bài thơ hay nhất”. Về điều này thì tôi có thể tin, cũng như tin rằng với cùng một đề tài, có thể có những cách thể hiện khác nhau và đều đạt tới mức độ hoàn hảo khiến những vị giám khảo sành sỏi nhất phải bối rối khi hạ bút chấm điểm. Trong trường hợp đó, luật đỉnh điểm bị phá vỡ.
Tôi cũng tin rằng “bài thơ đỉnh điểm là con chim ngũ sắc bay vút trên trời cao còn các nhà thơ là những người giương cung bắn... Nhưng chỉ duy nhất mũi tên trúng đích”. Và khi con chim ngũ sắc bị mũi tên duy nhất kia bắn trúng, nó rớt xuống, không còn cơ hội cho các thiện xạ khác nữa. Đó là nói ví von, hình tượng. Còn trên thực tế thi ca, với 24 con chữ biến ảo (chứ không phải chỉ 7 nốt trong âm nhạc), tôi không tin có những bài thơ trùng khít nhau.
Theo lập luận của Thạch Quỳ (Phụ san Thơ số 2), thơ ca có tính duy nhất, và để có cái duy nhất ấy cần có một điều kiện tiên quyết là các bài thơ cùng phải đạt đến sự chuẩn mực, tối ưu. Có vậy chúng mới trùng khít nhau được. Ông có đưa ra trường hợp của riêng mình, là năm 11-12 tuổi ông đã viết một số bài thơ, sau này (năm 16 tuổi) ông được đọc trong sổ tay thơ của bạn bè cùng lớp và kinh ngạc thấy có đến 4 bài chồng khít lên các bài thơ mình đã viết trước đó, không hề sai một câu, một chữ. Tất nhiên, điều đó không thể giải thích nổi. Và Thạch Quỳ cũng không hé lộ 4 bài thơ đó của ông trùng lặp những bài thơ nào, của tác giả nào. Chỉ biết, theo lập luận của ông thì khi còn rất trẻ đó, ông đã làm được những bài thơ rất chuẩn mực, đã đạt đến cái duy nhất. Về sau này, khi đã thành nhà thơ, đã dày dạn kinh nghiệm hơn, không thấy ông nói có làm thêm được bài nào chuẩn mực như vậy không.
Đọc bài của Thạch Quỳ, tôi cứ thắc mắc, sao cái sự trùng lặp đến kỳ lạ đó chỉ xảy ra với riêng ông, lại xảy ra tới 4 lần ở cái tuổi 11-12 còn rất non trẻ ấy? Và tôi cũng thật tò mò muốn được đọc loại thơ chuẩn mực đó, dù chỉ một bài.
(Báo văn nghệ, Thơ số 7+8)
Vinh Bảo
(Trao đổi với nhà thơ Thạch Quỳ về Tính duy nhất của Thơ)
Nhà thơ Huy Cận từng tâm sự, khi viết câu Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà trong bài thơ Tràng giang, ông đã chịu ảnh hưởng của đôi câu kết bài Lầu Hoàng Hạc của Thôi Hiệu: “Chiều xuống, quê hương xưa đâu tá?/ Sóng dỡn sương buông não dạ người!” (bản dịch của Kiều Văn). Có điều ở Tràng giang, ông đã kế thừa và đi xa hơn so với Thôi Hiệu. Thi nhân đời Đường đã chạnh lòng nhớ cố hương vào một buổi chiều khi thấy sương khói mênh mang trên sông nước, còn thi nhân của chúng ta thì đau đáu nỗi nhớ nhà dù trên sông vào buổi hoàng hôn không bợn chút khói sương...
Sự học hỏi, kế thừa, ảnh hưởng lẫn nhau trong văn học là điều bình thường. Nhưng cũng chỉ bình thường khi tác giả có dụng ý học hỏi, kế thừa người đi trước, như trường hợp Huy Cận vừa nêu trên đây. Còn nếu như cố tình lặp lại người khác, hoặc “vay mượn” không khéo, lại là chuyện khác.
Là một độc giả, tuy không có thời gian đọc nhiều, nhưng đôi khi tôi cũng gặp trong thơ sự trùng lặp ngẫu nhiên nào đó, kể cả trong lĩnh vực dịch thuật. Đành rằng, trong dịch thuật, vì xuất nguồn từ cùng một câu thơ, một bài thơ gốc, nên các bản dịch sẽ có khả năng trùng lặp cao hơn so với trong sáng tác. Tuy nhiên, sự trùng khít hoàn toàn của 2 bản dịch cũng chưa hề xuất hiện. Có chăng chỉ trùng một đôi câu.
Có những tác giả vô tình để lẫn trong thơ mình một vài câu tương tự những câu quen thuộc của một tác giả mà không biết, như trường hợp bài Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa của Nguyễn Duy (tập thơ Mẹ và em, Nxb Văn học, 1987) có hai câu: Ta đi trọn kiếp con người/ Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru, gợi nhớ về hai câu trong bài Lời ru nổi tiếng của cố thi sĩ Xuân Quỳnh in trong Hoa dọc chiến hào xuất bản năm 1968: Dẫu con đi đến suốt đời/ Vẫn không đi hết những lời mẹ ru.
Rồi trong bài Thơ tình người lính biển của Trần Đăng Khoa có câu: Biển một bên và em một bên. Sau này, có người phát hiện câu này gần như trùng với một câu làm trước đó của Tế Hanh, và hỏi ông thì ông trả lời đại ý câu của Khoa khác câu của ông một chữ, trong câu thơ của ông không có chữ “và”. Vậy là không phải là hai câu thơ trùng nhau hoàn toàn. Tuy vậy, trong những lần tái bản bài thơ kể trên, Trần Đăng Khoa vẫn thận trọng chú thích “Câu thơ của Tế Hanh”.
Trong bài Tâm hồn anh (tập thơ Mạnh hơn tuyệt vọng của Anh Ngọc, 2001) có câu: Tâm hồn anh hoá đá tự bao giờ, hoàn toàn trùng với câu thơ của Tạ Phương trong bài Hồn đá (tập Biển thức Nxb Văn học, 1995). Có điều tương đối chắc là cho đến khi viết Tâm hồn anh, Anh Ngọc chưa đọc tập Biển thức của Tạ Phương.
Thế mới biết, hai câu thơ hoàn toàn trùng lặp, nhất là những câu thơ dài, là điều hiếm gặp. Và không một nhà thơ nào muốn điều này, nếu biết thì họ đã tìm cách tránh sự trùng lặp phiền phức đó.
Đối với những câu thơ ngắn, từ 2 đến 5 chữ, thì xác xuất trùng lặp có thể cao hơn. Nhưng trùng lặp hoàn toàn 2 câu trở lên, hoặc toàn bài thơ, là điều chưa từng có, ít nhất cũng chưa bao giờ được công bố. Đặc biệt là ở các nhà thơ tài năng. Một số bài thơ có nét gì đó hao hao giống một bài thơ của tác giả nổi tiếng nào đó thường được xem là bị ảnh hưởng, vô tình hoặc hữu ý. Sau đây xin dẫn một ví dụ:
Trên báo Giáo dục và Thời đại số 39 (14-5-1996), có đăng bài thơ Hoàng hôn như mai sớm của cố thi sĩ Thuý Bắc. Bài thơ này ngắn gọn, gồm 12 câu. Nguyên văn như sau:
Hoàng hôn như mai sớm
Con đi như mùa đi
Trống trơn căn nhà mẹ
Tháng nối ngày lặng lẽ
Bầu bạn làm phên che
Những mong sớm xuân về
Sợi vàng đan chi chít
Rồi con lại về thăm
Cây nhà xanh lộc biếc
Buồn vui trên trang viết
Góp nhặt cả cho con
Hoàng hôn như mai sớm
Ngóng hạ vàng nắng lên
Cả bài thơ thấp thoáng âm điệu và ngôn từ của bài Tình ca ban mai của cố thi sĩ Chế Lan Viên, in trong tập ánh sáng và phù sa (Nxb Văn học, 1960). Có thể trích một số câu của Chế Lan Viên trong bài thơ kể trên để đối sánh:
Em đi như chiều đi
Gọi chim vườn bay hết
...Em ở trời trưa ở
Nắng sáng màu xanh che
Tình em như sao khuya
Rãi hạt vàng chi chít
...
Tình ta như lộc biếc
Gọi ban mai lại về
...
Hạnh phúc trên đầu ta
Mọc sao vàng chi chít
...
Dù không có câu nào trùng lặp hoàn toàn, nhưng người đọc vẫn dễ nhận ra điều gì đó như là sự lặp lại bài thơ hay của một tác giả nổi tiếng, về cả ngôn từ lẫn hình thức thể hiện. Tôi không tin là khi viết Hoàng hôn như mai sớm Thuý Bắc chưa hề đọc Tình ca ban mai.
Nói vậy để thấy, nếu có một bài thơ giống hệt, không khác bài Tình ca ban mai một chữ nào, thì liệu có ai tin là không phải của Chế Lan Viên? Cứ cho là Tình ca ban mai là một bài thơ “chuẩn mực”, và thực sự đó là một bài thơ hay.
Trong bài viết trao đổi với nhà thơ Thạch Quỳ, tác giả Hà Văn Thuỳ (Phụ san Thơ số 4) đồng ý là có luật đỉnh điểm, hay tính duy nhất của thi ca. Ông cho rằng “với mỗi đề tài nhất định sẽ xuất hiện bài thơ hay nhất”. Về điều này thì tôi có thể tin, cũng như tin rằng với cùng một đề tài, có thể có những cách thể hiện khác nhau và đều đạt tới mức độ hoàn hảo khiến những vị giám khảo sành sỏi nhất phải bối rối khi hạ bút chấm điểm. Trong trường hợp đó, luật đỉnh điểm bị phá vỡ.
Tôi cũng tin rằng “bài thơ đỉnh điểm là con chim ngũ sắc bay vút trên trời cao còn các nhà thơ là những người giương cung bắn... Nhưng chỉ duy nhất mũi tên trúng đích”. Và khi con chim ngũ sắc bị mũi tên duy nhất kia bắn trúng, nó rớt xuống, không còn cơ hội cho các thiện xạ khác nữa. Đó là nói ví von, hình tượng. Còn trên thực tế thi ca, với 24 con chữ biến ảo (chứ không phải chỉ 7 nốt trong âm nhạc), tôi không tin có những bài thơ trùng khít nhau.
Theo lập luận của Thạch Quỳ (Phụ san Thơ số 2), thơ ca có tính duy nhất, và để có cái duy nhất ấy cần có một điều kiện tiên quyết là các bài thơ cùng phải đạt đến sự chuẩn mực, tối ưu. Có vậy chúng mới trùng khít nhau được. Ông có đưa ra trường hợp của riêng mình, là năm 11-12 tuổi ông đã viết một số bài thơ, sau này (năm 16 tuổi) ông được đọc trong sổ tay thơ của bạn bè cùng lớp và kinh ngạc thấy có đến 4 bài chồng khít lên các bài thơ mình đã viết trước đó, không hề sai một câu, một chữ. Tất nhiên, điều đó không thể giải thích nổi. Và Thạch Quỳ cũng không hé lộ 4 bài thơ đó của ông trùng lặp những bài thơ nào, của tác giả nào. Chỉ biết, theo lập luận của ông thì khi còn rất trẻ đó, ông đã làm được những bài thơ rất chuẩn mực, đã đạt đến cái duy nhất. Về sau này, khi đã thành nhà thơ, đã dày dạn kinh nghiệm hơn, không thấy ông nói có làm thêm được bài nào chuẩn mực như vậy không.
Đọc bài của Thạch Quỳ, tôi cứ thắc mắc, sao cái sự trùng lặp đến kỳ lạ đó chỉ xảy ra với riêng ông, lại xảy ra tới 4 lần ở cái tuổi 11-12 còn rất non trẻ ấy? Và tôi cũng thật tò mò muốn được đọc loại thơ chuẩn mực đó, dù chỉ một bài.
(Báo văn nghệ, Thơ số 7+8)
Love mickey,