Hoàng Nhuận Cầm với bài thơ Thanh thản
Nguyễn Văn Điều
Thanh thản
(Lời của người gỡ mìn đã hy sinh)
Mẹ ơi - tóc bạc và mây trắng
Mặt đất bây giờ chắc đã xuân
Đêm ấy con vào khu vườn cấm
Không hái táo mà đi gỡ bom
Tròn ba mươi tuổi con chỉ biết
Đỏ mặt khi người ta nói hôn
Mẹ ơi - trước lúc con vĩnh biệt
Con không kịp thấy chỗ con nằm
Con chỉ nhớ ra sau tiếng nổ
Vẫn quỳ trước mẹ, trước vầng trăng.
Lời bình của Nguyễn Văn Điều
Mở đầu bài thơ là hình ảnh người mẹ kính yêu tóc nhuộm màu sương gió, cùng với không gian tươi xanh mơn mởn tràn đầy sức sống của mùa xuân. Đó là những hình ảnh cuối cùng đẹp đẽ nhất, thiêng liêng nhất lưu giữ trong trái tim của người con, người chiến sĩ Cách mạng trước lúc hy sinh vĩnh biệt quê hương trở về lòng đất mẹ. Mà chính những hình ảnh ấy đã hiện hữu động viên thôi thúc người chiến sĩ vượt lên không quản hiểm nguy khi đối mặt với kẻ thù, với cái chết cận kề trong gang tấc để hoàn thành nhiệm vụ được giao:
Đêm ấy con vào khu vườn cấm
Không hái táo mà đi gỡ bom
Câu thơ có bảy chữ mà chứa đựng hai hình ảnh, hai công việc tương phản nhau đến tàn nhẫn: Hái táo - gỡ bom. Người đọc hồi hộp đến nghẹt thở khi mường tượng thấy người lính công binh ấy vào nơi nguy hiểm, song không như ta tưởng. Chính người chiến sĩ ấy với bản chất dũng cảm gan dạ đã làm ta an lòng, anh đã đi vào nơi nguy hiểm đối mặt với cái chết trong gang tấc ấy một cách tự tin bình thản đến lạ lùng. “Đi gỡ bom”, từ đi ở câu thơ này được dùng một cách đắc địa.
Tròn ba mươi tuổi con chỉ biết
Đỏ mặt khi người ta nói hôn
Thật cảm động, người đọc như muốn được sẻ chia an ủi cùng người trai đã từng đối mặt với kẻ thù, với hiểm nguy chết chóc mà không hề run rợ, không hề nao núng, đắn đo do dự. Nhưng lại ngượng ngùng đỏ mặt trước những nụ hôn thuần khiết nồng nàn mà người con gái anh yêu trao tặng…
Nếu ví cả bài thơ là một bức tranh hoành tráng bi hùng mô phỏng về sự hy sinh của người chiến sĩ dò gỡ bom mìn. Thì khổ thơ cuối cùng gồm bốn câu là những đường nét xuất thần mà người hoạ sĩ, thi sĩ tài hoa Hoàng Nhuận Cầm đã khắc hoạ nên bằng những gam màu hình khối sống động khoẻ khoắn bừng sáng trên nền bức tranh dệt bằng ánh trăng ngời ngời diệu vợi của đêm mùa xuân quê hương:
Mẹ ơi - trước lúc con vĩnh biệt
Con không kịp thấy chỗ con nằm
Con chỉ biết rằng sau tiếng nổ
Vẫn quỳ trước mẹ, trước vầng trăng.
Bằng cảm xúc xuất thần thăng hoa cùng với trái tim nhạy cảm của mình, nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm đã vận dụng hết tinh lực dồn lên đầu ngọn bút hoá thân vào cái chết bất tử của người chiến sỹ Cách mạng. Viết về cái chết bất ngờ tức tưởi là vậy mà người đọc không nhìn thấy sự chết chóc đâu cả, ngòi bút của tác giả rung lên đau đớn biến cái chết ấy thành sự sống lung linh, tái sinh cộng hưởng cùng vũ trụ bao la…
Con chỉ biết rằng sau tiếng nổ
Vẫn quỳ trước mẹ, trước vầng trăng
Tôi thật tâm đắc với từ “quỳ” ở câu thơ cuối bài, nhiều lúc cứ tự hỏi nếu từ quỳ kia giả sử thay bằng từ “ngồi” hoặc từ “nằm” thì sẽ như thế nào? Chắc cả câu thơ này sẽ hỏng và làm hỏng cả bài thơ. Quỳ trước mẹ, trước vầng trăng! Quỳ trước hai tượng đài lòng mẹ và vầng trăng xứ sở! Tình mẹ bao la cùng với vầng trăng nguyên sơ kỳ vĩ đã giang rộng vòng tay ôm đứa con thân yêu gan dạ dũng cảm vào lòng xoa dịu nỗi đau về thể xác. Và anh đã thanh thản về với đất lành. Câu thơ cuối cùng bất ngờ ngược sáng dựng cả bài thơ 10 câu lên thành một thi phẩm trọn vẹn.
Nhưng, trên tất cả vẫn là phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ cộng sản. Họ làm tròn bổn phận công dân của một dân tộc anh hùng:
“Sống và chết/ Giản dị và bình tâm/ Không ai nhớ mặt đặt tên/ Nhưng họ đã làm ra Đất nước”. (Đất nước - “Mặt đường khát vọng” Nguyễn Khoa Điềm)
(Báo văn nghệ, Thơ số 7+8)
Nguyễn Văn Điều
Thanh thản
(Lời của người gỡ mìn đã hy sinh)
Mẹ ơi - tóc bạc và mây trắng
Mặt đất bây giờ chắc đã xuân
Đêm ấy con vào khu vườn cấm
Không hái táo mà đi gỡ bom
Tròn ba mươi tuổi con chỉ biết
Đỏ mặt khi người ta nói hôn
Mẹ ơi - trước lúc con vĩnh biệt
Con không kịp thấy chỗ con nằm
Con chỉ nhớ ra sau tiếng nổ
Vẫn quỳ trước mẹ, trước vầng trăng.
Lời bình của Nguyễn Văn Điều
Mở đầu bài thơ là hình ảnh người mẹ kính yêu tóc nhuộm màu sương gió, cùng với không gian tươi xanh mơn mởn tràn đầy sức sống của mùa xuân. Đó là những hình ảnh cuối cùng đẹp đẽ nhất, thiêng liêng nhất lưu giữ trong trái tim của người con, người chiến sĩ Cách mạng trước lúc hy sinh vĩnh biệt quê hương trở về lòng đất mẹ. Mà chính những hình ảnh ấy đã hiện hữu động viên thôi thúc người chiến sĩ vượt lên không quản hiểm nguy khi đối mặt với kẻ thù, với cái chết cận kề trong gang tấc để hoàn thành nhiệm vụ được giao:
Đêm ấy con vào khu vườn cấm
Không hái táo mà đi gỡ bom
Câu thơ có bảy chữ mà chứa đựng hai hình ảnh, hai công việc tương phản nhau đến tàn nhẫn: Hái táo - gỡ bom. Người đọc hồi hộp đến nghẹt thở khi mường tượng thấy người lính công binh ấy vào nơi nguy hiểm, song không như ta tưởng. Chính người chiến sĩ ấy với bản chất dũng cảm gan dạ đã làm ta an lòng, anh đã đi vào nơi nguy hiểm đối mặt với cái chết trong gang tấc ấy một cách tự tin bình thản đến lạ lùng. “Đi gỡ bom”, từ đi ở câu thơ này được dùng một cách đắc địa.
Tròn ba mươi tuổi con chỉ biết
Đỏ mặt khi người ta nói hôn
Thật cảm động, người đọc như muốn được sẻ chia an ủi cùng người trai đã từng đối mặt với kẻ thù, với hiểm nguy chết chóc mà không hề run rợ, không hề nao núng, đắn đo do dự. Nhưng lại ngượng ngùng đỏ mặt trước những nụ hôn thuần khiết nồng nàn mà người con gái anh yêu trao tặng…
Nếu ví cả bài thơ là một bức tranh hoành tráng bi hùng mô phỏng về sự hy sinh của người chiến sĩ dò gỡ bom mìn. Thì khổ thơ cuối cùng gồm bốn câu là những đường nét xuất thần mà người hoạ sĩ, thi sĩ tài hoa Hoàng Nhuận Cầm đã khắc hoạ nên bằng những gam màu hình khối sống động khoẻ khoắn bừng sáng trên nền bức tranh dệt bằng ánh trăng ngời ngời diệu vợi của đêm mùa xuân quê hương:
Mẹ ơi - trước lúc con vĩnh biệt
Con không kịp thấy chỗ con nằm
Con chỉ biết rằng sau tiếng nổ
Vẫn quỳ trước mẹ, trước vầng trăng.
Bằng cảm xúc xuất thần thăng hoa cùng với trái tim nhạy cảm của mình, nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm đã vận dụng hết tinh lực dồn lên đầu ngọn bút hoá thân vào cái chết bất tử của người chiến sỹ Cách mạng. Viết về cái chết bất ngờ tức tưởi là vậy mà người đọc không nhìn thấy sự chết chóc đâu cả, ngòi bút của tác giả rung lên đau đớn biến cái chết ấy thành sự sống lung linh, tái sinh cộng hưởng cùng vũ trụ bao la…
Con chỉ biết rằng sau tiếng nổ
Vẫn quỳ trước mẹ, trước vầng trăng
Tôi thật tâm đắc với từ “quỳ” ở câu thơ cuối bài, nhiều lúc cứ tự hỏi nếu từ quỳ kia giả sử thay bằng từ “ngồi” hoặc từ “nằm” thì sẽ như thế nào? Chắc cả câu thơ này sẽ hỏng và làm hỏng cả bài thơ. Quỳ trước mẹ, trước vầng trăng! Quỳ trước hai tượng đài lòng mẹ và vầng trăng xứ sở! Tình mẹ bao la cùng với vầng trăng nguyên sơ kỳ vĩ đã giang rộng vòng tay ôm đứa con thân yêu gan dạ dũng cảm vào lòng xoa dịu nỗi đau về thể xác. Và anh đã thanh thản về với đất lành. Câu thơ cuối cùng bất ngờ ngược sáng dựng cả bài thơ 10 câu lên thành một thi phẩm trọn vẹn.
Nhưng, trên tất cả vẫn là phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ cộng sản. Họ làm tròn bổn phận công dân của một dân tộc anh hùng:
“Sống và chết/ Giản dị và bình tâm/ Không ai nhớ mặt đặt tên/ Nhưng họ đã làm ra Đất nước”. (Đất nước - “Mặt đường khát vọng” Nguyễn Khoa Điềm)
(Báo văn nghệ, Thơ số 7+8)
Love mickey,