Françoise Sagan! Bonjour tristesse! Buồn ơi, chào mi!
Cái tên, cái tựa đề không chỉ là tên và tựa đề mà – với tôi - là biểu trưng cho cả một thời kỳ.
Ðầu thập niên 1960, thế hệ chúng tôi – đặc biệt những người sống ở các thành phố lớn như Huế, Sài Gòn, Ðà Nẵng, Ðà Lạt... - vừa bước ra khỏi thế giới tuổi thơ trong một khoảng thời gian hiếm hoi đất nước sống trong thanh bình. Người đệ nhị, kẻ đệ nhất [4] , người thì vừa bước chân lên ngưỡng cửa đại học, chúng tôi được chứng kiến và sống trọn với nhiều chuyển biến đã để lại ảnh hưởng sâu đậm đến nền văn học nghệ thuật miền Nam và rồi là Hải Ngoại nhiều thập niên sau này. Về văn, từ những Hồm bướm mơ tiên, Ðoạn tuyệt, Nửa chừng xuân... chúng tôi bước vào Bếp Lửa, Cũng đành, Chuyến tàu trên sông Hồng, Mái tóc bạch kim... Trong các lớp ban C cấp 3, thầy cô đã từng bước cho học sinh thuyết trình những tác phẩm mới thay vì chỉ những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn. Tôi biết có giáo sư đã cho một học sinh đệ tam (lớp 9) thuyết trình “Cũng đành” của Dương Nghiễm Mậu. Về báo, từ Phổ Thông, Thời Nay, Văn Hóa Ngày Nay, chúng tôi bước vào Sáng Tạo, Hiện Ðại, Thế Kỷ Hai Mươi. Về tác giả, từ Nhất Linh, Khái Hưng, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư..., chúng tôi hào hứng đến với Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Dương Nghiễm Mậu, Mai Thảo. Về hội họa, chúng tôi tiếp cận với hội họa phương Tây qua một lớp họa sĩ trẻ tài năng và nhiệt tình qua “Hội hoạ sĩ trẻ” với những Ðinh Cường, Trịnh Cung, Nguyễn Trung, Tôn Thất Văn, Hồ Thành Ðức. Rồi nào là Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn và rất nhiều khuôn mặt mới toanh khác, thuộc đủ mọi ngành nghệ thuật.
Về văn học nước ngoài, tuy người Pháp đã ra đi, nhưng ảnh hưởng của văn hóa Pháp vẫn còn mạnh mẽ. Chúng tôi vẫn thích nói về Paris, về viện bảo tàng Louvre, về sông Seine, về khu Saint Germain des prés, về công viên Luxembourg – những nơi nào đó ở Paris mà chúng tôi chẳng hề đặt chân tới. Trước khi văn hóa Mỹ cùng với chiến tranh chế ngự không khí văn hóa và xã hội Việt Nam, chúng tôi đọc sách báo Pháp, nghe nhạc Pháp, xem phim Pháp, chuộng phong thái “parisienne”. Chúng tôi vẫn thường lui tới các phòng thông tin văn hóa Pháp để đọc sách, muợn sách và theo học các lớp Pháp ngữ. Từ Alphonse Daudet, Victor Hugo, Lamartine, chúng tôi “đụng” Sartre, Camus, Jacques Prévert... Mốt hồi đó, là sau yên chiếc xe đạp hay trên tay, lúc nào cũng có một cuốn “Livre de poche” gọn, nhỏ (mà chữ nghĩa và tên tuổi rất “nặng ký”), nếu không La condition humaine, Huis-clos, Le mur...thì cũng La nausée, Les mains sales, Le malentendu. Ấy, đọc Sartre, Camus, Malraux, xem phim Brigitte Bardot, và say sưa thưởng thức các giọng ca hàng đầu Pháp Sylvie Vartan, Johnny Hallyday, Françoise Hardy với những bài hát Pháp vừa mới sáng tác là “mốt” thời thượng của chúng tôi.
Ðó cũng là thời xuất hiện các quán cà phê văn nghệ, nơi chúng tôi đàn đúm ngày đêm để đấu láo, tán róc. Dáng dấp anh nào anh nấy đã có cái gì lất khất, lừng khừng, bụi bụi. Khuôn mặt lúc nào cũng ra vẻ bất cần đời. Có tay, đầu đội mũ bê rê lệch, miệng ngậm tẩu, khoác áo pardessus, trông có vẻ Tây, thầm hãnh diện với mấy ngón tay cháy vàng khói thuốc. Những “cuộc” cà phê thâu đêm suốt sáng đêm. Những “trận” rượu ngất ngưởng. Chữ nghĩa nghe mới toanh: hư vô, hiện sinh, mệt nhoài, nổi loạn, thái độ, dấn thân, phi lý...
Françoise Sagan – và Bonjour tristesse - xuất hiện trong không khí đó. Thời đó, sau khi người Pháp ra đi, trừ những gia đình giàu có cho con theo học các trường Tây, còn hầu hết chúng tôi đều học chương trình Việt. Pháp văn (cũng như Anh Văn) trở thành ngoại ngữ, trung bình chỉ có 4 giờ/tuần. Bởi thế, những tác phẩm “nặng ký” của Sartre, hay Camus, hay Malraux không phải là dễ đọc đối với chúng tôi. May nhờ sách dịch và các tạp chí văn chương giới thiệu, nên ít nhiều cũng nắm được nội dung để có thể lần mò đọc và hiểu. Khác với những tác phẩm kể trên, Bonjour tristesse ngắn, ấn bản “Livre de poche” chỉ có 173 trang, chữ khổ trung bình. Văn viết gọn ghẽ, dễ hiểu. Tư tưởng tuy mới, nhưng không có gì cao siêu, khó hiểu, chỉ cần trình độ Pháp văn trung bình là có thể đọc hết nguyên con trong một thời gian tương đối ngắn. Với Bonjour tristesse, một cánh cửa vốn đóng im ỉm bỗng nhiên mở toang trước mặt chúng tôi. Thế giới đột nhiên mênh mông hẳn ra. Cuộc sống bỗng nhiên trở thành lạ mặt. Thành phố, người thân, người yêu, bạn bè, trường học, gia đình... bỗng xuất hiện trong một dáng dấp hoàn toàn mới.
Nhà phê bình Ðặng Tiến – trước chúng tôi chừng nửa thế hệ - ghi nhận: năm 1954, “miền Nam Việt Nam trở thành một thực thể chính trị độc lập, thật sự mở cửa đón nhận ảnh hưởng văn hóa Phương Tây. Sách báo phương Tây du nhập ồ ạt: sách tiếng Anh (của Usis), tiếng Ðức (của viện Goethe) và nhất là sách tiếng Pháp nhập khẩu với giá rẻ nhờ có tài trợ (sách AC, Action Culturelle) cước phí rẻ, giá ân huệ, tràn ngập các hiệu sách Xuân Thu, Lê Phan và các nhà sách trên đường Lê Lợi. Tại Sài Gòn, 1954, người đọc tiếp nhận Bonjour tristesse cùng một lúc với Paris, mà giá rẻ hơn (tương đối với ngoại tệ). Và cùng một lúc với sách báo, quần chúng Việt Nam tiếp xúc với âm nhạc, điện ảnh Tây Phương. Bản thân tôi đã xem vở kịch Chateau en Suede (Lâu đài Thụy Ðiển), 1960, của Sagan tại Sài Gòn, cùng lúc với Paris, do Pháp Văn Ðồng Minh Hội (Alliance Francaise) tổ chức” [5] .
Nguyễn Văn Lục, trong một bài viết công phu trên tạp chí Hợp Lưu [6] , liệt kê rất đầy đủ sách dịch trong vòng 20 năm ở miền Nam, 1955-1975, cho biết người đầu tiên giới thiệu Sagan là giáo sư Nguyễn Nam Châu, sau đó là Cô Liêu (Vũ Ðình Lưu) với bài “Sứ mệnh văn chương của Françoise Sagan” (Bách Khoa/1958) và Hoàng Thái Linh (Nguyễn Văn Trung) với bài “Trường hợp Sagan hay vấn đề luân lý trong tiểu thuyết”. Về dịch thuật, Nguyễn Văn Lục ghi nhận có 4 tác phẩm của Sagan được dịch ra tiếng Việt, đó là: Bonjour tristesse (một do Nguyễn Vỹ và một do Lê Huy Oanh), Un certain sourire (do Nguyễn Minh Hoàng), Dans un mois, dans un an (do Bửu Ý) và Les merveilles nuages (do Ðinh Bá Kha). Bonjour tristesse được Nguyễn Vỹ dịch là “Buồn ơi, chào mi”, còn Lê Huy Oanh dịch là “Buồn ơi, xin chào”, nhưng không hiểu sao cụm từ “Buồn ơi chào mi” lại được nhắc nhở nhiều hơn, có lẽ vì nghe nó thuận tai chăng?
Trước khi đi xa hơn với cuộc đời và sự nghiệp của Sagan, ta hãy nói về Bonjour tristesse. Xin tóm tắt câu chuyện:
Cô gái tên là Cécile, 17 tuổi cùng cha, Raymond, trong độ 40 tuổi, góa vợ và bà Elsa, tình nhân của cha, đi nghỉ hè ở bờ biển Côte d’azur. Sau, cha cô mời thêm một người bạn cũ của mẹ cô là Anne cùng đến đó. Trên bãi biển, cô quen một sinh viên, cũng đi nghỉ hè, tên là Cyril, và cùng nhau đi chơi, đi bơi, đi khiêu vũ. Hai người hôn nhau, làm tình với nhau. Anne là một người đàn bà cỡ tuổi 40, chăm sóc cô như một người mẹ và khá nghiêm khắc. Bà ta tỏ ra không ưa Cyril và muốn Cécile bỏ anh ta và học để thi lại cái bằng tú tài mà cô hỏng năm rồi. Ðiều này khiến Cécile vô cùng bực bội và đâm ra ghét Anne. Ðã thế, sau một thời gian ngắn, cha cô yêu Anne, bỏ rơi Elsa và dự tính kết hôn cùng bà ta, khiến cô lại càng tức giận. Thế là cô cùng anh chàng tình nhân vừa quen sắp đặt một kế hoạch để ly gián hai người. Ðược sự đồng ý của Elsa (bà này cũng đang buồn vì bị tình phụ), hai người dàn một cảnh yêu đương và để cho cha cô trông thấy. Ông giận dữ, tức tối vì thấy thấy tình nhân của mình lại bị một tay trai trẻ bằng tuổi con mình chiếm đoạt, nên hối hận, quay về với Elsa. Anne bắt gặp hai người âu yếm, buồn tình bỏ đi, và bị tai nạn, chết. Mọi người hối hận, nhưng mọi sự đã rồi. Cha cô và cô trở về lại Paris, sống lại đời sống bình thường cũ. Nhưng cô gái trẻ bây giờ không còn vô tư như trước mà phát sinh ra một trạng thái tình cảm mới: nỗi buồn.
Tình tiết câu chuyện nghe đã lạ. Văn vẻ càng lạ hơn. Xin ghi lại vài đoạn trích từ Bonjour tristesse, nguyên bản Pháp ngữ [7] (có tạm dịch ở phần ghi chú). Tác phẩm mở đầu như sau:
“Sur le sentiment inconnu dont l’ennui, la douceur m’obsèdent, j’hésite à apposer le nom, le beau nom grave de tristesse. C’est un sentiment si complet, si égoiste que j’en ai presque honte alors que la tristesse m’a toujours paru honorable. (...) Aujourd’hui, quelque chose se replie sur moi comme une soie, énervante et douce, et me sépare des autres. Cet été-là, j’avais dix-sept ans et j’étais parfaitement heureuse. Les “autres” étaient mon père et Elsa, sa maitresse” [8] (tr. 1)
★
★
★
★
★
0