Lý luận văn học sẽ phủi bụi trên các chồng bản thảo?
Một nhà phê bình văn học làm việc ở một cơ quan văn nghệ lớn có lần kể một chuyện cười buồn: một hôm nọ anh ghé phòng làm việc của một nhà văn khá danh tiếng và khá lớn tuổi, thấy một chồng bản thảo tiểu thuyết dự thi để trên bàn; nhà văn này khi ấy là một thành viên trong ban giám khảo của cuộc thi ấy; nhà phê bình này vốn là một người đọc rất khỏe và đọc như cơm bữa, bèn nói với nhà văn: “Khi nào bác đọc xong chỗ bản thảo này thì nhớ cho em mượn xem một tí...”; thế rồi đến một hôm nọ nhà văn cho nhà phê bình mượn chồng bản thảo dự thi kia; nhà phê bình hớn hở bê về, quệt ngón tay lên trang (bìa) đầu tiên của cuốn bản thảo đầu tiên thì thấy ngón tay mình vẽ lên mặt giấy một vệt dài thượt...; nhà phê bình định thần ngắm kỹ chồng bản thảo rồi vết bụi dày trên đầu ngón tay và nhận ra rằng vị giám khảo này chưa hề xem đến chồng “quyển dự thi” này.
Tạp chí Văn học số 1/2005 có một loạt bài quanh chủ đề “lý luận văn học trước yêu cầu đổi mới và phát triển”. Bài thứ nhất: Hướng tới một nền lý luận văn chương năng động, cởi mở, giàu tính khoa học và nhân văn (của tác giả Vũ Tuấn Anh) đã đưa một cái nhìn khái quát về “thực trạng và hướng đi của lý luận”, trong đó có một luận điểm rất thú vị đề cập đến sự cởi mở và tính đa dạng của lý luận văn học như một yêu cầu của thời đại mới trong xã hội. Trong luận điểm này, tác giả viết: “Phát triển lý luận, về một mặt nào đó cũng có nghĩa là phát triển sự đa dạng trong lý luận. Sự ngự trị của một hệ thống lý luận duy nhất và độc tôn đã tỏ ra không còn thích hợp. Cơ sở của tính đa dạng trong lý luận và phương pháp nằm ngay trong sự đa dạng của thực tiễn văn học, của nhiều ý tưởng sáng tạo của nhà văn và ngay trong định hướng văn nghệ của Đảng: “Khuyến khích tìm tòi mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng tinh thần lành mạnh bổ ích của công chúng”. Tiếp sau đó, tác giả đã đưa ra luận điểm về yêu cầu về tính năng động của lý luận. Đối sách với tình trạng “lý luận của ta còn thiếu sự năng động trong việc tham gia và thúc đẩy quá trình văn học” (bài đã dẫn), tác giả cho biết, ở nước ngoài đã có “nhiều lý thuyết gắn với chữ criticism đã như mượn khuôn mặt và phương pháp phê bình để tiến hành những tìm kiếm, khám phá trong sự tham gia trực tiếp vào thực tiễn sinh động của văn học” (bài đã dẫn).
Trích dẫn từ hai luận điểm trên của tác giả Vũ Tuấn Anh, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến ý tưởng mà tác giả trình bày rằng cơ sở của tính đa dạng của lý luận chính là sự đa dạng của “thực tiễn văn học”; và tiếp đó, trong phần về tính năng động, tác giả đã giải thích rõ hơn khi nói đến việc nhiều lý thuyết đã thông qua hoạt động phê bình (criticism) để tiến hành nghiên cứu khám quá qua việc phê bình các tác phẩm văn chương. Ở đây, có lẽ ta được phép hiểu cách diễn đạt quy phạm của tác giả về cái “thực tiễn sinh động của văn học” không gì khác hơn là hoạt động sáng tác và xuất bản các tác phẩm văn chương.
Vậy, nếu cơ sở để có một “tính đa dạng trong lý luận và phương pháp”, - điều mà ta có thể hiểu chính là bản thân sự đa dạng về phương pháp và lý thuyết, sự đa dạng mà một loạt bài viết trong cùng số Tạp chí này đã đề cập khi nói về lý luận - phê bình ở phương Tây, Nga và Trung Quốc - nếu cái cơ sở ấy là nằm ngay trong sự đa dạng của các sáng tác văn chương và việc xuất bản các sáng tác ấy (hay thậm chí cả việc không/chưa xuất bản) thì vấn đề của lý luận - phê bình hiện nay đã được hai luận điểm nói trên đề ra rõ ràng: phải khảo sát, phân tích, phê bình toàn bộ cái “sự đa dạng của thực tiễn văn học” đó, nói nôm na là toàn bộ cái khối lượng, số lượng, cái dòng chảy những sản phẩm văn chương đương đại, từ những ấn phẩm cho đến những bản thảo trên bàn các biên tập viên Nhà xuất bản hay những bản thảo dự thi... Nếu không làm những cuộc “điền dã” trên hàng kilômét văn bản như thế, những cuộc điền dã không hề kém phần nặng nhọc so với, chẳng hạn, những chuyến khảo sát của các nhà địa chất hay của những người đi đo đạc cắm cột mốc nơi biên giới, thì liệu lý luận - phê bình sẽ làm gì để thực sự có “tính đa dạng”, có tác dụng thúc đẩy hay hướng đạo cho sáng tác văn chương?
Có lẽ, việc đề ra một hướng nhiệm vụ - mục tiêu cho lý luận, dù không dễ dàng, vẫn chưa là khó khăn. Cái khó khăn thực sự chỉ bắt đầu khi thực sự bước vào thực hiện công việc để đạt được mục tiêu ấy. Và một trong những khó khăn đầu tiên ở đây có lẽ là việc đạt được một quan điểm tiếp cận cái “thực tiễn sinh động của văn học” nước nhà. Một trong những lý do dẫn đến điều khó khăn này có lẽ là ở chỗ vốn tồn tại một thứ “quán tính” trong việc đánh giá, xếp hạng, phân loại tác phẩm văn chương - công việc mà hiện nay dường như thể loại phê bình báo chí vẫn một tay ôm lấy, mà lại không thể rạch ròi bởi khuôn khổ của thể loại. Trong khi đó, dường như ngành lý luận - phê bình, nếu có thể gọi là một cộng đồng như thế, dường như vẫn đứng bên ngoài một cái hàng rào mơ hồ nào đó.
Nếu lý luận xác định rằng có một “thực tiễn sinh động của văn học” thời đổi mới, thì chắc hẳn không có gì khó về lý luận để xác định, hay giả định một giai đoạn hình thành hay phát triển, xác định hay giả định những tác giả/tác phẩm nào đã có vai trò ít/nhiều quan trọng của cái giai đoạn đó... Và nếu đã có thể xác định, thì vì sao lại không đi vào khảo sát, tìm tòi ở chính những điểm mốc quan trọng đó? Chắc chắn đấy sẽ là những nơi chứng nghiệm các lý thuyết, dù cũ hay mới, có hiệu quả hay không. Và, điều ta mong đợi là, từ cái “thực tiễn sinh động” ấy, các nhà lý luận - phê bình sẽ khám phá những khía cạnh thực sự của bản sắc văn chương mà người viết chắc chắn phải đưa vào tác phẩm và thể hiện chúng.
Một lần đã lâu, chúng tôi được nghe một nhà văn phía Nam kể rằng chính anh đã, trong khi tò mò đọc đống bản thảo truyện ngắn dự thi dưới gầm bàn một vị giám khảo, phát hiện được một truyện ngắn rất thú... May (hay là không may!), truyện ngắn đó sau đã đoạt giải nhất ở các cuộc thi mà có thể chỉ chút nữa thôi nó đã ra rìa.
Lý luận - phê bình sẽ làm việc đó chăng?
Người Hà Nội, số 9, ngày 4/3/2005
Một nhà phê bình văn học làm việc ở một cơ quan văn nghệ lớn có lần kể một chuyện cười buồn: một hôm nọ anh ghé phòng làm việc của một nhà văn khá danh tiếng và khá lớn tuổi, thấy một chồng bản thảo tiểu thuyết dự thi để trên bàn; nhà văn này khi ấy là một thành viên trong ban giám khảo của cuộc thi ấy; nhà phê bình này vốn là một người đọc rất khỏe và đọc như cơm bữa, bèn nói với nhà văn: “Khi nào bác đọc xong chỗ bản thảo này thì nhớ cho em mượn xem một tí...”; thế rồi đến một hôm nọ nhà văn cho nhà phê bình mượn chồng bản thảo dự thi kia; nhà phê bình hớn hở bê về, quệt ngón tay lên trang (bìa) đầu tiên của cuốn bản thảo đầu tiên thì thấy ngón tay mình vẽ lên mặt giấy một vệt dài thượt...; nhà phê bình định thần ngắm kỹ chồng bản thảo rồi vết bụi dày trên đầu ngón tay và nhận ra rằng vị giám khảo này chưa hề xem đến chồng “quyển dự thi” này.
Tạp chí Văn học số 1/2005 có một loạt bài quanh chủ đề “lý luận văn học trước yêu cầu đổi mới và phát triển”. Bài thứ nhất: Hướng tới một nền lý luận văn chương năng động, cởi mở, giàu tính khoa học và nhân văn (của tác giả Vũ Tuấn Anh) đã đưa một cái nhìn khái quát về “thực trạng và hướng đi của lý luận”, trong đó có một luận điểm rất thú vị đề cập đến sự cởi mở và tính đa dạng của lý luận văn học như một yêu cầu của thời đại mới trong xã hội. Trong luận điểm này, tác giả viết: “Phát triển lý luận, về một mặt nào đó cũng có nghĩa là phát triển sự đa dạng trong lý luận. Sự ngự trị của một hệ thống lý luận duy nhất và độc tôn đã tỏ ra không còn thích hợp. Cơ sở của tính đa dạng trong lý luận và phương pháp nằm ngay trong sự đa dạng của thực tiễn văn học, của nhiều ý tưởng sáng tạo của nhà văn và ngay trong định hướng văn nghệ của Đảng: “Khuyến khích tìm tòi mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng tinh thần lành mạnh bổ ích của công chúng”. Tiếp sau đó, tác giả đã đưa ra luận điểm về yêu cầu về tính năng động của lý luận. Đối sách với tình trạng “lý luận của ta còn thiếu sự năng động trong việc tham gia và thúc đẩy quá trình văn học” (bài đã dẫn), tác giả cho biết, ở nước ngoài đã có “nhiều lý thuyết gắn với chữ criticism đã như mượn khuôn mặt và phương pháp phê bình để tiến hành những tìm kiếm, khám phá trong sự tham gia trực tiếp vào thực tiễn sinh động của văn học” (bài đã dẫn).
Trích dẫn từ hai luận điểm trên của tác giả Vũ Tuấn Anh, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến ý tưởng mà tác giả trình bày rằng cơ sở của tính đa dạng của lý luận chính là sự đa dạng của “thực tiễn văn học”; và tiếp đó, trong phần về tính năng động, tác giả đã giải thích rõ hơn khi nói đến việc nhiều lý thuyết đã thông qua hoạt động phê bình (criticism) để tiến hành nghiên cứu khám quá qua việc phê bình các tác phẩm văn chương. Ở đây, có lẽ ta được phép hiểu cách diễn đạt quy phạm của tác giả về cái “thực tiễn sinh động của văn học” không gì khác hơn là hoạt động sáng tác và xuất bản các tác phẩm văn chương.
Vậy, nếu cơ sở để có một “tính đa dạng trong lý luận và phương pháp”, - điều mà ta có thể hiểu chính là bản thân sự đa dạng về phương pháp và lý thuyết, sự đa dạng mà một loạt bài viết trong cùng số Tạp chí này đã đề cập khi nói về lý luận - phê bình ở phương Tây, Nga và Trung Quốc - nếu cái cơ sở ấy là nằm ngay trong sự đa dạng của các sáng tác văn chương và việc xuất bản các sáng tác ấy (hay thậm chí cả việc không/chưa xuất bản) thì vấn đề của lý luận - phê bình hiện nay đã được hai luận điểm nói trên đề ra rõ ràng: phải khảo sát, phân tích, phê bình toàn bộ cái “sự đa dạng của thực tiễn văn học” đó, nói nôm na là toàn bộ cái khối lượng, số lượng, cái dòng chảy những sản phẩm văn chương đương đại, từ những ấn phẩm cho đến những bản thảo trên bàn các biên tập viên Nhà xuất bản hay những bản thảo dự thi... Nếu không làm những cuộc “điền dã” trên hàng kilômét văn bản như thế, những cuộc điền dã không hề kém phần nặng nhọc so với, chẳng hạn, những chuyến khảo sát của các nhà địa chất hay của những người đi đo đạc cắm cột mốc nơi biên giới, thì liệu lý luận - phê bình sẽ làm gì để thực sự có “tính đa dạng”, có tác dụng thúc đẩy hay hướng đạo cho sáng tác văn chương?
Có lẽ, việc đề ra một hướng nhiệm vụ - mục tiêu cho lý luận, dù không dễ dàng, vẫn chưa là khó khăn. Cái khó khăn thực sự chỉ bắt đầu khi thực sự bước vào thực hiện công việc để đạt được mục tiêu ấy. Và một trong những khó khăn đầu tiên ở đây có lẽ là việc đạt được một quan điểm tiếp cận cái “thực tiễn sinh động của văn học” nước nhà. Một trong những lý do dẫn đến điều khó khăn này có lẽ là ở chỗ vốn tồn tại một thứ “quán tính” trong việc đánh giá, xếp hạng, phân loại tác phẩm văn chương - công việc mà hiện nay dường như thể loại phê bình báo chí vẫn một tay ôm lấy, mà lại không thể rạch ròi bởi khuôn khổ của thể loại. Trong khi đó, dường như ngành lý luận - phê bình, nếu có thể gọi là một cộng đồng như thế, dường như vẫn đứng bên ngoài một cái hàng rào mơ hồ nào đó.
Nếu lý luận xác định rằng có một “thực tiễn sinh động của văn học” thời đổi mới, thì chắc hẳn không có gì khó về lý luận để xác định, hay giả định một giai đoạn hình thành hay phát triển, xác định hay giả định những tác giả/tác phẩm nào đã có vai trò ít/nhiều quan trọng của cái giai đoạn đó... Và nếu đã có thể xác định, thì vì sao lại không đi vào khảo sát, tìm tòi ở chính những điểm mốc quan trọng đó? Chắc chắn đấy sẽ là những nơi chứng nghiệm các lý thuyết, dù cũ hay mới, có hiệu quả hay không. Và, điều ta mong đợi là, từ cái “thực tiễn sinh động” ấy, các nhà lý luận - phê bình sẽ khám phá những khía cạnh thực sự của bản sắc văn chương mà người viết chắc chắn phải đưa vào tác phẩm và thể hiện chúng.
Một lần đã lâu, chúng tôi được nghe một nhà văn phía Nam kể rằng chính anh đã, trong khi tò mò đọc đống bản thảo truyện ngắn dự thi dưới gầm bàn một vị giám khảo, phát hiện được một truyện ngắn rất thú... May (hay là không may!), truyện ngắn đó sau đã đoạt giải nhất ở các cuộc thi mà có thể chỉ chút nữa thôi nó đã ra rìa.
Lý luận - phê bình sẽ làm việc đó chăng?
Người Hà Nội, số 9, ngày 4/3/2005
Love mickey,