<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc < Edited by: <b>HongYen</b> -- <b>8/28/2003 11:32:05 AM </b> >>
Nhân dịp đề cập đến câu chuyện một bệnh nhân bị nhên cắn, tôi có yêu cầu Bs Cường cho một bài viết về điều trị nhện độc cắn. Bệnh nhân khi đến phòng mạch than phiền bị nhện cắn mà nhiều khi sau đó khám phá ra là không phảị Bài viết này dựa trên tài liệu của báo Emergency Medicine, nói đến bệnh nhân bị nhện độc cắn thiệt. Hình hai loại nhện độc trong links ở cuối bài viết.
TNDG
CHỮA TRỊ NHỆN CẮN :BS Trịnh Cường
Trong mùa hè số bệnh nhân bị nhện cắn rất nhiều. Số người tới khám tại các chẩn y viện, phòng tiểu cấp cứu vì nhện cắn rất thường. Đa số thương tích vì nhện cắn không nguy hiểm. Tuy nhiên có hai loại nhện mà vết cắn có thể gây nên những biến chứng đòi hỏi sự chú ý của y-sĩ.
Loxocelism là bệnh nhện cắn do nhện Brown recluse Loxoceles reclusa gây nên phản ứng tại chỗ và đôi khi có những triệu chứng toàn diê.n. Y sĩ phải nghi ngờ đến nhện này khi vết cắn đỏ ửng bắt đầu bị hoại tử.
Latrodectism bệnh do vết cắn của nhện Black widow Lactodectus mactans gây nên gây nên triệu chứng toàn diện gồm có nhức đầu, ói mửa, co rút bắp thịt và đau bu.ng.
Địa điểm hiện diện của nhện brown recluse (Nhện nâu ẩn dật) Loxoceles reclusa Nhện này còn được gọi là nhện có đàn vĩ cầm (vì có hình giống đàn vĩ cầm trên lưng) thường tìm thấy ở vùng trung nam nước Mỹ. Những loại khác gồm có L. arizonica và L. deserta thường được tìm thấy ở vùng xa mạc phía Tây Nam.
Y sĩ phải thận trọng khi định bệnh là bệnh nhân bị nhện brown recluse cắn, khi bệnh nhân bị nhện cắn ở những vùng nước Mỹ không có loại nhện này. Vết cắn do brown recluse khó định bê.nh. Nạn nhân thường không nhìn thấy con nhện khi bị cắn. Một cuộc nghiên cứu tái hồi (retrospective study) của một trăm mười một (111) bệnh nhân cho biết là chỉ có 20% nhìn thấy con nhện khi bị cắn và 12% mang con nhện tới phòng khám bệnh hay nhà thương. Nhìn được tận mắt là lý tưởng vì dấu hiệu đặc biệt của nhê.n. Kích thước nhện dài từ một tới năm phân. Trái lại với các loại nhện khác, nhện brown recluse có sáu mắt thành cặp, một cặp ở phía trước và hai cặp ở hai bên.
Lúc đầu người bị cắn cảm thấy như bị kim chích hay không cảm thấy gì hết. Trong đa số trường hợp, người bệnh đang dọn dẹp một ngăn tủ, một chỗ ít đụng tới, hay một đống củi. Hai giờ sau khi bị cắn, một vết bầm tím, đau nhức có đỏ ửng chung quanh xuất hiê.n. Khoảng đỏ sẽ đổi mầu thành xanh tím và lan dần từ giữa ra phía ngoài. Phần giữa sẽ bị hoại tử gây nên một vết thương hình núi lửa.
Vết thương ngoài da có thể được sắp hạng như sau:
Hạng nhất: Vết thương nhẹ hơi ửng đỏ và không hoại tử da (skin necrosis)
Hạng nhì : Vết thương trung bình đỏ, sưng và có môt khoảng da hoại tự dưới một phân vuông.
Hạng ba: Vết thương nặng với đỏ nhiều, sưng, thành bọc và một khoảng da họai tử lớn hơn một phân vuông.
Những triệu chứng toàn diện hiếm hơn. Người bệnh thấy nóng sốt, ói mửa trong hai mươi bốn hay bốn mươi tám giờ sau khi bị cắn. Họ có thể bị biến chứng về máu như thiếu máu vì bể hồng cầu (hemolytic anemia), giảm thiểu tiểu cầu (thrombocytopenia) và bị
chứng đông máu trong mạch toàn phần (disseminated intravascular coagulation).
Thuốc steroid chích có thể giúp chặn đứng chứng bể hồng cầu. Liều là 1-2 mg/kg mỗi ngàỵ Chữa trị vết cắn do nhện brown recluse Trong đa số trường hợp bệnh ngoài da, kết quả trị liệu tiến triển rất khả quan. Rất ít bệnh nhân cần phải ghép da. Cần phải đợi cho vết thương được quân bình trước khi cắt bỏ phần da bị hoại tử.
Hệ thống phân loại có thể được dùng để hướng dẫn chữa trị.
Vết thương loại 1 cần được chữa trị bảo tồn : nghỉ, đắp đá và đưa vết thương lên cao. Vết thương cần được rửa sạch sẽ và bệnh nhân cần được chích thuốc ngừa phong đòn gánh.
Vết thương loại 2 nên dùng trụ sinh. Erythromycin và dapsone thường được dùng nhiều nhất. Vì có những phản ứng phụ, dapsone chỉ nên dùng trong trường hợp nặng. Không nên dùng dapsone cho những bệnh nhân bị thiếu glucose 6 phosphodiesterase G6 PD vì nguy cơ huyết tán (hemolysis).
Địa điểm hiện diện của nhện black widow- Lactrodectus mactans Nhện Black widow, Lactrodectus mactans thường được tìm thấy ở phía đông nam nước Mỹ. Những loại khác
được thấy ở những vùng khác như L. variolus ở những tiểu bang miền Bắc, L.hesperus ở tiểu bang miền Tây, L bishopi và L. geometricus ở Florida. Nhện black widow có hình một đồng hồ kiếng mầu đỏ( hour glass- đồng hồ cát) ở trên bụng, nó thường ẩn trong nhà xe và những nơi chứa đồ, nó thường chăng những màng nhện lớn gần đất. Nó thường đeo ngược đầu ở màng nhện và tấn công những gì chạm vào màng nhện.
Độc tố của nhện black widow độc cho bộ thần kinh thường ứ đọng nơi giây thần kinh kết thúc. Bệnh nhân cảm thấy như kim chích, tiếp theo bởi một cơn đau co rút chung quanh nơi bị cắn trong vòng 1 giờ. Sau đó những cơn co rút bắp thịt xảy ra toàn thân. Bệnh
nhân cảm thấy đau bụng như bụng cần giải phẫu cấp tính. Những triệu chứng khác gồm có nhức đầu, lo lắng, chảy nước miếng, chảy nước mắt, toát mồ hôi, run rẩy, tim đập nhanh, áp huyết tăng.
Hệ thống phân loại căn cứ vào độ nặng của dấu hiệu và triệu chứng.
Loại 1: bệnh nhân không có triệu chứng và dấu hiệu sống (vital signs) bình thường;
Loại 2: bệnh nhân bị co rút bắp thịt tại chỗ và dấu hiệu sống bình thường;
Loại 3: bệnh nhân bị co rút bắp thịt toàn thân và dấu hiệu sống bất thường.
Tỷ lệ tử vong từ 1 tới 5% và chết thường do biến chứng về tim và phổi. Bệnh nhân có nguy cơ cao thường là trẻ em nhỏ hơn 16 tuổi hay người già hơn 65 tuổị
Chữa trị vết cắn do nhện black widow
Loại 1: Bệnh nhân có thể được theo dõi trong 2 giờ và cho xuất viện.
Bệnh nhân thuộc loại 2 và 3 cần được nhập viện, đặc biệt nếu họ trẻ hơn 16 hay già hơn 65.
Chữa trị đầu tiên là một dung dịch calcium gluconate 10% (10ml) chích vào tĩnh mạch cứ mỗi sáu giờ. Cần phải theo dõi đồ biểu tim. Thuốc chống đau nhức có nha phiến như morphine và meperidine cũng có thể được dùng.
Thuốc làm dãn cơ/bắp thịt cũng hữu du.ng. Methocarbamol với liều 15mg/kg mỗi sáu giờ. Diazepam với liều 5-10mg chích vào tĩnh mạch từ 1 tới 4 giờ một lần tới liều tối đa 0.6mg/kg trong vòng 8 giờ. Một cuộc nghiên cứu so sánh calcium gluconate với hocarbamol cho thấy calcium gluconate công hiệu hơn methocarbamol để chữa những triệu chứng.
Thuốc chống đô.c-tố (antivenin) cũng nên dùng cho những bệnh nhân có triệu chứng. Ta cần phải làm một thử nghiệm phản ứng ngoài da trước khi chích vì thuốc này làm bằng huyết thanh của ngựa và có thể nên chứng đa cảm quá mức. Thử phản ứng ngoài da bằng cách chích một phần rất nhỏ một dung di.chh huyết thanh ngựa pha loãng 1:10 dưới da. Phản ứng dương nếu một vết nổi đỏ xuất hiện sau 10 phút. Sau khi thử, một liều (một chai 2.5ml) pha loãng trong 50 ml nước muối bình thường (0.9% NS) được truyền chậm qua tĩnh mạch trong 15 phút.
BẢNG TÓM TẮT CÁCH CHỮA TRỊ VẾT CẮN NHỆN ĐỘC
Mức độ nặng
Chữa trị
Nhện brown recluse
Ngoài da
Loại1 Đắp nước đá, ấn ép và nâng chỗ bị thương lên cao
Loại 2 erythromycin 400mg, uống 4 lần một ngày
Loại 3 - dapsone 50-200mg/ngày -trì hoãn/đợi cắt bỏ da bị hoại tử
Toàn diện prednisone 1-2mg/kg/ngày
Nhện black widow
Toàn diện
Loại 1 Theo dõi
Loại 2 Loại 3 - calcium gluconate 10% 10 ml (V) 6 giờ
- methocarbamol 15mg/kg/ cứ mỗi 6 giờ
- diazepam 5- 10 mg cứ 2-4 giờ (tối đa 0.6 mg/kg trong 8 giờ)
- Thuốc kháng độc tố (2.5 ml /50cc NS truyền trong 15 phút)
BS Trịnh Cường (TN)
Hình:
http://www.whozoo.org/Anlife99/adrianmat/widowindex2.htm
http://spiders.ucr.edu/recluseid.html
TNDG
CHỮA TRỊ NHỆN CẮN :BS Trịnh Cường
Trong mùa hè số bệnh nhân bị nhện cắn rất nhiều. Số người tới khám tại các chẩn y viện, phòng tiểu cấp cứu vì nhện cắn rất thường. Đa số thương tích vì nhện cắn không nguy hiểm. Tuy nhiên có hai loại nhện mà vết cắn có thể gây nên những biến chứng đòi hỏi sự chú ý của y-sĩ.
Loxocelism là bệnh nhện cắn do nhện Brown recluse Loxoceles reclusa gây nên phản ứng tại chỗ và đôi khi có những triệu chứng toàn diê.n. Y sĩ phải nghi ngờ đến nhện này khi vết cắn đỏ ửng bắt đầu bị hoại tử.
Latrodectism bệnh do vết cắn của nhện Black widow Lactodectus mactans gây nên gây nên triệu chứng toàn diện gồm có nhức đầu, ói mửa, co rút bắp thịt và đau bu.ng.
Địa điểm hiện diện của nhện brown recluse (Nhện nâu ẩn dật) Loxoceles reclusa Nhện này còn được gọi là nhện có đàn vĩ cầm (vì có hình giống đàn vĩ cầm trên lưng) thường tìm thấy ở vùng trung nam nước Mỹ. Những loại khác gồm có L. arizonica và L. deserta thường được tìm thấy ở vùng xa mạc phía Tây Nam.
Y sĩ phải thận trọng khi định bệnh là bệnh nhân bị nhện brown recluse cắn, khi bệnh nhân bị nhện cắn ở những vùng nước Mỹ không có loại nhện này. Vết cắn do brown recluse khó định bê.nh. Nạn nhân thường không nhìn thấy con nhện khi bị cắn. Một cuộc nghiên cứu tái hồi (retrospective study) của một trăm mười một (111) bệnh nhân cho biết là chỉ có 20% nhìn thấy con nhện khi bị cắn và 12% mang con nhện tới phòng khám bệnh hay nhà thương. Nhìn được tận mắt là lý tưởng vì dấu hiệu đặc biệt của nhê.n. Kích thước nhện dài từ một tới năm phân. Trái lại với các loại nhện khác, nhện brown recluse có sáu mắt thành cặp, một cặp ở phía trước và hai cặp ở hai bên.
Lúc đầu người bị cắn cảm thấy như bị kim chích hay không cảm thấy gì hết. Trong đa số trường hợp, người bệnh đang dọn dẹp một ngăn tủ, một chỗ ít đụng tới, hay một đống củi. Hai giờ sau khi bị cắn, một vết bầm tím, đau nhức có đỏ ửng chung quanh xuất hiê.n. Khoảng đỏ sẽ đổi mầu thành xanh tím và lan dần từ giữa ra phía ngoài. Phần giữa sẽ bị hoại tử gây nên một vết thương hình núi lửa.
Vết thương ngoài da có thể được sắp hạng như sau:
Hạng nhất: Vết thương nhẹ hơi ửng đỏ và không hoại tử da (skin necrosis)
Hạng nhì : Vết thương trung bình đỏ, sưng và có môt khoảng da hoại tự dưới một phân vuông.
Hạng ba: Vết thương nặng với đỏ nhiều, sưng, thành bọc và một khoảng da họai tử lớn hơn một phân vuông.
Những triệu chứng toàn diện hiếm hơn. Người bệnh thấy nóng sốt, ói mửa trong hai mươi bốn hay bốn mươi tám giờ sau khi bị cắn. Họ có thể bị biến chứng về máu như thiếu máu vì bể hồng cầu (hemolytic anemia), giảm thiểu tiểu cầu (thrombocytopenia) và bị
chứng đông máu trong mạch toàn phần (disseminated intravascular coagulation).
Thuốc steroid chích có thể giúp chặn đứng chứng bể hồng cầu. Liều là 1-2 mg/kg mỗi ngàỵ Chữa trị vết cắn do nhện brown recluse Trong đa số trường hợp bệnh ngoài da, kết quả trị liệu tiến triển rất khả quan. Rất ít bệnh nhân cần phải ghép da. Cần phải đợi cho vết thương được quân bình trước khi cắt bỏ phần da bị hoại tử.
Hệ thống phân loại có thể được dùng để hướng dẫn chữa trị.
Vết thương loại 1 cần được chữa trị bảo tồn : nghỉ, đắp đá và đưa vết thương lên cao. Vết thương cần được rửa sạch sẽ và bệnh nhân cần được chích thuốc ngừa phong đòn gánh.
Vết thương loại 2 nên dùng trụ sinh. Erythromycin và dapsone thường được dùng nhiều nhất. Vì có những phản ứng phụ, dapsone chỉ nên dùng trong trường hợp nặng. Không nên dùng dapsone cho những bệnh nhân bị thiếu glucose 6 phosphodiesterase G6 PD vì nguy cơ huyết tán (hemolysis).
Địa điểm hiện diện của nhện black widow- Lactrodectus mactans Nhện Black widow, Lactrodectus mactans thường được tìm thấy ở phía đông nam nước Mỹ. Những loại khác
được thấy ở những vùng khác như L. variolus ở những tiểu bang miền Bắc, L.hesperus ở tiểu bang miền Tây, L bishopi và L. geometricus ở Florida. Nhện black widow có hình một đồng hồ kiếng mầu đỏ( hour glass- đồng hồ cát) ở trên bụng, nó thường ẩn trong nhà xe và những nơi chứa đồ, nó thường chăng những màng nhện lớn gần đất. Nó thường đeo ngược đầu ở màng nhện và tấn công những gì chạm vào màng nhện.
Độc tố của nhện black widow độc cho bộ thần kinh thường ứ đọng nơi giây thần kinh kết thúc. Bệnh nhân cảm thấy như kim chích, tiếp theo bởi một cơn đau co rút chung quanh nơi bị cắn trong vòng 1 giờ. Sau đó những cơn co rút bắp thịt xảy ra toàn thân. Bệnh
nhân cảm thấy đau bụng như bụng cần giải phẫu cấp tính. Những triệu chứng khác gồm có nhức đầu, lo lắng, chảy nước miếng, chảy nước mắt, toát mồ hôi, run rẩy, tim đập nhanh, áp huyết tăng.
Hệ thống phân loại căn cứ vào độ nặng của dấu hiệu và triệu chứng.
Loại 1: bệnh nhân không có triệu chứng và dấu hiệu sống (vital signs) bình thường;
Loại 2: bệnh nhân bị co rút bắp thịt tại chỗ và dấu hiệu sống bình thường;
Loại 3: bệnh nhân bị co rút bắp thịt toàn thân và dấu hiệu sống bất thường.
Tỷ lệ tử vong từ 1 tới 5% và chết thường do biến chứng về tim và phổi. Bệnh nhân có nguy cơ cao thường là trẻ em nhỏ hơn 16 tuổi hay người già hơn 65 tuổị
Chữa trị vết cắn do nhện black widow
Loại 1: Bệnh nhân có thể được theo dõi trong 2 giờ và cho xuất viện.
Bệnh nhân thuộc loại 2 và 3 cần được nhập viện, đặc biệt nếu họ trẻ hơn 16 hay già hơn 65.
Chữa trị đầu tiên là một dung dịch calcium gluconate 10% (10ml) chích vào tĩnh mạch cứ mỗi sáu giờ. Cần phải theo dõi đồ biểu tim. Thuốc chống đau nhức có nha phiến như morphine và meperidine cũng có thể được dùng.
Thuốc làm dãn cơ/bắp thịt cũng hữu du.ng. Methocarbamol với liều 15mg/kg mỗi sáu giờ. Diazepam với liều 5-10mg chích vào tĩnh mạch từ 1 tới 4 giờ một lần tới liều tối đa 0.6mg/kg trong vòng 8 giờ. Một cuộc nghiên cứu so sánh calcium gluconate với hocarbamol cho thấy calcium gluconate công hiệu hơn methocarbamol để chữa những triệu chứng.
Thuốc chống đô.c-tố (antivenin) cũng nên dùng cho những bệnh nhân có triệu chứng. Ta cần phải làm một thử nghiệm phản ứng ngoài da trước khi chích vì thuốc này làm bằng huyết thanh của ngựa và có thể nên chứng đa cảm quá mức. Thử phản ứng ngoài da bằng cách chích một phần rất nhỏ một dung di.chh huyết thanh ngựa pha loãng 1:10 dưới da. Phản ứng dương nếu một vết nổi đỏ xuất hiện sau 10 phút. Sau khi thử, một liều (một chai 2.5ml) pha loãng trong 50 ml nước muối bình thường (0.9% NS) được truyền chậm qua tĩnh mạch trong 15 phút.
BẢNG TÓM TẮT CÁCH CHỮA TRỊ VẾT CẮN NHỆN ĐỘC
Mức độ nặng
Chữa trị
Nhện brown recluse
Ngoài da
Loại1 Đắp nước đá, ấn ép và nâng chỗ bị thương lên cao
Loại 2 erythromycin 400mg, uống 4 lần một ngày
Loại 3 - dapsone 50-200mg/ngày -trì hoãn/đợi cắt bỏ da bị hoại tử
Toàn diện prednisone 1-2mg/kg/ngày
Nhện black widow
Toàn diện
Loại 1 Theo dõi
Loại 2 Loại 3 - calcium gluconate 10% 10 ml (V) 6 giờ
- methocarbamol 15mg/kg/ cứ mỗi 6 giờ
- diazepam 5- 10 mg cứ 2-4 giờ (tối đa 0.6 mg/kg trong 8 giờ)
- Thuốc kháng độc tố (2.5 ml /50cc NS truyền trong 15 phút)
BS Trịnh Cường (TN)
Hình:
http://www.whozoo.org/Anlife99/adrianmat/widowindex2.htm
http://spiders.ucr.edu/recluseid.html