📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tổng tập truyện ma của Người Khăn Trắng - HẾT 🔒

301 trả lời, 269.522 lượt xem — Trang 7 / 11
Phần 3
 
Bà Cả Sanh đứng ngồi không yên từ mấy bữa nay, và lại càng như đứng trên lửa từ sáng đến giờ. Bởi giờ ngọ hôm nay là giờ bên đằng trai sang rước dâu, mà cô dâu thì... ngủ mê man từ hai hôm rồi, vẫn chưa tỉnh!

Đã cho người đi rước lương y mà cũng chưa thấy tăm hơi. Lại bị ông chồng khó tính trách móc:

- Cũng tại bà, ai bảo định ngày cưới chi cho gấp gáp quá, để rồi giờ đây quýnh lên.
 
Bà Cả nổi nóng, giờ có chỗ để xì ra:

- Nếu nghe theo lời ông thì con gái nhà mình chỉ có nước theo đầu bếp mà phơi khô, chớ ai mà dám tới cưới! Cũng tại con gái tuổi dần cao số, đã hơn cả chục nơi dạm hỏi rồi, mà cuối cùng bỏ chạy hết, vì ai cũng ngán con cọp cái!

Ông Cả bỗng cười vang:

- Vậy ra chỉ có tôi là đui mù, điếc không sợ súng, nên mới đi rước con cọp cái về nhà!

Chợt nhớ mình cũng tuổi dần, nên bà Cả dịu giọng:

- Nhưng... đâu phải cọp cái nào cũng... ăn thịt cọp đực đâu! Bằng chứng là hơn ba chục năm sống với ông tôi nào phải là cọp hay chằn gì đâu!

Ông chắp tay xá vào không khí mấy cái liền:

- Lạy trời, nếu như vậy mà không phải cọp hay chằn, thì chẳng hiểu hai thứ đó còn dữ đến mức nào nữa!

Bà bí thế, xoay qua dùng ngón đòn cũ rích, nhưng luôn luôn hiệu quả, đó là lồng lên:

- Bây giờ ông ngồi đây đôi co, ăn thua đủ với tôi phải không? Ông nói đi, để rồi tôi còn tính...

Luôn luôn ở thế đang mạnh thành yếu, nên đến lúc đó ông Cả tiu nghỉu đáp:

- Ờ nói vậy chớ... bà vẫn là vợ yêu quý mà! Có gì đâu...

Bà hất hàm:

- Bây giờ ông tính sao? Lỡ lát nữa người ta tới đón dâu thì lấy con gái đâu giao cho họ? Không lẽ khiêng cô dâu ra xe về nhà chồng như khiêng heo!
 
Ông Cả chợt nảy ra một ý:

- Hay là ta cứ cho kiệu hoa vào tận phòng con gái mình, khiêng nó lên rồi đưa trở ra, có ai mà biết được!

Bà nguýt ngang:

- Nói vậy mà cũng nói được! Rồi lấy ai lạy gia tiên, lấy ai làm lễ tơ hồng?

Họ còn đang bối rối, thì bỗng có người nhà về báo:

- Không xong rồi ông bà ơi!

- Chuyện gì vậy, con Chín Hoa này?

Chín Hoa bô bô cái miệng:

- Con vừa ở bên nhà ông bà Từ viên ngoại về đây. Cậu Phong đi đâu mất từ mấy hôm nay đâu đã về!

Vợ chồng Cả Sanh hốt hoảng:

- Nó đi đâu?

- Thì từ hôm ở đây, cậu ấy đi luôn. Nhưng bên đó nói dối là cậu ta trở về rồi. Thật ra cho đến lúc con trở về đây thì cậu ấy vẫn bặt vô âm tín!

Bà Cả buông thõng người xuống ghế, ôm đầu rên rỉ:

- Làm sao đây hở trời! Lát nữa bà con họ hàng kéo tới để đón nhà trai và đưa dâu, mình phải ăn nói sao đây?

Ông thì tỉnh táo hơn:
 
- Họ cũng đang rối còn hơn mình nữa. Sao không nhân chuyện này mà tuyên bố hoãn đám cưới lại, đổ thừa tại bên đằng trai có ông già hay bà già gì đó bệnh ngặt sắp qua đời!

Tuy ít khi nghe theo ý của ông chồng, nhưng giờ này đang thế bí, nên bà Cả đành phải nói theo:

- Đành phải vậy thôi...

Bỗng lúc đó có một giọng nói vọng ra từ bên trong:

- Ai cho hoãn đám cưới?

Bà Cả ngạc nhiên:

- Con... Mỹ Dung ông ơi!

Mỹ Dung từ trong buồng bước ra, vẻ mặt tươi tỉnh. Cô ta nhìn một lượt khắp nhà rồi gắt toáng lên:

- Sao đèn đóm phía bên này chưa thắp sáng lên?

Bà Cả vẫn chưa tin:

- Kìa con... sức khoẻ con sao rồi?

Cô nàng dửng dưng như không:

- Thêm hoa ở chỗ kia nữa. Bỏ mấy thứ hoa dùng để cúng kia đi, đám cưới mà chưng hoa như đám tang vậy!

Nói xong, đích thân cô nàng đi nhổ từng cành hoa không vừa ý trong các bình hoa đã được bà Cả cho cắm, vứt tung toé khắp nơi, vừa hét đám gia nhân:

- Sao không quét dọn cho sạch đi!
 
Xưa nay, đám gia nhân ít bị cô tiểu thư nhà này chửi bới, nay nghe hơi lạ, lúc đầu họ còn ngớ người lại, sau thấy ánh mắt lộ hung quang của cô ta, đám kia răm rắp làm theo.

Vợ chồng Cả Sanh cũng nhận thấy điều bất thường này, nhưng quá đột ngột nên họ còn ngây người ra đó, chưa nói được tiếng nào...

- Đem hết những đồ đạc này ném xuống sông cho tôi!

Mấy thứ mà cô nàng vừa bảo ném đó chính là những món mà thường ngày Mỹ Dung chưng bày ở phòng khách, có thứ là vật ưa thích nhất của cô nữa... Lúc này bà Cả không dừng được, phải lên tiếng:

- Những thứ ấy là của con mà Dung. Chính con mua về, có cái do chính ba má tặng cho, còn mới nguyên sao lại đem bỏ?

Bỗng cô nàng trừng mắt:

- Bây giờ vứt bỏ hay để tự tay tôi làm?

Ông Cả hạ thấp giọng:

- Tụi bay đem bỏ theo lệnh cô bay đi...

Chưa thôi, cô nàng còn chỉ tay vào phòng riêng:

- Đem hết mùng màn chiếu gối trong đó bỏ đi hết. Lấy đồ mới ngoài kia đem vào thay!

Lúc ấy, mọi người mới để ý thấy cả một đống mùng màn để sẵn ngoài hiên nhà.

Bà Cả định cản lại, bởi tất cả mùng màn chiếu gối trong phòng là đích thân bà đi mua sắm, chuẩn bị cho đám cưới. Bà chỉ còn biết quay sang nói khẽ với chồng:

- Sao nó kỳ quá, giống như... chằn lửa vậy?

Ông định nói "nó giống bà" chớ ai, nhưng kịp dừng lại. Lúc đó, đám gia nhân rối rít làm theo. Một lát sau thì mọi việc đâu vào đó. Với vẻ hài lòng, lúc này cô nàng mới quay sang cha mẹ:
 
- Con gái đã sẵn sàng về nhà chồng rồi!

Bà Cả run giọng hỏi lại:

- Con... có phải con là Mỹ Dung không?

Giọng cô nàng trở nên khác hơn vừa rồi:

- Chớ má muốn con là ai? Vậy con đi nhé!

Bà Cả hốt hoảng:

- Khoan đã con! Bởi... vừa rồi con làm má lo quá.

Bấy giờ cô nàng mới phá lên cười:

- Con tập làm bà chủ, để chuẩn bị cho vai trò này sau khi lấy chồng. Con cũng muốn là má bây giờ chớ!

Bà thích thú quá, lay mạnh vai ông:

- Ông nghe thấy chưa, đâu phải mình tôi bị ông gọi là cọp cái hay chằn lửa đâu!

Ông Cả rùng mình, định đứng dậy bỏ đi thì Mỹ Dung đã nhắc:

- Bên đằng trai sắp tới rồi đó!

Bà Cả nói khẽ:

- Nghe nói thằng Phong bỏ đi chưa về?

Cô ta chỉ tay về phía con đường trước nhà:
 
- Ra mà đón họ đi!

Vừa khi ấy, họ nghe có tiếng xe ngựa dừng lại ở cửa, có đến trên mười chiếc. Chiếc xe rước dâu đi đầu, với hai ngựa kéo, phủ rèm đỏ kín mít, giống như bất cứ lễ rước dâu nào.

Ông bà viên ngoại trịnh trọng bước xuống trước, nhưng theo sau họ không phải là Phong, mà là một người phù rể. Ông bà Cả vừa định lên tiếng hỏi, thì bà Từ đã bước tới, giọng buồn bã:

- Thằng Phong... nó... nó...

Thay vì đúng vai trò của cô dâu là phải che mặt, ở trong phòng kín, đến giờ mới bước ra; đằng này vừa khi ấy Mỹ Dung đã bước ra lên tiếng làm mọi người ngạc nhiên:

- Đâu có gì phải lo lắng. Anh Phong vốn ngủ ở nhà con từ hôm ấy. Chúng con cùng ngủ với nhau, chuẩn bị sức khoẻ cho ngày trọng đại hôm nay!

Lời cô ta vừa dứt, thì bỗng cả hai họ đều trố mắt ngạc nhiên khi thấy Phong trong lễ phục chú rể, từ từ bước ra, đứng sóng đôi với Mỹ Dung!

Bà Từ như vừa tỉnh cơn mơ, bà kêu rú lên:

- Phong! Vậy mà con làm cho hai bác mất ăn mất ngủ. Trời ơi, thằng khỉ gió!

Phong chừng như không để ý đến thái độ của mọi người, anh rất tự nhiên đưa tay choàng qua hông của Mỹ Dung, rồi cũng rất thản nhiên dìu nhau tới trước mặt hai bên cha mẹ, khẽ cúi đầu chào. Sau đó cả hai không ai bảo ai, cùng bước tới bàn thờ làm lễ một cách rành rẽ, không đợi ai nhắc. Khiến cho vai trò chủ hôn hai bên trai gái đều trở nên thừa.

Có lẽ quá mừng nên cả hai ông bà sui gia đều muốn cho buổi lễ diễn ra chóng vánh, tránh những bàn tán của bà con hai họ. Buổi tiệc mặn do đó diễn ra rất nhanh. Đến cuối giờ ngọ thì đằng trai đã xin phép ra về.
 
Nếu có ai nhìn được sắc diện vui mừng khó tả của cô dâu sau tấm mạng che, khác hẳn khuôn mặt u sầu, lưu luyến của hầu hết các cô dâu khác thì chắc là sẽ ngạc nhiên lắm. Ngược lại, gương mặt của Phong sau khi ra vẻ tươi vui chào mọi ngươi, thì giờ đây lại ưu tư khác thường. Anh bước ra kiệu hoa mà như lê chân về nơi đầy ải nào đó...

Khi ngồi lên kiệu rồi, cô nàng mới ghé sát tai chàng nói rất khẽ:

- Mọi việc sẽ đâu vào đó thôi. Không sợ phạm phải lời đe của cô ta đâu!

Phong cũng đáp khẽ hơn:

- Tôi chỉ còn biết liều thôi, nhưng lòng dạ tôi thì trước sau gì cũng chỉ có Hạnh Hoa mà thôi!

Một cú nhéo đau thấu xương, nhưng Phong ráng chịu. Anh nghe nàng nói rất khó hiểu:

- Rồi biết cái tội chung tình sẽ ra sao!

Xe chạy được một lúc, chẳng hiểu khi ấy nàng ghé sát chàng nói thêm câu gì đó, mà nghe Phong kêu lên:

- Em là Hạnh Hoa!

Người đánh xe giật mình định gò cương lại, nhưng một cánh tay của cô gái đã thò ra và thúc mạnh vào mông ngựa, chúng phóng như bay hay đúng hơn là... như ma đuổi!
 
***

Gả được con gái là điều mà vợ chồng Cả Sanh mừng khôn xiết. Tuy nhiên, sau đám cưới một ngày thì nỗi buồn xa cách đang làm cho người đàn bà đanh đá trở nên vào ngẩn ra ngơ. Dẫu sao thì lâu nay mẹ con có nhau sớm tối, nay rứt ruột giao về nhà người ta thì làm sao không buồn.

Đợi cho ông Cả đi đánh cờ ở nhà người bạn, bà Cả mở cửa vào phòng Mỹ Dung. Bà muốn sắp xếp những gì còn lại của con, nhất là giữ một vài thứ, phòng khi có nhớ thì lấy ra mà nhìn ngắm... Nhưng vừa mở cửa ra, bà Cả đã phải khựng lại, giương tròn mắt nhìn lên giường. Trên đó có một người đang nằm!

- Ai... ai?
 
Bà vừa mở miệng hỏi thì đôi chân như có ai đẩy tới, nên bà tiến sát lại bên giường. Người nằm đó chính là Mỹ Dung!

- Trời ơi, bớ!

Bà Cả gào lên, nhưng tiếng của bà hình như bị nghẹn lại ở cổ, bỗng bà nghe có tiếng nói khẽ:

- Má nằm xuống đây!

Rõ ràng là con gái đang nói với bà. Nó còn đưa tay kéo bà xuống nữa. Thân thể bà Cả không gượng được, đã ngã dài trên giường, nằm sát bên con gái.

- Sao... sao con còn ở đây?

Giọng Mỹ Dung yếu ớt:

- Má nhìn không thấy sao, con đâu... còn sống!

- Hả? Con nói...

Bà định bật dậy, nhưng Mỹ Dung đã kéo tay bà đặt lên người cô ta. Thịt da lạnh ngắt!

- Trời ơi, con!

Giọng Mỹ Dung yếu dần, rất khó nghe:

- Con phải trả... những gì ba má đã vay... của người ta...

Bà Cả ngơ ngác:

- Vay trả gì của ai?
 
- Má không nhớ sao? Ngày trước, lúc con chưa ra đời thì ba có một người đàn bà khác. Chính má, vì muốn chiếm hữu riêng cho mình, nên má đã không ngại mướn người thủ tiêu cô gái tên là Hạnh Nương. Cô ấy bị dìm chết ở một cánh đồng, khi trong bụng cô đã có thai gần ngày sinh...

Mỹ Dung vừa kể đến đó thì bỗng bà Cả ôm mặt gào lên:

- Đừng kể nữa!

Nhưng Mỹ Dung phải nói cho hết, bởi cô biết mình sẽ chẳng còn dịp để nói nữa:

- Sau khi giết tình địch rồi, má độc chiếm người đàn ông tên Sanh, để rồi một năm sau thì sinh ra con. Má giấu được nhiều người về chuyện đó, nhưng với một người thì má không thể giấu được, chắc má biết là ai rồi...

- Con, má van con. Con đừng...

- Không được rồi má ơi! Người đó đã trở về và... đòi mạng! Mà con là người phải trả mạng cho người ta... Người ấy là chị Hạnh Hoa. Chị ấy là đứa con bảy tháng tuổi trong bụng cô Hạnh Nương. Khi cô ấy chết thì đứa bé đã được đặt tên sẵn là Hạnh Hoa cũng chết theo, nhưng vì oan uổng, nên hồn phách chị ấy mãi vật vờ rày đây mai đó. Cho đến khi gặp được anh chàng Phong. Theo duyên số thì con và Phong phải là vợ chồng với nhau, bởi trước đó ba má đã hứa với hai bác của Phong. Nhưng cô Hạnh Nương bắt chị Hạnh Hoa phải giành lại cho bằng được anh ấy. Và thế là con phải trả, mà trả cũng có nghĩa là phải trả luôn kiếp người cho họ!

Bà Cả lại gào lên:

- Không được? Thứ hồn ma bóng quế đó đâu đủ tư cách làm người! Con không phải trả cho ai hết, họ có giỏi thì về đòi nợ má đây!

Bà ôm chầm lấy con, nhưng bỗng cả thân xác của Mỹ Dung đã tan biến mất. Chỉ còn nghe giọng như gió thoảng của cô mà thôi:

- Giờ đây cái xác thật sự của con đã giao lại cho Hạnh Hoa rồi, chị ấy trở lại kiếp người và đang sống hạnh phúc bên anh Phong.

Bà Cả oà lên khóc:
 
- Má sẽ đi đòi lại!

- Đừng làm điều đó, không được gì đâu! Dẫu sao thì từ nay về sau cũng chẳng ai biết được chuyện này ngoài má. Con khuyên má nên giữ kín, bởi nếu nói ra thì ngay cả hồn phách của con cũng không còn được ở bên má nữa. Từ nay, chị Hạnh Hoa sẽ đóng vai con, chị ấy cũng sẽ tốt với ba má, sẽ chăm lo cho ba má còn hơn cả con nữa. Theo con thì kể cả ba, má cũng đừng nói cho ba biết. Má nhớ lời con không?

Bà Cả nghẹn ngào phản đối, nhưng trước những lời của con gái, cuối cùng bà phải hứa:

- Má hứa, má sẽ im lặng.

- Còn một việc nữa, ngày hôm nay má mướn người đi sang thôn Cây Trâm, tìm đúng chỗ Gò Trúc, có một ngôi mộ hoang ở đó, chính là mộ của cô Hạnh Nương. Má cho người bốc mộ, lấy cốt đưa vào ngôi chùa gần đó để cho cô ấy yên nghỉ. Làm được điều đó rồi thì từ nay coi như mọi chuyện thù hằn giữa má và cô Hạnh Nương, chị Hạnh Hoa sẽ đều biến mất. Má làm ngay đi!

Im lặng hoàn toàn...

Bà Cả kêu to lên:

- Mỹ Dung!

Nhưng dường như cô nàng đã tan biến vào không gian rồi...
 
***

Nửa năm sau, tình cờ hôm đó nhân đi ngang bến đò, Phong tạt qua thôn Cây Trâm. Có lẽ anh muốn nhìn lại một chút kỷ niệm.

Tuy nhiên, anh lại ngơ ngác khi không còn thấy thôn xóm nữa, mà nơi đó đúng là một nghĩa địa hoang vắng.

Phong cố ý tìm lại ngôi mộ ngày trước thì không hề có. Mà khi hỏi về những gì anh đã chứng kiến ngày trước cũng chẳng một ai biết...

Khi trở về thuật chuyện cho Hạnh Hoa nghe, nàng nghiêm giọng bảo:

- Em đã nói rồi, đó là chuyện của quá khứ. Em bây giờ đã là vợ của anh, và anh chỉ nên biết có thế. Nếu anh còn nhớ tới chuyện ngày trước nữa thì Hạnh Hoa bằng xương bằng thịt bây giờ sẽ trở về cát bụi cho coi!

Phong hốt hoảng:

- Không, anh đâu muốn...
 
Anh ôm chầm lấy cô vợ yêu quý. Lúc ấy nàng mới nói thật khẽ:

- Báo cho anh một tin mừng... em đã có thai hai tháng!

Trong lúc Phong vui mừng khôn xiết thì nàng hạ thấp giọng:

- Cho đến giờ phút này em mới tin chắc là mình... chính thức được trở lại làm người. Em xin cảm ơn cô Mỹ Dung và... bà Cả Sanh nữa.

Những câu nói này Phong không hiểu hết ý, nhưng vốn tin tưởng và yêu quý vợ mình, nên Phong không hỏi thêm lời nào nữa...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
HNG NƯƠNG


Phần 1
 
Ở thị trấn Gia Thành này, cứ mỗi năm đến mùa mưa là hầu như mọi việc buôn bán đều như dừng lại. Bởi có tiếp tục mở cửa bán thì hàng hoá cũng chỉ bày ra cho nắng mưa làm phai màu, mất giá mà thôi.

Cửa hàng của Tiêu Sơn cũng nằm trong hoàn cảnh đó. Ngay khi mùa mưa bắt đầu, anh chàng lái buôn độc thân này đã tính chuyện đóng cửa rồi đi chơi đâu đó, chờ qua hết tháng tám mới trở về.

Sáng hôm đó, sau khi thức dậy, chỉ ăn sáng qua loa, Sơn đã xách va-li đi ra. Trong lúc anh còn loay hoay khoá cửa thì chợt có tiếng người hỏi sau lưng:

- Sao giờ này mà hiệu buôn lại khoá cửa?

Quay lại, Sơn cau mày khi nhìn thấy một người đàn ông lạ, không có vẻ gì là cư dân địa phương.

- Phiền ông, hôm nay cửa hàng tôi nghỉ bán.

Người đàn ông lạ vẫn lịch sự:

- Tôi tới đây không phải mua hàng mà để bán hàng.

Sơn nhún vai, vẻ ngán ngẩm:

- Hàng đã không bán thì mua vào làm gì! Anh tới nhầm chỗ rồi. Mời anh đi cho.

Tiêu Sơn xách va-li bước nhanh đi, nhưng người đàn ông kia đã gọi giật lại:

- Ông cần mở cửa ra để nhận những thứ này.

Ông ta chỉ ra phía sau lưng mình, nơi có nhiều thùng đồ niêm phong:

- Những thứ này thuộc về ông. Ông cần cất giữ nó, rồi sau đó đi cũng được.

Sơn vốn tính ngay thẳng, anh hơi cáu:

- Ông cho rằng tôi sẽ chứa chấp bất cứ thứ gì không phải của mình trong nhà hay sao?
 
Người đàn ông vẫn kiên trì:

- Thứ hàng này không phải của tôi, mà là của một người quen với anh gửi, nhờ tôi chuyển giùm. Anh xem người ta ghi ngoài thùng kìa.

Lúc này, Sơn mới để ý nhìn mấy dòng chữ ghi ngoài thùng. Đúng là gửi cho anh, và người gửi chính là người bạn thân ở ngoài tỉnh lỵ. Sơn mừng lắm:

- Lâu lắm rồi không được tin người bạn thân này, không ngờ nay anh ta lại giở trò gửi quà cáp gì nữa đây!

Người đàn ông lạ lại nói:

- Người gửi quà cho anh có dặn tôi là phải giúp anh đưa nó vào nhà rồi mới được đi. Vậy anh nên mở cửa cho tôi chớ.

Không còn cách nào hơn, Sơn đành phải mở cửa và giúp anh ta chuyển bốn thùng hàng vào nhà. Khi các thùng hàng được mở ra thì Sơn vô cùng ngạc nhiên khi thấy trong cả bốn thùng ấy đều là hàng tơ lụa đắt tiền, những thứ mà từ mấy tháng qua cửa hàng của Sơn đã bán sạch, mà việc mua lại nó thì không thể, bởi nó hiếm và giá cả quá mắc, vượt khả năng của Sơn. Vậy mà nay...

Người đàn ông lạ giải thích thêm:

- Người bạn tên Phú của anh còn căn dặn tôi rằng nên ở lại giúp cho anh vượt qua giai đoạn buôn bán ế ẩm này. Tuy nhiên, theo tôi nghĩ thì người giúp anh tốt nhất là một người khác, chớ không phải tôi.

Anh ta vừa nói xong đã quay ra ngoài vỗ tay liền ba cái. Từ ngoài cửa, có một người lao vụt vào nhà trong tư thế đang che kín mặt mày.

- Người này sẽ ở lại đây giúp anh mọi việc.

Lúc ấy, người trùm mặt kia mới bỏ tấm mạng che mặt ra, lộ diện là một cô gái tuyệt đẹp! Người đàn ông lạ giải thích:

- Người này cũng không phải của tôi, mà là của cậu Phú, bạn cậu. Chính cậu Phú bảo tôi đem số hàng này và cô gái tới đây gửi cho cậu. Có một lá thư gửi cho cậu nữa...
 
Ông ta đưa cho Sơn lá thư ngắn, trong đó Phú giải thích sự việc:

"Mình có việc phải ra nước ngoài một thời gian dài, là hàng hoá và công việc buôn bán không kịp thu xếp. Vậy nếu còn nghĩ tới người bạn thân này thì Sơn hãy nhận số hàng tơ lụa và cứ toàn quyền bán buôn nó theo ý thích, tiền thu được thì cứ giữ lấy, dùng nó làm vốn tái tạo lại việc kinh doanh, khi về anh em mình sẽ tính lại với nhau. Riêng người con gái này, vốn là em gái nuôi của tôi, cô ấy hiền ngoan và tốt bụng, lại giỏi giang, tôi gửi cho cậu, xin hãy vì tôi mà cho cô ấy ở nhờ, bù lại cô ấy sẽ giúp cậu việc buôn bán. Cô ấy còn độc thân, nên Sơn không phải ngại gì cả..."

Đọc xong lá thư, Sơn vẫn chưa thể hiểu hết ý, anh hỏi lại:

- Phú còn ở nhà nó không? Tôi phải gặp ngay nó, bởi tôi không thể lo việc này.

Người đàn ông bảo:

- Cậu Phú đã lên máy bay rồi, nghe nói lâu lắm mới về. Tôi là người làm công lâu năm của cậu ấy, mà nay cũng bị yêu cầu tìm chỗ mà ở. May mà tôi còn có người bà con. Vậy thôi nhé, mọi thứ anh cứ làm theo lời dặn. Tôi đi đây.

Sơn muốn giữ ông ta lại, nhưng lúc đó người đàn ông kia đã biến mất ngoài cửa. Thất vọng, Sơn định lên tiếng thì cô gái đứng bên cạnh chợt nói:

- Hàng hoá này anh không nên để trong thùng quá lâu. Vả lại có nhiều khách hàng sắp tới mua, anh nên bày nó ra.

Sơn nhìn cô ta ngạc nhiên:

- Cô... cô...

Nàng ta nhắc lại:

- Khách đến mua hàng đông lắm, anh phải bày hàng và mở cửa ra kẻo không kịp.

- Cô biết gì chuyện bán hàng ở đây mà can thiệp. Mùa này chờ ba ngày cũng không có một người khách, chứ đừng nói...

Lời Sơn chưa dứt thì đằng trước đã có nhiều tiếng huyên náo, rồi có người gọi to:

- Ông chủ ơi, khách chờ mua hàng đông lắm, hãy mở cửa ra mau!

Trong lúc Sơn còn đang ngạc nhiên thì cô gái lại giục:

- Sao không mở cửa hàng ra đi!

Rồi không đợi Sơn, cô ta đã nhanh tay mở các kiện hàng tơ lụa ra, bày trên các kệ. Việc làm cực kỳ nhanh gọn trước sự ngạc nhiên, thán phục của Sơn.

- Sao anh còn chưa mở cửa ra?

Khi Sơn mở cửa ra thì cũng là lúc cô nàng nhanh chân lẩn vào bên trong nhà. Sơn phát hiện ra, định hỏi, nhưng lúc ấy khách tràn vào khá đông nên anh cũng chẳng còn hơi sức đâu mà lo chuyện nào khác bằng bán hàng. Khách hàng thích thú với những hàng hoá lạ, nên người này mua lại í ới gọi người khác tới cùng mua.

Chỉ nội buổi sáng mà Sơn đã bán hết một kiện hàng lớn. Điều ấy khiến các hiệu buôn cùng ngành hàng với Sơn kinh ngạc, họ chạy tới chứng kiến và bảo nhau:

- Thằng cha này gặp thời hay sao, chớ mùa này ai lại ùn ùn đi mua hàng tơ lụa như vậy!

Mà chỉ riêng cửa hàng của Tiêu Sơn thôi, các nơi khác hầu như khách không buồn đưa mắt nhìn, dẫu có vài nơi hàng hoá cũng phong phú không kém!

Đến giờ cơm trưa hôm ấy, ngồi tính sổ sơ sơ, Sơn thấy mình đã có doanh thu bằng cả một tháng bán buôn trước đây... Lúc này anh mới chợt nhớ tới cô gái, nên đóng cửa trước, ra nhà sau tìm.
 
Lại một lần nữa Sơn ngạc nhiên, khi thấy trên bàn ăn đã có một mâm cơm nóng hổi đã dọn sẵn!

- Ủa, ai đã...

Cô gái bây giờ đã thay đổi xiêm y, suýt nữa Sơn nhận không ra, anh lúng túng:

- Cô... cô là...

Cô gái cười thật tươi:

- Em đây mà. Cứ gọi em là Tuyết Hồng.

Sơn không quen lắm việc tiếp xúc với mỹ nhân, nên anh khá vụng về:

- Cô... cô Tuyết...

Nàng lại chủ động:

- Người ta hay gọi em là Hồng Nương. Em thích được gọi như vậy.

- Cô Hồng... Hồng Nương, tại sao lúc nãy cô...

Hồng Nương nói năng khá tự nhiên:

- Lúc ấy em bỗng bị đau mắt không chịu nổi. Vả lại... em cũng không quen... em không muốn gặp mặt người lạ. Mong anh tha lỗi cho.

Sơn xua tay:
 
- Không sao đâu! Tôi cũng không dám bắt cô Hồng phải nhúng tay vào công việc như vậy!

Nàng chỉ mâm cơm:

- Như việc này thì anh không cấm chớ? Em sẽ tình nguyện hằng ngày được nấu cơm hầu anh. Em ái ngại quá khi thấy bếp núc lạnh tanh, hầu như anh chẳng bao giờ nấu nướng gì?

Sơn lại lúng túng:

- Tôi... có một mình, lại lo buôn bán, nên... gặp đâu ăn đó, lúc nào nhớ thì ăn.

- Không được. Từ nay anh phải ăn uống đúng giờ.

Sơn khoe chuyện buôn bán đắt hàng và tỏ ý lo lắng:

- Hàng bán thì ham quá, nhưng theo đà này thì chỉ vài tuần là hết số hàng đang có, biết tìm mua ở đâu, bởi hàng hoá xứ này không được như thế.

Hồng Nương vô tư:

- Anh cũng chẳng phải lo. Em có một mối chạy hàng giỏi lắm. Người này vẫn thường xuyên lo cung cấp hàng hoá cho anh Phú. Để em nhắn tin, rồi cứ mỗi lần cần hàng ta cứ chờ họ mang tới đây giùm.

Sơn mừng lắm:

- Ồ, được vậy thì còn gì bằng! Đây, bao nhiêu tiền bán được tôi đưa hết cho cô giữ, khi nào cần mua hàng thì cô toàn quyền gửi họ mua. Nhưng tôi vẫn lo, liệu cô còn xa lạ nơi này, vậy làm sao cô đi đứng, giao thiệp cho tiện?

- Ồ, anh không phải lo chuyện ấy đâu. Em có cách của mình để nhờ người quen lo giùm. Tiền này em chỉ giữ tạm thôi, mua hàng hết bao nhiêu, sau đó em sẽ cất vào tủ của anh cho chắc.

- Ồ không, tiền này cô có quyền...
 
Cô nàng nghiêm giọng:

- Anh Phú đã dặn rồi, số hàng hoá đó là thuộc toàn quyền sử dụng của anh. Mọi tiền bạc thu được từ đó dĩ nhiên là của anh, chớ em thì không can dự gì. Nếu anh tin thì em giúp cho một phần việc đặt hàng, chớ nặng trách nhiệm hơn thì em nhất định không dám nhận!

Sơn đành phải chấp nhận như vậy. Anh mạnh dạn ngồi xuống ăn bữa cơm thật ngon lành. Nhưng đang ăn, anh ngạc nhiên hỏi:

- Nhà không có thức ăn, mà chẳng thấy cô đi chợ, vậy lấy đâu ra những thịt cá tươi ngon như mấy món này?

Nàng lại cười:

- Đó là bí quyết riêng của phụ nữ chúng em, anh cho phép em không nói được không?

Tuy không hỏi nữa, nhưng cho đến khi xong bữa ăn, Sơn vẫn còn thắc mắc. Ăn xong, anh vừa định dọn dẹp thì cô nàng đã mau mắn nói:

- Đây là công việc của đàn bà. Đã có đàn bà trong nhà này thì nhất định anh không được làm.

Cũng chẳng còn cách giải quyết nào khác hơn, nên tối đó Sơn phải đưa ra giải pháp:

- Nhà có hai phòng, nhưng vì phòng kia đã lâu không dùng đến nên bụi bặm, hôi mốc. Vậy tối nay cô cứ vào phòng tôi mà ngủ, tôi sẽ ngủ ngoài chỗ bán hàng, vừa trông coi hàng hoá luôn.

Cô nàng đưa tay chỉ vào trong phòng gần bếp:

- Anh thử vào xem, dọn dẹp như vậy được chưa?

Sơn vào ngắm căn phòng và rất đỗi ngạc nhiên:
 
- Sạch gấp đôi phòng của tôi! Nhưng... thời gian đâu mà cô làm được việc này?

Nàng vừa dọn bếp vừa đáp:

- Việc nhỏ của đàn bà mà.

Đêm đó, Sơn nằm trằn trọc mãi, bởi trong đầu cứ suy nghĩ về sự hiện diện của một cô gái trong nhà mình. Ở lại trong một hai ngày thì được, nhưng lâu dài thì sao? Sẽ giải thích với người quen như thế nào cho hợp lý?

Còn đang mải mê suy nghĩ, bỗng có tiếng gõ nhẹ cửa phòng, Sơn bước ra mở cửa thì không thấy ai, chỉ thấy có mảnh giấy nhỏ nhét ở ổ khoá:

"Anh đừng bận tâm về sự hiện diện của em. Từ nay em sẽ không bao giờ bước ra khỏi cửa một bước. Kể cả chỗ bán hàng, em cũng không có mặt. Phạm vi của em là phòng riêng và nhà bếp, chỉ yêu cầu anh đừng cho người lạ vào khu vực bên trong đó. Cám ơn anh. Hồng Nương."

Nhìn sang phòng nàng thì vừa thấy bóng Hồng Nương mới khuất vào trong. Sơn thở phào, như vừa trút được gánh nặng. Đúng là nàng đã hiểu thấu ruột gan của Sơn!

Nhờ vậy mà sau đó Sơn đã ngủ được một giấc thật say...

Do hơi mệt vì bán hàng bữa trước, nên sáng hôm sau Sơn dậy rất muộn. Lúc anh thức giấc thì nắng đã xuyên qua cửa sổ vào phòng. Hốt hoảng, anh bật dậy và lo việc không ai mở cửa bán hàng. Nhưng Hồng Nhung đã nói vọng vào:

- Em ra sớm, lúc chưa có ai để niêm yết giờ mở cửa. Vậy anh còn hơn mười lăm phút nữa mới tới giờ bán hàng. Thôi, vào ăn sáng rồi còn ra tiếp khách đi, ông chủ!

Một mâm thức ăn đã dọn sẵn, và lại là món điểm tâm Sơn đặc biệt ưa thích!

- Cô... cô lấy đâu ra mấy món này? Đây là hủ tiếu tim gan, sườn non của tiệm Hải Vị cuối khu chợ mà?

- Đúng là thức ăn của tiệm đó. Anh cứ ăn đi cho nóng. Đừng thắc mắc việc làm cách nào em mua được. Bảo đảm với anh, không ai thấy em từ trong nhà này đi ra, cũng không thể thấy em đi vào.

Sơn ái ngại:

- Vì ý thích của tôi mà cô phải nhọc công như vậy, tôi không muốn đâu. Từ mai cứ còn cơm nguội bữa trước, cô chiên giúp lại, tôi ăn thế quen rồi.

Nàng lắc đầu:

- Không có em ở đây thì anh muốn ăn uống thế nào tuỳ ý. Nhưng có em rồi thì trách nhiệm của em là phải thế này, việc thức khuya dậy sớm, nếu không cho em làm vậy thì em bệnh, anh lại mất công tốn tiền thuốc!

Lại một lần nữa, Sơn phải nhượng bộ. Và đúng là nhờ thay đổi thức ăn nên anh ăn rất ngon miệng. Ăn vừa xong thì ngoài cửa đã có tiếng lao xao của khách hàng.
 
Lúc Sơn mở cửa thì cả chục người tràn vào. Họ hết lời khen ngợi anh:

- Trong lúc chợ búa ế ẩm mà ông chủ Sơn lại có hàng mới bày bán, đáp đúng thị hiếu người mua, thật là giỏi!

Sơn cám ơn mọi người thì có một bà nói:

- Ông chủ trẻ tuổi, tài giỏi như vậy mà không có người quán xuyến việc nhà, thật là tiếc! Có cần không, tôi làm mai cho?

Một người khác lên tiếng liền:

- Bà ta gả con gái cho cậu đó, chớ cần gì làm mai cho ai!

- Con gái bà ta đẹp thì có đẹp, nhưng cái miệng ăn hàng núi cũng sập chớ đừng nói là cửa hàng này!

Bị chọc quê, bà xỉa xói mấy người kia một lúc, trước khi về còn nói với lại:

- Con gái tôi tên Trà My, bữa nào ông chủ Sơn ghé nhà chơi, nhà tôi ở đầu xóm Đông.

Đợi bà ta đi rồi, một bà nói với Sơn:

- Bà đó là trùm ở xóm chợ này đó, nhà bà ta giàu có lắm, cỡ cậu mà lọt vào làm rể bà ta thì hốt trọn ổ đó!

- Ổ quạ hay ổ cú!

Một người nào đó chen vào nói rồi mọi người cùng cười to. Không khí cửa hàng của Sơn lúc nào cũng vui vẻ, nhộn nhịp như vậy.

Đến trưa, trong giờ cơm Sơn phải nói:

- Kiểu này thì chỉ vài ngày nữa là hết hàng để bán. Liệu có cách nào mua hàng về kịp không?

Hồng Nương bình tĩnh đáp:
 
- Anh khỏi phải lo, nội chiều mai sẽ có một chuyến hàng mang tới.

Sơn kinh ngạc:

- Sao mà nhanh vậy?

- Thì mình đặt hàng, họ mang tới chớ sao?

- Đặt hàng? Cô đặt hồi nào?

Nàng cười tươi:

- Hôm qua khi anh nói và sẵn tiền, em đã nhắn với người quen, họ báo tin là ngày mai sẽ giao tới.

Sơn tính lại số tiền bán được và càng ngạc nhiên hơn, bởi tuy số lượng bán ra ngang bằng hôm qua, nhưng số tiền lại nhiều hơn. Anh chưa hiểu tại sao thì Hồng Nương giải thích:

- Số hàng hôm nay thuộc thùng hàng lụa loại cao giá, anh bán mà không để ý sao?

Sơn chợt nhớ ra, anh gật đầu:

- Đúng rồi, lúc nãy tôi căn cứ theo giá ghi ở đầu cây vải để bán mà quên so với giá hàng hôm qua. Tôi cũng không ngờ là Phú đã gửi cho những loại hàng cao giá như vậy.

Hồng Nương tiết lộ:

- Các thứ hàng hoá này suốt trong nhiều tháng anh Phú đã không bán ra, nói là để dành cho mùa Tết. Cho đến lúc nghe tin mình sắp phải đi nước ngoài thì đã quyết định dành toàn bộ số hàng quý gửi tới cho anh. Có thể nói đây gần như là toàn bộ tài sản của Phú.

Buổi chiều hôm đó, quả nhiên có một xe chở hàng tới giao tận nơi. Người giao hàng chỉ biết giao xong rồi đi, Sơn có hỏi thêm vài chi tiết, nhưng anh ta hầu như không nói gì, lên xe đi thẳng.

Vào nhà hỏi lại Hồng Nương thì cô chỉ cười bảo:
 
- Em cũng chẳng biết. Có lẽ người quen của em giao cho họ chở tới mà không dặn gì khác.

Sơn xem lại hàng và phải công nhận số hàng lần này còn tốt hơn đợt vừa rồi đặc biệt là đáp ứng đúng màu sắc mà trong mấy ngày vừa qua nhiều người đã yêu cầu. Điều này khiến Sơn không khỏi ngạc nhiên, bởi khi bán hàng thì Hồng Nương không có mặt, không nghe được sở thích của khách hàng, mà khi vào nhà ăn cơm Sơn cũng chưa nói ra yêu cầu của khách. Vậy mà cô đã đặt hàng chính xác đến không ngờ!

Hỏi thì Hồng Nương cười đáp:

- Có lẽ do kinh nghiệm của phụ nữ. Ở đây là vùng thôn quê, màu sắc phải thích nghi với hoàn cảnh, khí hậu và bản tính con người.

Sơn thầm phục kiến thức đó của cô ta, anh nói lịch sự:

- Tôi phải cám ơn cô Hồng vạn lần. Lần này thành công là có phần đóng góp rất lớn của cô!

Hồng Nương khiêm nhường:

- Chuyện đó đâu đáng gì mà anh phải quan tâm. Việc anh cho em nương nhờ mới là ơn lớn mà em phải đền đáp.

Sơn cảm thấy bạo dạn hơn:

- Nhưng xem ra ơn của cô lớn hơn. Cô biết không, nếu mấy hôm trước không có cô tới với số hàng quan trọng này, thì tôi đã đóng cửa hiệu đi du lịch rồi. Mùa mưa ở chợ này bán được nửa thước vải đã là khó, chớ đừng nói là cả mấy thùng như hai hôm nay!

Nghe anh nhắc tới chuyện đi, Hồng Nương hỏi:

- Anh định đi với ai mà hôm đó sửa soạn kỹ dữ vậy?

- Đâu có gì mà kỹ, tôi chỉ...

Hồng Nương kể ra vanh vách:

- Ngoài quần áo cá nhân của anh, còn có bốn đoạn gấm dành cho con gái nữa!

Sơn ngạc nhiên:

- Sao cô biết rõ vậy?

Hồng Nương cười:
 
- Mạn phép anh, em đã lấy đồ đạc trong va-li ra định giặt, nên mới rõ. Anh có rầy thì em chịu, chớ em không thể thấy đồ đạc để trong rương lâu, nó sẽ hôi mốc.

Đúng là Sơn không hài lòng lắm về việc người khác soạn đồ đạc riêng của mình. Tuy nhiên, với Hồng Nương thì anh lại dè dặt. Đúng hơn, nếu cô nàng có làm hơn thế nữa thì Sơn cũng không nỡ chê trách.

Đưa hàng hoá vô nhà xong thì trời đã tối. Để mừng việc buôn bán thành công và mừng có chuyến hàng mới, Sơn ngỏ ý với người khách nữ thân thiết của mình:

- Tối nay tôi muốn được mời cô Hồng một chén rượu.

Hồng Nương nhận lời ngay:

- Em cũng đã làm sẵn một ít món nhắm rồi đây!

Họ bày tiệc rồi cùng nhau uống đến gần nửa khuya. Sơn vô cùng ngạc nhiên khi nhận ra tửu lượng của cô nàng khá cao. Anh thật lòng khâm phục:

- Hồng Nương tửu lượng ăn đứt tôi rồi, có lẽ tôi phải xin hàng thôi!

Hồng Nương cũng đã ngà ngà, giọng cô hơi lè nhè:

- Chưa bao giờ em uống đến như thế này...

Nàng vừa nói vừa đưa tay chụp đại lên bàn, vô tình nắm phải bàn tay của Sơn. Anh chàng để yên, mắt vẫn nhắm nghiền. Tay hai người cùng trong tay khá lâu...

Và có lẽ họ cùng say và đi vào giấc ngủ...

Chẳng biết bao lâu. Cho đến khi Sơn mở mắt ra thì anh chẳng còn thấy cô nàng đâu. Sơn cũng đứng lên về phòng mình. Tuy nhiên, khi đi ngang qua phòng của Hồng Nương, Sơn ngạc nhiên khi không có nàng trong đó.
 
Bước ra phòng ngoài cũng chẳng thấy cô nàng, Sơn thật sự lo, anh gọi:

- Hồng Nương!

Anh lo nàng quá say rồi ngã ở đâu đó, nên đi tìm kỹ mọi ngõ ngách. Chẳng hề thấy. Mà cửa nẻo vẫn đóng kín.

- Cô Hồng!

Sơn gọi đến cả chục lần, thậm chí mở cửa bước ra ngoài tìm mà vẫn không thấy gì. Giờ đó đã quá khuya, có lẽ gần sáng, nên đường sá vắng tanh.

Người vẫn còn hơi men, nên chỉ đứng ngoài được một lúc, Sơn phải quay vào nhà. Anh cố cưỡng lại cơn mệt, thức đến sáng, chờ đợi trong tâm trạng nôn nao, lo lắng như chưa bao giờ như thế...

Lúc này Sơn mới có thời gian soát lại lòng mình. Anh không thể chối rằng trong con tim trống rỗng xưa nay của mình đã bắt đầu có chút gì đó làm xao động...

Bởi vậy, sự lo lắng trong anh lại càng tăng thêm. Nếu có thể được, Sơn đã chạy đi tìm coi nàng đang ở đâu?

Gà bắt đầu gáy thưa thớt ở đầu thôn. Cũng là lúc Sơn mòn mỏi ngủ thiếp đi...

- Này, dậy ăn chút cháo nóng cho khoẻ. Coi chừng anh bệnh rồi đó!

Sơn choàng tỉnh dậy, anh giật mình và mừng rỡ khi nhìn thấy Hồng Nương đang cúi xuống trước mặt mình:

- Cô... cô về lúc nào?

Hồng Nương ngạc nhiên:

- Em có đi đâu mà về?
 
Sơn quả quyết:

- Tôi đã đi tìm khắp nơi, cả trong phòng cô nữa mà chẳng thấy. Cô đi đâu làm tôi lo quá...

Chỉ tay ra chỗ để các thùng hàng:

- Hàng quý mới về, em sợ kẻ trộm nên ra ngủ giữa hai kiện hàng. Một phần cũng do say...

- Ủa, lúc nãy tôi có tìm ở đó mà...

- Chắc là anh chỉ tìm ở ngoài nên làm sao thấy, trong khi em nằm ở tận bên trong.

Sơn thở phào nhẹ nhõm và anh không cần ăn chén cháo mà nàng bưng ra, đã vội đi về phòng ngủ tiếp... Do vậy, anh không để ý thấy Hồng Nương vừa đem giấu một bộ đồ nguỵ trang. Có lẽ dùng để đi ra ngoài lúc đêm...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Phần 2

Năm năm sau...

Từ một hiệu buôn ế ẩm, ít hàng, thưa khách, sắp đóng cửa, cho đến nay hiệu Tiêu Sơn đã trở thành một hiệu buôn bề thế nhất của chợ thị xã này.

Không thể phủ nhận, mọi việc đều bắt nguồn từ số hàng hoá của người bạn tên Phú gửi tới. Sơn hiểu điều đó nên cứ thỉnh thoảng vài tháng một lần, anh đều cho người về tỉnh thăm chừng xem Phú xuất ngoại đã trở về chưa. Nhưng đã qua năm năm, Phú vẫn bặt tăm hơi, kể cả một lá thư cũng không gửi về.

Đã mấy lần Sơn hỏi, nhưng Hồng Nương chỉ biết lắc đầu. Có lần cô bảo:

- Anh Phú tính tình kín đáo, ít chịu nói điều gì anh ấy không muốn. Chuyện anh ấy ra đi cũng hoàn toàn bí mật với mọi người và cả em, mặc dù ảnh thương em như em ruột.
 
Sơn băn khoăn chuyện bặt vô âm tín của Phú một phần là nhớ bạn, nhưng điều làm anh áy náy nhất là đồng vốn mà anh đang chiếm dụng, chẳng biết tính sao? Sơn đã tích luỹ có thừa số vốn của bốn kiện hàng do Phú gửi giúp, định sẽ trả đủ cho bạn khi gặp lại. Chẳng những thế, Sơn còn dành đến hơn phân nửa số tiền lời từ năm năm qua cho bạn. Anh chỉ dành cho mình một số vừa phải để phát triển cơ ngơi và cho... hai thành viên nữa trong nhà. Hai thành viên?

Điều này nếu Phú về, anh ta sẽ vô cùng ngạc nhiên và có thể là rầy rà nữa, nhưng Sơn chẳng còn cách nào khác hơn. Chung đụng nhau, giúp đỡ nhau khi tối lửa tắt đèn rồi bén duyên lúc nào không hay, và đến một ngày, cũng trong một cơn say, hai người họ đã trở thành của nhau. Hồng Nương không tỏ ra hối tiếc gì, cũng không lo bị Phú rầy, mà chỉ lo chuyện đứa con ra đời. Lúc có thai, nhiều lần nàng ưu tư, Sơn hỏi mãi nàng mới thổ lộ:

- Em lo, không biết con chúng ta sẽ có hình hài ra sao nữa?

Sơn ngạc nhiên hỏi lại thì nàng giải thích thêm:

- Là bởi... trước đây có lần em bị bệnh sốt rét rừng, chẳng hiểu sinh con có ảnh hưởng gì không?

Sơn trấn an:

- Em yên tâm, anh là giống tốt, sống đàng hoàng, nên con anh nhất định là phải đẹp trai và thông minh!

Mà quả vậy, cậu bé Tiểu Minh khi ra đời đã kháu khỉnh, lanh lợi và cực kỳ thông minh. Đến lúc ấy, Hồng Nương mới an tâm. Tuy nhiên, nếu để ý sẽ thấy thỉnh thoảng nàng thường lén nhìn con rồi lại ôm con vào lòng, như sợ nó rời xa mình! Điều này nàng không biểu lộ cho Sơn biết, và anh chàng do quá lo làm ăn, nên cũng không để ý.

Thằng bé Tiểu Minh nay đã trên ba tuổi, và thường quấn quít theo cha ở ngoài cửa hàng, và chính nó có lần đã nói với cha:

- Sao không bao giờ mẹ chịu ra ngoài này vậy cha?

Sơn cười:

- Tại mẹ sợ bị người đàn ông khác nhìn rồi người ta... bắt cóc mẹ đi!

Thằng bé kêu lên:
 
- Còn ba đây và con nữa, ai dám bắt mẹ được!

Sơn xoa đầu con:

- Cha chỉ nói đùa thôi, chớ từ lâu nay mẹ không quen buôn bán, nên mẹ không tiện ra ngoài này. Mẹ con không thích tiếp xúc với người ngoài.

Thằng bé ngây thơ nói:

- Sao hôm trước mẹ dẫn con đi gặp tới mấy người lận! Họ cũng là người buôn bán...

Sơn kinh ngạc:

- Con nói gì vậy Tiểu Minh?

- Thật đó, buổi tối mẹ thường đi gặp mấy người kia. Con thấy những người đó không phải là bạn của cha.

Từ lâu nay, Sơn tin tưởng vợ tuyệt đối, bởi chưa bao giờ thấy Hồng Nương ra khỏi nhà nửa bước, vậy mà nay...

Anh nghiêm giọng nói con:

- Con còn nhỏ, không được nói bậy nghe chưa! Mẹ con sao lại...

Thằng bé rất hồn nhiên:

- Mẹ dặn con đừng nói lại với cha. Mà con thấy mẹ và những người kia cũng không có làm gì. Lần nào cũng bàn chuyện hàng hoá gì đó...

Chợt nhớ ra, Sơn reo lên:

- Đúng rồi! Mẹ con mua hàng cho cha. Những người kia là thương buôn.
 
Tiểu Minh vẫn thắc mắc:

- Thương buôn sao không tới ban ngày gặp luôn cha, mà chỉ tới vào ban đêm? Mà lại gặp nhau ngoài đồng vắng nữa!

Những điều tiết lộ là hoàn toàn mới mẻ với Sơn, anh sợ Hồng Nương nghe được, nên kéo con ra ngoài cửa căn dặn:

- Con chỉ được nói chuyện này với cha thôi, không được nói với ai nghe chưa!

- Dạ...

Thấy sắc mặt của cha, Tiểu Minh có vẻ ngại... Nó nói sang chuyện khác:

- Tối qua con thấy mẹ khóc.

Sơn hốt hoảng:

- Hồi nào?

- Lúc ba tính sổ sách ngoài này. Mẹ ngồi trong phòng ôm con vào lòng rồi khóc. Con có hỏi thì mẹ chỉ nói do mẹ quá thương con. Nhưng thương con sao mẹ lại khóc, hả cha?

Sơn hơi lúng túng:

- À, có lẽ... Mà thương quá cũng khóc chớ sao. Khóc sung sướng mà!

Sơn còn định giải thích thêm, nhưng lúc đó có mấy khách bước vào nên anh xoa đầu con rồi bảo:

- Con vào trong nhà với mẹ đi, lát cha vào rồi mình ăn cơm!

Chợt Tiểu Minh nhìn ra rồi reo lên:

- Con nhớ rồi, cái ông mang cái giỏ lớn đi phía sau kia là bạn của mẹ đó!

Sơn giật mình, anh nhìn kỹ thì rõ ràng đây là những người khách lạ, chưa từng đến đây bao giờ. Họ gồm bốn người, toàn là đàn ông. Sợ Tiểu Minh ở đó nói lôi thôi, nên anh giục con:

- Con vào trong đi, cũng đừng nói với mẹ về mấy người khách này, để đây cha tiếp họ.

Tiểu Minh dùng dằng một lúc rồi mới chịu đi. Vừa lúc đó, bốn người khách bước vào. Họ nói giọng miền khác:

- Ở đây có thu mua tơ?

Sơn lịch sự đáp:

- Dạ có chớ. Miễn là hàng đẹp và giá cả phải chăng.

Một người nói:

- Hàng chắc chắn là ông chủ vừa ý rồi, còn giá cả thì chẳng khác gì giá mà lâu nay ông chủ vẫn thu mua.

- Vậy thì mấy ông cho coi thử hàng?

Người đàn ông mà lúc nãy Tiểu Minh nói là quen với Hồng Nương, lên tiếng:

- Bà vợ ông đã từng mua của chúng tôi mà. Chính những hàng hoá ông bán ở đây cũng là do chúng tôi mang tới cả...

- À, thì ra các ông là khách buôn lâu nay vợ tôi thường nhắc. Vậy mời ngồi. Ta ngồi rồi nói chuyện. Thật vinh hạnh quá!

Người nọ nói với giọng thiếu thân thiện:

- Chúng tôi muốn gặp ngay vợ ông, chứ không có thì giờ nói chuyện! Hàng hoá này là chúng tôi mang tới giao cho cô ấy.

- Vậy thì các ông cứ giao cho tôi cũng được. Cô ấy mua giá nào, tôi sẽ trả giá đó.
 
Người kia gắt lên:

- Không được. Phải kêu Tiểu Tuyết ra đây!

- Tiểu Tuyết nào? Ở đây làm gì có Tiểu Tuyết?

- Chính con vợ của ông đó!

- Nàng còn có tên là Tiểu Tuyết ư? Nhưng... nhưng nàng đang bận...

- Bận gì cũng kêu ra đây!

Thấy thái độ kỳ lạ của họ, Sơn nghĩ là do buôn bán tiền nong không sòng phẳng sao đó, nên anh nói:

- Nếu nàng còn nợ nần gì các ông thì đưa sổ ra, tôi sẽ trả tất cả!

Một gã khác nói to:

- Nợ này không phải bằng tiền, mà là... mạng sống của con đó!

Trong lúc Sơn trố mắt ngạc nhiên thì một người khác trong bọn có vẻ trầm tĩnh hơn, ông ta nói:

- Cô vợ ông thường đặt hàng chúng tôi, nhưng hai tuần nay lại đổi sang mối khác, khiến chúng tôi bị kẹt hàng, lỗ vốn nặng. Bây giờ ông hãy gọi cô ta ra đây bồi thường thiệt hại cho chúng tôi, có như vậy chúng tôi mới để cô ta yên. Bằng không...

- Nhưng... tôi đâu biết chuyện này. Vả lại lâu nay vẫn một người mang hàng tới giao, tôi thấy có sự thay đổi gì đâu?

Người hung dữ nhất trong bọn đã gắt lên:

- Gọi ngay Tiểu Tuyết ra đây!
 
Vừa khi ấy, Tiểu Minh chạy ra gọi cha:

- Cha vào trong mẹ cần nói chuyện!

Sơn cũng cần gặp vợ, anh để khách đứng đó, chạy vào phòng. Anh giật mình khi thấy Hồng Nương nằm co ro, sắc mặt tím tái, giọng yếu ớt:

- Mau đuổi họ đi. Em... em sẽ gặp nguy, nếu... nếu họ còn ở đó...

Sơn hốt hoảng:

- Họ hung dữ lắm, làm sao anh đuổi đi được?

Hồng Nương cố sức nói:

- Hãy... hãy bắt con mèo mun ra... ném vào họ...

Sơn còn lưỡng lự thì Tiểu Minh đã nhanh chân chạy đi tìm con mèo mun đang nằm ngủ ở cửa buồng, rồi nó chạy bay ra bất thần ném mèo vào chỗ bọn người kia.

Bỗng có những tiếng gầm rú ghê rợn vang lên, khiến cho Sơn vừa chạy ra tới cũng phải sững lại, kinh hãi nhìn bốn cái bóng phóng vút ra cửa!

Những người chung quanh đó kinh hoàng gào thét:

- Hổ! Hổ bà con ơi!

Thì ra bốn cái bóng vừa phóng khỏi cửa hiệu của Sơn chính là bốn con hổ vàng thật to. Nhưng hình như chúng cũng đang kinh hoảng, nên trên đường chạy đã không chạm đến ai. Tuy vậy, cả thị trấn đã phải một phen hú vía!
 
Lúc mọi người hoàn hồn chạy tới hỏi thăm thì Sơn đã ngất đi giữa tiệm. Chỉ có Tiểu Minh là còn đứng đó, thằng bé chẳng những không sợ mà còn bình tĩnh cúi xuống lay gọi cha dậy. Rồi khi thấy người bâu tới đông quá nó lại nói:

- Bà con về đi, cha con không sao, chỉ bất tỉnh thôi.

Khi mọi người đi hết rồi nó mới cố kéo cha vào trong. Sau đó ra đóng cửa lại cẩn thận. Vào trong rồi, nó gọi mẹ:

- Chúng nó chạy hết rồi, mẹ không cần sợ nữa.

Sau đó ít giây thì Sơn tỉnh lại, anh lo lắng nhìn vợ:

- Em có sao không?

Hồng Nương đã đỡ hơn lúc nãy, cô ôm con vào lòng, giọng run run:

- Lạy trời, con và anh không sao.

- Họ là ai vậy? Tại sao họ mới là người đó lại hoá thành hổ?

Tiểu Minh nhớ ra, nó nói:

- Con thấy cả bốn con hổ đều chỉ còn lại ba chân! Chúng là cọp què mà, sợ gì!

Hồng Nương siết chặt con hơn:

- Không đâu con... Chúng là hổ tinh, nên dù còn mấy chân chúng cũng giết chúng ta trong nháy mắt thôi!

Sơn thấy trong giọng nói của vợ có gì đó không bình thường, nên gạn hỏi:

- Em nói cho anh nghe coi, sao bọn đó lại tìm em? Giữa em với chúng có gì...

Có lẽ biết không thể giấu mãi được, nên nàng vừa sụt sùi khóc vừa kể:
 
- Bọn chúng là bầy hổ dữ ở rừng Dương Lâm, ở phía bắc tỉnh thành. Trong nhiều năm, chúng đã ăn thịt vài chục người đi qua rừng. Trong số đó có những người buôn tơ lụa. Một hôm, trong nhóm người buôn tơ có một người thạo bắn cung tên và giỏi nghề săn thú dữ, đã đụng độ với bầy ác thú đó. Kết quả là người kia lùa cả bốn con hổ vào một hang đá sau khi bắn chúng trọng thương, mỗi con đều mất một chân sau. Khi hổ đã vào hang rồi, người ấy bịt miệng hang, chất củi đốt hang! Ai cũng ngỡ là bốn con hổ bị diệt, chẳng ngờ hơn một giờ sau đó, từ trong hang có tiếng gầm rú, rồi bốn con hổ đồng loạt phóng ra nhắm thẳng vào chỗ người kia mà tấn công. Người ấy bị giết chết tức khắc, xác bị hổ xé nát, hình như là để hả cơn hận thù! Mà chưa hết, sau khi giết kẻ thù rồi, bốn con hổ còn lao tới chỗ chiếc lều, nơi có người vợ và cô con gái nhỏ của ông lái buôn kia, và giết luôn bà vợ. Cô con gái nhỏ...

Kể tới đây dường như quá kiệt sức, nên Hồng Nương phải ngừng lại để lấy hơi. Sơn có linh tính, nên hỏi chặn ngang:

- Cô gái nhỏ đó phải chăng là...

Nàng gật đầu:

- Người đó là em. Đúng ra em cũng đã chết, nhưng nhờ có một người đi săn tới kịp, người đó nổ súng liền mấy phát. Bầy hổ phát hoảng nên bỏ em lại đó, chạy mất. Người cứu em hôm đó chính là anh Phú, bạn anh.

Sơn reo lên:

- Phú có tài bắn súng mà!

- Phú đưa em về chữa trị vết thương, nhưng chữa hoài vẫn không khỏi, bởi người ta cho biết hổ khi nó đã thành tinh, vết thương do chúng chạm vào ai thì sẽ không bao giờ lành được. Ngoại trừ...

Sơn ôm lấy vợ:

- Nhưng em quá may mắn, nên đã lành lặn như ngày hôm nay. Đó là trời ban lộc cho anh!

Nàng không vui mà lại bật khóc. Sơn an ủi:
 
- Chuyện qua rồi, em không phải lo nữa...

Nàng vẫn khóc, và bất thần cố sức ôm gọn hai cha con Sơn vào lòng như sợ họ biến mất:

- Đừng bỏ em!

- Kìa, sao em nói nhảm gì vậy? Anh và con vẫn bên em đây mà!

Nàng càng khóc to hơn:

- Không còn kịp nữa rồi! Chúng đã tới đây rồi thì còn mong gì sống sót nữa. Hai người hãy mau đi đi, kẻo chúng trở lại mà không còn đường sống!

Sơn vụt nhớ tới Phú, anh đứng lên và nói:

- Để anh ra tỉnh nhờ Phú xem. Có thể Phú đã về rồi. Phú là người bắn súng giỏi, có anh ta trong nhà sẽ giúp mình nhiều.

Hồng Nương càng khóc to hơn:

- Phú đã chết năm năm trước rồi! Ngày em tỵ nạn tới anh là ngày Phú bị lũ hổ tinh đó tới tấn công trả thù, chúng đã xé xác Phú ra làm nhiều mảnh rồi tha vào rừng.

- Trời ơi!

Sơn rụng rời tay chân, anh ngồi bệt xuống như người mất hồn, trong khi Hồng Nương vẫn tiếp tục kể:

- Em nhờ cải trang, đi theo các kiện hàng nên mới tới được đây. Em cứ ngỡ...

Nàng ngừng kể, cơn xúc động làm cho hơi thở nàng đứt quãng, khó khăn... Thằng bé Tiểu Minh ghì lấy mẹ, nói như hét lên:

- Không ai được làm hại mẹ. Họ tới đây con sẽ bắt con mèo mun, thật nhiều con mèo mun để đuổi họ!

Hồng Nương nhẹ lắc đầu:

- Không ăn thua gì đâu con! Hai cha con phải chạy trốn ngay thôi, bởi họ tới đây chỉ để tìm mẹ mà mẹ thì cũng không còn có thể sống nữa rồi, số mẹ đã tận con à...

Nàng càng nói thì giọng càng yếu đi. Quay sang Sơn, nàng thì thầm:

- Em sắp bị họ rước đi rồi...

Sơn hốt hoảng:

- Không đâu! Em đừng nói nhảm, có anh đây mà...

Lúc đó trời đang tối dần... Nhìn ra cửa sổ, Hồng Nương sợ hãi:

- Không xong rồi, họ lại tới nữa đó!

Sơn nghe ngóng rồi nói:

- Anh có nghe động tĩnh gì đâu. Mình đóng hết cửa nẻo lại thì làm sao ai vào được!

Anh bước tới đóng cửa sổ thì vừa lúc đó có một giọng nói vang lên từ nhà bếp:

- Chậm mất rồi ông chủ Sơn ơi!

Đúng lúc đó, bốn người đàn ông lúc sáng lại xuất hiện, ngoài ra còn có một người đàn bà mặt mày đầy son phấn đi cùng. Mụ này mới là người lên tiếng tiếp theo:

- Tưởng là thoát được tao hả, con tiểu yêu kia!

Hồng Nương vừa nhìn thấy mụ ta thì đã run lẩy bẩy, vừa ghì chặt lấy Sơn hơn. Mụ kia quát lớn:
 
- Lôi cổ nó ra cho tao trị tội!

Bốn gã kia định nhào tới thì Tiểu Minh nhanh trí chụp lấy con mèo đưa ra dọa:

- Ai nhảy vào thì tôi tặng cho con này!

Thật là hiệu quả. Cả bốn tên đều khựng lại, chưa dám nhào tới. Mụ đó lồng lên:

- Đồ chết nhát, để tao!

Mụ ta như con hổ dữ lao thẳng về phía vợ chồng Hồng Nương. Nhưng thật bất ngờ, Tiểu Minh cũng lao theo, rồi bất thần thằng bé ngoạm lấy một bên cổ tay của mụ ta cắn chặt!

- A... a... a!

Tiếng thét của mụ khiến cho bốn tên đều muốn nhảy vào tiếp cứu, nhưng lúc ấy con mèo mun như đồng tình với chủ, nó giương cặp mắt xanh màu ve chai trừng trừng nhìn, nên bốn tên không dám nhúc nhích.

Còn Tiểu Minh thì dù mụ kia có ra sức cào cấu, đánh đập, nó vẫn ngoạm chặt, nhất định không nhả ra. Một dòng máu từ cánh tay của mụ ác chảy xuống, rơi đúng vào đỉnh đầu của Hồng Nương, và... nàng lả người đi. Cùng lúc, mụ kia cũng khuỵ xuống, chụp lên thân thể vợ chồng họ.

Máu từ cánh tay mụ ta tiếp tục chảy... Phút chốc đã ướt đẫm cả đầu, cổ và thân mình Hồng Nương. Cho đến lúc, tự dưng thân xác mụ ác bỗng teo tóp đi như chiếc bong bóng xì hơi. Và... cuối cùng chỉ còn lại một bộ da hổ màu trắng!

Bất thần Hồng Nương bật dậy, nàng kéo chồng con lên, reo to:

- Thoát rồi!

Sơn ngơ ngác:

- Em không sao chớ?
 
Hồng Nương quay sang con, Tiểu Minh miệng còn dính đầy máu, nhưng nó vẫn cười vui:

- Con hạ được nó rồi!

Lúc họ nhìn lại thì cả bốn tên kia cũng biến đâu mất. Nhìn kỹ xuống sàn nhà thì chỉ còn thấy bốn bộ da hổ sần sùi. Hồng Nương thật sự mừng:

- Mình thoát rồi! Nhờ Tiểu Minh dám liều mạng cắn vào tay mụ hổ bạch đó, rồi máu từ thân thể mụ chảy ra rơi trên đầu em, nhờ máu hổ tinh đó mà em đã thật sự hoàn toàn trở lại kiếp người!

Sơn vẫn chưa hết bàng hoàng:

- Em nói gì anh chưa hiểu? Tại sao chỉ bấy nhiêu máu đó mà cả năm người họ đều tan biến hết?

Giọng Hồng Nương phấn chấn hẳn lên:

- Bây giờ em mới nói thật, khi tới đây em đã là hồn ma! Là sứ giả của lũ hổ tinh kia. Sau khi giết chết anh Phú và em xong, hồn em bị lũ hổ tinh đó khống chế, bắt em giả làm người để tiếp tục hại người hầu thoả mãn hận thù của lũ chúng nó. Việc em tới đây, đem hàng hoá tới giúp anh cũng là do bọn chúng dàn cảnh. Bọn nó biết anh là bạn thân của Phú, thế nào anh cũng trả thù, nên chúng tìm cách ra tay trước, để tận diệt mầm mống nguy hiểm. Tuy nhiên, khi tới đây sống với anh rồi, bắt đầu nảy sinh tình cảm nên em giấu thân phận, định kéo dài cuộc tình này. Bởi vậy nhiều lúc em nhìn Tiểu Minh cứ sa nước mắt là vì thế! Em chỉ sợ mất con và anh. Nhưng giờ thì hết rồi, thoát rồi!

Biết cha con họ không hiểu, Hồng Nương nói thêm:

- Không ai làm ma hổ chảy máu được. Nhưng may mắn sao, Tiểu Minh làm liều mà mụ hổ già độc ác kia đã bị chảy máu, và chảy cho đến cạn kiệt. Máu đó mà rơi xuống một oan hồn khác thì oan hồn ấy lập tức được trở lại kiếp người! Quả là trời còn thương em!

Đúng như lời của Hồng Nương, kể từ phút ấy nàng hầu như không còn sợ sệt, lén lút nữa. Mà hằng ngày đã công khai xuất hiện cùng chồng ở cửa hàng. Sơn hãnh diện giới thiệu vợ mình với mọi người. Ai cũng khen Hồng Nương đẹp và phúc hậu.
 
Thằng bé Tiểu Minh thì lúc nào cũng quấn quít bên cha mẹ. Nó ngầm hãnh diện vì đã cứu được mạng mẹ nó...

Cửa hiệu của Tiêu Sơn càng lúc càng phát đạt. Chẳng mấy chốc, anh trở thành người giàu nhất vùng!
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
HN NGƯI XÁC AI?

Nghe bà mối Chín Lệ nói huyên thuyên về gia đình nhà gái, chính bà Dương cũng chịu không nổi, nói gì ông giáo già Dương Phu. Do đó, vừa thấy bà Chín sắp nói sang đề tài mới thì ông đã đứng dậy, bỏ vào trong. Vẫn không nản, bà mối hạ thấp giọng ra điều quan trọng lắm:

- Tôi không nói ngoa, nhà này tuy là giàu nứt đố vách, nhưng lại dễ chịu, chớ không như nhiều phú gia khác. Chính họ đã gợi ý cho tôi đi tìm con trai con nhà bình dân lao động để làm mai cho con gái họ. Tôi nói thật đó.

Bà Dương vẫn không hào hứng lắm:

- Thì nghe bà nói vậy, chớ vợ chồng tôi vẫn muốn tìm mối nào nghèo cũng được, miễn là hợp với hoàn cảnh nhà này.

Bỗng nghe giọng nói của cậu con trai Dương Thanh:

- Còn phải hợp với con nữa chớ!

Bà Chín Lệ chụp ngay lấy đối tượng chính mà bà cần phải thuyết phục:

- Ờ, cậu Thanh đây rồi. Tôi nói cho cậu nghe, mối này gặp là cậu chịu liền. Con gái họ vừa đẹp vừa hiền, lại là người gia giáo, biết phép tắc...

Bà còn muốn khoe nữa, nhưng Thanh đã chặn lời bà:

- Ngon lành vậy sao lại ế, phải nhờ người mai mối?
 
Mụ Chín hơi bị quê:

- Chẳng qua... họ tự trọng... họ không thích gả con cho những đám giàu có hợm hĩnh khác...

Thanh cười to:

- Hóa ra nhà nghèo như mình bây giờ cũng có giá. Mà đã có giá thì ta làm cao, làm chảnh chơi. Không chịu!

Bà Dương phải dịu giọng:

- Nói năng cho đàng hoàng con. Dẫu sao mình cũng cám ơn bà Chín. Thôi, đã vậy thì để tôi tính lại, rồi nội ngày mai sẽ báo cho bà biết.

Tiễn bà mối về rồi, bà quay sang nói với con trai:

- Theo má thì con cũng nên chọn mối này cho rồi. Ba con nay đau mai yếu, còn má thì căn bệnh cũ cứ tái phát hoài, khó mà ở đời với chị em con. Mà ước nguyện lớn nhất của ba má là nhìn thấy được đứa cháu nội trước khi nhắm mắt.

Bà nói xong, thở dài buồn bã. Dương Thanh tuy ngang bướng, không ưa chuyện vợ con, nhưng lại là người rất hiếu thảo. Anh luôn sợ cha mẹ buồn:

- Con đâu phải không muốn... Nhưng má nghĩ coi, cưới vợ chớ đâu phải đi chợ lựa con cá, mớ rau mà phải cần người rao hàng, bày hàng...

Bà Dương hiểu con đã có chiều dao động, nên tiếp tục bộ mặt buồn. Quả nhiên, Thanh đột ngột nói:

- Thôi được, má nói bà Chín dẫn mình sang nhà họ đi!
 
- Má không ép...

Dương Thanh dứt khoát:

- Con thật sự muốn như vậy, má đừng lo. Thôi, con đi có việc, chừng nào đi má nhắn con về.

Tính tình con là như vậy, bà Dương hiểu, nên bà trầm ngâm một lúc rồi vào nhà trong nói với ông:

- Sáng mai mình sang bên nhà gái. Tôi đi nhắn bà Chín.

Ông có vẻ lo:

- Liệu thằng Thanh...

- Thì ông vừa nghe nó mới nói đó thôi.
 
***

Bước đi một cách uể oải, Thanh theo sau cha mẹ và bà mối Chín Lệ, khiến người ngoài nhìn vào ắt nghĩ rằng anh chàng đi thú phạt nhà vợ chớ không phải đi coi mắt vợ! Thanh miễn cưỡng đến nỗi bà mẹ cũng coi không được:

- Con làm bộ mặt đó thì mù họ cũng nhìn thấy!

Dương Thanh vẫn cái kiểu nói tưng tửng:

- Nhiều khi con gái họ lại chịu mới lạ!

Bà Dương trề môi:

- Có quỷ ma mới chịu nổi mày!
 
Dương Thanh chỉ cười chớ không nói gì thêm. Cũng may, vừa lúc ấy thì đã tới Đoàn gia trang. Gọi là Đoàn gia trang cũng đúng, bởi ngôi nhà của họ Đoàn này thuộc loại lớn nhất ở huyện Long Mỹ này. Chủ nhân là Đoàn Minh Thiện, ngày trước vốn làm chức quan lớn trong triều đình, trước khi triều đình phong kiến suy vong thì ông ta đã kịp tậu cơ ngơi đồ sộ này.

- Dạ, ông bà chủ nhà con kính mời quý khách vào nhà ạ!

Một người ra dáng là quản gia đã đợi sẵn nơi cổng, vừa thấy khách tới đã cúi chào lịch sự. Ông Dương vốn khó tính mà nhìn kiểu cách họ đón khách cũng hài lòng, ông lên tiếng liền:

- Anh vào bẩm với Đoàn gia là có chúng tôi, thôn dân ở làng Hòa Lạc tới yết kiến.

Người quản gia vẫn một mực lễ phép:

- Dạ, Đoàn chủ nhân của tôi đã biết ạ, vậy kính mời ngài, phu nhân và công tử đáo gia!

Theo kiểu cách nói của quản gia thì còn ảnh hưởng nặng nề phong kiến, chứng tỏ đã phục vụ nhà này từ khá lâu. Dương Thanh quay mặt đi chỗ khác cười, khiến bà Dương nhìn thấy phải nhắc khẽ:

- Không được cười nhạo người ta!

Vừa bước vào tới đại sảnh thì đã thấy một vị râu tóc bạc phơ, tướng mạo phi phàm, bước ra nghênh tiếp:

- Chân tôi hơi yếu, đi đứng khó khăn nên không ra ngoài nghênh tiếp, xin ông bà thứ lỗi!

Dương Phu phấn khởi:

- Được ngài cho phép tới như thế này đã là vinh dự cho gia đình chúng tôi lắm rồi...

Dương Thanh không nhịn được, đã lên tiếng:

- Bên nào cũng vinh hạnh hết thì thành đại vinh hạnh mất!

Không tỏ ra bực mình, Đoàn chủ gia lại quay sang Thanh, giọng vui vẻ:
 
- Có phải Dương công tử đây chăng? Ồ, quả là tuấn tú, khôi ngô và có cá tính!

Buộc lòng Thanh phải cúi chào, nhưng vừa nhìn xuống thấy đôi ủng xưa của chủ gia, anh ta liền reo lên:

- Con ngưỡng mộ và ước ao bấy lâu có được một đôi như thế này, lạ và đẹp quá!

Lại một lần nữa tỏ ra không phiền, mà họ Đoàn còn cười ha hả:

- Công tử quả là ăn nói bộc trực, có duyên!

Bà Dương lên tiếng:

- Dạ, ngài bỏ qua cho, thằng con tôi tính tình...

Ông Đoàn chặn lời:

- Phu nhân đừng quá lo, cậu nhà có tính tình như vậy rất hợp ý tôi. Đàn ông phải nói năng có cá tính như vậy, chớ dạ dạ vâng vâng quá cũng không hay.

Rồi ông nói riêng với Thanh:

- Để tối bác tặng cho con một đôi. Đây là những gì còn lại của thời xưa. Ngày nay được lớp trẻ như con thích là điều mà người già hết thời như ta vui lắm!

Thấy lời lẽ chân thành của ông ta thì Dương Phu có cảm tình lắm, ông nghiêm giọng bảo Thanh:

- Con không được làm phiền Đoàn gia nữa.

Trong nhà, Dương Thanh chỉ ngán có mỗi mình cha, nên sau câu nhắc nhở đó, anh chàng nín thinh không tưng tửng nữa.

Khi đã an vị rồi, không để bà mối lên tiếng, Đoàn chủ gia đã chủ động nói:

- Ý của tôi thì chắc hai vị đã được nghe rồi. Tôi chẳng may phu nhân vắnsố, để lại ba đứa con gái phải nuôi. Cũng may là ngày nay chúng đã khôn lớn. Nhưng con gái khôn lớn, đến tuổi cập kê thì làm cha mẹ ai cũng phải lo. Nỗi lo thứ nhất là bề gia thất của chúng, nỗi lo thứ hai là chọn ai để cho con cái mình nương tựa về sau. Tôi thú thật, tuy là quen biết nhiều, mối mai cũng lắm, nhưng vì qua kinh nghiệm tình đời, quá chán ngán nhân tình thế thái, nên tôi cứ ngay ngáy lo ngày đêm...

Bà mai Chín Lệ ngứa miệng nghề nghiệp chen vào:

- Đoàn lão gia đây thương con, không muốn cho con lấy phải người không xứng về nhân cách, bọn hám của, ngu dốt...

Biết bà ta nói thêm sẽ nói lung tung, nên họ Đoàn phải chặn ngang:

- Cô Chín đây là người quen, có giới thiệu ông bà và cậu đây. Nói thật, nếu là người khác thì họ sẽ vì sĩ diện, không hạ mình. Nhưng tôi thì khác, tôi đi tìm người tốt, cũng giống như tuyển nhân tài, nghe nhân tài ở đâu thì người tìm phải tìm tới, chớ không để họ tìm tới mình, như thế mới gọi là tầm nhân.

Ông Dương xúc động thật sự:

- Lâu lắm rồi tôi mới nghe được những lời chí tình của một người như Đoàn huynh. Tôi xin nghiêng đầu bái phục!

Ông vòng tay ra trước, biểu lộ sự tôn trọng. Ông Đoàn vội xua tay:

- Không có chi, không có chi! Được đón tiếp người đạo đức như nhị vị đây, lòng tôi mãn nguyện lắm. Đây phải nói là vinh hạnh cho tôi chớ không phải...

Ông ngừng câu nói, nhìn sang Thanh. Lúc này sau khi bị cha nhắc nhở nên Dương Thanh không bộp chộp chen lời nữa. Anh ta thấy chủ nhà nhìn mình thì cũng bắt chước cha vòng tay thi lễ. Đoàn gia có vẻ hài lòng lắm:

- Cháu đây giỏi lắm, còn trẻ tuổi mà biết phép tắc như thế này là hiếm trong thời buổi bây giờ.

Rồi ông quay vào trong gọi:
 
- Các con ra chào khách!

Cùng lúc, ba cô gái thật xinh đẹp bước ra. Người nào cũng xinh như hoa mới nở, mặt hoa da phấn tự nhiên, không tô vẽ, nhưng trông họ lộng lẫy khác thường. Anh chàng ngang tàng như Dương Thanh mà cũng phải ngẩng lên nhìn và... thót tim!

- Dạ, kính chào hai bác. Chào... công tử ạ!

Họ đồng loạt lên tiếng giống nhau, cùng giọng điệu, chẳng khác một dàn đồng ca! Bà Dương thích thú nói liền không giữ ý:

- Ba cô nương nhà đại quan xuất sắc quá đi thôi!

Nghe khen, cả ba cô gái đồng loạt cúi đầu:

- Dạ, chúng con cám ơn Dương mẫu!

Họ gọi Dương mẫu một cách ngọt xớt, khiến bà Dương càng thêm phấn khích, bà líu lo:

- Cám ơn! Cám ơn các con!

Ông Dương phải ngầm đá chân vợ thì bà ta mới kịp dừng lại. Ông phải lên tiếng khỏa lấp:

- Dạ, có tận mắt thấy mới hiểu thế nào là nề nếp gia phong của nhà Đoàn huynh. Cả ba tiểu thư đây thật quả xứng đáng...

Nghe khen, ba cô con gái bỗng chạy nhanh vào trong, vừa chạy vừa thẹn đỏ mặt. Ông Đoàn phải nói chữa:

- Chúng nó còn con nít lắm, xin quý vị tha lỗi cho.

Rồi quay sang Dương Thanh, ông hỏi:

- Cậu thấy thế nào? Chúng nó...

Thanh phải lễ phép đáp:
 
- Dạ thưa bác, cháu ngưỡng mộ ạ…
 
- Một đứa là Thanh Thủy, một đứa là Kiều Nương, còn đứa út là Thúy Thúy. Chúng sinh cách nhau chỉ một năm, nên trông như sinh ba vậy. Ta hỏi thật, trong ba đứa, cháu thích đứa nào? Đừng ngại, lòng dạ nghĩ sao cứ nói thẳng.

Dương Thanh cũng không ngờ mình lại buột miệng nói ngay:

- Cháu ấn tượng với cái tên Thúy Thúy!

Ông Đoàn cười ha hả:

- Quả là có nhãn quan tinh đời! Tuy ba chị em đều xinh đẹp như nhau, nhưng con út đó dễ thương nhất. Tuy tính tình có hơi ngang bướng một chút...

Bà Dương một lần nữa không dằn lòng được:

- Thì thằng con nhà này cũng vậy. Nó cũng...

Ông Đoàn quay sang Thanh:

- Cho phép cháu được ra vườn sau chơi với tụi nó.

Thấy Thanh còn lưỡng lự, ông khuyến khích:

- Cần tiếp xúc để tìm hiểu thêm. Và cũng để cháu tự khám phá xem đứa nào là con út. Nhớ, phải là phát hiện đầu tiên nhé, chớ nếu dò hỏi mới lần ra thì ta sẽ không gả cho đâu nhé!

Dương Thanh thấy trò chơi lý thú, nên anh phấn khởi chạy ngay ra vườn sau. Nơi đó, anh đã thấy ba cô con gái đang chơi đùa. Một cô lên tiếng ngay:

- Đuổi tụi em đi nào! Đuổi theo người nào sau cùng thì chính người đó là...
 
Dương Thanh vui lây cái vui của họ nên lao ngay vào cuộc chơi. Thật tình anh cũng chưa biết ai là Thúy Thúy, tức cô gái út, nhưng trong tâm thức của Thanh nó khiến anh cứ nhắm theo cô gái mặc áo màu vàng anh mà đuổi. Mải miết chạy, đến khi nhìn lại Thanh ngạc nhiên thấy hai cô kia đã đi đâu mất! Lúc ấy, cô nàng áo vàng cười dòn tan:

- Đuổi nữa đi chớ, anh chàng ngang bướng!

Dương Thanh đâu phải trai khờ, anh hiểu ngay:

- Tôi đã bắt đúng người rồi phải không! Vậy thì liệu mà trốn đi, tôi mà tóm được thì... coi chừng!

Nhưng anh chàng lầm, càng đuổi nàng càng chạy nhanh hơn. Thanh đuổi hơn chục vòng thì gần muốn đứt hơi mà cô nàng phía trước vẫn cười nói như không! Cuối cùng, Thanh đành phải lên tiếng:

- Xin chịu thua!

Cô nàng quay lại, nói gọn hơ:

- Đã không bắt được vợ thì đừng hòng lấy vợ!

Dương Thanh vẫn có tài vặt, vờ như mệt đứng không vững, chờ cho cô nàng bước lại gần, bất thần anh đưa tay chụp lấy bàn tay xinh xắn và reo lên:

- Ai thua thì biết!

Bỗng nàng xịu mặt:

- Anh không được phép làm vậy! Ai cho anh cái quyền nắm tay người con gái khi người ta chưa thuộc về anh. Cũng may...

Nàng nói từ cũng may thì đỏ mặt, quay đi chỗ khác. Dương Thanh tỏ ra hối tiếc:

- Cho tôi xin lỗi, tôi không hề cố ý xúc phạm. Chẳng qua là...
 
Cô nàng dịu giọng:

- Thôi bỏ qua. Thế nào, đã thở được chưa?

Dương Thanh trở lại bản tính ngang bướng cũ:

- Thở thì còn yếu, nhưng ôm người đẹp thì thừa sức.

Không ngờ nàng đanh mặt lại:

- Nếu anh còn ăn nói kiểu đó thì em đi đây!

Nàng giận dỗi bỏ đi, Dương Thanh phải xuống giọng:

- Xin lỗi. Anh hứa là không nói bừa bãi nữa.

Lúc này nàng đổi thái độ:

- Cũng khá khen cho người biết thích nghi hoàn cảnh. Em xin ra mắt Dương huynh!

Thanh cười vui:

- Giọng điệu hơi giống truyện Tàu! Nhưng như thế lại hay. Dương huynh này xin chào... Thúy tiểu muội!

Nàng cười giòn:

- Sao biết em là Thúy Thúy mà đuổi theo? Lỡ hồi nãy đuổi nhầm hai chị thì sao?

Thanh nghiêm túc:

- Chắc là duyên số quá!
 
- Anh tin duyên số?

- Thế em không tin à?

Nàng hơi ngập ngừng:

- Tin... nhưng mà...

Cuộc gặp gỡ của họ không ngờ lại suôn sẻ, bởi vậy ở trong nhà hai bên nói chuyện mà thỉnh thoảng cứ ngóng ra ngoài sân sau. Nhất là Đoàn lão, hình như không thấy Dương Thanh quay vào khiến cho ông yên tâm. Ông bảo:

- Tụi nó tìm đúng nhau rồi!

Ông thú thật:

- Bảo thằng con anh chị ra đó chơi, chớ thật ra tôi thử xem nó có tìm đúng đứa mà nó thích hay không. Số là vậy, cách đây ít lâu, tôi mộng thấy Nguyệt Lão dạy rằng, hễ chàng trai nào tìm ra đúng người thì đó là nhân duyên. Nhất là con út. Tôi không giấu là trong ba đứa, Thúy Thúy là đứa tôi muốn nó lấy chồng trước.

Biết là họ sẽ hỏi nguyên do, ông Đoàn nói ngay:

- Theo số của tôi, hễ đứa con út mà lấy được chồng thì hai đứa kia dễ lấy chồng hơn. Cá tính con út ngang bướng, nên rất khó tìm được người... Cũng may cậu nhà cũng không khác...

Ông Dương phụ theo:

- Tôi không sợ con gái ngang tính, mà chỉ sợ đứa nào quá hiền sẽ không trị được thằng con ngang ngạnh của tôi. Hồi nãy tuy mới nhìn con nhỏ lần đầu, nhưng tôi tin là chúng nó hợp nhau.
 
Đoàn lão hài lòng:

- Nếu anh đã nói vậy thì tôi không còn lo nữa. Tôi nói luôn, nếu anh chị muốn thì tôi gả con Thúy cho cậu Thanh. Chẳng cần lễ vật gì cả. Đám cưới đơn sơ cũng được, không cần phải phô trương!

Bà Dương mừng trong lòng. Thú thật là bà cũng đã ưng, chưa nói ra mà thôi. Nay nghe nói vậy, bà lên tiếng liền:

- Được ngài cho phép thì vợ chồng tôi xin đội ơn và về lo liền lễ vật. Ngài nói thế, chớ về phía chúng tôi cũng phải lo cho ra lễ. Vậy ngài xem, hôn lễ bọn chúng có thể cho cử hành lúc nào?

Đoàn lão không cần suy nghĩ:

- Ngay trong tháng này cũng được. Miễn là hai đứa không có ý gì khác...

Vừa lúc ấy cả hai bước vào. Thúy Thúy đã bạo miệng lên tiếng:

- Con có ý kiến khác ạ!

Ông Đoàn trố mắt nhìn con:

- Lại gây chuyện gì nữa đây con ngựa chứng?

Nàng quay sang Dương Thanh nháy mắt:

- Anh nói đi chớ, xúi không dám làm phải không?

Dương Thanh hơi ngập ngừng:

- Con cũng... có ý... giống như Thúy Thúy vậy.

Ông Đoàn cười to:

- Chưa gì mà chúng nó đã đồng tâm hợp lực ép bọn già mình rồi đây!
 
Ông Dương nhìn con, hỏi:

- Con muốn nói gì?

Dương Thanh lại nhìn sang Thúy. Cô nàng không dừng được nữa:

- Tụi con muốn... đám cưới nhanh nhanh hơn nữa!

Nói xong, cô nàng quay bước bỏ chạy mất. Thanh ngơ ngác định chạy theo thì Đoàn lão đã ngăn lại:

- Con mà chạy theo nó thì có mà rụng giò. Trong nhà này mấy chị nó thường gọi nó là con ngựa.

Ông nói tới đó chợt khựng lại, mặt hơi tái đi. Bà Dương ngồi đối diện nhìn thấy liền kêu lên:

- Anh sao vậy anh... sui?

Ông Dương cũng lo lắng:

- Anh bị chứng gì hay sao? Để tôi gọi người nhà...

Đoàn lão xua tay:

- Không hề gì. Tôi chỉ bị xây xẩm một chút. Bệnh già ấy mà...

Ông dần dần lấy lại khí sắc. Rồi ra lệnh cho gia nhân:

- Lo bắt đầu tiệc đi!

Tiệc đã bày sẵn, chỉ mời nhau rồi bắt đầu nhập tiệc. Trong bữa tiệc, họ thỏa thuận với nhau rất nhanh. Đoàn lão nói:

- Mười sáu này là ngày tốt cho tuổi hai đứa nó. Chắc cũng tiện cho anh chị phải không?

Vợ chồng họ Dương nhanh chóng gật đầu:
 
- Dạ, ngày ấy thuận tiện lắm!

- Tôi tính như thế này, ngay ngày mốt ta tiến hành lễ hỏi, rồi ngày mười sáu thì cưới. Nhà tôi rộng nên nhân dịp này tôi sẽ mời tất cả bà con. Tôi có ý này, chẳng biết anh chị có phiền gì không... Tôi muốn đãi cả hai họ một lượt cho tiện, anh chị thấy sao?

Ông bà Dương lưỡng lự:

- E rằng...

Hiểu ý, Đoàn lão nói luôn:

- Sẵn tôi đặt tửu lầu nấu món ăn, nhân đó tôi đặt luôn cho bên anh chị. Ta đãi ở đây một ngày, bữa sau bên này cùng kéo qua bên kia dự tiệc lần nữa! Được không?

Thỏa thuận với nhau xong thì trời đổ mưa lớn. Cơn mưa kéo dài mãi cho tới chiều tối chưa ngớt. Đoàn lão ngỏ ý:

- Nhà đã chuẩn bị mọi thứ rồi, nhân trời mưa đây, tôi mời anh chị và cháu Thanh ở lại ngủ một đêm. Có thêm thì giờ chúng ta bàn kỹ hơn về ngày lễ của chúng nó!

Dù không muốn, nhưng cũng không còn cách nào hơn, ông bà Dương đành phải chấp nhận. Chừng như Dương Thanh có vẻ hài lòng…
 
***

Đã hai ba lần, hễ nhắm mắt lại ngủ thì y như Dương Thanh bị ai đó nhéo vào người đau điếng! Lần đầu thì anh chàng còn giật mình, ngơ ngác tìm xem ai phá mình. Nhưng đến mấy lần sau thì Thanh ráng nhịn đau, đang nhắm mắt bất chợt ngồi bật dậy định bắt quả tang. Nhưng không lần nào Thanh thấy ai.

Bực bội, Dương Thanh nhảy phóc xuống giường, bước ra cửa sổ nhìn về phía sau, nơi lúc chiều anh và Thúy Thúy đuổi bắt nhau. Nhưng lạ quá...
 
- Sao lại là cảnh này?

Trước mắt Dương Thanh lúc này là một dải đất rộng, chớ không phải là khu vườn rộng với đầy những cây cảnh nữa. Nghĩ mình mới thức dậy còn hoa mắt, nhưng sau hai lần dụi mắt, vẫn thấy đúng như thế. Thanh cứ trố mắt nhìn, quên cả trời lúc đó khá lạnh, khiến anh phải rùng mình mấy lượt.

- Lạ quá...

Vừa định leo cửa sổ nhảy ra ngoài, thì chợt Thanh khựng lại, bởi trước mặt anh lúc đó, cách chừng chục bước, có một cô gái trông quen quen, đang cưỡi một con ngựa bạch. Thanh nhìn kỹ và kêu lên:

- Thúy Thúy!

Tiếng kêu của Thanh suýt làm cho cô gái ngồi trên lưng ngựa nghe thấy, khiến Thanh phải đứng lùi vào một bước để tránh. Khi ấy nàng quay mặt lại hướng mình, nên Thanh không thể nhìn lầm, nàng ta chính là Thúy!

Quá đỗi ngạc nhiên, Dương Thanh rón rén lần theo cửa sổ ra ngoài. Để tránh bị phát hiện, Thanh đi rất nhẹ và vòng ra phía sau lưng cô gái. Lúc ấy không phải chỉ một mình Thúy Thúy mà phía sau lưng nàng còn có hai cô chị của mình!

Nếu lúc chiều họ mặc quần áo khác màu nhau, thì giờ đây họ cùng mặc một loại trang phục giống nhau, toàn một màu trắng như tuyết! Trong ba người, lúc này trông Thúy Thúy có vẻ như là một nữ tướng, hay một nữ chủ nhân, mà hai cô chị đi theo hầu. Cả ba lúc ấy đang hướng về nhau, dùng tay ra hiệu, như một cuộc tập trận! Tay của Thúy Thúy đưa lên cao, rồi hạ xuống, mỗi lần như vậy hai cô chị lại nhảy xuống ngựa, rồi leo lên... và sau cùng cùng hét lên một tiếng lớn, rồi cùng lao xuống một lúc.

Dương Thanh còn đang ngơ ngác chưa hiểu gì, thì chợt nghe có tiếng người kêu lên thất thanh:

- Có người rình, không xong rồi!

Cả ba đứng ngay dậy, hướng về phía Dương Thanh, sợ hãi như bị bắt quả tang đang làm chuyện gì đó không lương thiện. Thúy Thúy cất giọng run run:
 
- Em xin lỗi...

Dương Thanh còn chưa biết phải ứng xử ra sao thì chợt có vài tia sáng lóe lên, khiến anh phải lấy tay che mắt lại. Khi mở mắt ra thì... không còn khung cảnh cũ nữa!

- Thế này là sao?

Thúy bất thần đổ gục xuống, Dương Thanh hoảng hốt:

- Kìa, Thúy!

Anh lao tới, nhưng nàng đưa tay xua ra:

- Đừng! Đừng chạm vào người em...

Sắc diện nàng trở nên xanh tái rất đáng ngại, nhưng vẫn tỉnh táo nói năng:

- Em muốn anh nghe chuyện này...

Ra dấu cho Dương Thanh ngồi xuống, nàng nói khẽ:

- Em chưa định nói, nhưng anh đã lỡ nhìn thấy rồi thì em nói hết. Lúc nãy là em đang tập lại tư thế mà chúng em phải làm, nếu muốn còn sống sót...

Thanh ngơ ngác:

- Có chuyện gì sao?

- Anh nhìn kỹ em xem, thấy gì?

Dương Thanh chợt kêu lên:

- Sao... kỳ vậy?

Trên lưng nàng có một bờm lông màu trắng rất lạ! Thanh vừa mở miệng hỏi thì như hiểu ý, nàng lên tiếng trước:

- Em không giấu anh nữa, em không phải người dương thế mà!

Câu nói của nàng khiến cho Dương Thanh tưởng chừng như mình vừa từ trên trời rơi xuống, chàng há hốc mồm, hồi lâu mới lắp bắp:

- Em... em nói...

- Em là một oan hồn!

Nói vừa dứt thì cũng là lúc nàng bật ngửa ra sau. Tình hình có vẻ không ổn. Thanh định bế xốc nàng dậy thì Thúy lại xua tay:

- Lúc này anh chưa thể chạm vào người em được, phải để qua giờ tý, lúc ấy...

Dương Thanh đành ngồi đó nhìn, lòng dạ anh ngổn ngang trăm câu hỏi. Tại sao có hoàn cảnh này? Hay là mình đang mơ? Đêm đã khuya lắm, sương xuống lạnh làm Thanh rùng mình, nhưng lo nhất là Thúy Thúy nàng hình như đang phải chịu sự hành hạ của cái lạnh còn ghê gớm hơn một người thường nhiều. Người nàng vừa run lên lại vừa co rúm lại. Nhưng không nghe nàng phát ra tiếng rên la nào hết...

Trời bỗng tối sầm lại hơn, và bấy giờ mới nghe tiếng kêu khẽ của Thúy:

- Anh không sợ thì hãy ôm chặt em đi! Ôm thật chặt!

Thanh không một chút sợ hãi, ôm chầm lấy nàng và lúc ấy mới giật bắn người, bởi anh có cảm giác như mình đang ôm một tảng băng trong lòng! Nhưng đã lỡ rồi, có muốn buông ra thì cũng không buông được.

Một luồng gió mạnh thổi qua, trong hơi gió Dương Thanh ngửi được một mùi tanh tưởi gần ngạt thở, khiến anh vô cùng ngạc nhiên. Nhưng cũng không lâu, sau đó thì trời hình như sáng tỏ hơn, gió lặng và... mùi tanh cũng hết!
 
Lúc ấy, giọng của Thúy mạnh mẽ hơn:

- Cám ơn anh, vậy là em thoát rồi!

Nàng ngồi bật dậy, giọng nói lại liến thoắng thường lệ:

- Sao còn chưa chịu buông ra?

Dương Thanh chợt nhận ra là nàng đã đứng lên mà anh vẫn còn ôm chặt, chẳng khác đôi sam dưới biển!

- Anh... anh xin lỗi!

Giọng nàng nghiêm túc hẳn lại:

- Người xin lỗi phải là em. Suýt nữa em đã làm cho anh gặp nguy. Anh có biết vừa rồi chỉ trong nháy mắt, có thể là cả em và anh đều vong mạng rồi đó!

Nàng ôm vai Thanh, chẳng khác nào đôi tình nhân yêu nhau thắm thiết. Giọng nàng thì thầm:

- Có hối tiếc khi phải hy sinh vì em không?

Khác với một Dương Thanh ngổ ngáo thường ngày, anh chàng lại siết chặt tay nàng, giọng chắc nịch:

- Hy sinh cho tình yêu là điều có gì mà hối tiếc! Nhưng em chưa nói rõ...

- Ta ngồi xuống đây...

Nàng dìu Thanh tới ngồi xuống chiếc ghế đá. Chỉ lên nền trời vừa rạng sáng, nàng hỏi:

- Anh đoán bây giờ là giờ nào rồi?
 
- Chắc là hơn hai giờ sáng.

- Quả đúng như vậy. Vừa qua giờ tý được một chút. Phút giây định mệnh của em cũng vừa qua. Hồi nãy anh có nhớ em nói em là gì không?

Thanh ngập ngừng:

- Em nói mình là... là...

- Là một oan hồn! Em xin lặp lại, em không phải người dương thế. Em là...

Nàng chờ phản ứng của Thanh, và lúc ấy anh chàng càng siết chặt nàng hơn, chàng thì thầm:

- Anh không cần biết, miễn là...

- Em yêu anh là đương nhiên rồi. Và bởi vậy mà vừa rồi họ đến để bắt em đi. Họ không muốn em vướng chuyện trần gian...

- Em nói rõ hơn xem?

Thúy Thúy như đã chuẩn bị trước, nàng kể khúc chiết:

- Em và hai chị vốn là một cô chủ và hai nàng hầu. Em là chủ. Nhà em không phải nơi này, mà ở vùng biên giới xa xôi. Cha em là một lãnh binh, một hôm ông bị bọn thuộc hạ làm phản, giết chết và còn truy sát cả nhà em nữa. Mẹ em bị hại khi cùng bọn em chạy nạn. Thân con gái từ nào chưa từng nếm trải cực khổ, vậy mà em và hai con hầu cũng ráng chạy được một đoạn đường rất xa, tới nơi này. Chính là nơi này...

Nàng nghẹn ngào khi kể tới đây, có lẽ cơn xúc động dữ dội đang bùng phát. Phải khó khăn lắm nàng mới tiếp lời được:

- Trong lúc dừng chân lại bãi đất hoang thì ba con ngựa chở bọn em bỗng dưng nổi chứng, chúng lồng lên dữ dội như muốn giẫm đạp chết bọn em! Lúc ấy, chợt con hầu tên Thanh Thủy của em phát hiện ra, nó la lên: “Lũ ngựa bị lên cơn ghiền thuốc phiện!” Phát hiện này của Thanh Thủy làm em nhớ lại khi đóng doanh trại ở vùng biên giới, trong số ngựa chiến của cha, có một số con được cho uống nước có pha chất á phiện để chúng nghiện và dễ sai khiến chúng. Bởi mỗi khi cơn ghiền của chúng nổi lên, chúng có xu hướng tìm về nơi chúng xuất phát, nhằm tìm thuốc để thỏa cơn ghiền!

Nàng khóc ngất sau câu nói đó. Dương Thanh để cho nàng khóc, bởi anh nghĩ chỉ có khóc cho thỏa thì nỗi khổ đau trong lòng sẽ vơi đi. Mà quả vậy, sau một lúc nàng ngẩng lên, tiếp lời:

- Thanh Thủy và Kiều Nương đã chết không toàn thây dưới sự giẫm đạp của hai con ngựa do chính các chị ấy cưỡi. Còn em, tuy không chết như vậy, nhưng sau đó không lâu cũng hồn lìa khỏi xác. Anh có biết em chết thế nào không?

Nàng ngẩng cổ lên, đưa hai cái lỗ sâu đã thành thẹo cho Thanh xem:

- Con ngựa của em cưỡi đã... cắn cổ em, hút cho hết máu rồi cùng ngã lăn ra chết!

Dương Thanh chưa kịp hỏi thì nàng đã tiếp:

- Nguyên khi trước, ngày nào em cũng đích thân đốt ống tẩu thuốc phiện cho cha hút, nên mỗi ngày em hít phải khói thuốc đó vào phổi, lâu ngày thành nhiễm. Trong máu của em đầy độc chất của thuốc, nên khi con ngựa đói thuốc, nó lồng lên điên cuồng và trong một giây, nó chợt đánh hơi được mùi máu có hơi thuốc của em, nó cắn cổ em là vì thế! Nhưng sau khi hút hết máu em vào người nó, thì chính con ngựa cũng chết luôn vì ngộ độc!

Nàng ngừng nói đã lâu rồi mà Dương Thanh vẫn còn ngẩn ngơ. Anh không tin mình vừa nghe một câu chuyện thật. Cho đến khi nàng lại tiếp:

- Khi hồn đã lìa khỏi xác rồi thì em chợt nhận ra con ngựa đang phủ phục trước mặt. Nó khóc vì hối hận! Đó là con ngựa trung thành mà cha em đã nuôi từ bé, nó là một con chiến mã, vừa khỏe, lanh lẹ lại vừa trung nghĩa giống như người. Nó đã từng cứu cha em nhiều lần, khi mang cha em bị thương nằm rạp trên lưng nó về tận doanh trại. Có lẽ sau phút điên cuồng vì thuốc, nó đã bừng tỉnh, nhưng lúc ấy thì đã muộn, cả em và nó đã ở âm cảnh nên nó phủ phục mãi, như chờ em tỏ thái độ... Nhưng em còn lòng dạ đâu để trách móc nó. Vong hồn em vất vưởng đi tìm cha mẹ, nhưng một khi đã chết rồi thì mỗi người một số phận, đâu làm sao ai tìm được ai. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, bỗng em gặp hai người hầu. Thanh Thủy và Kiều Nương được chở trên lưng một con ngựa bạch, mà chỉ thoạt nhìn em đã nhận ra ngay, đó chính là con ngựa em cưỡi, con ngựa đã hút máu mình! Trong khi em còn đang lo sợ thì con bạch mã đã lên tiếng giải thích rằng, do lỡ làm em thác oan, nó đã chuộc lỗi bằng cách giấu hồn phách tụi em vào thế giới vong hồn của loài vật, không chung đụng với hồn phách loài người. Mục đích của việc ấy là để tìm cơ hội hồi sinh cho em.

Dương Thanh reo lên:

- Em có thể hồi sinh?

Nàng đưa tay chặn lại:

- Anh không được nói to. Nửa đêm vừa rồi, bọn phán quan đã phát hiện chuyện dối trá của em và con bạch mã, nên họ truy đuổi, em và hai con hầu đang tập cưỡi lại ngựa, định tẩu thoát thì anh xuất hiện, và suýt nữa thì phán quan bắt được cả bọn em và cả anh cũng bị vạ lây!

Thanh không chờ đợi lâu. Nàng đã kết luận:

- Một lần nữa con bạch mã đã cứu em! Chính nó lúc đó đã đột ngột xuất hiện, đánh lạc hướng phán quan bằng cách xuất hiện và chạy về hướng khác, các phán quan đuổi theo và bắt được nó, nhưng bạch mã thà chết lần nữa chớ không dẫn phán quan đi tìm bọn em. Do vậy, hiện nay phán quan tưởng bọn em thoát được về trần gian nên đã gạt tên tụi em ra khỏi danh sách chết. Có nghĩa là...

Thanh mừng khôn xiết:

- Em đã hồi sinh?

Nàng gật đầu:

- Đúng. Nhưng có điều...

Nàng ngừng nói, đưa mắt chỉ tay về phía cuối vườn, nơi có một con ngựa bạch nằm chết. Họ cùng tiến về phía đó, Thanh nhìn kỹ hơn và kêu to:

- Đoàn lão gia!
 
Thúy Thúy gật đầu:

- Đúng. Đây chính là Đoàn lão, người mà em gọi là cha. Nhưng thật ra...

Dương Thanh cũng ngạc nhiên:

- Thật ra thế nào?

- Như anh thấy đó, lão vốn là ngựa bạch, tức là tác nhân gây ra cái chết của em, cũng là con tuấn mã trung thành từng phục vụ nhà em suốt mấy chục năm! Sau khi gây họa và cứu em khỏi về âm phủ đã đưa em và hai cô hầu về vùng đất này, lập ra cơ ngơi riêng, biến dạng thành người và đóng vai cha của ba đứa con gái. Sở dĩ ông bày ra cuộc kén rể là bởi muốn cho bọn em vĩnh viễn trở lại kiếp người, do ông biết trong quy định của cõi âm có một khoản hở, hễ người nào hồn chưa bị đày mà tìm được người đàn ông tương hợp, người có số cao... như anh chẳng hạn, thì sẽ được hồi sinh! Chính vì vậy mà Đoàn lão đã cất công đi tìm và cuối cùng gặp được anh. Nhưng cũng chính vì việc coi mặt của anh và gia đình đã gây kinh động, khiến phán quan biết chuyện. Rồi như anh chứng kiến đó...

Đến lúc này thì niềm vui trong lòng Dương Thanh đã gần như trọn vẹn, anh hỏi khẽ:

- Em có thể hoàn toàn thuộc về anh chưa?

Nàng gật đầu:

- Em giao cuộc đời em cho anh!

- Còn... Thanh Thủy và Kiều Nương?

Nhéo Thanh một cái đau điếng:

- Hỏi với ý gì vậy?

Thanh phải đính chính ngay:

- Đâu có! Anh chỉ tội nghiệp cho hai cô ấy. Và để... nếu có ai đó thích hợp, sẽ giới thiệu cho họ.

- Ừ. Tưởng có ý lộn xộn thì coi chừng đó! Bây giờ em đã là một người trần rồi, mọi tính cách của một người vợ dương gian em đều có.

Họ ngả đầu vào nhau trong niềm vui vô tận...

Tuy nhiên, ngay lúc ấy có tiếng la thất thanh của hai cô gái kia:

- Không xong rồi! Không xong rồi!

Thanh Thủy và Kiều Nương người nhễ nhại mồ hôi, hơi thở gấp gáp, vừa chạy tới đã gục ngã ngay trước mặt, Thúy Thúy hốt hoảng:

- Chuyện gì vậy?

- Phán... phán quan!

Họ chỉ tay về phía sau, chỉ có một cụm mây đen, nhưng cũng làm cho Thúy hãi hùng, lùi lại mấy bước:

- Anh... anh chạy đi! Chạy nhanh đi! Họ chỉ tìm em thôi, hãy đi đi kẻo muộn!

Dương Thanh bất thần lao tới, ôm chặt lấy Thúy trong động thái sợ mất nàng:

- Không! Anh sẽ cùng với em!

Chợt một tràng cười to vang lên. Trong thanh âm của giọng cười không có gì là hung ác cả. Rồi một giọng nói vang lên:

- Ta tới không phải để bắt các ngươi đi, mà để chính thức báo tin, các ngươi được sống ở dương trần!

Cả ba cô gái đều tưởng mình nghe lầm:

- Đúng vậy không?

Họ định hỏi lại lần nữa, thì chợt cụm mây xa dần, kèm theo lời dặn:
 
- Với điều kiện là tất cả phải có chồng, và năm sau nếu ta trở lại mà chưa thấy có... con, thì lúc đó mọi lời hứa đều bị hủy bỏ!

Đám mây đen tan hết rồi mà cả bốn người vẫn còn tần ngần đứng đó... Phải một lúc lâu sau, Thúy Thúy mới reo lên:

- Sống rồi!

Bỗng hai cô kia quỳ xuống, giọng buồn thiu:

- Tụi này biết làm sao đây, cô chủ!

Dương Thanh nói thay cho vợ:

- Chuyện đó để tôi lo!

Thúy Thúy trừng mắt:

- Lại tính giở trò phải không?

Thanh phải nói rõ:

- Anh sẽ làm mai! Anh có hai thằng bạn tốt, còn độc thân!

Nàng cười hiền hậu:

- Thế thì được...

Kiều Nương mừng rỡ:

- Cám ơn anh rể! Cám ơn ân nhân!
 
Dương Thanh định nói chuyện thêm với họ, nhưng liếc thấy Thúy đang nhìn nên tìm cách lảng ra, lẩm bẩm đủ mình nghe:

- Lấy vợ là... như thế này sao?

Nhưng liền lúc đó, khi quay sang Thúy thì hồn vía Dương Thanh hầu như biến mất. Anh chàng nhũn đến ngạc nhiên:

- Anh... anh chỉ biết có em thôi!

Hai cô gái kia che miệng cười vừa quay đi chỗ khác...
 
***

Hơn một năm sau thì ở nhà Đoàn lão đã có thêm ba sinh linh. Ba đứa bé trai đã ra đời trước sau chỉ trong mấy ngày. Ba bà mẹ đã toại nguyện ước vọng. Nhưng họ chờ mãi mà vẫn chưa thấy phán quan trở lại.

Thật ra phán quan đâu có trở lại nữa. Bởi nơi này là những con người, không cần họ dẫn đi nữa...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
XUT HN NHP XÁC

Một nhóm gần mười chiếc xe lớn nhỏ lần lượt dừng lại trước cái quán lá ven lộ. Cánh tài xế đều xuống xe và người nào cũng ngao ngán khi nhìn lên con đường đèo cao ngất ngưởng. Một anh than thở:

- Cố chạy dữ lắm mà cũng không kịp. Giờ này làm sao leo đèo được. Mà ngủ lại đây đêm nay thì muỗi cắn có mà chết!

Một tài xế khác phụ họa:

- Bữa kia tôi ngủ lại rồi, chẳng những muỗi mà còn có vắt nữa! Nửa đêm đang ngủ, sờ lên mặt đụng phải gần chục con vắt sắp sửa bò vào lỗ mũi lỗ tai mình!

Người thứ ba thêm vào câu chuyện cho tính ly kỳ lên tới tột đỉnh:

- Đó mà ăn thua gì, chính tôi đây đã bị nguyên một con rắn chui tọt vào trong quần đùi, vừa thức dậy phát hiện ra tức thì tôi ngất xỉu luôn!

Nghe những người đó kể chuyện, Hoa Lý ngồi cạnh chồng trong ca-bin xe tải phát rùng mình, liền hỏi:

- Họ ngủ ở đâu mà bị vậy anh?

Sự chỉ ngay trong xe:

- Thì phải ngủ ngồi hay lăn ra sàn nếu là xe tải để ngủ, chớ kẹt ở đây thì lấy chỗ đâu mà thuê mướn phòng trọ?

Lý có vẻ lo, nhưng thấy chồng chưa có ý kiến gì thì cũng chỉ biết ngồi trên xe mà chờ. Cánh tài xế chung quanh người thì ăn cơm, kẻ uống rượu để giết thì giờ. Đến hơn mười giờ khuya, thì có một phụ nữ ra dáng người địa phương, tới bên xe của Lý gợi ý:

- Họ là đàn ông thì ngủ đâu cũng được, chớ đàn bà con gái như cô thì ở đây sao tiện. Sao không chạy vào trong kia một chút, có ngôi nhà rộng, họ vẫn thường cho những xe lỡ đường ngủ nhờ.

Lý mừng rỡ:

- Hay quá! Chị dẫn đường tôi vào đó được không?
 
Chị kia mau mắn:

- Được chớ!

Lý quay sang giục chồng:

- Mình vào đó đi anh!

Đây là lần đầu tiên lái xe qua đèo ban đêm, lại có chở theo cô vợ trẻ, nên Sự cũng không muốn vợ mình chung đụng với cánh tài xế ăn nói bạt mạng, nhậu nhẹt bí tỉ đó, nên anh hưởng ứng ngay:

- Vậy mời chị lên xe, tôi đưa tới chỗ đó luôn!

Người phụ nữ nhanh nhảu leo lên ngồi cạnh Hoa Lý, chị ta buột miệng khen:

- Cô đẹp đến tôi nhìn mà cũng ngất ngây, đừng nói là...

Thấy mình lỡ lời, chị ta ngừng ngang, dẫu vậy Sự cũng quay sang nhìn, vẻ không hài lòng kiểu người khác khen vợ mình như thế. Chị kia chừng như hiểu nên nói lảng sang chuyện khác:

- Cô chú có đói thì lát nữa tôi nấu cơm đem qua cho ăn. Tính rẻ hơn cả quán xá nữa!

Lý nhỏ nhẹ:

- Dạ, chắc là sẽ nhờ chị. Bộ nhà chị ở gần nơi cho trọ?

- Cách mấy căn thôi. Kìa, tới rồi đó, chỗ căn nhà có đèn sáng đó.

Sự lái chiếc xe tải nhẹ của mình tới đậu ngay sân ngôi nhà sàn khá rộng. Một người phụ nữ từ trong nhà nghe tiếng xe đã chạy ra. Gặp người quen, hai người họ nói riêng gì đó mấy câu, sau đó người phụ nữ dẫn đường quay lại bảo:
 
- Chị chủ nhà đồng ý để cô chú ngủ nhờ. Mà chỉ hai người thôi, chớ nhà chị ấy đơn chiếc, không tiện cho nhiều người.

Lý phấn khởi ra mặt, lấy tờ giấy bạc đền ơn người giúp mình:

- Chị cầm lấy uống nước.

Nhưng chị ta xua tay:

- Không đâu! Chỗ chị em mà, giúp nhau thôi chớ tiền bạc gì!

Khi bước vào nhà rồi, chính Sự cũng phải công nhận là vợ chồng anh gặp may. Nhà cửa khang trang, sạch sẽ và ấm cúng, khác hẳn khung cảnh lạnh lẽo, hoang vắng của bên ngoài. Anh cũng ngạc nhiên tại sao gần như vậy mà lâu nay cánh tài xế không phát hiện ra, để chen chúc chi chỗ cái quán lá chật chội ngoài kia?

Lý cũng bảo chồng:

- Chắc họ sợ vào đây tốn kém nên mới nhường may mắn cho mình?

Nhờ được có chỗ trọ, nên tối đó Hoa Lý không phải lo ngay ngáy chuyện muỗi, vắt tấn công, mà lại có được một bữa ăn no, ngon miệng nữa. Chị chủ nhà chỉ có một đứa con nhỏ ở cùng, nhà còn một phòng nhỏ đủ một người ngủ và cả một gian phòng khách rộng mênh mông. Chị ta nói:

- Tiếc là cả hai vợ chồng không ngủ trong phòng có chiếc giường nhỏ kia được, vậy phiền chú ngủ ngoài phòng lớn, tôi đã giăng mùng sẵn.

Sự nói ngay:

- Không sao đâu, một mình vợ tôi được ngon giấc là đủ rồi!

Đêm dần trôi qua...
 
Gà gáy một hiệp, cũng là lúc Sự tỉnh giấc. Anh quay về phía phòng ngủ của vợ mình, sốt ruột muốn mò vào thăm chừng, bởi lúc chiều cô ấy có vẻ sốt và khó chịu trong người... Tuy nhiên, Sự không dám. Bởi lỡ đang mò vào phòng vợ mà gặp chị chủ nhà thì chị ta sẽ nghĩ gì về mình? Chắc chắn là không hay rồi...

Cố gạt qua một bên sự lo lắng, nhưng sao trong lòng Sự tự dưng nóng lên, bồn chồn như đang có chuyện gì đó? Cuối cùng anh chợt nảy ra một ý, liền ngồi dậy chui ra khỏi mùng và đi thẳng ra cửa, nhưng cố tình đi sát vào phòng ngủ của vợ. Chuyện này nếu có bị phát hiện thì Sự cũng có cớ để nói rằng anh đang tìm lối ra ngoài đi vệ sinh!

Nhưng cũng may, hình như chị chủ nhà đang ngủ say... Sự mạnh dạn bước hẳn vào phòng vợ. Tuy trong bóng tối, nhưng anh vẫn có thể nhìn rõ chiếc giường ngủ...

- Hoa Lý!

Trước mắt Sự rõ ràng là chiếc giường trống không!

- Hoa Lý!

Quên cả giữ ý, Sự gọi lớn đến hai lần. Nhưng chẳng hề có tiếng đáp. Có thể nàng đi ra ngoài. Điều này hơi lạ, bởi xưa nay Hoa Lý rất nhát gan, chưa bao giờ dám ra ngoài ban đêm, nhất là ở một nơi lạ như thế này.

Bước trở ra ngoài, Sự hướng về phía phòng chủ nhà, hỏi to:

- Chị chủ nhà còn thức không?

Không có tiếng ai đáp, Sự bước gần hơn phía bếp và lại gọi lần nữa:

- Chị chủ nhà ơi!

Sự đã bước tới ngang phòng của chủ nhà, liếc vào thấy cửa phòng mở toang, bên trong có đèn sáng và... không có ai trong đó cả!

Sự nghe tim mình đập nhanh, anh lại gọi lớn:
 
- Lý ơi!

Hoàn toàn im lặng. Lúc này không còn giữ ý nữa, Sự tung cửa bước hẳn ra ngoài. Và anh hoa cả mắt, khi nhìn chung quanh lúc đó là khung cảnh hoang tàn, chớ không như lúc anh mới đến.

- Kỳ vậy?

Sự không suy nghĩ thêm, anh lo lắng cực độ khi nghĩ tới một điều gì đó thật xấu...
 
***
Điều lo lắng của Sự không hề sai. Bởi lúc đó, cách ngôi nhà vợ chồng anh ngủ tạm khoảng trên một cây số, Hoa Lý đang gặp nạn! Cô đã bị bắt đi, đem ra khỏi phòng trong lúc đang ngủ. Người ta đã trùm cô trong một bao tải lớn với rất nhiều vôi bột rắc bên trong, bởi vậy Lý đã không thể mở miệng kêu la được, vì mỗi khi há miệng ra thì cô sặc vôi đến muốn ngất đi!

Có ba người đứng vây quanh Hoa Lý, một trong ba người đó chính là người phụ nữ dẫn đường cho vợ chồng cô vào chỗ trọ. Lúc này chị ta mới lộ mặt là người cò mồi, gài bẫy để vợ chồng Lý sập bẫy. Chính chị ta đã nói với tên đàn ông trong bọn:

- Giao nó cho anh, đây là món hàng tuyệt vời nhất mà tôi gặp được từ nào đến giờ. Vậy thưởng lớn chớ?

Tên đàn ông lấy ra một xấp tiền đưa cho chị ta:

- Đây là thưởng ban đầu. Còn phần thưởng lớn hơn tức là quyền khai thác thân xác cô ta sau một tháng ta sử dụng!

Họ cùng cười hô hố trước cơn phẫn nộ của Lý. Lúc này cô đã hoàn toàn tỉnh táo, nhưng do hai tay bị trói và miệng bị nhét khăn, nên chẳng làm sao la hét được.

Sau đó hai người biến đi, chỉ còn lại duy nhất tên nọ với Lý. Hắn ta không vội vã để thực hiện ý đồ. Đầu tiên hắn dùng chiếc khăn ướt khá sạch lau nhẹ nhàng quanh mặt mày, cổ rồi lần xuống ngực của Lý. Lau đến đâu hắn xuýt xoa đến đó:

- Đẹp ơi là đẹp! Nhan sắc này, tấm thân này sao lại là gái đã có chồng được! Phải là nụ hồng vừa nở mới đúng!
 
Lúc đi ngủ, Hoa Lý đã thay bộ đồ hơi mỏng để cho mát và không mặc nội y, cho nên khi tên kia lau tới vùng ngực, Hoa Lý điếng hồn vía, người cô run lên, tưởng chừng như sắp ngất vì khiếp sợ! Mà tên nọ cũng đang bắt đầu run, bởi những gì hắn nhìn thấy chẳng khác miếng mồi ngon phô bày trước miệng con hổ đói!

- Em cưng ơi...

Hắn mất bình tĩnh thấy rõ, và tay hắn vừa run vừa chụp đúng vào nơi mà hắn cho là ngon nhất!

Bằng tất cả sức bình sinh, Lý vùng lên lần cuối của cuộc đời! Cú bung chân, nẩy người thật mạnh khiến cho cả thân thể đang bị trói của cô lăn khỏi giường!

Ngôi nhà xây trên mỏm đá sát bên một vực sâu, cho nên khi Lý lăn ra, người cô tung vách ván văng ra bên ngoài. Tên nọ hốt hoảng lao theo, khi nhìn thấy Lý đang nằm sát bờ vực, hắn đã kêu lên:

- Nằm yên đó, đừng nhúc nhích!

Hắn từ từ bước tới, đôi mắt long lên đỏ ngầu. Hoa Lý đã liếc nhìn thấy cái vực bên dưới, và... không một chút đắn đo, cô tung người một lần nữa!

- Đừng!

Đó là tiếng thét của hắn. Nhưng đã muộn. Bóng dáng thân thể nhỏ bé của Hoa Lý đã rơi vùn vụt xuống vực sâu. Rồi mọi thứ trở về im lặng...

Vừa lúc ấy, một bóng người lao vút tới, cùng với một tiếng thét lớn:

- Lý ơi!

Người vừa tới đó là Sự. Anh chậm mất vài giây thôi nhưng đã hết rồi!

Hai người đàn ông ghìm nhau. Nếu so về sức và thủ đoạn thì Sự thua sút. Nhưng về uất hận thì anh chàng đang có ưu thế! Anh gào to một tiếng:
 
- Chết!

Anh lao thẳng người vào tên nọ bằng tất cả sức mạnh của một người chết ngất nỗi hận. Tên côn đồ kia phải tránh sang bên. Tuy nhiên do né hơi chậm, nên hắn bị Sự xô ngã lăn trên đá. Bằng một động tác rất có nghề, hắn lăn ngược trở lại và bám được vào một gốc cây. Còn Sự thì sau khi lao quá mạnh, đã ngã chúi đầu xuống đất, đau điếng. Nhưng lúc đó, miệng anh vẫn còn gào lên:

- Lý ơi!

Tên côn đồ không bỏ lỡ dịp may, hắn bật ngay dậy và dùng chân đá mạnh vào mạng sườn của kẻ đứng trước mặt mình! Sự chỉ kêu lên được một tiếng, rồi thì toàn thân bắn tung lên, rơi nhanh xuống vực, theo hướng của vợ vừa rơi!

Tên côn đồ xoa tay vào nhau, nở nụ cười hiểm ác:

- Tao hụt ăn thôi, chớ làm sao bị hại bởi tụi bay được!

Tuy bị một phen hú vía, nhưng hắn vẫn còn thèm tấm thân nõn nà mà hắn vừa vuột mất trong tầm tay. Hắn nói:

- Cả năm trời nay mới có được con mồi ngon như vậy, thế mà vuột mất, điên thật!

Hắn chạy như bay về hướng ngôi nhà trọ, la hét hai mụ đàn bà tay sai:

- Mau đẩy chiếc xe tang vật xuống khe núi đi, bọn chúng đi đời hết rồi! Rồi ra ngoài kia đón coi, có đứa nào tới nạp mạng nữa không? Vuột mất lần này nữa thì chính tụi bay phải thế mạng!

Hai mụ đàn bà tiếp tay làm việc ác riu ríu nghe lời...

Ở chân đèo ngoài kia lại có thêm vài chiếc xe dừng lại chờ sáng để qua đèo. Chẳng biết rồi sẽ còn nạn nhân nào kế tiếp nữa hay không?

Trăng trên đỉnh đầu vừa nhô ra khỏi đám mây đen. Chẳng hiểu sao trăng lúc đó có màu đỏ như nhuộm máu...
 
***

Mở mắt ra, việc đầu tiên của Sự là thều thào hỏi:
 
- Hoa Lý đâu?

- Mô Phật, thí chủ đã tỉnh lại rồi!

Người vừa lên tiếng là vị sư già, có lẽ đã đứng bên cạnh suốt thời gian Sự hôn mê. Nghe Sự hỏi, ông quay sang nói với bà già làm công quả trong chùa:

- Suốt hai ngày mê sảng, hễ hơi tỉnh là cậu ta cứ gọi tên cô ấy.Tội nghiệp!

Bà già Hai nhẹ lắc đầu:

- Chẳng biết cô Hoa Lý nào đó bây giờ ở đâu để mình đi báo tin lành này, cậu ấy có thể sống được rồi!

- Hoa Lý! Hoa Lý... em đừng chết! Em đừng chết!

Vị sư già thở dài:

- Xem ra cô Hoa Lý nào đó chẳng còn trên thế gian!

Bà già Hai vẫn nuôi chút hy vọng, bà kề sát vào tai Sự hỏi khẽ:

- Cậu nói đi, cô Hoa Lý đó ở đâu, tôi sẽ đi tìm cho?

Sự định ngồi dậy, nhưng toàn thân đau nhức, không thể cử động được. Nhà sư phải lên tiếng:

- Cậu cần phải nằm tĩnh dưỡng lâu nữa mới có thể khỏi được. Số cậu may lắm mới rơi từ trên núi xuống mà lại vướng vào cành cây bồ đề của ngôi chùa này, nên chỉ bị thương thôi. Chớ rơi thẳng còn gì là tính mạng!

Bà già Hai cũng thêm vào:
 
- Tôi đang quét lá sân chùa thì nghe một tiếng động mạnh, nhìn lên tôi thấy cậu treo lơ lửng trên đó. Lúc ấy trời mới hừng đông, nên không có ai tiếp tay đưa cậu xuống, tôi và thầy trụ trì phải khó khăn lắm mới đưa cậu xuống được an toàn. Số cậu đúng là lớn lắm!

- Số lớn mà làm gì khi không còn Hoa Lý! Lý ơi...

Anh ta do quá xúc động và ráng sức quá nhiều nên ho lên sù sụ, và vì thế đã làm động vết thương ở ngực, máu tuôn ra nhiều.

- Kìa cậu!

Bà già Hai hoảng sợ kêu lên. Vị sư già bình tĩnh:

- Băng lại vết thương cho cậu ấy, rồi lấy thuốc cho cậu ấy uống ngay vào. Đừng để cậu ấy bị kích động nữa.

Sự được chăm sóc và phải mất hơn nửa ngày sau đó, anh mới tỉnh hẳn. Vị sư già kể từ lúc ấy cũng không xuất hiện nữa, có lẽ ông đã yên tâm là người khách trẻ của mình không còn nguy hiểm đến tính mạng nữa. Sự ăn được cháo loãng và cũng đã nói năng được rành mạch.

Bà già Hai luôn túc trực bên cạnh và sẵn sàng trả lời những câu hỏi hơi nhiều của Sự. Mà câu hỏi về Hoa Lý luôn trên cửa miệng của anh:

- Đây có gần vực sâu không? Bà có thấy người nào rơi xuống đó chết không?

Bà Hai thành thật đáp:

- Chùa này cách vực sâu không xa, thỉnh thoảng tôi cũng có nghe tin ai đó rớt xuống, nhưng do vực quá sâu, lại hiểm trở, nên khó mà nhìn thấy nạn nhân được. Mà theo tôi, cậu là người may mắn duy nhất từ xưa đến nay.

Sự sốt ruột:

- Tôi muốn đi tìm vợ tôi. Cô ấy rơi xuống vực sâu chỉ cách tôi nửa phút, chắc là rơi không xa nơi đây. Vậy mà sao...

Nhìn ra ngoài trời, bà Hai lo lắng:

- Sao giờ này chưa thấy sư trụ trì trở về? Nơi đó nguy hiểm lắm mà ông cũng không ngại...

- Sư ông đi đâu?
 
- Ông không nói, nhưng tôi đoán là ông xuống dưới vực sâu hơn. Có thể là nơi có xác chết.

Sự ngồi dậy được, anh hỏi dồn:

- Có đúng là sư ông đi tìm vợ tôi không?

Bà Hai chưa trả lời thì từ ngoài đã có tiếng của nhà sư Thiện Tánh:

- Mô Phật!

Vừa nhìn thấy ông, Sự đã hỏi ngay:

- Có phải sư thầy đã...

Sư Thiện Tánh nhẹ thở dài, gương mặt buồn bã:

- Không hay rồi. Ta không giấu cậu, ta đã...

Ông ngồi xuống đối diện với Sự, lại một lần nữa thở dài:

- Ta đã gặp người đó, hình như là đúng...

Ông lấy trong tay áo một vật mà vừa đưa ra, Sự đã kêu lên:

- Chiếc vòng của Hoa Lý!

Đó là chiếc vòng bạc có chạm khắc rất tinh xảo mà Sự đã đặt làm tặng vợ sau ngày cưới. Anh chụp ngay nó và ôm vào lòng:

- Em đây mà!
 
Nhà sư nhìn thấy mà lòng bất nhẫn, ông cố giữ bình tĩnh, nhưng trong giọng nói có hơi run:

- Cậu bình tĩnh lại. Dẫu gì thì cũng xảy ra rồi...

Sự hốt hoảng:

- Cô ấy sao rồi thầy?

- Chết rồi! Ta đã khó khăn lắm mới trèo xuống được nơi ấy, cách đỉnh bên trên có đến hơn trăm thước. Một nơi như vậy thì làm sao sống nổi! Tội nghiệp, thân xác cô ấy chẳng còn lại gì, chỉ có cánh tay với chiếc vòng này là còn nhận ra.

Sự vừa hồi tỉnh, giờ đây lại như chiếc lá lìa cành, anh đổ người xuống, suýt nữa đã rơi khỏi giường. Đích thân đỡ anh nằm yên, nhà sư nhẹ giọng bảo:

- Đằng nào thì cũng phải cho cậu ấy biết sự thật, chớ để cậu ấy hy vọng hão huyền thì không nên. Khi cậu ấy khỏe hẳn rồi, nếu muốn thì ta sẽ đích thân dẫn cậu ấy trở xuống đó lần nữa. Ta đã mai táng chu đáo cho cô ấy rồi.

Ông ngồi đó với Sự khá lâu, đổ cho anh thêm một ít thuốc an thần. Ông hy vọng sau một giấc ngủ dài, tinh thần của Sự sẽ vững vàng hơn...
 
***

Trước khi rời khỏi chùa Thiền Lâm, Sự đã hứa với sư Thiện Tánh:

- Con sẽ nghe lời thầy, con sẽ cố bình tâm mà sống. Con cám ơn thầy chăm sóc, nuôi dưỡng con mấy tháng nay. Ơn này con không bao giờ quên.

Sự ôm chiếc bình tro cốt của vợ rất chặt trong tay, như sợ nó vuột mất! Lên được con dốc dựng đứng, Sự nghe lời nhà sư, anh đứng chờ xe đò để về nhà. Tuy nhiên, chỉ sau vài phút đứng đó, bao nhiêu ký ức về Hoa Lý như sống lại, và hình ảnh đêm kinh hoàng ấy lại hiển hiện về, nó khiến cho Sự lảo đảo, mất kiềm chế.

- Anh có lỗi với em, Lý ơi!
 
Mỗi lần nói câu đó thì cơn uất hận trong lòng Sự có dịp bùng lên, điều mà mấy tháng qua anh đã nghe theo lời khuyên của sư thầy, kiềm chế được nó...

Phút giây ấy, Sự hiểu rằng mình đành phải đi ngược lại những gì đã hứa ở chùa. Anh siết chặt chiếc bình tro cốt một lần nữa, rồi nói như lời thề:

- Anh sẽ không để cho vong hồn em phải ngậm hờn nuốt hận đâu, Hoa Lý!

Thay vì đón xe hướng về nhà, Sự đi bộ dần dần và sau cùng hướng về phía bên kia đèo.

Vẫn chân đèo quen thuộc. Tuy vào ban ngày nó có khác đi đôi chút, nhưng Sự vẫn nhớ rõ đêm hôm đó anh dừng xe trước cái quán lá kia để đợi...

Sự ghé vào quán, vờ như người lỡ đường, anh gọi nước uống và nghe ngóng tình hình. Anh nhớ, hôm đó anh lái xe theo chỉ dẫn của người phụ nữ kia đi về phía trước mặt không xa lắm thì tới ngôi nhà ấy. Ngồi một lúc, thừa lúc vắng khách, Sự quay sang hỏi chủ quán, một người đàn ông tàn tật:

- Nghe nói xe tới đây ban đêm thường bị kẹt lại, tại sao vậy anh?

Chủ quán có vẻ thật thà, thở dài nói:

- Thật ra ban đêm vẫn qua đèo được, nhưng vài năm trở lại đây ở giữa đèo thường xảy ra cướp bóc, thậm chí giết người nữa, nên cánh lái xe hàng ban đêm rất sợ, cứ trời tối là ngủ lại đây cho chắc ăn.

- Thấy ở đây chật hẹp, làm sao cùng lúc nhiều xe tới có thể trú ngụ được. Gần đây có chỗ trọ không?

Nhìn Sự một lúc, người chủ quán hạ thấp giọng:

- Có chỗ để ngủ qua đêm, nhưng mấy ai dám vào đó!

Thấy mình khai thác đúng nguồn, Sự dò thêm:
 
- Sao không dám, giá cả mắc hả?

Chủ quán lắc đầu, vừa nói mà mắt đảo qua đảo lại nhìn, như sợ có người nghe thấy:

- Cho không cũng chẳng ai dám ở! Ai không biết thì nộp mạng liền!

Sự trố mắt:

- Sao vậy?

Chủ quán hạ thấp giọng hơn nữa:

- Nghe nói là sào huyệt của bọn cướp ở đó!

- Sao biết mà không ai đi tố cáo chúng?

Chủ quán lắc đầu, thở dài:

- Đất này là của chúng, hó hé ra là hết sống! Tôi nói thật, nghèo quá nên bấm bụng ở lại buôn bán, chớ cũng muốn cuốn gói đi lâu rồi! Mới hôm qua đây, nghe nói con gái của quan tỉnh trưởng tỉnh kế bên lái xe qua đây lúc mờ tối, chưa kịp ghé quán tôi nghỉ chân thì đã bị dụ đưa vào đó và mất tích luôn! Quan lính của tỉnh trưởng đã bủa vây suốt ngày mà chẳng bắt được ai, mà bóng dáng cô gái cũng biến mất luôn, chiếc xe du lịch còn bỏ lại ở trong đó!

Sự bắt đầu bị kích động, nhưng cố giữ bình tĩnh. Anh uống vội ly nước rồi đi ngay, anh biết chủ quán đang nhìn theo tò mò. Bởi ở khu vực đèo này ít ai đi bộ lên xuống đèo. Nhắm hướng ngôi nhà trọ bữa trước, Sự đi thật nhanh.

Trong đầu Sự quả thật chưa có một định hướng gì, chỉ nghe hỏa bốc lên bởi câu chuyện vừa được biết! Làm gì bọn chúng ư? Sự cũng chưa tính, nhưng chắc chắn khi đối mặt với chúng, đặc biệt là với tên khốn kiếp hôm trước thì nhất định giữa anh và hắn sẽ chẳng ai có thể sống!
 
Đi được hơn nửa cây số thì trước mặt Sự hiện ra ngôi nhà sàn, anh thốt lên:

- Chính đây rồi!

Nhưng bước chưa được chục bước nữa thì bất chợt có ai đó nhảy ra chụp lấy Sự kéo vào bụi rậm. Anh quay lại thì thấy có khá đông quân lính Pháp và vài người địa phương. Trong số này có một phụ nữ người Việt, ăn mặc sang trọng, bà ta hất hàm hỏi:

- Anh này đi đâu vào đó?

Sự đã liều, nên nói đại:

- Tôi đi tìm vợ! Vợ tôi bị bọn cướp bắt đưa vào đây chưa biết sống chết ra sao?

Bà nọ nghe Sự nói thế thì mừng rơn:

- Vậy sao? Vậy thì... thì để cho anh ta vào đó. Biết đâu anh ta có thể cứu được luôn con gái tôi ra!

Bà ta nói với Sự:

- Tôi là vợ ông tỉnh trưởng ở tỉnh bên, con gái tôi cũng bị bọn chúng bắt cóc đưa vào đó từ hôm qua đến giờ. Lính đã bao vây hết khu vực này, nghe nói tên đầu sỏ đang còn mắc kẹt trong ngôi nhà trước mặt, nhưng hắn hung dữ và có lựu đạn, nên lính của tôi chưa tiện xông vào. Nếu bây giờ cậu có thể xông vào, làm cách nhử cho tên cướp xuất hiện, nói chuyện thương lượng với hắn, trong lúc đó lính của tôi sẽ lén tấn công diệt hắn!

Sự mừng thầm, vậy là anh không cần phải tìm đâu xa, kẻ thù đã ở trước mắt. Do vậy, anh gật đầu liền:

- Được, để tôi vào đó.

Một tên sĩ quan Pháp đưa cho Sự khẩu súng nhỏ:

- Mày cần mang theo...
 
Nhưng Sự gạt ngang:

- Tao không cần!

Như được tiếp thêm sức mạnh, Sự đi thật nhanh vào nhà, trước những cặp mắt ngạc nhiên quá đỗi của mọi người.

Tiến lên nhà sàn, Sự lên tiếng ngay:

- Thằng chó chết đâu, ra đối mặt với tao!

Không nghe ai đáp, Sự lại bước thẳng vào nhà, nhìn thấy rõ căn phòng mà hôm đó vợ anh đã ngủ. Máu hận trong lòng bừng lên, Sự quát thật to:

- Ra đây tay đôi với tao, thằng ăn cướp sát nhân!

Vẫn chẳng có ai đáp, Sự bước thẳng tới cửa phòng của mụ chủ nhà, vừa lúc đó có một cánh tay mềm mại đưa ra kéo mạnh Sự vào trong, kèm câu nói nghe thật quen:

- Hắn chờ anh trong này!

Giọng nói rõ ràng là của Hoa Lý, nhưng nhìn lại thì người vừa kéo Sự là một cô gái lai, khuôn mặt hoàn toàn xa lạ. Sự lúng túng:

- Cô... cô là...

Đưa tay chỉ vào giữa phòng, lúc ấy đang có mặt gã đàn ông bặm trợn, mặt có một vết thẹo dài vắt ngang sống mũi. Vừa nhìn thấy là Sự nhớ ra ngay:

- Thằng khốn kiếp!

Anh không dằn được, lao tới đá cho hắn một cú, hắn ngã nhào mấy bước, đụng vào vách nhà.

- Không cần phải làm thế đâu. Hắn đã bị em cắt hết gân tay chân rồi, bây giờ anh chỉ cần cắt nốt cái lưỡi chó của hắn nữa là đủ, là hết đời hắn!

Giọng nói đúng là của Hoa Lý, vừa nhẹ nhàng mà vừa như ra lệnh đó Sự đã quen từ ngày chưa cưới.

- Cô là...

Nàng cười thật tươi:

- Anh nhận không ra em cũng phải. Bởi em là phần hồn, còn cái xác là của con gái bà tỉnh trưởng ngoài kia. Hôm qua bọn cướp bắt cô này đem vào đây định hiếp và bị cô ấy chống cự, thà cắn lưỡi chết chớ không để làm nhục! Em là Hoa Lý, vợ của anh, từ ngày bị chết oan dưới vực sâu biết được tin anh còn sống qua lời của vị sư chùa Thiền Lâm, nên em vẫn ngày đêm vất vưởng đi tầm thù, quyết trả cho được mối hận mà cả em và anh đang mang nặng trong lòng. Em đã tới đây lúc tên khốn kiếp này vừa khiến cho cô gái chết, đúng là số trời đã định thế, nên em kịp nhập vào cái xác còn nóng hổi ấy. Em hồi sinh và tên chó má này đã bị em khống chế. Em ở đây chờ, vì biết thế nào anh cũng tới...

Nàng nói xong, sà ngay vào lòng Sự như ngày nào nàng vẫn làm. Sự tưởng chừng như trong giấc mơ, anh kêu lên khe khẽ:

- Hoa Lý!

Lát sau, họ dẫn tay nhau ra. Bà tỉnh trưởng và bọn lính chạy tới ngạc nhiên hỏi:

- Cậu đây cứu con phải không?

Cô nàng nhẹ gật đầu:

- Dạ phải.

Nàng nói khẽ vào tai Sự:

- Cứ nhận đại đi, thế nào rồi họ cũng gả con gái họ cho anh mà, em biết chắc! Và... chúng ta lại trùng phùng...

Sự mừng không thể tả. Tuy nhiên, trong lòng anh vẫn có chút bùi ngùi... Dẫu sao, thân xác của Hoa Lý vẫn làm anh không thể quên...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-04-18 15:41:35Soccon>
Quyển XXVIII:
YÊU VÀ CHẾT

1. Chuyến Xe Hoàng Hôn


Quốc lộ 27, con đường đèo từ Ban Mê Thuột qua Đà Lạt là một con đường vắng, rất ít xe cộ đi qua, nhất là xe con. Vậy mà ngay từ sáng sớm hôm nay đã có một người khách lạ ghé qua quán cốc của Hà Ni và nói với cô:

- Bữa nay cô có khách đặc biệt đó!

Hà Ni đã nhìn người khách lạ rồi nhún vai nói:

- Có ma ghé thì có!

Người khách là một vị nữ nhân, tuổi trên dưới bốn mươi, cười hiền hòa rồi tiếp:

- Vậy mà có mới hay. Mà có phải cô là Hà Ni không?

Hơi ngạc nhiên về sự rành rẽ của khách, nhưng nghĩ có thể do mình làm chủ cái quán nhỏ này chắc ai đó biết tên rồi nói lại, nên cô gật đầu:

- Cháu là Hà Ni, chẳng hay cô ở đâu lại biết cháu?

Vị khách lại cười:

- Biết mà không sai là tốt rồi. Vậy cô có phiền nếu tôi ngồi nói chuyện chơi không?

Hà Ni phấn khởi:

- Quán ở đây vắng, nhiều khi cần một người khách ngồi nói chuyện còn quan trọng hơn là bán được ly cà phê! Mời cô.

Vị khách khá tự nhiên:

- Gọi tôi là Dã Quỳ. Cô Hà Ni có lạ với cái tên này không?

Hà Ni cười thoải mái:

- Dã Quỳ là hoa tiêu biểu của vùng này! Hoa mọc đầy hai bên đường, chỉ có điều...

Cô ngừng lại không dám nói tiếp, thì bất ngờ vị khách lại nối câu:

- Dã Quỳ nói lái thành quỷ già phải không?

Hà Ni xua tay:

- Cháu không có ý đó! Cháu chỉ...

- Quỷ già thì đâu đã sao! Tuổi như tôi mà bị gọi là quỷ già cũng đúng thôi! Chỉ e cỡ như cô mà thiên hạ gọi như vậy mới đáng ngại.

Hà Ni chợt thở dài:

- Ở mãi nơi này thì dẫu có là hoa hậu thì rồi cũng trở thành hoa Dã Quỳ hết thôi!

Nghe tiếng thở dài não ruột của cô, vị khách cũng buồn theo:

- Một người trẻ như cô mà bi quan quá là không nên!

- Thực tế nó như vậy, có lạc quan thì cũng cải thiện được gì đâu?

Hà Ni đi pha một tách cà phê khá ngon, đem lại mời khách:

- Phụ nữ mà uống nhiều cà phê là không tốt cho da, nhưng mình ở xứ này không uống thứ này thì uống gì bây giờ. Cháu không uống được rượu, nên mới cố cạn ly chất đắng này vậy!

Vị khách cười:

- Vậy thì hoa Dã Quỳ sắp tàn uống với đóa Dã Quỳ hàm tiếu!

Họ cùng cười nói vui vẻ. Khi mặt trời đứng bóng, bà Dã Quỳ đứng lên kiếu từ:

- Giờ tôi phải đi. Về tới Đà Lạt phải hơn sáu giờ, nên không thể đi trễ hơn được. Hẹn có dịp nào trở lại tôi sẽ ghé chơi và hy vọng lúc đó sẽ nhìn thấy một Hà Ni với tên gọi mới, cô Hoa Hồng chẳng hạn!

Trước khi bước ra cửa, bà còn quay lại dặn:

- Cô sắp gặp bạn rồi đó. Nhớ lời tôi nhé, đó là người sẽ...

Bà bước đi nhanh không để cho Hà Ni hỏi gì thêm. Chỉ khoảng nửa giờ sau thì có một chiếc xe tải dừng lại trước cửa quán, từ trên xe có hai người dìu một chàng trai máu me đầy người bước xuống. Họ gọi mấy ly cà phê và hỏi chủ quán xin nước để nhúng khăn lau vết thương cho người nọ.

Hà Ni vốn sợ máu, nên cô không dám nhìn, nhưng lấy một chiếc khăn sạch để họ lau và còn dặn:

- Lau xong bỏ luôn cũng được.

Chàng trai bị thương có vẻ can đảm lắm, nên tuy thương tích khá nhiều khắp người, nhưng anh ta không hề rên la tiếng nào, chỉ ngồi trân mình chịu đau. Chỉ thỉnh thoảng nhăn mặt rồi cúi đầu chịu trận.

Uống chưa hết ly nước, tài xe đã đứng dậy nói với cậu trai nhỏ tuổi hơn:

- Mày ngồi với anh ấy, tao lại đằng kia bỏ mấy món hàng xong sẽ trở lại ngay.

Anh ta ra xe và rồ máy chạy rất nhanh. Còn lại chàng trai bị thương và cậu lơ xe, Hà Ni len lén nhìn và chợt hỏi:

- Sao không đưa anh ấy đi bệnh viện chữa trị, vết thương coi bộ không nhẹ đâu!

Cậu lơ xe đáp:

- Anh này không chịu. Mà tụi tôi cũng sắp về tới Ban Mê Thuột rồi.

Ngồi thêm chừng mười phút nữa thì cậu lơ xe đứng lên đi ra ngoài, vừa nói:

- Em đi... ngoài một chút.

Và rồi cậu ta đi luôn. Mười phút, hai mươi phút, rồi hơn một giờ vẫn không thấy trở lại. Cả chiếc xe tải cũng mất hút luôn. Đến lúc này thì Hà Ni chợt hiểu.

- Họ bỏ anh ta ở lại đây!

Anh chàng bị thương vẫn không một tiếng rên la, nhưng xem chừng anh ta đã lả người, cứ chúi tới trước và đến một lúc bỗng ngã dài xuống sàn.

Hà Ni hốt hoảng:

- Kìa anh!

Cô chẳng còn cách nào hơn, đành phải cúi xuống đỡ anh chàng dậy và chợt phát hiện ra có một mảnh giấy nhỏ rơi ra từ túi áo anh chàng. Không định đọc, nhưng bỗng nhìn thấy tên mình trên đầu mảnh giấy, nên cô tò mò:

"Cô Hà Ni! Nhớ tôi nói đây là khách của cô. Nếu không muốn làm một thứ... quỷ già như tôi, thì hãy chấp nhận anh ta và chăm sóc cho cẩn thận. Có lúc gặp lại. Hoa Dã Quỳ."

Hà Ni ngẩn ngơ một lúc, đến khi thấy anh chàng cứ nấc lên và ưỡn người như lên cơn, cô chẳng còn cách nào khác, phải dùng hết sức bế xốc anh ta dậy, kéo lê vào phòng mình. Bởi trong quán chỉ có chiếc giường ngủ của cô là nơi duy nhất có thể ngả lưng.

Đặt anh chàng xuống giường, vừa định quay ngoài thì bất chợt bàn tay anh ta nắm chặt tay Hà Ni, khiến cô hốt hoảng:

- Kìa, sao anh...

Nhưng lúc nhìn lại thấy mắt anh ta hầu như hết thần, Hà Ni không đành gỡ tay ra, mà chỉ nhẹ nhàng ngồi xuống và chờ một lúc. Khi thấy bàn tay anh ta lơi ra, Hà Ni mới rút tay về, nhưng cũng chưa vội đứng lên. Đến lúc này cô mới có dịp nhìn kỹ anh chàng.

Anh ta còn khá trẻ, khuôn mặt thanh tú, không có chút gì là của dân nhà xe hay làm nghề rừng như hầu hết thanh niên xứ này.

- Anh ta là một người xứ khác? - Cô tự hỏi.

Từ đó cho tới chiều anh chàng nằm yên như hôn mê, nhưng Hà Ni len lén sờ thử trán thấy nhiệt độ vẫn bình thường thì yên tâm. Khi trời tối thì cô gái sống một mình này lại bắt đầu lo. Làm sao để anh ta ở lại đây được, khi ban đêm cô chỉ có một mình? Vả lại...

Định báo cho mấy người hàng xóm biết, nhưng do dự mãi, cuối cùng Hà Ni chọn giải pháp giữ im lặng. Cô hy vọng anh ta sẽ tỉnh lại, và sáng mai nếu chiếc xe kia không trở lại thì cô sẽ tìm cách gửi anh ta về Ban Mê Thuột. Như thế ít ra lòng cô gái nhân hậu này cũng đỡ ray rứt...

Đến nửa đêm hôm đó...

Trong lúc Hà Ni chuyển ra ngoài quầy hàng ngủ tạm thì anh chàng vẫn nằm yên trên giường của cô.

Đến khoảng 1 giờ sáng, khi thức dậy đi ra sau bếp thì Hà Ni giật mình khi thấy trên giường trống không. Anh chàng đã biến đâu mất...

Cửa sau vẫn còn chốt bên trong, cả cửa trước cũng thế, vậy anh ta đi đâu được?
 
***

Việc anh chàng biến mất vào nửa đêm rồi xuất hiện vào sáng sớm hôm sau đã làm cho Hà Ni sửng sốt.

Lúc tối sau khi tìm kiếm khắp nơi không thấy người khách bị thương nặng, Hà Ni đã lên giường nằm ngủ lại, với ý nghĩ là sẽ tìm hiểu kỹ lại vào sáng hôm sau. Vậy mà khi vừa choàng tỉnh lại thì bàn tay của Hà Ni đã chạm phải một người nào đó ngay cạnh mình trên giường!

- Ai?

Câu hỏi của Hà Ni vừa cất lên thì bàn tay người nọ đã quàng qua ngực cô và giữ yên ở đó. Lúc này cô mới định thần, thay vì bật ngay dậy và hét lên, thì linh tính báo cho Hà Ni biết tốt hơn là cô nên giữ im lặng... Bởi người đang ôm cô chính là... anh chàng bị thương lúc nãy.

Và thay vì lên tiếng hỏi, Hà Ni lại nằm im, cố giữ để anh ta không giật mình.

Một lúc lâu, thấy anh ta không có cử động gì, nghĩ là anh ta đã ngủ say, Hà Ni mới từ từ gỡ tay anh ta ra và nhẹ nhàng bước xuống giường.

Trời đã sáng hẳn, nên bây giờ cô có thể nhìn rõ được mặt anh chàng hơn.

Anh ta ngủ chẳng khác một đứa trẻ, gương mặt nửa trẻ thơ nửa người lớn.

Mấy vết thương trên mặt đã khô và trả lại một phần trán và má bên phải vẻ phẳng phiu, ưa nhìn của một chàng trai thành thị!

Hà Ni đánh bạo gọi khe khẽ:

- Anh gì ơi! Anh...

Bất chợt anh ta bật ngồi dậy và lên tiếng:

- Xin lỗi đã làm cho cô sợ!

Hà Ni lúc này mới hốt hoảng, đứng bật dậy khỏi giường:

- Anh... anh biến đi đâu rồi xuất hiện lại như ma vậy? Sao anh dám... dám lên nằm trên giường tôi?

- Tôi đã xin lỗi rồi, nếu cần, tôi sẽ xin lỗi lần nữa. Việc tôi nằm trên giường là do cô mà!

Hà Ni nghiêm giọng:

- Lúc đầu thấy anh bị thương nặng quá nên tôi cho vào giường nằm, bởi nhà chỉ có chiếc giường duy nhất. Còn khi không thấy anh, tôi đã trở lại giường của mình để ngủ. Sao khi trở lại anh cũng leo lên nằm chung là ý gì? Anh nên nhớ tôi là gái chưa chồng, anh làm như vậy...

Anh chàng cười trên đôi môi héo hắt:

- Chết duyên con gái! Tôi vạn lần tạ lỗi và chấp nhận bị trừng phạt. Phạt gì cũng được, tùy cô.

- Tôi chỉ muốn...

Hà Ni đưa tay sờ lên ngực, nơi bị bàn tay của anh ta đặt lên lúc nãy. Hình như hiểu ý, anh ta nhẹ giọng:

- Tôi vô tình. Chắc cô cũng không nỡ trách một người trong trạng thái gần kề với cái chết chứ?

Hà Ni nghe cách anh ta nói chuyện thì đã xác định rõ, anh chàng chính là người thành thị, miệng dẻo nhưng vẫn có chút gì đó thật thà. Và điều này đã khiến cho cô không truy hỏi nữa, mà chỉ nhìn kỹ anh ta để dò xét thêm.

- Sao cô lại leo lên giường nằm chung với tôi, không sợ sao?

Hà Ni bây giờ mới la lên:

- Ai nằm chung với anh? Giường của người ta, anh leo lên đại thì có.

- Nhưng cô đã nhường cho tôi rồi, sao nửa đêm lại vào nằm, làm tôi tưởng...

- Anh thật sự không nhớ là nửa đêm đã bỏ đi đâu mà tôi tìm kiếm khắp nơi không thấy?

- Tôi vẫn nằm ở đây mà!

- Không có! Hay anh là... ma?

Không ngờ anh chàng lại gật đầu:

- Cũng có thể là ma lắm. Bởi nếu không phải ma sao tôi đang ở Sài Gòn, đang sắp lấy vợ thì lại nằm ở đây?

Cách nói ỡm ờ của anh ta khiến cho Hà Ni tò mò hỏi thêm:

- Anh nói sao, anh không phải là người đi chung xe với mấy người trên xe tải chở hàng sao?

Anh chàng ngơ ngác:

- Xe tải nào?

- Chiếc xe chở hàng từ Đà Lạt chạy về đây. Trên xe có tài xế, một cậu lơ xe và... anh. Họ đem anh trong tình trạng thương tích đầy người vào đây rồi bỏ trốn hết, để mình tôi lãnh của nợ!

Anh chàng lẩm bẩm:

- Sao như vậy được? Tôi đang đi với cô ấy đó mà? Tôi đang...

Hà Ni ngỡ anh ta đóng kịch, nên nghiêm giọng hỏi:

- Anh nói sắp lấy vợ mà còn đang đi với cô nào nữa?

- Thì là cô ấy! Chúng tôi đang chở nhau đi sắm đồ cưới, chẳng hiểu sao lại bị như thế này?

Nhìn nét mặt thất thần của anh ta, Hà Ni nhẹ giọng:

- Lúc họ bỏ anh lên xe, anh có biết gì không?

- Xe nào?

- Thì chiếc xe tải chở anh tới đây!

Anh chàng lắc đầu:

- Tôi không hề biết gì... Cũng chẳng hiểu sao, tôi hoàn toàn không nhớ gì hết? Vậy Ngọc Lan ở đâu?

- Ngọc Lan là vợ chưa cưới của anh phải không?

- Chính là cô ấy!

- Anh tìm chiếc xe tải đó mà hỏi? Có thể lúc anh chở cô ấy đi đường, bị chiếc xe ấy tông phải rồi họ bỏ anh lên xe chở đi, còn cô kia thì chắc đã chết, nên họ vứt xác ở đâu đó.

Nghe Hà Ni nói y như thật, anh chàng bắt đầu hốt hoảng nói:

- Có đúng như vậy không?

Hà Ni phải bật cười:

- Sao anh lại hỏi tôi? Chuyện đó...

Anh chàng như cố nhớ lại, nhưng hình như đầu óc anh ta không vận hành theo ý muốn, nên lúc nhớ lúc không, vừa muốn nói thì lại thừ người ra. Hà Ni phải trấn an:

- Được rồi, anh nghỉ ngơi đi rồi sẽ nhớ.

Cô vừa bước vào trong thì chợt anh chàng nhớ ra, kêu lên:

- Phải rồi, cô ấy ở dưới cái hố sâu!

Hà Ni chỉ ra ngoài, nơi có một cái vực sau nhà, hỏi:

- Có phải giống như vậy không?

Anh chàng nhìn và tỏ ra sợ hãi:

- Đúng rồi! Cô ấy... cô ấy...

Sợ anh ta không kiềm chế được, nên Hà Ni phải giải thích:

- Giống chỗ này thôi, chứ không phải đây!

Đợi cho anh ta bình tâm lại phần nào rồi Hà Ni mới hỏi:

- Tên anh là gì?

- Phong. Người ta gọi cặp đôi chúng tôi là loài hoa rừng đẹp nhất: Hoa Phong Lan.

- Vậy là anh đã tỉnh táo hoàn toàn rồi. Anh cố nhớ lại xem, có đúng là cô ấy đã chết không?

- Cô nào?

- Thì vợ hay người yêu của anh. Cô Lan gì đó?

Anh chàng bật dậy, một lần nữa ngơ ngác nhìn quanh rồi lẩm bẩm:

- Phải rồi, cô ấy ở ngoài kia...

Rồi bất ngờ, anh vụt phóng khỏi giường và cắm đầu chạy như bay ra ngoài. Không kịp ngăn lại, Hà Ni chỉ gọi với theo:

- Anh đừng ra đó, có cái vực sâu!

Nhưng không còn kịp nữa, chỉ trong nháy mắt thì bóng của Phong đã mất hút... Hà Ni hối hận đã nói linh tinh khiến cho anh chàng kích động. Lần này không biết có giống như lúc nãy, liệu anh ta có trở lại không?

Tuy là người đã sống ở vùng này lâu nay, nhưng Hà Ni cũng chưa hề đi xuống phía vực sâu nên cô không thể hình dung nổi là bên dưới ra sao và liệu Phong xuống đó rồi có chuyện gì xảy ra? Cô bước tới một gốc cây bên bờ vực, đưa mắt nhìn xuống bên dưới và chợt rùng mình. Nó sâu thăm thẳm và cô chợt nghe lạnh sống lưng. Rồi bỗng dưng cô cất tiếng gọi thật to:

- Anh Phong ơi!

Chỉ có tiếng vọng từ chính giọng của cô dội lại, chứ hoàn toàn không có ai đáp. Sững sờ một lúc khá lâu, Hà Ni lững thững đi trở vào nhà. Cô lo lắng cho sự an nguy của anh chàng xa lạ kia một phần, nhưng chính cô cũng lấy làm lạ là trong lòng mình lại có điều gì đó rộn lên kỳ lạ, khó giải thích.

Khi vào tới nhà, bỗng dưng Hà Ni đánh hơi có gì đó bất thường bên trong.

Cô buột miệng kêu khẽ:

- Ai trong nhà nhỉ?

Sở dĩ cô tự hỏi như vậy là do cái mũi thính nhạy của cô vừa phát hiện ra một mùi hương rất lạ của một ai đó.

Không lên tiếng hỏi, Hà Ni nhẹ bước đi thẳng vào phòng ngủ và sững lại khi nhìn thấy có một người nằm im, cả thân thể phủ kín trong chiếc mền, chỉ ló ra phần trên.

Vừa nhìn đã thấy mái tóc dài phủ qua mặt gối, Hà Ni đã kêu lên:

- Ai vậy? Cô là...

Người nằm đó đúng là một nữ nhân, nghe tiếng hỏi lớn của Ni, cô ta trở mình, quay mặt ra và rên khẽ mấy tiếng. Hà Ni hốt hoảng khi phát hiện ra trên gương mặt xinh xắn của cô ta dính đầy những máu.

- Trời ơi! Sao... sao vậy?

Ni quên cảnh giác, đã bước nhanh tới bên người khách lạ và đưa tay tốc mền ra, vừa lúc kêu lên thất thanh:

- Bớ!

Tiếng kêu của Hà Ni bị nghẹn lại, bởi lúc ấy cô lảo đảo và ngã phịch xuống đất. Trước mặt cô, nửa phần thân thể của người kia chỉ là... bộ xương trơ ra!

- Trời ơi... cứu... cứu!

Hà Ni không còn kiểm soát được mình nữa, cô muốn thoát chạy, nhưng tay chân hoàn toàn không còn cử động được, như bị điểm huyệt.

Trong khi cô lịm đi thì nửa thân người của cô gái kia từ từ cử động và nhẹ nhàng rời khỏi giường, không màng tới Ni đang nằm dưới đất.

Một cơn mưa trái mùa đột ngột trút xuống, lùa gió lạnh buốt xương qua cửa sổ vào nhà, và chỉ trong phút chốc, toàn gian nhà như chìm trong màn tối âm u.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
2. Hoa Dã Quỳ

Tuấn đỗ xe ngay trước quán, gọi to vào trong:

- Hà Ni ơi, anh về tới nè!

Bên trong quán có người bước ra, đó là Hà Ni, nhưng khi nhìn thấy Tuấn, cô vẫn dửng dưng như không, chỉ đưa mắt nhìn như nhìn khách lạ vào quán.

Tuấn ngạc nhiên, nhưng vẫn lên tiếng tiếp:

- Em sao vậy, cách có mấy thước mà nhìn cũng không ra anh sao?

Hà Ni vẫn trơ mắt nhìn, đến nỗi một người khách đang ngồi trong quán vốn quen biết với Tuấn lên tiếng:

- Người yêu về mà nhận cũng không ra, đúng là bữa nay cô Hà Ni này đầu óc sao ấy!

Rồi anh ta quay ra nói với Tuấn:

- Từ sáng đến giờ vào uống cà phê mà cô này lơ đãng sao ấy. Như là người mất hồn vậy!

Tuấn lo lắng nhìn người yêu:

- Em có bệnh gì không vậy Hà Ni? Coi sắc mặt em kìa, xanh rờn...

Hà Ni vẫn không nói gì, nhưng khi Tuấn bước đến gần hơn thì cô bất ngờ đưa tay cấu vào đùi anh ta một cái đau điếng. Tuấn suýt kêu lên nhưng kịp kiềm chế được, anh đoán chắc có nguyên nhân gì đó, nên bước nhanh vào nhà trong.

Ni đi theo, lúc này cô mới nhanh chóng đóng sầm cửa lại và thật bất ngờ, đưa tay đẩy mạnh một cái. Tuấn không kịp đề phòng, nên bị ngã ngửa lên giường.

Anh chàng chưa kịp lên tiếng, đã bị một bàn tay của Hà Ni bịt chặt ở miệng và đành phải im lặng...

Trong mơ hồ, Tuấn nhớ là mình bị người yêu nhảy đè lên người, và anh còn ráng sức thốt lên:

- Em... em làm anh cứ tưởng... thì ra là... là...

Rồi Tuấn hầu như không còn, hay đúng hơn là không muốn vùng vẫy nữa, anh chấp nhận để cho người yêu muốn làm gì thì làm...

Nửa giờ sau...

Người xuất hiện trở lại ở gian khách đang ngồi uống cà phê là Tuấn chứ không phải Hà Ni. Vị khách quen lúc nãy rất tâm lý, lên tiếng:

- Vắng nhà lâu ngày nên bị bà xã phạt phải không? Mà xem ra cô ấy cũng không khỏe lắm đâu, ông liệu mà vừa phải tối nay nhé, không khéo...

Anh ta nói xong trả tiền cà phê và bước ra ngoài. Chỉ một lát sau, bỗng có người chạy lại hớt hãi báo tin:

- Cái người vừa ra khỏi quán chẳng hiểu sao tự nhiên chúi nhủi đầu xuống đất miệng hộc máu và nằm một đống ngoài kia kìa!

Vài người nữa đổ xô chạy đến, Tuấn cũng đi theo, nhưng lát sau anh trở lại, lúc ấy đã thấy Hà Ni đứng trong quán, anh nói như lời báo cáo:

- Anh ta bị trúng gió chắc!

Hà Ni vẫn bình thản:

- Việc gì cũng có cái giá của nó.

Tuấn hình như muốn hỏi lại, nhưng xem chừng anh ngại, nên sau đó chỉ lẳng lặng giúp người yêu dọn dẹp trong quán, không nói năng gì.

Cho đến khi từ ngoài có một chiếc xe hơi cũ vừa đậu lại, từ trên xe bước xuống một người đàn ông lớn tuổi, mà vừa thoạt trông thấy Hà Ni đã kêu lên:

- Chính là cô sao!

Người phụ nữ lớn tuổi hôm trước đã ghé quán. Bà ta nhìn sang Tuấn và chẳng cần giữ ý, đã nói ngay:

- Cậu này đâu phải là người cô mong đợi phải không?

Câu hỏi khiến cho Tuấn ngẩng mặt lên nhìn, nhưng Hà Ni thì vẫn không chút lo lắng, đáp nhanh:

- Giữa chốn thâm sơn cùng cốc này, có đàn ông là quý rồi, còn chọn ai với ai nữa!

Cô vừa nói vừa bước lại gần và quàng tay qua vai Tuấn, giới thiệu:

- Đây là Tuấn, người yêu của cháu, lâu nay đi làm ăn xa nay mới về.

Người phụ nữ tên Dã Quỳ chợt nghiêm sắc mặt lại:

- Hai người đừng có diễn trò trước mặt tôi! Hà Ni và anh chàng tên Phong đâu?

Câu hỏi bất ngờ của bà khiến cả Hà Ni cũng phải lúng túng còn anh chàng tên Tuấn thì vừa run vừa lùi lại sau như sắp bỏ chạy. Bà Dã Quỳ hét lớn:

- Đứng yên đó!

Nhưng anh chàng đã kịp phóng qua hàng rào thấp bên hông nhà và mất hút bên ngoài. Còn lại Hà Ni đang lúng túng thì đã bị bà Dã Quỳ chụp tay, bà đanh giọng:

- Các người tính làm gì? Cậu ấy đâu?

Hà Ni run lẩy bẩy:

- Anh... anh ta...

Rồi bất chợt cô chỉ ra ngoài chỗ vực sâu, nói nhanh:

- Ở dưới đó!

Bề ngoài xem ra vẻ chậm chạp, vậy mà khi ra tay thì bà Dã Quỳ thật nhanh, bà khóa chặt tay của cô gái, rít lên:

- Nếu không đưa anh ta lên thì đừng hòng sống với tao!

Động tác khóa tay đó có lẽ quá mạnh, nên Hà Ni kêu lên đau đớn:

- Ui da! Để... để con nói...

Cô ta được bà buông ra, vừa định bước đi thì đã bị gọi giật lại:

- Trên người của cô bây giờ đã bị ta điểm huyệt, đừng hòng tính chuyện tẩu thoát. Khôn hồn thì mau đưa anh chàng tên Phong đó về đây!

Hà Ni đi rồi. bà Dã Quỳ mới quay lại phân trần với người khách duy nhất còn lại trong quán:

- Ở chốn vắng vẻ này xưa nay vốn bình yên, nhưng bây giờ đã không còn được như vậy nữa rồi. Ông thấy đó, cô gái lúc vừa rồi đâu phải là một con người bình thường... cô ta...

Vị khách đó là một người đàn ông trung niên, nãy giờ hầu như không màng tới cuộc đôi co giữa hai người, giờ nghe hỏi mới quay lại từ tốn nói:

- Thì chính bà đã đem lại điều bất ổn đó thôi!

Người đàn bà giật mình:

- Ông... ông nói thế...

Người đàn ông vẫn không nhìn vào bà Dã Quỳ, nói tiếp:

- Thì chính bà đã gây ra cái chết cho họ, khiến họ thành như vậy mà còn trách ai?

Ông nói vừa xong thì vội bước ra ngoài. Bà Dã Quỳ hốt hoảng thấy rõ, bà vội chạy theo gọi lớn:

- Kìa, ông!

Nhưng người đàn ông đã như cái bóng, biến mất ngay khi vừa ra tới đường lộ. Bà Dã Quỳ ngẩn ngơ một lúc, khi bước trở vào thì đã thấy một người nằm im dưới sàn nhà. Người ấy là anh chàng Phong.

Chẳng hề ngạc nhiên, bà Dã Quỳ đưa tay sờ lên trán anh chàng, rồi chép miệng:

- Cũng còn may.

Phong vẫn còn sống, nên sau đó vài giây, anh ta trở nhẹ người rồi mở mắt ra, ngơ ngác:

- Tôi... tôi đang ở đâu?

- Cậu không phải lo, đây là nơi cậu được cứu sống. Cậu nhớ cô chủ quán Hà Ni không?

Được đánh thức cơn mê. Phong ngơ ngác:

- Cô ấy đâu rồi?

Đưa tay chỉ vào trong nhà:

- Nơi cậu đã nằm hồi đêm qua.

Phong không hỏi thêm, bật ngay dậy rồi bước nhanh vào trong nhà. Cũng vừa lúc ấy Hà Ni bước ra. Cô như vừa thức dậy sau giấc ngủ dài, sững sờ khi nhìn thấy Phong:

- Anh... anh...

Bà Dã Quỳ phải lên tiếng:

- Nếu tôi trở lại không kịp thì hai người đã chết rồi! Tôi kể tóm tắt cho nghe: Hai người đã bị oan hồn của một ma nữ hãm hại, nó khiến cho cậu Phong này đi xuống vực sâu và nó nhập hồn vào Hà Ni, khiến cho cô suýt nữa đã hại thêm một người thanh niên vô tội. Anh chàng Tuấn vốn là một thợ chụp ảnh thường qua lại tuyến đường này và từng đem lòng thương cô chủ quán đây. Nó bắt hồn anh chàng ấy, định biến anh ta thành một cặp đôi để cùng với nó tiếp tục gây thêm những thảm cảnh. Cũng may...

Bây giờ hai người mới nhận ra. Hà Ni lúc này hoàn toàn khác một Hà Ni lúc nãy, cô ngượng ngùng nhìn Phong:

- Anh đã...

Phong đáp:

- Tôi cũng không biết nữa! Tôi cũng mới tỉnh lại đấy thôi.

- Em cũng...

Hà Ni vừa nhìn ra nhà ngoài thì ngạc nhiên:

- Bà ấy đâu rồi?

Biết cô hỏi bà Dã Quỳ, Phong nhìn ra và nói:

- Bà ấy mới vừa ở đây.

Nhưng khi họ trở ra ngoài thì chẳng còn thấy bà ấy đâu Hà Ni ngạc nhiên:

- Em mới nghe tiếng của bà đây mà.

Khi đó, người đàn ông bỏ đi đột ngột lúc nãy lại hiện diện, ông ta đặt một nhánh hoa dã quỳ nằm dưới đất và bảo:

- Bà ấy đây. Cô chủ quán nhớ tên bà ta không?

Hà Ni gật đầu đáp:

- Dạ nhớ, bà Dã Quỳ. Ông là...

Người đàn ông không đáp, mà vừa nói vừa bước trở ra ngoài:

- Bà ta không phải là người xấu, nhưng nếu không tìm gặp lại bà ấy thì chuyện rắc rối sẽ còn dài đấy!

Ông ta cũng biến rất nhanh như lúc tới. Hà Ni hoang mang:

- Sao toàn những chuyện gì đâu không vậy anh?

Phong lắc đầu:

- Tôi không hiểu! Nhưng vừa chợt nhớ lại chuyện của mình. Tôi nhớ tới Lan, khi cô ấy bị tai nạn...

Đầu của Phong đau nhói khi nhắc tới chuyện ấy. Anh vừa ôm đầu vừa rên rỉ:

- Tôi không chịu nổi... Tôi chết mất!

Hà Ni hốt hoảng:

- Anh bị sao vậy? Anh... anh.

Cô hốt hoảng nhưng cũng chẳng biết làm sao. Trong lúc luống cuống, chẳng hiểu sao cô lại chụp cái hoa dã quỳ còn nằm dưới đất đưa cho Phong, Đó là hành động vô ý thức, vậy mà lạ lùng thay, nó lại có hiệu quả tức thời. Phong tỉnh táo hẳn và ngơ ngác:

- Tôi hết đau rồi. Hay là...

Anh chợt nghe văng vẳng tiếng ai đó từ trong đóa hoa phát ra:

- Hãy tới thôn Ea Rya mà tìm người chủ bông hoa này...

Phong nhìn sang Hà Ni hỏi:

- Ai vừa nói vậy?

- Ai nói gì đâu, em không nghe!

Tiếng nói lại vang lên rất khẽ, chỉ đủ cho mình Phong nghe:

- Đi ngay đi và nhớ là đừng rời hoa dã quỳ ra khỏi tay. Nhớ đấy!

Lần này cũng chỉ mình Phong nghe, anh phải nói lại cho Hà Ni nghe nội dung câu nói và hỏi:

- Ai vậy?

Hà Ni lặng người đi:

- Em cũng không biết...

Phong nhớ lại lời người đàn ông nói lúc nãy, anh hốt hoảng:

- Mình phải tìm người đàn bà có tên là Dã Quỳ này sao? Bà ấy...

Vô tình trong lúc nói chuyện, Phong để hoa dã quỳ rơi khỏi tay, lập tức cơn đau lại nhói lên dữ dội. Thấy anh ta lảo đảo, Hà Ni vội chụp lấy vai và kêu lên:

- Anh sao vậy?

Phong sợ Hà Ni giẫm phải bông hoa, anh muốn cúi xuống nhặt lên, nhưng vừa cúi người thì ngã sấp luôn xuống sàn nhà. Cũng may khi ngã anh lại nằm đè lên đóa dã quỳ, nhờ vậy Phong lại tỉnh táo.

Lúc này Hà Ni chợt nhớ ra, cô bảo:

- Anh không được rời bông hoa này ra.

Phong hỏi:

- Thôn Ea Rya ở đâu?

- Em cũng không biết, nhưng chắc hỏi thì có người chỉ cho.

Đóng vội cửa quán, Hà Ni giục:

- Mình đi ngay cho kịp!

Gọi một chiếc xe thồ, cô hỏi:

- Anh biết thôn Ea Rya không?

Anh chàng chạy xe đáp ngay:

- Thôn ấy cách đây khoảng chục cây số, cô tìm ai ở đó nói đi, tôi rành thôn ấy lắm vì tôi cũng là người ở đó mà.

- Vậy anh có biết một bà có tên là Dã Quỳ không?

Anh chàng lái xe giật mình:

- Bà Lang Leng? Mà cô tìm bà ta làm gì?

Đến phiên Hà Ni ngạc nhiên:

- Lang Leng là ai?

- Đó là tên riêng của bà mà cô gọi là Dã Quỳ đó. Bà ấy là người cùng thôn với tôi mà. Ở thôn người ta chỉ quen gọi bà ta là bà Leng thôi. Nhưng mà...

Anh ta bỗng nhìn Hà Ni với ánh mắt không bình thường và định nói gì đó nhưng không kịp, bởi lúc ấy cô nàng đã đỡ Phong trong tình trạng đang suy sụp lên xe, cô ngồi kèm phía sau và giục:

- Anh đưa tụi tôi đi ngay đi!

Anh chàng kia đành phải rồ máy xe. Trên đường đi, anh ta hỏi:

- Cô tìm bà ấy có chuyện gì?

Rồi không đợi cho cô đáp, anh ta quay lại nhìn Phong, hỏi:

- Anh này có phải bị bệnh đau đầu không?

Ni giật mình:

- Sao anh biết?

Anh ta chưa kịp đáp thì do phải tránh một chiếc xe ngược chiều chạy áp sát, nên ngưng ngang câu chuyện. Đến khi tránh được rồi thì anh ta lại chuyển sang đề tài khác:

- Đoạn đường này xảy ra tai nạn hoài, như chuyện vừa rồi đó...

Câu nói vô tình khơi gợi đúng nỗi đau của Phong, anh nói liền:

- Vợ tôi cũng bị một chiếc xe như vậy...

Anh nói chưa hết câu thì đột nhiên ngưng bặt, như có một vật gì đó chặn ngang cổ họng. Ngồi cạnh, Hà Ni phát hiện ra điều ấy nên hỏi nhanh:

- Anh bị sao vậy?

Phong không đáp được mà chỉ đưa tay ra dấu. Hà Ni càng hốt hoảng hơn:

- Anh chạy nhanh lên! Đừng nói chuyện nữa. Anh bạn tôi đang gặp nguy.

Anh chàng lái xe do vậy không thể nói tiếp điều đang muốn nói. Gần hai chục phút sau đã tới thôn Ea Rya, anh ta dừng xe trước một ngôi nhà sàn và bảo:

- Nhà của bà Leng đó.

Dặn anh ta chờ đó, Hà Ni dìu Phong leo lên thang. Khi bước vào nhà đã gặp ngay một cô gái trẻ đang ngồi dệt thổ cẩm, Hà Ni vội hỏi:

- Có bà Dã Quỳ ở nhà không cô?

Cô gái giương mắt nhìn khách như không hiểu. Hà Ni chợt nhớ ra, cô hỏi lại:

- Tôi muốn hỏi bà Leng!

Bấy giờ cô gái mới đáp:

- Không có!

- Bà đi vắng chừng nào về?

- Không về!

Thấy cách đáp cộc lốc của cô ta Hà Ni hơi bực, nhưng chợt nhớ đấy là một cô gái người thiểu số, nên cô dịu giọng hỏi lại:

- Tôi có việc cần kíp, muốn gặp bà Leng. Xin cô giúp cho...

Cô gái lắc đầu:

- Bà ấy chết rồi còn đâu mà gặp!

Hà Ni giật bắn người:

- Cô nói sao? Bà Dã Quỳ... Bà Leng đã chết ư?

Cô ta chỉ tay ra ngoài đường lộ nói gọn lỏn:

- Ra ngoài kia mà nhìn xuống hố sâu, má tôi ở đó!

Phong đang trong tình trạng choáng váng, vậy mà khi nghe câu nói, anh đã hỏi liền:

- Bà ấy cũng bị tai nạn xe ư?

Vừa lúc ấy anh chàng lái xe thồ cũng vừa bước lên, anh ta lên tiếng:

- Lúc nãy tôi định kể mà chưa kịp. Bà Leng đã chết cách nay hơn một năm rồi. Bị một chiếc xe tải đụng phải, hất bà ấy văng xuống vực sâu rồi bỏ chạy luôn. Bởi vậy từ ấy bà thường hiện hồn về chặn mấy chiếc xe chạy ẩu để cảnh báo. Bà là một hồn ma giúp người chứ không hại người. Cách nay mấy bữa, tôi nhìn thấy một chiếc xe tải chạy như điên qua khu vực này, bỗng nhiên dừng lại, rồi cả tài xe và lơ xe đều nhảy xuống quỳ giữa đường lạy như tế sao vừa van xin mà chẳng biết là xin ai. Tới khi họ đi rồi tôi mới nhìn thấy ở bên đường có một bó hoa dã quỳ còn tươi nằm ở đó, tôi đoán...

Hà Ni vụt nói:

- Bà Dã Quỳ!

Anh ta gật đầu:

- Đúng là bà ấy!

Hà Ni lo lắng nói:

- Thì ra mấy lần bà ấy xuất hiện đều là… hồn ma!

Rồi cô quay sang Phong:

- Anh nghe giọng nói bí hiểm từ trong đóa hoa dã quỳ có phải là bà ấy không?

Phong gật:

- Đúng vậy.
 
- Do đó, lúc nãy khi nhìn thấy cậu đây cầm trên tay đóa hoa dã quỳ tôi đã có ý nghi ngờ. Có phải là cậu gặp bà Leng không?

Không tiện nói hết ra, Phong chỉ đáp:

- Bà ấy giúp tôi...

Còn Hà Ni thì lại nói:

- Có một người chỉ cho chúng tôi tới đây. Người đàn ông...

Không ngờ anh lái xe kêu lên:

- Ông thầy người Tàu từ Đà Lạt lên phải không?

Hà Ni lắc đầu:

- Tôi không biết, chỉ gặp ông ghé quán một lần, ông ấy cho địa chỉ để tới đây rồi đi luôn, không biết gốc tích, tên tuổi.

Tỏ ra rành rẽ việc, anh ta nói thêm:

- Đã nhiều lần ông thầy đó tìm về đây, hình như lúc đầu để trừ khử oan hồn của bà Leng, nhưng sau này lại nghe nói ông ta luôn ủng hộ bà ta, mỗi khi có đụng độ giữa bà Leng với ai đó...

Phong ngạc nhiên:

- Sao lại có chuyện đụng độ? Bộ có nhiều người muốn trừ khử bà ấy sao?

- Tôi không rõ lắm... Nhưng xem ra đây là chuyện giữa các oan hồn với nhau. Tôi chạy xe thồ khắp khu này nên đã nhiều lần chứng kiến cảnh ông thầy Tàu đó ngồi bên đường đốt nhang cúng, mà lần nào cũng có những bông hoa dã quỳ cạnh nén nhang. Trong thuật làm phép, theo tôi biết khi muốn giúp ai thì người ta hoặc là đặt ảnh hoặc biểu trưng của vong hồn người đó cạnh nén nhang. Ông ấy không cúng để độ cho bà Leng thì đặt những bông hoa dã quỳ làm gì ở đó?

Hà Ni lẩm bẩm:

- Cũng lạ...

Lúc ấy, đột nhiên Phong ngã sóng soài trên sàn nhà. Trong lúc Hà Ni hốt hoảng thì cô gái con chủ nhà lúc nãy bước trở ra, cô ta cầm trên tay một đóa hoa dã quỳ khác, hoa đã phơi khô, đặt lên ngực Phong, vừa bảo:

- Cái này dễ giữ bên mình hơn. Xong rồi về đi.

Chưa ai kịp hỏi gì thì lại một lần nữa cô ta biến mất vào trong. Hà Ni gọi với theo:

- Cô ơi!

Anh chàng lái xe thồ bảo:

- Người thiểu số không biết nói nhiều. Cô ấy nói như vậy là xong rồi, cô cứ đưa cậu ấy về đi. Coi kìa, cậu ấy đã tỉnh táo như thường rồi.

Phong tự đứng lên và nói như chưa có gì xảy ra:

- Mình về! Cám ơn cô Hà Ni.

Rồi quay sang người lái xe, bảo:

- Anh cho tôi ra ngoài chợ, tôi sẽ xuống ở đó, còn anh đưa cô này về quán.

Hà Ni phản đối:

- Không được! Anh chưa thể tự đi, phải về quán nằm nghỉ, lúc nào khỏe hẳn hay. Vả lại, anh còn chưa rõ chuyện đã xảy ra với mình mà.

Phong vẫn cương quyết:

- Cứ như vậy đi.

Anh lái xe thồ làm đúng như lời, ra ngoài anh ta còn nhiệt tình chở Phong tới giao cho một bạn đồng nghiệp rồi dặn:

- Cậu này cần đi đâu anh cứ chở, rồi nhớ chở về lại quán cô Hà Ni này.

Hà Ni không an tâm, cô cũng chẳng hiểu sao như vậy, bởi giữa cô với anh chàng chưa hề có ràng buộc gì với nhau cả. Đến khi xe thồ chở cô về tới quán mà Hà Ni vẫn còn ngẩn ngơ, lo lắng…

Anh lái xe nghĩ Hà Ni lo cho người yêu nên chen vào nói:

- Anh ta chẳng đi đâu xa cả, lúc nãy tôi nghe lỏm được biết anh ta bảo xe thồ chạy tới dốc Đầu Voi. Chỗ mới xảy ra tai nạn chết hai người cách đây mấy ngày. Chắc là đi tìm tin tức người thân...

Câu nói của anh ta lại khiến Hà Ni càng thêm lo:

- Chỗ đó xảy ra tai nạn sao? Ở đó...

- Nơi ấy là một khúc cua gắt, lại khuất tầm nhìn nên xe thường bị tai nạn. Ngay như tôi, dẫu quen đường đèo, vậy mà ai kêu chở qua đó tôi còn ớn nữa là...

Hà Ni hồi hộp như người thân yêu nhất của mình đang gặp nguy...
 
***

Ba ngày sau, Phong vẫn chưa trở lại.

Lúc đầu Hà Ni chỉ hơi lo thôi, nhưng sang ngày thứ ba thì cô không thể nào chịu nổi nữa. Cô tự nhủ với lòng là rõ ràng chàng khách lạ kia đã chính thức ngự trị trong con tim mình. Nó không như Tuấn, nhà nhiếp ảnh giang hồ trước đây, lần đó Hà Ni mới chỉ có cảm tình với anh ta, lâu lâu không thấy anh ta ghé thì nhớ nhớ, mong mong chứ không bồn chồn lo lắng như lần này với Phong.

Sáng sớm ngày thứ tư thì Hà Ni chủ động đi tìm anh lái xe thồ tên Tư Lương và đề nghị:

- Anh đưa giùm tôi tới đèo Đầu Voi và trở về đây kịp bán bữa trưa.

Tư Lương đoán biết ngay mục đích của cô, nên nhận lời ngay:

- Tôi sẽ chở cô đi, nhưng chỉ tới phía bên này dốc thôi, tôi không chạy qua bên kia.

Hà Ni thật sự chưa từng đi qua con đường quốc lộ 27 này, nên gật đầu:

- Chỉ cần anh đưa tới đó thôi, để tôi...

- Cô đi tìm anh chàng bữa trước phải không?

Hà Ni không muốn giấu:

- Anh ấy đi đã ba ngày rồi không thấy về. Mà tôi cũng quên hỏi anh: người đưa anh Phong đi hôm đó đâu rồi?

Tư Lương giật mình:

- Mấy hôm nay bận công chuyện nên tôi cũng quên hỏi nó xem hôm đó đưa cậu kia đi ra sao. Vậy cô lên xe đi, tôi chở đi tìm anh ta hỏi, rồi mình liệu mà đi tìm luôn.

Chạy một vòng chỗ các tay xe thồ hay đậu xe đợi khách, không tìm thấy Ba Long, Tư Lương ngạc nhiên bảo:

- Thằng này siêng lắm, ít khi bỏ cữ chạy xe, vậy mà hôm nay không thấy!

Anh ta hỏi một tay quen thì được trả lời:

- Nghe nói Ba Long đưa khách đi Bảo Lộc mấy hôm rồi chưa về, vợ con nó đang lo sốt vó ở nhà!

Hà Ni hốt hoảng:

- Có chuyện gì hay sao vậy?

Tư Lương cũng cuống lên, anh ta không đợi Hà Ni bảo cũng chạy thẳng tới nhà Ba Long. Vợ anh này vừa trông thấy Lương đã òa lên khóc:

- Anh có biết nhà tôi đi đâu không?

Hà Ni vụt hỏi:

- Mấy hôm nay anh ấy không về hay sao?

Thấy Hà Ni, vợ Ba Long ngạc nhiên, Tư Lương phải giới thiệu:

- Đây là cô Hà Ni, chủ quán cà phê ở dốc 30, mấy bữa trước cô ấy có nhờ Ba Long đưa giùm bạn của cô ấy đi đèo Đầu Voi, tới hôm nay bạn cô ấy cũng chưa trở về.

Vợ Ba Long càng hốt hoảng:

- Vậy nguy to rồi! Sao mấy hôm nay anh không nói cho tôi biết để đi tìm!

Chị giục đứa con lớn:

- Chở má tới chỗ đó ngay!

Hai chiếc xe phóng như bay tới đèo Đầu Voi. Hà Ni luống cuống không thua gì vợ Ba Long. Khi vừa tới nơi, trong lúc mọi người còn đang đứng từ trên cao nhìn xuống vực sâu thì Hà Ni đã đi đại xuống theo một lối mòn, khiến Tư Lương phải la lên:

- Không xuống kiểu đó được đâu!

Anh ta chặn một người qua đường lại hỏi thì người đó chỉ tay xuống vực sâu nói liền:

- Mới có một chiếc xe gắn máy lọt xuống đây cách mấy ngày, rồi sáng nay có người nói ở xóm rẫy phía dưới phát hiện mấy cái xác.

Vợ Ba Long gào lên:

- Trời ơi, ông ơi!

Hà Ni cũng cuống cuồng:

- Mình phải xuống dưới đó mới được!

Cô quên cả hiểm nguy tuôn xuống theo con đường mòn. Tư Lương chưa kịp ngăn lại thì vợ Ba Long cũng chạy theo. Có mấy người khách qua đường nhìn thấy, họ hét lớn:

- Không xuống bằng lối đó được, leo lên rồi đi vòng chỗ kia kìa!

Cũng may là họ chỉ kịp thời, chứ nếu không thì chỉ vài chục bước nữa thôi hai người đã gặp nguy, bởi đó là một vực sâu không có lối xuống, mà bên dưới cách hơn trăm mét là cây cao và đá lởm chởm.

Hơn nửa giờ sau, theo đường được chỉ, họ cũng xuống được bên dưới. Đó là một xóm nhà của đồng bào H'Mông. Vừa bước vào ngôi nhà đầu tiên ở cái xóm chừng hơn chục nóc nhà, Hà Ni đã kêu lên khi thấy người đàn ông đang ngồi xếp bằng giữa nhà:

- Kìa, ông là...

Đó là vị khách từng uống cà phê và chỉ đường cho Phong tới tìm nhà bà Dã Quỳ. Ông không ngạc nhiên khi thấy sự xuất hiện của Hà Ni, mà bình thản nói:

- Tôi biết sớm muộn gì cô cũng tới đây! Mà tới là phải và kịp lúc. Cậu ấy chờ cô tới để đưa về.

Một lần nữa Hà Ni kinh ngạc bởi ngay trước mắt cô là Phong đang nằm im như xác chết:

- Kìa, anh ấy có sao không?

Cô ngồi xuống ngay bên cạnh và đưa tay sờ lên ngực, lên mũi Phong, như cử chỉ của một người vợ. Rồi reo lên:

- Còn thở!

Ông thầy Tàu lên tiếng:

- Tôi tới chậm một bước là cậu ấy mất mạng rồi!

Thuận tay, ông chỉ vào túi áo của Phong:

- Cũng may nhờ có vật này.

Hà Ni móc ra đóa hoa Dã Quỳ khô, cô bảo:

- Chính cô gái con bà Dã Quỳ tặng cho anh ấy.

Ông thầy Tàu gật đầu:

- Ít ra thì bà ấy cũng đã làm được việc ấy.

Rồi ông đứng lên, giục:

- Cô nên đưa anh ấy về ngay đi. Có mấy người tôi đã nhờ, họ sẽ giúp cô đưa cậu ấy lên.

Chờ đợi nãy giờ mà không thấy chồng đâu, vợ Ba Long vụt hỏi:

- Chồng tôi đâu?

Không nhìn chị ta, ông thầy Tàu nói:

- Người lái xe thồ đã về nhà từ sáng sớm nay rồi, sao chị còn ở đó? Mau về mà lo cho sức khỏe anh ta đi. Anh ấy cũng may mắn nên mới thoát nạn. Phải nói là nhờ hồng phúc của cậu Phong đây.

Nghe vậy, chị ta không đợi Hà Ni, đã cùng con trai trở lên ngay, Tư Lương cũng lên theo. Lúc này ông thầy Tàu mới gọi riêng Hà Ni ra ngoài nhà, chỉ tay về phía một ngôi nhà sàn nhỏ nằm đơn độc ở một góc:

- Lúc nãy do có mặt người đàn bà kia nên tôi không tiện nói, còn bây giờ cô không vội đưa cậu Phong về đâu. Cậu ấy còn cần phải lưu lại nơi đây cho đến khi nào giải quyết xong chuyện với người trong ngôi nhà kia.

Hà Ni ngạc nhiên:

- Ai ở trong đó?

- Người mà trước sau gì cô cũng cần phải gặp. Nếu tôi nói đó là tình địch của cô thì cô có tin không?

Hà Ni càng bối rối hơn:

- Từ nào đến giờ tôi chưa có người yêu. Người có thể nói có chút liên hệ tình cảm với tôi thời gian qua là anh chàng nhiếp ảnh sống lang bạt, nhưng đó cũng chỉ là tình bạn không hơn không kém. Tuy nhiên, gần đây thì giữa tôi với anh ta cũng không còn liên hệ gì với nhau nữa. Vả lại anh ấy là người sống độc thân, như vậy làm sao có ai là tình địch của tôi được?

Ông thầy Tàu nghiêm giọng:

- Vậy mà có đó! Lại là tình địch mà nếu không giải quyết xong rắc rối giữa cô với cô ta thì cô sẽ còn khổ dài dài...

Ông nói xong lặng lẽ ngồi xuống ngay bên cạnh Phong, để cho Hà Ni lúng túng:

- Ông chỉ cho tôi bây giờ tôi phải làm sao?

Ông ta đáp cộc lốc:

- Cô hãy sang nhà đó gặp người cô cần gặp trước đã.

- Nhưng mà...

Ông thầy Tàu chừng như cố ý không nghe, nên ông nhắm nghiền mắt lại và ngồi bất động mặc cho Hà Ni hỏi gì ông cũng im lặng...

Chẳng còn cách nào hơn. Hà Ni đành phải một mình bước đến ngôi nhà kia.

Đầu óc cô hoang mang, chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra nên vừa bước đi mà trong lòng lo lắng, sợ hãi…

Tuy nhiên, khi bước hẳn vào bên trong ngôi nhà nhỏ ấy thì Hà Ni ngạc nhiên, bởi bên trong nhà không có ai. Một ngôi nhà trống, chỉ có một số vật dụng mà vừa thoạt nhìn Ni lại càng ngạc nhiên hơn, bởi đó là đồ dùng của phụ nữ, mà là phụ nữ người Kinh!

- Ai ở đây?

Nhìn bộ quần áo màu xanh ngọc còn mới, rất đẹp mắt treo trên vách, bên cạnh đó là chiếc nón vải của người thành thị. Hà Ni đoán chắc nơi này là chỗ ở của một cô gái không phải là cô gái người H' Mông. Ở một góc phòng còn có một cái rương bằng da còn mới, trên nắp rương có một khung ảnh.

Tò mò, cô bước lại gần và nhìn thấy ảnh một cô gái rất đẹp trong khung hình. Mắt Hà Ni mở tròn xoe khi đọc được dòng chữ viết khá bay bướm dưới góc ảnh: Phong Lan!

- Phong Lan! Người mà Phong đã kể...

Không kiềm chế được, Hà Ni vừa thốt lên thì chợt nghe từ phía sau lưng có người lên tiếng:

- Cô cũng biết tên tôi nữa sao?

Giật mình, Hà Ni quay lại nhìn và sững sờ, bởi người đang đứng trước mặt cô đúng là cô gái trong bức ảnh bán thân kia!

- Cô chưa trả lời câu hỏi của tôi!

Cô ta lặp lại câu hỏi khiến cho Hà Ni lúng túng:

- Tôi... tôi nghe...

- Phong đã kể cho cô nghe chứ gì! Anh ta dám đem chuyện riêng về tôi mà kể với người khác, rõ ràng lòng dạ anh ta không còn gì để nói nữa rồi!

Cô ta giận dỗi, bước đi thật mạnh, nhưng sao mà Ni không nghe động sàn nhà...

Cô còn đang ngạc nhiên thì đã nghe cô ta quát lớn:

- Cô muốn gì mà tới đây?

Cảm giác sợ hãi bỗng dưng biến mất, Hà Ni đáp gọn:

- Để gặp cô!

- Tôi sẽ giết chết bất cứ ai giành người tôi yêu! Tôi chờ và hôm nay cô dẫn xác tới đây tức là tự cô tìm lấy giây phút cuối của đời mình rồi đó!

Hà Ni không còn ngại, nên cô dám nhìn thẳng vào người đang nói chuyện với mình. Tuy nhiên, điều làm cô ngạc nhiên là tuy nghe tiếng nói, nhưng nhìn khắp chung quanh Hà Ni vẫn không thấy ai, ngoài những lay động nhẹ ở phía cửa sổ, như có người nào đang đứng đó và thở vào bức màn vải mỏng.

- Cô là...

Giọng sắc lạnh đáp ngay:

- Người không còn chân dung! Cô không biết sợ ma ư?

Tự dưng Hà Ni bạo dạn hẳn lên:

- Trước đây thì có, nhưng từ lúc này thì không. Cô biết tại sao không?

Đang ở thế là người chủ động tấn công, bỗng cô gái xưng mình là Lan kia đã có vẻ khựng lại và nhẹ giọng hơn:

- Cô nghĩ mình có ông thầy Tàu kia che chở sao?

Thật ra Hà Ni không hề nghĩ điều đó, tuy nhiên nghe cô ta hỏi, cô đáp liền:

- Có thể là như vậy! Hơn nữa, còn có Phong ở đây. Anh ấy chưa biết là người hay ma, nhưng tôi biết chắc đó là một người đàn ông chung tình, tốt bụng.

Giọng của Lan gắt lên:

- Anh ta không chung tình! Bởi nếu chung tình thì đã không bỏ đi và quen biết với cô trong lúc biết tôi bị nạn. Một người tốt thì sao lại bỏ người yêu của mình nằm dưới vực sâu này mà đi một mình?

- Cô nói anh ta đi đâu một mình?

- Thì đi tìm cô, gặp cô rồi khiến cô mò đến tận đây để tìm, trong lúc tôi đã thành ma, đã là một oan hồn đói lạnh ở chốn này!

Hà Ni vốn hiền lành, không thích đôi co tranh luận hơn thua với ai, nhưng cũng phải phá lên cười:

- Cô chỉ biết yêu và ích kỷ thôi, còn ngoài ra không hiểu gì về giá trị của tình yêu cả. Cô nói mình là một oan hồn mà đến việc người yêu của mình bị thương suýt chết, bị người khác mang xác đi bỏ đường bỏ chợ cũng không biết! Cô biết ai đã cứu anh ấy không?

Đến phiên Lan cất tiếng cười vang:

- Cô dám nói mình chính là người cứu lắm!

- Điều ấy đúng!

Câu nói này là của ông thầy Tàu. Ông ta xuất hiện lúc nào hai người đang tranh luận không hay biết. Hà Ni chưa kịp quay lại thì ông đã tới và càng ngạc nhiên hơn khi giọng nói của Lan kêu lên vẻ sửng sốt:

- Ba nói sao, cô này...

- Chính cô ấy đã cứu Phong, nếu không, cậu ta đã chết mất xác dưới vực sâu khác rồi! Bọn buôn lậu thuốc phiện, những kẻ hại con đã mang Phong đi tới chỗ của cô này và bỏ lại đó, nếu cô ấy không tốt bụng ra tay cứu thì Phong đâu còn mạng. Cũng vì cứu Phong mà suýt nữa cô ấy cũng mang họa lây, bởi bọn kia mượn bàn tay của thầy mo A Lúng ở rừng Yok Đôn, định biến cô này thành ma trành. Cũng may là có anh chàng người yêu cũ của cô ấy đã thế mạng...

Ông vừa nói tới đây thì Hà Ni thét lên:

- Chẳng lẽ Tuấn đã...

Ông thầy Tàu nhẹ lắc đầu:

- Thương cho cậu ấy, nhưng cũng là cái số. Bọn kia biết được anh chàng Tuấn đó đem lòng yêu thương cô nên đã dụ đưa cậu ấy về để cùng chịu chung số phận với cô, nhưng do cô chưa tận số, nên hôm đó chỉ có Tuấn là bị chết thôi. Tuấn chết mà cũng kịp liều mạng, kéo theo con ma nữ vốn là tay sai của lão thầy mo A Lúng cùng chết. Bởi vậy từ hôm đó cô mới được hiện hữu như ngày hôm nay. Chẳng qua...

Ông định nói gì thêm, nhưng bỗng dừng lại rồi im lặng, bước tới ngồi xếp bằng giữa sàn nhà. Giọng của Lan lại run run vang lên:

- Ba, ba không thương con gái mình sao? Ba...

Đến lượt Hà Ni ngơ ngác:

- Cô Lan là con của ông?

Ông thầy Tàu thở dài, trả lời với con trước:

- Nếu không thương con thì cha đâu đã lặn lội tới đây. Nếu không thương con thì cha đây suýt mất mạng vì con ma trành của lão thầy mo A Lúng! Con có biết là để cứu được Phong, cứu cô Hà Ni, đem họ tới được đây đâu phải chuyện dễ!

- Nhưng cô Hà Ni này sẽ...

Ông thầy Tàu chặn lời con:

- Cô này không có ý tranh giành gì người con yêu. Nhưng đây là duyên số. Cha làm nghề trừ tà ma, cha biết rõ chuyện này, kể cả sự vắn số của con. Hôm con cùng thằng Phong đi Ban Mê Thuột trên chuyến xe của mụ Hai Nương đó, cha không kịp cản ngăn, suýt nữa làm liên luỵ đến sinh mạng của Phong.

Lan la lên:

- Còn mạng của con thì cha để mặc phải không?

- Cha không để mặc, mà cha đành bó tay. Bởi số con đã tận, con không chết giờ đó thì vài giờ sau cũng chết!

Giọng của Lan khóc lên rấm rứt, cô cố gào lên:

- Vậy sao không để Phong cùng chết với con! Anh ấy yêu con mà...

Ông thầy Tàu lại thở dài, lần này nghe não ruột hơn:

- Thà như vậy mà tốt hơn, tránh một chuyện còn thảm khốc hơn là cái chết nữa. Con có biết Phong là gì của con không?

- Là người yêu của con chứ còn gì nữa!

- Nếu cha chậm một bước thôi là mọi chuyện đã hỏng hết rồi! Con và Phong chính là... anh em cùng cha khác mẹ với nhau.

- Ba!

Tiếng kêu thảng thốt của Lan làm cho Hà Ni cũng phải bàng hoàng:

- Ông nói... nói là...

Giọng của Lan đầy kích động:

- Ba... ba nói gì? Ba gạt con phải không?

- Con còn nhớ đêm hôm trước khi con bỏ trốn đi Ban Mê Thuột với thằng Phong cha đã rầy và đòi đánh con một trận nếu con không chấm dứt tình yêu với Phong không?

Giọng Lan nức nở:

- Con không ngờ ba nhẫn tâm chia lìa tụi con. Bởi vậy con và Phong mới quyết định bỏ đi Ban Mê Thuột. Tụi con tính chung sống ở đó vĩnh viễn.

Ông thầy Tàu cất giọng buồn thảm:

- Cha đã sững sờ khi hay tin con và Phong yêu nhau. Trước đó cha cứ nghĩ hai đứa chỉ là bạn. Vả lại hôm đó cha mới được biết Phong chính là giọt máu rơi của cha với một phụ nữ người dân tộc ở thôn Ea Rya.

Tự dưng Hà Ni kêu lên:

- Bà Leng? Bà Dã Quỳ!

Ông thầy Tàu gật đầu:

- Phải. Chính là bà ấy. Hồi xưa lúc đi làm rừng ở vùng đó, ta có yêu một cô gái Thượng tên là Ya Leng, có biệt danh là hoa Dã Quỳ. Ta có với cô ấy một đứa con trai, nhưng khi vừa sinh con ra thì do một tai nạn lở núi, bà ấy chết, ta cứ ngỡ là đứa con đó cũng bị chôn vùi theo với mẹ nó. Nào ngờ cách đây không lâu, ta được hồn bà ấy hiện về báo cho biết khi tai nạn xảy ra, đứa con không chết, nó được một người chạy xe khách đem về nuôi và nó đã lớn lên, tên là Phong. Bà ấy buộc ta phải ngăn chuyện yêu đương giữa hai anh em chúng lại và ta đã làm, suýt nữa không kịp...

Rồi ông quay sang phía có tiếng nói của Lan, hỏi giọng khẩn trương:

- Giữa con và Phong đã có gì với nhau chưa?

Lan đáp rất nhanh:

- Chưa! Tụi con chỉ yêu nhau với tình yêu trong trắng. Anh Phong là người đàng hoàng.

Có hai tiếng thở phào cùng lúc. Một là của ông thầy Tàu và của Hà Ni. Cả hai nở nụ cười mãn nguyện. Ông già nói giọng phấn khởi:

- Con vắn số thì có trời mới thay đổi được. Thôi, dẫu cha có thương con, nhớ con thì cũng phải chấp nhận. Giờ đây chỉ còn lại chuyện của thằng Phong và cô gái này...

Ông quay sang Hà Ni:

- Không phải tự dưng mà hôm đó bọn xấu chở xác Phong tới quán của cô đâu. Mà đó là do sự chỉ bảo của vong hồn bà Dã Quỳ.

Hà Ni thốt lên:

- Bởi vậy ngay sau đó bà ấy có mặt liền!

- Cho tới bây giờ bà ấy vẫn có mặt bên Phong, bên cô để ngăn chặn bọn kia hãm hại hai người. Tội nghiệp bà ấy...

Ông lại hướng về phía Lan:

- Cha không muốn đưa vong con về bên cha là bởi con cần ở đây một thời gian nữa. Nơi này từng xảy ra quá nhiều tai nạn, oan hồn uổng tử quá đông, con là người sẽ giúp hóa giải bốn âm khí, oan hồn nơi này, để bớt những cái chết đi. Rồi khi nào cha thấy được thì sẽ rước vong con về nhà ở Đà Lạt.

Có tiếng khóc nức nở của Lan...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
3. Quán Âm Hồn

Hai Nương bảo đứa đàn em:

- Mày ngừng lại chỗ cái quán bên đường kia, tao... mắc quá!

Lơ xe Ngố cười tít mắt:

- Bởi vậy nãy giờ xe cứ lết lên dốc thấy tội nghiệp! Cả xe ai cũng đầy bầu nên xe nặng lết không nổi cũng phải!

Đập lên lưng lơ xe một cái, mụ Hai Nương bước xuống nhanh, vừa quay lại dặn tài xế:

- Tranh thủ nghỉ một lát rồi tới Pleiku ăn cơm cũng kịp.

Mụ đi thẳng vào quán định đi vệ sinh nhờ, nhưng chủ quán chỉ ra sau:

- Ở phía kia.

Mụ Nương đi ra xa hơn vài chục thước, thấy có căn nhà nhỏ ở một góc thì bước đại vào. Nhưng mụ ta đã phải khựng lại, bởi đó không phải là nhà vệ sinh, mà là một cái miếu âm hồn.

Còn chưa kịp lùi ra thì bỗng như có ai xô mạnh một cái, làm cho mụ ngã chúi nhủi về phía trong, vô tình quỳ gối ngay trước bát nhang đang nghi ngút khói.

Còn đang lúng túng, định đứng dậy thì chợt nghe có một giọng nói vừa đủ nghe:

- Sao chưa lạy!

Mụ ta mọp ngay đầu xuống đụng đất và cứ thế lạy liền ba lạy. Khi ngẩng lên, bỗng mụ run rẩy kêu lên:

- Cô... cô là...

Trước mắt mụ ta đang có một cô gái ngồi xếp bằng trên chỗ bệ thờ. Tuy tóc cô ta xõa gần kín khuôn mặt, nhưng mụ Nương vẫn nhận ra, mụ lặp lại:

- Cô... cô sao lại ở đây?

Một tràng cười vang lên:

- Mụ không ngờ người bị mụ xô xuống vực Đầu Voi bây giờ lại ở đây? Mụ tưởng đổi địa bàn hoạt động, không cho xe chạy qua quốc lộ 27 nữa là sẽ không gặp lại oan gia sao!

- Tôi... tôi...

- Mụ nín! Nếu còn léo nhéo nữa thì ta cắt lưỡi liền! Mụ trả lời ta, tại sao hôm đó mụ xô ta xuống vực sâu, còn người yêu của ta mụ lại chỉ đánh cho nhừ đòn rồi kéo lên xe chở đi?

- Dạ... dạ tôi không có ý... tôi chỉ...

Mấy cái tát liền khiến cho mụ ta xiểng liểng, suýt ngã chúi đầu tới trước.

Giọng mụ thất thần:

- Tôi chỉ...

- Phải nói thật ra thì còn mong toàn mạng, bằng không thì...

Mụ Hai Nương bình sinh hung ác, miệng lưỡi có gai có góc, vậy mà giờ đây mềm như bún:

- Dạ... chỉ vì tôi... giận cô đã cướp thằng Phong, nó vốn là người mà ba tôi nuôi nấng từ nhỏ. Phong là người mà tôi kỳ vọng sẽ nối nghiệp nhà tôi mà kinh doanh...

- Láo! Phong là người tốt, anh ấy có mang ơn nuôi dưỡng của mấy người, nhưng từ khi trưởng thành, anh ấy biết cái nghề buôn lậu hàng quốc cấm của mấy người là phạm pháp, nên đã có ý định ra khỏi nhà mấy lần. Anh ấy đã thề là sẽ không bao giờ dính tới chuyện làm ăn nguy hiểm đó nữa. Vậy mà mấy người đã nỡ nhẫn tâm hại anh ấy. Còn tôi, chỉ là người vô can, tại sao mấy người giết tôi?

- Chẳng qua tôi chỉ... tôi chỉ lỡ tay mà thôi. Vả lại...

- Vì sợ tôi tố cáo mấy người chứ gì! Mà có sợ thì cũng có thoát được đâu! Tôi nói cho mà biết, bắt đầu từ hôm nay hãy liệu mà bỏ nghề đi, nếu không sẽ hối không kịp!

Lời đó vừa dứt thì có một cụm khói xanh bốc lên từ chỗ cô gái ngồi rồi... sau đó mất dạng! Mụ Hai Nương sợ thất thần:

- Cô... cô Lan!

Mụ đã nhớ ra rồi, cô gái này là người yêu của Phong, đã bị chính mụ ta xô ngã xuống vực sâu hôm đó, vì nghĩ rằng cô ta là nguyên nhân khiến Phong mê muội tính bỏ nhà đi. Vậy mà sao cô ta lại ở đây?

Mụ chợt nhận ra, kêu thét lên:

- Ma! Bớ người ta!

Mụ tức tốc chạy ra khỏi miếu. Khi vào tới nhà, mụ còn chưa hoàn hồn, chỉ thều thào với chủ quán:

- Ma! Ma ngoài kia...

Bà chủ quán gắt lên:

- Ma cỏ gì ở đây!

Mụ Hai Nương chỉ ra cái miếu:

- Ngoài miếu có... có ma.

Tuy bực mình nhưng bà chủ quán cũng bước ra xem. Bà trở vào la lớn:

- Chị này vô duyên, đó là cái miếu thờ thổ địa của đất này từ bao đời nay, ma quỷ gì trong đó!

- Ma... tôi thấy ma.

Rồi mụ ta chạy một mạch ra xe, giục mấy đàn em:

- Đi nhanh lên.

Chẳng hiểu sao, mụ ta bảo tài xế quay đầu về hướng quốc lộ 27, thay vì chạy theo hướng Kontum, Pleiku.
 
***

Chỉ một tuần sau. Tại chân đèo Đầu Voi, chỗ khúc cua nguy hiểm nhất, trước khi các xe leo đèo và đổ dốc, người qua lại thấy mọc lên một cái quán khá khang trang. Chủ quán trực tiếp đứng bán chính là... mụ Hai Nương!

Lúc đầu người qua lại ngạc nhiên và hơi ngỡ ngàng, nên hay ghé quán. Tuy nhiên chỉ mấy ngày sau thì lời đồn lan mạnh:

- Mụ Hai Nương mở quán miễn phí trong tháng đầu tiên, sau đó chỉ lấy bằng năm mươi phần trăm giá các quán khác!

Lời đồn đó quả không sai. Khi khách ghé quán tháng đầu, dẫu cho ăn uống thứ gì cũng được miễn phí.

Mụ Hai Nương tuyên bố:

- Trước đây tôi làm nhiều điều không phải, nay sám hối, muốn mọi người cảm thông, tha lỗi...

Quán mụ ta nhờ vậy ngày càng đông khách. Đặc biệt, những xe dừng lại nghỉ ngơi ở đó đều có chung nhận xét:

- Mở quán ngay chỗ này thật là thuận tiện cho cánh chạy xe chúng tôi. Bởi tới đây nghỉ ngơi trước khi lên đèo và xuống dốc, nhờ được tỉnh táo, nên sẽ không xảy ra tai nạn.

Lời nói đó rất đúng. Từ lúc có cái quán thì tai nạn giảm hẳn. Mà khu vực hoang vắng đó cũng trở nên đỡ lạnh lẽo hơn.

Đặc biệt hơn, quán đông khách hơn nữa khi về đêm. Điều nay chưa từng xảy ra, bởi xưa nay dân buôn ít khi qua đoạn đường này vào ban đêm, bởi đường không an toàn và thường có những vụ trấn lột. Vậy mà bây giờ hầu hết xe cộ lại thích đi đêm qua đây, được ghé quán nghỉ ngơi, đôi khi còn được lai rai vài thứ đặc sản thú rừng do đầu bếp riêng của quán nấu.

Lâu dần tiếng tốt đồn xa, ai cũng thích ghé quán tên là Hai Nương đó...

Cho đến cuối năm, khi tình cờ đi ngang qua đó, Hà Ni và Phong, lúc ấy đã thành vợ chồng, họ ghé vào quán nghỉ chân. Vào chiều cuối năm, lại vào giờ xế nên quán vắng khách. Chỉ có đôi vợ chồng trẻ nên họ gọi thức uống được phục vụ rất nhanh.

Uống một ngụm cà phê, Hà Ni khen:

- Cà phê này không thua cà phê Tùng ở Đà Lạt!

Phong cũng xác nhận:

- Đúng là ngon. Phân nửa giống hương vị cà phê của Ban Mê Thuột.

Hai người đang muốn đi sau khi uống xong cà phê, nhưng bỗng người phục vụ quán bưng ra mấy dĩa thức ăn còn nghi ngút khói và nói:

- Chủ quán chúng tôi mời hai cô chú. Xin cô chú cứ dùng, quán chiêu đãi, không tính tiền.

Phong vội nói:

- Không phải là chuyện tiền nong, mà do chúng tôi phải vội đi.

Bỗng có một giọng trong trẻo cất lên từ phía trong:

- Nỡ từ chối lời mời của người bạn cũ sao?

Phong quay lại và giật mình khi thấy một cô gái rất đẹp bước ra:

- Ngọc Lan!

Hà Ni nghe chồng gọi tên Lan cũng sửng sốt:

- Đây là...

Cô gái chủ động lên tiếng:

- Lan mà cô từng gặp dưới vực sâu hôm đó, nhưng nay mới nhìn được dung nhan. Chào cô dâu mới xinh đẹp!

Phong chưa hết bàng hoàng thì từ trong nhà có một người nữa bước tiếp ra theo. Lần này Hà Ni lại kêu lên:

- Bà Dã Quỳ!

Phong đã nghe cha mình thuật lại mọi chuyện, nên lúc này anh như trong cơn mơ:

- Bà là... Mẹ!

Bà Dã Quỳ nén xúc động, đứng từ xa, kêu lên:

- Con!

Vừa khi ấy, chợt bên ngoài có một chiếc xe khách dừng lại, có khá nhiều người bước vào. Điều đó khiến cho cả Lan và bà Dã Quỳ vội rút vào trong mà chưa kịp nói hết lời, Phong định bước theo, nhưng chân anh như bị ai kéo lại, không bước được bước nào. Hà Ni nhạy cảm hơn, cô nói khẽ:

- Không gặp được họ đâu. Anh không nhớ họ đã chết rồi sao? Họ là... oan hồn!

Lúc ấy khách vào khá nhiều, những người phục vụ ra lo cho khách. Phong có hỏi nhưng họ đều đáp:

- Ở đây không có ai ngoài chúng tôi.

Họ thẫn thờ ngồi lại rất lâu. Thậm chí khi mấy lượt khách vào rồi ra mà bóng dáng của hai người kia vẫn chẳng thấy tái xuất hiện. Đến lúc mụ Hai Nương ra và nói:

- Những gì cô cậu nhìn thấy chỉ nên để bụng thôi. Rồi sau sẽ hiểu!

Phong muốn hỏi chuyện thêm với người đã từng cưu mang mình, nhưng mụ Nương hình như muốn tránh, cứ lăng xăng lo cho khách mà không hề ngồi lại với Phong.

Sau này nhiều người đồn rằng cái quán của mụ Hai Nương là... quán âm hồn.

Bởi có những đêm họ đi qua thấy quán vắng, không có ai phục vụ, nhưng hễ ghé vào gọi thức ăn thì lập tức được dọn lên mau lẹ.

Tuy là vậy, nhưng chẳng hiểu sao thiên hạ vẫn cứ ghé quán mà không hề sợ hãi. Hỏi thì có người bảo:

- Ma cỏ gì, miễn phục vụ tốt là được rồi!

Riêng Hà Ni và Phong thì tin chắc điều mình chứng kiến là thật. Họ bảo nhau:

- Có thể sự hối cải của mụ Hai Nương đã khiến cho những oan hồn ở đèo Đầu Voi cảm động và giúp mụ thành công khi mở quán...

Chính Phong và Hà Ni còn nhiều lần trở lại quán ấy, nhưng họ không hề gặp lại bà Dã Quỳ và Ngọc Lan...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-04-18 15:47:10Soccon>
OAN HỒN MẸ CON

1. Cuộc Hội Ngộ

Lần dọn nhà này đã là thứ ba, chỉ trong vòng hai năm. Mà đâu chỉ dọn gọn nhẹ, đằng này mỗi lần dọn là cả một khối gia tài khổng lồ. Dọn nguyên cả một ngôi biệt thự!

Có người thắc mắc, chẳng hiểu tại sao ông chủ nhà trẻ tuổi có cái tên nghe như người nước ngoài Robert Lý này lại hay thay đổi nhà như vậy? Câu hỏi thắc mắc đó chỉ được giải đáp khi chính người tài xế lâu năm của ông ta là Tư Tài tiết lộ rằng, sở dĩ chủ mình chuyển nhà hoài cũng chỉ vì... chứng mất ngủ!

Tại sao một người quá giàu có như ông ta lại khó ngủ, trong khi đó là bệnh của những người nghèo, những người phải tất bật với trăm công ngàn việc, phải suy nghĩ tính toán mưu sinh?

Cũng chính tài xế Tài có lần đã nói:

- Chẳng hiểu sao ông chủ tôi cứ nửa đêm là thức trắng tới sáng, và mỗi lần như vậy thì ông thường bắt mọi người trong nhà phải bật đèn sáng hết tất cả các phòng ốc trong nhà. Hỏi tại sao thì ông ta không nói mà chỉ gầm thét rất dữ mỗi khi ai đó không nghe lời, không làm đúng ý ông ta!

Robert Lý là một đàn ông tuổi còn trẻ, chứ chưa phải là một ông cụ lẩm cẩm, khó tính, vậy mà đã có một thói quen kỳ lạ như vậy, ắt phải có nguyên do.

Tuy nhiên, ngoài những tiết lộ hiếm hoi của tài xế như vậy, chẳng một ai khác biết được gì thêm. Mà cũng khó mà biết được, bởi ngoài anh tài xế nói ra ít ỏi những điều đó rồi ngậm miệng, có cho vàng anh ta cũng không nói thêm, còn những người giúp việc khác trong nhà hầu như trước sau gì cũng bị cho nghỉ việc.

Ông chủ vốn độc thân từ lúc mọi người được biết ông như một người thích chuyển nhà như thay quần áo!

Ngôi biệt thự nằm trong khu đất rộng hơn nửa mẫu tây này có tiếng là đẹp và sang trọng. Đã nhiều người trước ông Robert Lý này muốn mua mà không mua được, tại người bán nói giá quá cao, vậy mà khi ông ta vào coi, chỉ hỏi giá, sau đó ông ta ký tờ chi phiếu trả tiền ngay, không đắn đo suy nghĩ.

Ông ta mua nhà giống như mua món hàng vài ngàn đồng. Khi dọn về ở, việc đầu tiên ông ta làm là sai tài xế Tài đi rước một ông thầy địa lý gốc từ Hồng Kông sang, khá nổi tiếng trong giới người Hoa ở Chợ Lớn. Ông thầy địa lý đó được chủ nhân yêu cầu có một điều:

- Nhà này tôi ưng ý hầu hết các chi tiết về xây dựng, không phải sửa đổi điều chi hết, chỉ yêu cầu ông trấn yểm thế nào cho yên ổn, nhất là để ban đêm cho nhà bớt lạnh!

Lời yêu cầu khá kỳ quặc, vậy mà ông thầy địa lý lại nhận lời ngay. Ông ta còn quả quyết:

- Chứng mất ngủ của ông cũng sẽ chấm dứt từ nay!

Robert Lý có vẻ hài lòng lắm, anh ta thưởng trước cho ông thầy địa lý một số tiền lớn, coi như vừa nhận được từ ông thầy này một ân huệ gì đó lớn lắm!

Đó là đêm thứ ba Lý dọn về ở trong ngôi nhà đắt tiền của mình. Anh ta thật sự hài lòng, bởi rõ ràng như lời cam kết của ông thầy địa lý, hai đêm rồi Lý ngủ yên giấc, lại ngủ giấc dài, không mộng mị, không giật mình lúc nửa đêm.

Ông ta quá đỗi vui, gọi tài xế Tài tới và dặn:

- Từ nay cậu không phải thức chờ lệnh mở đèn sáng như trước kia nữa. Tôi có thể ngủ trong bóng tối được rồi...

Đêm nay Lý đi ngủ khá sớm, lúc chưa đầy mười giờ. Đèn ngủ trong phòng ông cũng tắt hết, chứng tỏ ông ta đã bình yên, ngủ ngon...

Cho đến nửa đêm hôm đó...

- Tư Tài hả? Sao giờ này mày còn chưa ngủ, mà...

Hỏi tới đó thì ông Lý bật dậy, bởi ông cảm giác người bước qua cửa sổ ngoài không phải là Tài. Một người có mái tóc dài đang phất phơ trước gió...

- Ai vậy?

Sau câu hỏi của ông Lý thì chợt vang lên một âm thanh va chạm, giống như vật gì đó vừa ngã đổ. Hốt hoảng, ông Lý hỏi to:

- Sao vậy?

Ông không kịp suy nghĩ, đã tung cửa chạy ra nơi vừa phát ra tiếng động. Quả nhiên trước mặt ông là một người đang nằm sóng soài trên sàn: một phụ nữ với mái tóc dài!

Không có đèn sáng, nhưng do trời có trăng, nên Lý cũng đã nhận ra người nằm kia là một phụ nữ còn khá trẻ. Ông hơi lưỡng lự một chút, rồi bằng phản xạ tự nhiên ông luồn tay qua thân thể cô gái đỡ dậy, vừa lẩm bẩm:

- Sao lại đi đâu vào giờ này?

Rồi một cách tự nhiên, Lý bế xốc nạn nhân vào phòng mình. Và thay vì gọi tài xế Tài, ông ta lại tự tay mình đặt cô gái lên giường. Khi bật đèn sáng lên, ông ta càng kinh ngạc hơn khi nhận ra đó là một cô gái trẻ, lại đẹp như tranh vẽ.

- Cô ta là ai?

Lý tự hỏi, cũng vừa lúc cô gái trở mình, mở mắt ra và thảng thốt kêu lên khẽ:

- Đây là...?

Lý trấn an:

- Tôi là chủ nhân ngôi nhà này. Vừa rồi nghe cô bị ngã bên ngoài nên tôi mạn phép đưa vào đây.

Cô gái bật dậy, nhưng choáng váng suýt ngã, Lý phải đưa tay đỡ và lên tiếng:

- Cô cứ nằm cho khỏe hẳn đã!

Cô gái đưa cả hai tay ôm lấy ngực như muốn che giấu điều gì. Lúc này Lý mới để ý, ngực áo cô ta bị rách toạc một mảng lớn mà lúc nãy do vội nên ông không để ý.

Bằng một động tác thật nhanh, Lý lấy vội chiếc áo khoác của mình đang để ở đầu giường rồi trùm lên người cô ta kèm lời trấn an:

- Cô đừng ngại, nhà này ngoài tôi ra còn có tài xế đang ngủ gần đây. Cô cứ nghỉ ngơi cho khỏe rồi cần về thì tôi gọi tài xế đưa về. Tôi tên Lý!

Cô gái có vẻ bình tĩnh hơn, cô nói rất khẽ:

- Em là Mỹ Nhung. Em...

- Thôi được rồi, cô chưa cần nói gì đâu, cứ nghỉ ngơi đi đã. Để tôi pha ly chanh nóng cho cô uống sẽ ấm người. Có vẻ cô bị lạnh.

Cô ta vẫn còn run, nhưng sau khi được choàng chiếc áo khoác thì có vẻ đỡ hơn. Cô hơi ngại muốn rời khỏi giường, nhưng Lý đã kịp lên tiếng:

- Không sao cả, cô cứ ngồi đó.

Nhưng cô gái đã chủ động chuyển qua ngồi trên một trong hai chiếc ghế dựa trong phòng, vừa áy náy lên tiếng:

- Thật làm phiền ông quá. Tôi đi lạc...

- Sao cô lại lạc vào nhà này, trong khi cổng ngoài đã khóa và tường rào bao quanh ngôi nhà khá cao?

- Dạ... em bị người ta truy đuổi. Chỉ vì em... nhìn thấy một vụ... giết người!

Câu nói khiến Lý sửng sốt:

- Cô nói ai giết người? Giết ở đâu?

Đưa tay chỉ ra ngoài, cô gái giọng vẫn còn thất thần:

- Ngoài kia, ở xóm nhà bên ngoài...

Rồi cô ta giải thích rành rọt:

- Nhà em ở cạnh tường rào nhà này, lúc nãy em đang ngủ thì nghe có tiếng người kêu cứu bên ngoài, em mở cửa bước ra thì vừa lúc chứng kiến một người đàn ông đang vung dao chém một người khác. Em hoảng quá liền la lên, thế là hung thủ quay qua đuổi em, có lẽ hắn ta sợ bị lộ hành vi giết người của mình! Em quýnh quá nên leo vội lên gốc cây cạnh tường và... nhảy đại vào vườn nhà này. Em cố chịu đau và bò lê tới đây.

Lời giải thích khá hợp lý nên ông Lý không hỏi thêm, ông muốn hỏi xem cô gái có bị thương chỗ nào không, nhưng thấy cô vẫn còn lấy tay ôm ngực, nên không tiện hỏi. Chợt nhìn thấy một dòng máu thấm qua kẽ tay cô, Lý hốt hoảng:

- Cô bị thương rồi!

Cô gái không đáp, vừa nhích tay ra khỏi chỗ bả vai thì ngã phịch xuống sàn nhà! Hốt hoảng, Lý đỡ cô và một lần nữa đưa trở lại giường. Lần này cô gái ngất đi hẳn...

Đồng hồ trên tường lúc ấy đổ một tiếng khô khan...
 
***

Định thức canh cho cô gái ngủ sau khi chính mình băng vết thương trên bả vai cô ta, nhưng cuối cùng Lý cũng ngủ thiếp đi. Đến lúc choàng tỉnh thì nghe bên ngoài có tiếng gọi khá to của tài xế Tài:

- Ông chủ ơi, trưa quá rồi! Hôm nay ông có dặn là mình đi sớm lên vườn cao su thăm người bạn của ông ở Tây Ninh mà!

Lúc này Lý mới chợt nhớ, ông nhìn lên giường và hốt hoảng khi không thấy cô gái nằm trên đó:

- Đâu rồi?

Từ bên ngoài, Tài tưởng ông chủ hỏi mình nên vội lên tiếng:

- Ông nói cái gì đâu rồi?

- Cô... à không không, tao nói...

Ông mở cửa phòng, ngơ ngác hỏi:

- Mày có thấy ai ngoài này không?

Tài ngẩn người ra:

- Đâu có ai!

Sợ Tài phát hiện ra những bất thường trong phòng, Lý bảo:

- Thôi, mày ra ngoài chờ đi, tao sửa soạn một chút cái đã!

Trở vào nhìn lên giường, ông phát hiện trên gối nằm có mấy chữ viết vội bằng son môi:

"Cám ơn anh đã cho nghỉ ngơi và săn sóc vết thương. Em có việc phải về nhà gấp, hẹn sẽ có dịp đền đáp công ơn.

Mỹ Nhung."

Lý ngẩn ngơ mấy giây rồi đưa mắt nhìn ra phía sau vườn, nơi có bờ tường cao ngăn với xóm nhà bên ngoài. Ông suy nghĩ một lúc rồi hỏi tài xế Tài:

- Mày có biết xóm nhà phía sau vườn mình không?

Tài gật đầu:

- Dạ, có biết. Nhưng em chưa qua đó lần nào từ khi ông dọn về đây.

- Đưa tao qua đó!

Tài ngạc nhiên:

- Thưa ông...

Lý không để cho Tài hỏi thêm, đã bước nhanh ra sau vườn.

- Ủa, sao ông đi lối này?

- Tao muốn!

- Bộ ông muốn leo qua tường sao? Tốt hơn..

Tuy không có ý định đó, nhưng Lý cũng muốn tận mắt nhìn xem lời kể của cô gái có đúng hay không, nên giục Tài bước tới tận bờ tường. Sẵn có thang leo hái trái để gần đó, đích thân Lý trèo lên và nhìn sang bên kia. Quả nhiên có một cây mít to. Cành của nó giẻ qua tận bờ tường. Lý thầm bảo:

- Cô ta nói đúng...

Rồi anh cùng với Tài đánh xe vòng qua bên xóm nhà. Đến lúc này Lý mới hơi lúng túng, anh chẳng biết phải hỏi thế nào cho phải, bởi cô nàng và anh chỉ mới quen biết nhau qua một giây phút ngắn ngủi...

Cũng may, vừa khi ấy có một ông cụ từ trong ngôi nhà sát bờ tường bước ra, ông nheo mắt hỏi khách lạ:

- Mấy chú kiếm ai?

Lý vội đáp:

- Dạ... cháu muốn tìm cô Mỹ Nhung.

Ông già nhìn sững vị khách sang trọng rồi lặng lẽ quay bước vào trong, buông một câu mời:

- Mời anh vào nhà.

Lý để Tài ngồi ngoài xe, còn anh theo vào trong. Thấy nhà vắng người, lại không có tăm hơi gì của cô gái, Lý vừa định lên tiếng hỏi thì ông cụ đã nói:

- Anh cần gặp cháu tôi có việc gì?

- Dạ, cháu...

- Anh chưa cho tôi biết, anh quen thế nào với cháu gái tôi?

- Dạ, cháu và cô Mỹ Nhung chỉ mới quen. Cháu muốn hỏi thăm vết thương trên vai của cô ấy đã đỡ chưa ạ!

Ông cụ giật mình:

- Nó bị thương sao?

Lý ngạc nhiên:

- Vậy cô ấy chưa về nhà sao? Cô ấy...

Ông cụ chợt đổi giọng:

- À không... Tôi muốn hỏi, anh là người cứu cháu phải không?

Lý thở phào:

- Dạ, cũng gần như vậy. Cháu muốn biết bây giờ cô ấy có khỏe không?

Ông cụ nhẹ gật đầu:

- Nó không sao!

- Thưa ông, cô ấy...

- À, nó hiện không có ở nhà. Tối qua có lẽ nó về bên nhà nội nó...

- Dạ, bác đây là...

- Tôi là ông ngoại. Cháu nó ở đây với tôi từ khi ba má nó vắn số đến nay.

Lý nhìn lên tường thấy có bức chân dung của Mỹ Nhung khá to treo cạnh một phụ nữ lớn tuổi mà vừa thoạt nhìn Lý đã ngờ ngợ, hình như quen quen...

Anh chưa kịp hỏi thì ông cụ đã nói:

- Cháu uống nước đi!

Ông thấy Lý cứ nhìn lên mấy bức ảnh trên tường thì nói:

- Nó và mẹ nó lúc còn sống.

- Dạ... bà ấy có phải là bà Thu Hà?

Ông cụ ngạc nhiên:

- Cậu biết con gái tôi?

- Dạ, nếu đúng đó là bà Thu Hà thì cháu có biết. Trước đây bà và ba má cháu có quen.

- Vậy cậu là con ai?

- Dạ, ba cháu là thầu khoán Lê Khả.

Ông cụ trợn tròn mắt nhìn Lý khá lâu rồi reo lên:

- Quả là trái đất tròn! Tôi có biết ba cậu. Ngày xưa...

Ông chợt khựng lại và rồi nín lặng, tinh ý lắm mới nghe ông thở dài. Rót tách trà nóng mời Lý uống, ông vừa nhìn đồng hồ tay rồi nói:

- Xin lỗi cậu, tôi có việc phải ra chợ. Hôm nay là ngày giỗ của con gái tôi.

Lý vội vã:

- Dạ xin lỗi bác, cháu làm phiền bác quá.

Anh kiếu từ và ra xe giục tài xế:

- Mình về thôi.

Tài mở khóa xe, nhưng sau mấy lần khởi động xe vẫn không chạy được. Lý càu nhàu:

- Đã dặn nhiều lần rồi, phải chăm sóc xe cẩn thận...

Tài lúng túng:

- Thưa ông, em mới chỉnh lại xe hôm qua, nó còn ngon lành mà.

- Coi lại xăng thế nào!

- Dạ, em mới đổ chiều hôm qua, còn đầy bình.

Lúc ấy, Lý thấy ông cụ đạp chiếc xe đạp đi qua, trên xe máng cái giỏ đi chợ.

Anh lại giục:

- Người ta đi xe đạp mà còn nhanh hơn mình kìa!

Xe chưa kịp nổ máy thì chợt Lý phát hiện có một nghĩa trang nhỏ phía sau ngôi nhà, anh bảo với Tài:

- Hóa ra nhà mình ở cạnh một nghĩa địa mà lúc mua mình không để ý.

Tài đã nhìn thấy lúc đậu xe chờ, anh ta nói với ông chủ vẻ thân tình:

- Đây là nghĩa địa riêng, chỉ có vài ngôi mộ thôi. Không chừng của nhà này đó cậu.

Tự dưng Lý thấy tò mò, anh bảo:

- Mày ráng nổ máy đi, để tao ra coi.

Anh bước nhanh ra phía sau nhà như bị một điều gì đó xúi giục, không thể cưỡng được. Ngôi mộ đầu tiên anh nhìn thấy đã làm cho hai mắt hoa lên, anh phải dụi hai lần và ghé sát hơn vào bia mộ: "Mộ chí Nguyễn Thị Mỹ Nhung."

- Cái gì?

Lý không tin vào mắt mình, anh cúi hẳn xuống nhìn và trong lúc còn bàng hoàng thì chợt nghe có giọng nói phía sau:

- Đây là chị em sinh đôi, trùng tên với cháu nó.

Quay lại thấy ông cụ lúc nãy vừa trở về, Lý lúng túng nói:

- Dạ, xe cháu chết máy, nên cháu...

- Cậu tò mò vì cái tên trên mộ bia phải không?

- Không phải là nó mà là đứa em nó, trùng tên.

Lý nghe tim mình đập nhẹ đi và anh thở phào:

- Vậy mà cháu cứ tưởng...

Vừa khi ấy, tài xế gọi vọng vào:

- Nổ máy được rồi cậu ơi!

Lý vội chào ông cụ rồi bước ra xe ngay, sợ ông già hỏi thêm. Anh cũng chẳng hiểu sao mình như vậy nữa.

Khi xe chạy rồi anh mới hỏi Tài:

- Mày có gặp trường hợp hai chị em trùng tên bao giờ chưa?

Tài đáp ngay:

- Có chứ cậu. Như ở quê em, hai đứa đều tên là Lài, nhưng một đứa là Lài chị, còn đứa kia là Lài em.

- Nhưng một người sống một người chết, mày đã gặp chưa?

- Dạ chưa. Mà ai vậy cậu?

- Nhà đó đó. Cô chị tên Mỹ Nhung mà em cũng cùng tên, cô chị sống, cô em chết.

Tài nhìn sang cậu chủ:

- Bộ cậu quen ai trong hai cô sao?

Lần đầu tiên Lý lúng túng trước tài xế của mình:

- À đâu có!

Tài lờ mờ đoán ra chuyện gì đó nhưng không dám hỏi. Anh chỉ hỏi khi xe ra tới ngoài đường cái:

- Mình có đi Tây Ninh không cậu?

Lý nhìn đồng hồ tay rồi đáp:

- Thôi khỏi, mình về nhà.

Vừa về tới nhà, Lý đã đi ngay vào phòng riêng và vừa mở cửa ra anh đã suýt kêu lên, bởi trên giường của anh đang có người nằm. Mà người đó không ai khác hơn là Mỹ Nhung!

- Sao cô lại ở đây?

Cô gái nhoẻn miệng cười rất tươi, khác hẳn vẻ tiều tuỵ đêm qua:

- Dạ, em không ra ngoài được.

- Vậy ra từ đêm qua đến giờ cô vẫn còn ở trong nhà này? Mà sao sáng nay...

- Em tính không làm phiền anh nữa nên định trở ra bờ tường để trèo về bên kia, nhưng em vừa trèo thì bị ngã, em nằm ngất đi ở bụi cây.

Lý hốt hoảng:

- Cô bị ngất suốt từ đó ư?

Cô gái bẽn lẽn:

- Em tỉnh lại sau đó, nhưng khi vào đây thì anh đã đi ra ngoài rồi.

- Vậy sao cô vào phòng tôi được?

- Anh đi mà đâu có khóa cửa phòng, nên em vào đại. Bởi em nghĩ, không quen ai trong nhà này, vậy cách an toàn nhất là vào phòng người em từng làm quen đêm qua cho chắc ăn!

Một lần nữa, Lý bị thuyết phục bởi cách nói năng lưu loát của cô gái trẻ, anh nhìn cô ái ngại:

- Vết thương cô sao rồi?

Cô gái cười hồn nhiên:

- Ngất đi một lúc lâu, khi tỉnh lại thì hầu như vết thương không còn đau nữa. Cám ơn anh!

Lý cau mày:

- Cô bị nhốt trong nhà tôi mà lại cám ơn tôi là sao?

- Là vì... nếu trở về sớm thì chắc chắn em sẽ no đòn với ông ngoại. Ông ngoại em thương em, nhưng bỏ nhà đi qua đêm là không được.

- Nhưng tối qua cô nói là bị bọn người xấu đuổi theo mà? Vả lại, đâu có nghe ông ngoại cô nói gì chuyện rầy rà...

Nghe Lý nói, cô gái trố mắt nhìn anh:

- Sao anh biết? Bộ anh...

Lý đành thú nhận:

- Tôi xin lỗi vì đã phải sang tận nhà cô để hỏi thăm. Bởi cô biến mất đột ngột khiến tôi lo lắng.

Cô gái cất giọng dò hỏi:

- Anh gặp ai trong nhà?

- Thì ông ngoại cô và cả...

Lý ngừng nói, nhìn cô gái vài giây mới tiếp lời:

- Thấy cả ngôi mộ mang tên cô nữa!

Câu nói đó khiến cô nàng bật dậy liền. Nhưng Lý lại nói luôn:

- Ngôi mộ mang tên Mỹ Nhung, nhưng ông ngoại cô nói đó là người em song sinh trùng tên.

Cô nàng ngồi xuống giường, sắc mặt giãn ra.

- Đúng thế chứ, cô Mỹ Nhung?

Lần đầu tiên nghe anh gọi chính tên mình, cô nàng hài lòng:

- Anh không ngạc nhiên khi em không phải là người nằm dưới mộ?

Câu hỏi hơi bất ngờ khiến Lý phải mất vài giây mới đáp:

- Tôi đi tìm cô là tìm người còn sống, chứ đâu muốn nhìn ngôi mộ!

Cô nàng vụt đứng lên định bước ra thì Lý gọi lại:

- Cô nói là sợ về bị ăn đòn sao bây giờ lại về?

- Anh đã thấy ông ngoại em đi chợ rồi phải không? Như thế là ổn, em chỉ việc về nhà nấu cơm sẵn, đợi ông mang thức ăn về là ông sẽ vui ngay, không rầy và chắc chắn là không đánh.

- Dẫu cô cháu gái ông bỏ nhà đi qua đêm?

Mỹ Nhung hơi khựng lại, rồi bất ngờ nói:

- Hay anh đưa em về giúp, được không?

Lý rùn vai:

- Về và thú nhận là đã bắt cóc cháu gái ông để ăn đòn thay cô hả?

Nàng không chú ý đến nội dung câu hỏi, vẫn giục Lý:

- Anh đã giúp thì giúp cho trót đi!

Lý gọi tài xế:

- Cậu đưa giùm cô này về nhà, chỗ tôi và cậu mới vừa sang đó.

Tài ngơ ngác khi chưa nhìn thấy cô nàng:

- Cô nào, thưa cậu?

- Cô đang ở trong phòng tôi.

Tài sửng sốt:

- Cậu.. cậu có... ai trong phòng?

Lý gắt:

- Bảo thì cứ làm, hỏi lôi thôi làm gì!

Chợt bên trong giọng của Mỹ Nhung vọng ra:

- Phải anh đưa thì em mới về, còn không thì em... ngủ ở đây luôn!

Quá bất ngờ, Tài lè lưỡi rụt cổ như ngầm bái phục ông chủ của mình. Biết anh ta hiểu lầm, Lý lại gắt lên:

- Đừng nghĩ lung tung! Mau đưa xe ra cửa đi.

Tài chạy xe ra cổng đợi, lát sau Lý cùng ra với người đẹp. Vừa chợt nhìn thấy, Tài đã kêu lên:

- Cậu, đây là...

Lý phải đập vào vai chàng tài xế lắm mồm một cái rõ đau thì anh ta mới chịu nín im. Anh ta cho xe chạy ra khỏi cổng vừa được hơn chục thước thì bỗng ôm lấy đầu kêu đau. Chiếc xe đang ngon trớn đã suýt đâm sầm vào cột đèn khi anh ta kịp đạp thắng gấp. Lý la lớn:

- Mày làm gì vậy Tài?

Nhưng lúc ấy Tài đã gục trên vô lăng, mặt anh ta tái xanh. Quýnh lên, Lý lay anh ta, vừa gọi:

- Tài, sao vậy?

Cũng may vừa khi ấy Tài mở mắt ra, anh ta hoảng hốt chỉ tay về phía trước:

- Cậu không thấy gì sao, có...

Lý ngạc nhiên:

- Có cái gì?

- Người... người ta nằm lăn ra đường, suýt chút nữa... chút nữa mình cán qua họ rồi!

Lý hoàn toàn không thấy gì như lời Tài nói, nên vội nhìn ra ngoài và càu nhàu:

- Có ai đâu, thằng này mày sao vậy?

Tài vẫn còn tỏ ra sợ hãi, vừa chỉ tay ra phía trước vừa run giọng nói:

- Kia kìa, cậu không thấy sao?

Lúc ấy, chợt Mỹ Nhung cũng lên tiếng:

- Có người bị tai nạn phía trước, anh thử bước xuống xem...

Buộc lòng Lý phải mở cửa xe bước xuống. Vừa đặt chân chạm đất thì bỗng nhiên Lý kêu lên:

- Họ nằm đây nè!

Ngay bên hông xe, đúng chỗ Lý vừa bước xuống đã có một người nằm sóng soài. Lúc này Lý mới hốt hoảng:

- Vậy ra mày đã đụng vào người ta rồi!

Lý cúi xuống định đỡ nạn nhân lên thì chợt sững sờ khi nhìn vào mặt người phụ nữ tuổi trung niên đang nằm nhắm nghiền mắt dưới chân.

- Bà... bà Thu Hà!

Người phụ nữ này có khuôn mặt giống hệt như trong bức ảnh chân dung ở nhà ông cụ hồi sáng nay. Lúc này Lý vội nhìn vào trong xe, anh định hỏi Mỹ Nhung thì chẳng còn thấy cô ta đâu!

Có vài người đi đường nhìn thấy, họ la lên:

- Sao không chở người ta vào bệnh viện đi, còn ở đó chờ cho người ta chết sao?

Lý chợt hoàn hồn, anh giục Tài:

- Đưa bà ấy lên xe rồi chở vào bệnh viện ngay đi!

Dẫu đã trên mười năm rồi, nhưng gương mặt người phụ nữ này vẫn đập mạnh vào tâm trí Lý, anh thẫn thờ như người mất hồn khi nhớ lại câu nói của ông ngoại của Mỹ Nhung hồi sáng:

- Kể từ khi ba má nó chết hết thì con Mỹ Nhung ở với tôi.

Anh chợt rùng mình, nhưng vẫn giục Tài chạy nhanh đi tìm bệnh viện. Khi tới bệnh viện cấp cứu, anh đích thân mở cửa và giục Tài:

- Mày chịu khó bế bà ấy vào, nhanh lên!

Nhưng chợt Tài kêu lớn:

- Cậu Hai, coi kìa!

Theo tay chỉ của Tài, Lý nhìn ra băng ghế sau, anh kinh hãi khi thấy ở đó là... một bộ xương người chứ không phải là người phụ nữ bị tai nạn lúc nãy nữa!

- Trời ơi!

Lý chỉ kịp kêu lên như vậy rồi lặng người đi, mồ hôi lạnh thấm ướt cả lưng áo...

Việc phải âm thầm chở bộ xương người trên xe quay về ngôi nhà của ông cụ tìm Mỹ Nhung là điều vạn bất đắc dĩ mà Lý buộc phải làm. Anh động viên Tài:

- Ráng giúp tao một chút.

Tài thắc mắc:

- Nhưng cậu đâu bắt buộc phải chở về đó, trong khi ta có thể đem bỏ ở bãi đất trống nào cũng được mà!

Lý nghiêm giọng:

- Không được. Mày cứ làm theo tao đi, rồi ắt biết tại sao.

Khi Tài chạy xe tới đúng ngôi nhà lúc sáng thì chính Lý ngạc nhiên khi thấy cửa nẻo đóng kín. Ngỡ ông cụ đi chợ chưa về nên anh bảo Tài tắt máy xe đợi.

Hơn nửa giờ sau, Lý bắt đầu sốt ruột, nhất là việc Mỹ Nhung vẫn chưa trở về nhà. Anh hỏi lại Tài:

- Lúc nãy khi lộn xộn, mày có thấy cô gái bước ra khỏi xe không?

- Dạ, lúc ấy em bị choáng, đâu biết gì.

Chờ thêm nửa giờ nữa, Lý quyết định bước xuống xe đi vòng ra sau nhà, chỗ mấy ngôi mộ đá. Anh giật mình khi thấy ngôi mộ nằm cạnh mộ đề tên Mỹ Nhung bị vỡ một mảng lớn, như bị ai đó đập phá. Trên bia mộ ghi rõ: Mộ phần Lê Thị Thu Hà.

Tò mò, Lý cúi xuống nhìn kỹ dòng chữ ghi bên dưới được khắc bằng tay, dạng chữ viết thường:

"Hận nhà họ Vương!"

- Sao là họ Vương?

Lý bị kích động khi dòng họ Vương của mình bị nêu ra ở đây. Anh ngồi hẳn xuống ngay đầu mộ, đưa tay bới đất cát lấp một phần dòng chữ tiếp theo để đọc cho hết câu:

"Lòng dạ bạc bẽo của người này chỉ có phanh thây ra mới hả dạ! Suốt kiếp này mày đừng hòng ngóc đầu lên được Dương Cường ơi!"

Tới đây thì Lý không thể nào còn bình tĩnh được nữa, anh sửng sốt kêu lên:

- Cha tôi sao?

Dương Cường là cha của anh. Ông ấy có liên hệ với người phụ nữ tên Thu Hà này là điều Lý từng biết, tuy còn lờ mờ. Nhưng câu ghi trên mộ này đích thị là dành cho cha mình! Lý thì thào:

- Sao... sao lại có chuyện này...?

Anh ngồi thừ người ra ở đó khá lâu, lúc đứng lên trở ra xe thì một lần nữa Lý sửng sốt khi thấy Tài gục trên tay lái, ngất lịm. Nhìn ra băng ghế sau, anh kêu lên:

- Đâu rồi?

Bộ xương đã biến mất!

Lý nhìn quanh, xóm vắng không có một bóng người. Ngôi nhà của ông cụ vẫn khóa chặt cửa. Khi Lý bước tới nhìn qua khe cửa thì hốt hoảng, bởi ở giữa nhà có một cỗ quan tài đỏ nằm trong bóng lờ mờ...

Còn đang hoang mang thì chợt Lý nghe có tiếng ai đó sau lưng:

- Nhà đó không có ai ở đâu, mà cậu tìm ai?

Lý quay lại, anh thấy một phụ nữ trung niên đang nhìn anh như dò xét. Lý phải lên tiếng:

- Tôi tìm ông cụ chủ nhà. Ông có cô cháu ngoại tên Mỹ Nhung...

Chị nọ nhìn sững Lý rồi nói, giọng hơi run:

- Ông... ông ấy đã... còn cô... cô...

Chị ta chỉ nói được mấy tiếng không thành câu đó rồi vụt bỏ chạy như bị ma đuổi. Lý ngơ ngác gọi theo:

- Kìa chị! Chị ơi...

Trong nháy mắt, người phụ nữ đã biến mất dạng. Lý còn đang phân vân thì nghe Tài gọi vừa nhấn còi xe:

- Cậu Hai!

Khi Lý trở lại xe thì thấy sắc mặt của Tài vẫn còn thất thần, anh hỏi:

- Hồi nãy mày bị sao vậy? Còn cái...

Lý vừa hỏi vừa nhìn ra băng sau, Tài run giọng đáp:

- Em đang ngồi đợi cậu ra thì chợt nghe có tiếng động phía sau, em quay lại thì thấy một phụ nữ trung niên với mái tóc dài quá lưng đang trừng mắt nhìn! Em chưa kịp có phản ứng gì thì bỗng bị mờ mắt, đầu óc quay cuồng, rồi không còn biết gì nữa...

Lý càng hoang mang hơn, anh chỉ ra sau nhà, nói giọng hơi run:

- Ngôi mộ phía sau đó cũng... cũng...

Tự dưng Lý cảm giác như có ai chặn ngang không để anh nói. Anh hốt hoảng giục Tài:

- Chạy đi!

Khi về đến nhà, Lý vẫn chưa hết bàng hoàng. Anh dặn Tài:

- Mày nghe bất cứ động tĩnh gì cũng phải chạy ngay lên phòng tao, đừng để tao phải gọi!

Lý đóng cửa phòng lại, và anh mở tung mấy ngăn kéo cất giữ giấy tờ sổ sách mà khi dọn nhà tới đây anh chưa có dịp sắp xếp lại. Vật anh tìm là những gì của cha để lại mà bấy lâu nay Lý ít khi để ý tới. Phần lớn là những bản lưu các hợp đồng thi công những công trình lớn, thỉnh thoảng có lẫn một vài giấy tờ, thư từ riêng.

Và cuối cùng vật mà Lý cần tìm đã có. Đó là một bao nhựa cũ, trong đó gói khá kỹ những thư từ, hình ảnh của cha và... của một người tên Thu Hà!

- Đây rồi!

Những thứ này kể từ khi cha chết đã hơn tám năm, Lý niêm kín trong tủ riêng, kể cả mẹ anh chết sau cha hai năm Lý cũng không cho bà xem.

- Thì ra bà Thu Hà và cha...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
OAN HỒN MẸ CON (tt)

Lý vừa tò mò giở từng phong thư và hình ảnh. Lúc này anh mới phát hiện trên một bức ảnh chụp riêng bà Thu Hà, có những nét bút mực đỏ gạch chéo gần như muốn xóa hết khuôn mặt xinh đẹp trong đó.

- Sao ai lại làm vậy?

Lý lật phía sau bức ảnh, anh giật mình khi nhận ra nét chữ quen thuộc của mẹ:

"Con chó cái này, mày không thể tồn tại trên cõi đời này là đúng với ý trời, đừng trách ai cả!"

Đọc thêm vài lá thư nữa, Lý biết đó là những thư tuyệt tình của người tên Thu Hà, trong đó có đoạn viết:

"Chuyện của mình càng lúc càng đi đến ngõ cụt mà thôi. Em xin anh hãy buông tha cho em, còn phần em thì để quên anh, em sẽ đi lấy chồng. Em đau đớn mà làm việc này, nhưng như thế còn hơn, bởi em không thể yêu một người đã có vợ, để suốt năm tháng vò võ đợi chờ trong tuyệt vọng... Thôi, quên em đi...

Thu Hà."

Thì ra ba đã yêu người đàn bà này trong khi đã có mẹ rồi. Thảo nào mẹ ghen như vậy...

Đến một lá thư sau cùng, được để dưới một xấp ảnh, vừa đọc ngay dòng đầu, Lý đã sững sờ:

"Tôi hận anh kiếp này qua kiếp khác Dương Cường ơi!"

Nội dung gần giống với câu trên mộ bia. Và còn nữa, những dòng tiếp theo:

"Anh không thể bảo đảm chuyện tình yêu cho người ta thì hãy để cho người ta hạnh phúc, cớ sao lại nhẫn tâm phá hoại cái mà người ta cất công xây dựng?

Anh đã ra tay độc ác thì đừng trách sao chính mình sẽ lãnh hậu quả thảm khốc."

Lý buông những lá thư và hình ảnh xuống rồi thẫn thờ khá lâu. Vậy ra cha mình có lỗi trong vụ gì đó chăng? Hay là lỗi với chính bà Thu Hà?

Suốt buổi đó hầu như Lý không ra khỏi phòng. Anh cố tìm thêm những chi tiết khác nữa, nhưng không có... Bất chợt anh nhớ tới mẹ:

- Ở nhà ngoại, nơi mẹ ở vào những ngày cuối đời!

Điều vừa lóe lên trong đầu khiến cho Lý gọi giật tài xế vào:

- Chuẩn bị đi Bà Rịa ngay!

Tài ngạc nhiên:

- Chỉ tới Bà Rịa thôi hay đi luôn Vũng Tàu hả cậu?

- Bà Rịa thôi, về nhà ông bà ngoại tôi!

Tài muốn có ý kiến ngăn lại, bởi lúc đó đã hơn 5 giờ chiều rồi, nhưng anh biết tính của cậu chủ mình, một khi đã muốn làm việc gì rồi thì có trời mới cản được. Bởi vậy Tài vẫn cho xe ra cổng và chờ.

Khi Lý vừa mở cửa xe phía sau thì anh ngạc nhiên hỏi:

- Cái gói gì đây?

Tài ngơ ngác:

- Dạ, gói gì em đâu có biết?

Lý mở lớp giấy bọc bên ngoài ra, anh ngạc nhiên vì bên trong là một cái hộp thiếc, loại hộp đựng bánh bisqui. Nhưng bên trong không có bánh, mà chứa toàn những giấy tờ, thư từ...

- Của mẹ!

Nhìn chữ viết cùng những vật dụng quen thuộc, Lý nhận ra ngay đó là đồ vật của bà Mỹ Hoa, mẹ anh.

Lý hỏi lại:

- Sao nó lại ở đây?

Lý biết chắc hầu hết những đồ vật riêng tư của mẹ, khi bà mất thì bà ngoại anh đã lấy về cất riêng trong căn phòng mà mẹ anh được dành riêng trong ngôi nhà của ông bà ngoại ở huyện Đất Đỏ. Nó chưa hề được đưa về nhà này, lại càng không thể nằm khơi khơi trên xe như thế này.

Giở nắp hộp ra, Lý phát hiện có một mảnh giấy với dòng chữ lạ:

"Cần gì phải ra tận Bà Rịa, những gì cần xem nó ở cả trong chiếc hộp này!".

- Chữ này của ai viết vậy, mày biết không Tài?

Đưa miếng giấy với mấy dòng chữ viết đó cho Tài xem, anh ta lắc đầu:

- Em đâu có biết.

Lý thay đổi quyết định, anh bảo:

- Mày cho xe trở vào và chờ tao một lát.

Anh đi thẳng vào phòng mình, tuần tự giở hộp thiếc ra. Ngay tờ giấy đầu tiên đã khiến Lý phải giật mình, bởi trên đó không viết chữ gì, mà chỉ có một bức ảnh chân dung của bà Thu Hà cùng với dấu gạch chéo bằng bút đỏ. Một dấu gạch chéo đủ nói lên ý của người gạch: Xóa sổ người trong ảnh!

Chưa hết, ngay dưới đó còn có một lá thư với nét chữ lạ, viết rất thô kệch và đề thẳng tên mẹ: Gửi bà Mỹ Hoa. Lý hơi run tay khi bóc lá thư này ra xem.

"Theo đúng ý bà, tôi đã cho đàn em làm xong mọi việc. Tình địch của bà, cả chồng con nó đều đã bị thiêu sống trọn gói, như một tai nạn cháy nhà, chẳng ai có thể nghĩ đó là một vụ giết người.

Như vậy, lần này bà không còn phải áy náy nữa về việc trừng phạt mà bà trách tôi là ra tay nửa vời như lần trước. Tình địch của bà giờ đây không còn có cơ hội viết thư tố cáo với chồng bà nữa. Vậy đề nghị bà trao nốt số tiền công còn lại cho người cầm giấy này nội trong ngày hôm nay.

TB: Điều dặn dò cẩn thận của bà cũng đã được đàn em tôi thực hiện chu đáo: trước khi chết, tình địch của bà được báo cho một chi tiết thú vị rằng chính ông Dương Cường đã ra tay để trả thù việc bà Thu Hà bỏ đi lấy người khác, gây cho ông chồng bà đau khổ! Hồn người kia dưới Suối Vàng sẽ luôn nghĩ rằng bà ta bị tình nhân sát hại. Và nếu có trả thù thì chắc chắn họ cũng chỉ tìm chồng bà để trả thù mà thôi!"

Buông lá thư xuống, Lý chỉ kịp kêu lên mấy tiếng rồi gục xuống.
 
***

Khó khăn lắm Lý mới tìm được ngôi nhà nhỏ nằm sâu trong con đường dẫn lên núi ở một thôn cách thị trấn Long Điền hơn năm cây số.

Ngôi nhà cửa đóng im ỉm, đứng ngoài khá lâu rồi mà Lý vẫn không thấy bóng ai bước ra.

Mặt trời dần xuống thấp càng làm cho Lý hơi lo, bởi nếu không gặp được người cần tìm thì có lẽ anh phải trở về Bà Rịa ngủ trọ, rồi mai trở lại tìm nữa.

Vừa khi ấy, có người lên tiếng hỏi từ phía sau:

- Cậu kiếm ai?

Giật mình quay lại thấy một bà cụ, Lý lễ phép:

- Dạ, cháu muốn tìm ông Năm Lực.

Bà già chỉ tay vào nhà:

- Ông ấy ở trong nhà! Cậu phải vô tận nơi để kêu may ra ông nghe, chứ đứng ngoài này thì tới bao giờ ông ấy mới ra!

- Dạ, nhưng cổng ngoài đóng chặt...

- Đẩy mạnh mà vào, không có khóa đâu. Nhưng nói trước để cậu biết, coi chừng khi vào gặp ông già đó!

Lý ngạc nhiên:

- Sao vậy bác? Cháu chỉ hỏi thăm chuyện nhà một chút, chứ có làm phiền gì ông ấy đâu?

Bà cụ khẽ lắc đầu:

- Ông già này tính khí thất thường lắm. Bình sinh ông không chịu tiếp xúc với ai, cũng không gây khó dễ gì cho ai, nhưng nếu ai làm cho ông ta bực mình thì liệu hồn, có khi ông ấy vác cây đuổi chạy không kịp! Ở xứ này ai cũng ngán, không ai dám bước vào nhà nửa bước. Cậu liệu mà tính!

Nói xong bà cụ đi thẳng. Lý hơi lưỡng lự, nhưng cuối cùng anh mạnh dạn đẩy cánh cổng và bước vào sân. Câu nói của người nào đó trong giấc mộng đêm qua như còn văng vẳng bên tai, nó như sự thôi thúc Lý phải gặp ông già cho bằng được:

"Gặp ông Năm Lực thì mọi điều sẽ sáng tỏ. Ông ấy sẽ cho anh biết anh phải làm gì để thoát ra khỏi khổ nạn này. Bằng không, anh sẽ bị mất ngủ triền miên, bị quấy phá suốt đời và thậm chí sẽ tiêu tan hết sản nghiệp do cha anh để lại".

Lý bước nhanh đến bên cửa trong ngôi nhà và gõ liền mấy cái vào cửa, vừa cất tiếng gọi:

- Bác Năm ơi, bác Năm!

Anh phải gọi đến lần thứ ba thì mới nghe một giọng khàn đục lên tiếng:

- Ai đó?

- Dạ, cháu tìm bác có việc gấp. Cháu từ Sài Gòn ra.

- Ai ở Sài Gòn ra?

Giọng ông già trở nên hằn học và cộc lốc:

- Ai?

- Dạ, cháu là Lý. Cháu cần tìm ông Năm Lực.

- Lý nào?

Lý bắt đầu ngại khi nghĩ mình sắp đối diện với con người hung hăng này.

Anh cố dịu giọng:

- Cháu được cô Mỹ Nhung giới thiệu...

Không ngờ câu nói bịa của Lý lại có tác dụng tức thời. Ông già mở ngay cánh cửa, vừa hỏi:

- Con Mỹ Nhung đâu?

Ông đứng đối diện với Lý mà chẳng màng đến anh, chỉ đảo mắt tìm kiếm.

Hiểu ý, Lý phải nói:

- Dạ, cháu ra có một mình. Cháu chỉ..

Cánh tay khẳng khiu của ông cụ vung lên và rất nhanh, ông giáng thẳng vào mặt Lý một cái. Nếu không cảnh giác trước thì Lý đã lãnh trọn cái tát đó.

Anh kịp đưa tay chụp cánh tay ông lại vừa lên tiếng:

- Cháu không có ý xấu. Cháu chỉ nghe theo lời mách bảo của Mỹ Nhung ra gặp ông, đem cho ông ít quà...

Cánh tay già nua tuy có dữ dằn, nhưng sức lực đâu bì được với sức trẻ, do vậy khi bị Lý kìm lại, ông đành phải rút tay về và đột nhiên bật thành tiếng khóc. Ông khóc nức nở như một người chưa từng được khóc, khiến cho Lý lo ngại:

- Kìa bác. Cháu chỉ...

Anh đã chuẩn bị sẵn gói quà theo lời mách bảo của người báo mộng cho anh đã dặn, mấy bánh thuốc hút.

Vừa đưa nó ra, ông cụ đã reo lên như đứa trẻ được quà:

- Con Mỹ Nhung của ông đây mà! Quà của nó ở đây mà...

Ông vồ lấy mà không đợi Lý đưa. Và thái độ ông đổi khác ngay khi ôm gói quà trong tay:

- Con Mỹ Nhung của ông đâu? Nó được bao lớn rồi? Nó sao không về đây vấn thuốc cho ông hả?

Những câu hỏi liên tục khiến Lý chưa biết trả lời sao thì chợt anh nhìn thấy một ảnh chân dung phóng lớn treo trên vách nhà, hình một bé gái tuổi khoảng lên ba, có nét hao hao với Mỹ Nhung. Linh cảm khiến Lý ứng đối kịp thời:

- Dạ, Mỹ Nhung nay đã lớn rồi, cô ấy có thể mồi thuốc cho ông hút được!

Đang vui, bỗng ông nhìn Lý quát lớn:

- Sao tập cho con gái hút thuốc hả? Không được nghe chưa!

Nói xong, ông giữ chặt gói thuốc trong tay vừa bước thẳng vào trong như sợ có người giật lại gói quà của mình. Quan sát sự việc, Lý đã đoán phần nào tính khí và tình trạng sức khỏe của ông cụ. Anh lại dịu giọng nói:

- Mỹ Nhung gửi lời thăm ông và dặn ông không được ăn uống thất thường. Mỹ Nhung...

Bỗng dưng ông cụ quay trở ra, chỉ tay lên bức ảnh bé gái, vừa mếu máo nói:

- Con nhỏ chết khi mới chừng ấy tuổi thôi, tội lắm trời ơi!

Bây giờ đến phiên Lý kinh ngạc, anh lúng túng:

- Dạ, cháu... cháu...

- Ngồi xuống đi, rồi nói cho ta nghe coi cháu tao bây giờ ở đâu?

Thì ra ông cụ không bình thường, nhớ chuyện này xọ qua chuyện kia. Lý nắm bắt tâm lý khá giỏi bởi đã du học khoa tâm lý ở nước ngoài mấy năm, anh tiếp tục dùng sở học của mình:

- Dạ, để cháu vấn thuốc cho ông hút, Mỹ Nhung có chỉ cho cháu.

Quả nhiên cách nói đó của Lý đã chinh phục được ông già. Ông tỏ ra thân thiện hơn:

- Được rồi, mấy bữa nay ta ho nhiều nên cữ hút thuốc. Vậy con hãy rót nước cho ông uống đi, giống như Mỹ Nhung hồi ấy...

Lý rót ngay một ly nước trong bình trà đã nguội đưa cho ông và nói:

- Ông uống đỡ, để chờ cháu đi nấu nước sôi pha ấm trà khác cho ông nghe. Mỹ Nhung nói ông thích uống trà đậm.

Chi tiết này là Lý bịa ra, không ngờ đúng ý ông:

- Phải, con nhỏ nhớ dai quá. Ta thích uống trà nóng và đậm mà phải là trà sen kia.

Cũng may trong gói quà Lý mang theo có cả thuốc lá và trà, anh vội nói:

- Mỹ Nhung có gửi cả trà sen cho ông.

Ông cụ cảm động:

- Con nhỏ còn thương! Tội nó quá...

Lý thầm nghĩ: thì ra đây là ông nội của cô gái, còn ông già ở cạnh nhà mình là ông ngoại.

Anh tự nhiên đi ra sau bếp mà không gặp sự phản đối nào của ông cụ. Anh tìm thấy ấm nấu nước để chỏng chơ trên lò, không có chút nước nào trong đó, chứng tỏ ông già sống chỉ một mình và không ai chăm sóc cơm nước.

Chờ ấm nước sôi, Lý mang lên châm vào bình, xin ông cụ lấy gói trà sen trong bọc thuốc lá. Anh bịa thêm:

- Mỹ Nhung nói ông thích vừa ngồi uống trà vừa kể chuyện cho con cháu nghe, vậy bây giờ...

Anh định khơi gợi để bắt đầu cuộc truy hỏi những điều mình cần biết, và anh đã thành công khi ông già bảo:

- Ngày trước lúc nào nó cũng biết đòi ta kể chuyện những lúc ta ngồi hút thuốc, uống trà. Bàn tay nhỏ nhắn của nó cầm nhúm thuốc không xong, vậy mà lúc nào cũng đòi vấn cho nội hút. Thấy mà thương cái bàn tay búp măng đó!

Nhìn đôi mắt rưng rưng ngấn lệ của ông, Lý biết rằng trong lòng ông đang sống lại hình ảnh đứa cháu gái thân thương, nên anh đánh thẳng vào điểm yếu đó bằng câu nói:

- Nếu Mỹ Nhung yêu cầu ông kể cho nghe tại sao cô ấy bỏ ông đi, ông có sẵn lòng nói không?

Lý chờ những lời kể thật câu chuyện mà anh cần biết, hoặc có thể là cơn thịnh nộ của ông già. Không ngờ, giọng ông cụ bỗng trở nên nhẹ nhàng, tình cảm hơn:

- Nó bỏ ta mà đi khi ta chỉ có nó là cháu nội duy nhất! Hôm đó cũng bằng giờ này khi nó đang ngồi nghe ta kể chuyện thì vụt chạy ra ngoài, kêu lên là nhà của nó bị cháy. Nó hoảng loạn lên, bởi khi ấy ba má nó đang ngủ say trong đó, mà lúc sang đây do sợ trộm vào lấy đồ nó đã khóa cửa từ bên ngoài! Trời ơi...

Ông cụ kể tới đó thì nấc lên và hầu như không còn đủ sức để ngồi vững nữa, ông ngã chúi nhủi về phía trước. Lý hốt hoảng:

- Kìa, ông ơi!

Anh đỡ ông cụ lên và kịp nghe ông nói rất khẽ:

- Gặp con Mỹ Nhung hãy nói với nó là đừng làm khó người ta... không phải do thằng ấy gây ra đâu…

Câu nói mập mờ khó hiểu, khiến Lý phải hỏi lại:

- Ông nói thằng đó là ai?

- Thằng Dương Cường... không phải nó... mà chính con vợ nó...

Ông nói tới đây thì kiệt sức, ngoẹo đầu sang bên và ngất đi. Lý bế ông lên chiếc ghế dài giữa nhà:

- Ông ơi!

Sờ thấy ông còn thở, Lý hơi yên tâm, nhưng nỗi thắc mắc trong lòng vẫn khiến anh không yên. Tại sao ông cụ nói về cha mình như thế?

- Ông ấy nói đúng. Tôi đã gặp ông và hỏi kỹ rồi, đang tính về sẽ gặp lại cậu nói rõ. Nhất là gặp mẹ con con Thu Hà để giải mối hận trong lòng chúng nó bấy lâu nay.

Giọng nói đó khiến Lý bàng hoàng, anh quay lại và ngơ ngác khi thấy ông già mà anh từng gặp ở ngôi nhà gần nhà mình, nơi có những ngôi mộ.

- Kìa, sao bác lại ở đây?

Ông già bình tĩnh ngồi xuống ghế và đáp:

- Thì cũng như cậu, tôi đi tìm hiểu sự thật.

- Vậy ra bác vắng nhà mấy bữa nay là lên đây! Mà sao có một cỗ quan tài nằm giữa nhà bác ở dưới?

- Cậu không nhận ra sao, đó là quan tài của cha cậu, ông Dương Cường!

Câu nói đó khiến Lý rúng động:

- Trời ơi, sao lại như thế!

- Đó là ý của con Thu Hà! Hơn mười năm nay nó chỉ nung nấu việc trả thù, dẫu đã là người cõi âm nó vẫn không nguôi chuyện thù hận. Bởi nó vẫn tin chắc rằng cha cậu là người gây ra cái chết cho vợ chồng, con cái nó. Cho đến mới đây...

Ông lấy từ trong túi áo một phong thư và đưa cho Lý:

- Cậu đọc đi rồi sẽ hiểu.

Lý cầm lấy và ngạc nhiên kêu lên:

- Đây là lá thư người ta gửi cho má cháu!

- Thì ra cậu đã biết, chính con Mỹ Nhung đưa về cho tôi. Nó bảo sau khi hiểu ra điều này rồi, nó không còn hận cha cậu nữa, mà nó cũng muốn mẹ nó làm như vậy...

- Hôm qua cháu cũng nhận lá thư này trong cái hộp của mẹ cháu, hình như cũng do Mỹ Nhung đem tới.

Ông già gật đầu:

- Nó đó! Con Mỹ Nhung có cảm tình với cậu, nên nó không muốn mẹ nó tiếp tục hận thù, tiếp tục gây ra những cái chết cho nhà họ Dương nữa...

Lý hốt hoảng:

- Những cái chết nhà họ Dương?

Ông già tiếp lời bằng giọng bức xúc:

- Ba cậu chết là do con Thu Hà bắt hồn, mẹ cậu cũng thế và rồi sẽ tới cậu!

Lý tái mặt:

- Ông... ông nói thật ư?

Ông già tiếp tục thở dài:

- Oan gia nghiệp chướng mãi như thế làm sao được! Bởi thế hôm cậu sang nhà tìm con Mỹ Nhung là tôi sợ thất thần rồi! Tôi đâu muốn con gái mình tiếp tục lún sâu vào cuộc hận thù đó, mặc dù nó có quyền...

Ông nói tới đây thì oà lên khóc, khiến Lý cũng mủi lòng, ông nghe mắt mình cũng cay cay...

- Thưa ông...

Lý bị ông già chặn ngang:

- Cậu để tôi nói hết đã. Hôm đó tôi nói dối cậu rằng có hai con Mỹ Nhung. Thật ra chỉ có một và đó là Mỹ Nhung nằm dưới mộ. Còn Mỹ Nhung mà cậu gặp chính là...

Lý chặn lời ông:

- Cháu đã hiểu, đó là hồn ma cô ấy!

- Nhưng có những điều cậu còn chưa hiểu. Như nơi cậu đang sống...

- Ông nói gì cháu không hiểu? Ngôi nhà cháu đang ở là sao?

- Đó là ngôi nhà do ba cậu xây cho... ông Năm Lực đây mà!

Lý ngơ ngác:

- Có chuyện đó sao? Vậy mà cháu nào biết. Cháu mua là do có người mách.

- Do oan hồn con Thu Hà khiến cậu đó. Nó muốn đưa cậu về đây, để...

Ông tiếp bằng giọng run run:

- Nó muốn bắt hồn cậu đi luôn!

Lý thất thần:

- Thảo nào gần hai năm nay, lúc nào trong đầu cháu cũng như vang lên những âm thanh kỳ lạ, khiến cháu mất ngủ triền miên và rất sợ bóng tối! Cháu không hề biết gì về ngôi nhà mình đang ở...

Ông già kể tiếp:

- Hồi đó anh sui gia tôi đây cất ngôi nhà ở cạnh nhà tôi. Con Thu Hà ngày ấy còn sống, và nó với cha cậu là một cặp đôi mà tưởng chừng như không có gì chia lìa chúng được. Tôi cũng tán đồng chuyện chúng nó yêu nhau. Nhưng chẳng hiểu sao đùng một cái, cha cậu lại đi lấy vợ, lấy người mà sau này cậu gọi là mẹ đó! Con Thu Hà đau khổ khóc sưng cả mắt và cứ tìm cách níu kéo, kêu gọi cha cậu hồi tâm trở về với nó! Tôi biết được điều đó nên cương quyết bảo nó cắt đứt chuyện tình với cha cậu, bởi tôi không muốn con gái mình mang tiếng phá hoại gia cang người khác, mặc dù nó là kẻ đến trước. Đến trước mà về sau cậu à...

Ngừng lại một lúc, rồi ông tiếp bằng giọng bùi ngùi:

- Nó đã trả thù lại bằng cách... đi lấy chồng! Con trai ông Năm Lực đây khi ấy sống trong ngôi nhà cậu ở bây giờ, tức sát vách nhà tôi và con Thu Hà. Chúng nó phải lòng nhau thật sự hay chỉ là cuộc tình gán ghép để thỏa cơn thù hận của con Thu Hà thì tôi không dám chắc, nhưng có điều là khi chúng sống với nhau, tôi nhận ra thằng Hòa con anh Năm đây thương con Thu Hà thật. Cho đến khi chúng có với nhau đứa con đầu lòng, con Mỹ Nhung, thì tôi tin là chúng sẽ ăn đời ở kiếp với nhau được. Tôi mừng lắm. Nhưng...

Ông ngừng lại, cơn uất nghẹn làm cho ông không thể tiếp tục câu chuyện được nữa. Phải mất gần năm phút sau Lý mới nghe ông lên tiếng, giọng khàn đục:

- Vậy mà một buổi chiều kia, lửa trong nhà bỗng dưng bốc cháy! Lúc đó tôi đi ra chợ chưa về, còn con Mỹ Nhung lúc ấy hơn ba tuổi thì sang nhà nội nó chơi, chỉ kịp chạy về khi lửa đã cháy trùm toàn ngôi nhà.

- Cửa ngoài đã bị khóa, con Mỹ Nhung cố lao vào để mở cửa và cũng bị thiêu cháy theo ba má nó! Trời ơi...

Ông cụ lại ngất đi. Lúc này trong ngôi nhà nhỏ có đến hai ông già nằm bất động, khiến Lý bối rối, anh phải chạy đi lấy khăn nhúng nước lau cho cả hai người. Lát sau họ tỉnh lại. Ông Năm Lực tiếp bằng giọng trầm buồn:

- Bấy lâu nay tôi buồn đau quá mà hóa rồ, bởi tôi chỉ có mỗi thằng con trai, nó chết đi rồi tôi không còn thiết sống nữa.

- Bởi vậy anh ấy mới bán ngôi nhà mà cậu đang ở đó, bỏ về đây ở ẩn. Hôm qua tôi tìm đến để hỏi thêm anh ấy vài việc liên quan tới con gái mình, và định trở về khuyên con Thu Hà, đừng nuôi hận thù nữa. Chứ thật ra khi nó mang cỗ quan tài ba cậu về đặt giữa nhà đó là cho liệm xác cậu vào đó mới hả giận. Đêm qua đúng ra là cậu đã bị hại rồi, nếu không có con Mỹ Nhung. Nó đã cãi nhau với mẹ nó một trận, không cho Thu Hà đón đường cậu lúc cậu định đi Bà Rịa.

Lý hốt hoảng kêu lên:

- Thì ra cô ấy ngăn không cho cháu đi Bà Rịa bằng cái hộp đựng đồ vật của mẹ cháu!

- Phải! Thật ra cái hộp này giữ ở nhà ông nội cháu đây từ lâu, chứ không ở nhà bà ngoại cậu. Con Mỹ Nhung đã lấy đem đưa cho cậu, mục đích giúp cậu hiểu rõ mọi chuyện, đồng thời ngăn không cho cậu ra ngoài. Bởi nếu cậu đi đêm qua thì cậu đã không toàn mạng!

Lý rùng mình, hết nhìn hai ông cụ rồi nhìn một lượt khắp ngôi nhà. Thấy bức ảnh của Mỹ Nhung thời thơ ấu, anh thắc mắc:

- Lúc chết cô ấy mới ba tuổi, sao giờ đây là một cô gái.

Ông Năm Lực tỉnh táo đáp:

- Người trong thế giới vô hình cũng lớn lên theo thời gian. Nó đã trở về đây nhiều lần, mà mỗi lần bước vào nhà tôi cứ tưởng là cô gái nào, đâu ngờ là nó. Nếu nó còn sống thì năm nay cũng đã mười bảy mười tám rồi...

Ông lại khóc. Rồi ông già kia cũng khóc theo. Và đến lượt Lý cũng không cầm được nước mắt...
 
***

Khi Lý trở về cùng ông cụ thì cả hai vô cùng ngạc nhiên khi không còn thấy cỗ quan tài nằm giữa nhà nữa! Lý còn đang hoang mang thì ông già đã chỉ tay ra sau nhà bảo:

- Chắc là nó an táng ngoài kia rồi.

Lý chạy ra và vô cùng ngạc nhiên khi thấy có một ngôi mộ mới nằm ngay bên trái mộ của Thu Hà, cùng một dãy với ba ngôi mộ: Thu Hà, chồng bà ấy và Mỹ Nhung.

- Âu cũng được...

Lý nói khẽ và thầm khấn:

- Ba hãy nằm đây! Bà ấy đã tha thứ cho ba rồi đó...

Lý trở về nhà với tâm trạng bớt nặng nề hơn. Kể từ hôm đó, Lý đã cho mở tường rào thông cửa sang bên kia. Mỗi ngày anh đều sang bên bốn ngôi mộ và thường xuyên hương khói.

Cũng từ hôm đó, đêm nào đèn ở phòng của Lý cũng tắt rất sớm. Có lần tài xế Tài rình bên ngoài và nghe có tiếng cười của một người con gái từ bên trong.

Vốn là người ưa tán chuyện, nhưng chẳng hiểu sao từ đó Tài lại kín miệng như bưng, không hé lộ với ai nửa lời về những gì mình thấy được trong phòng cậu chủ của mình...

Mà thật ra thì cũng có gì đâu để bàn tán! Bởi ở cõi đời này, đâu phải người với ma liên hệ với nhau là chuyện đáng ngạc nhiên!
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-04-18 15:32:01Soccon>
NGHIỆP CHƯỚNG


Phần 1
 
Việc con gái cưng Thể Phụng chuyển bụng sinh kéo dài đến ba ngày mà vẫn chưa sinh được đã khiến bà Phủ Hoài lo lắng, đứng ngồi không yên. Đến chiều ngày thứ ba thì bà hết kiên nhẫn, gọi cô em chồng bảo:

- Cô kêu xe chở con nhỏ lên ngay Sài Gòn đi, thầy bà, mụ đỡ ở Cần Thơ này kêu họ bỏ nghề hết cho rồi! Ai đời có chuyện sinh con mà làm ba ngày rồi cũng chưa được! Tôi đây sinh sáu mặt con mà chỉ cần mụ vườn cũng cái "rẹt" là xong!

Cô Út Nguyệt phân trần:

- Không phải họ dở đâu chị Hai. Mà chỉ vì con Phụng sinh khó, nghe mấy bác sĩ ở bệnh viện nói không chừng phải mổ để lấy con ra nữa đó!

Bà Phủ kêu lên:

- Không được đâu! Con gái tôi lá ngọc cành vàng, thân thể ngà ngọc mà mổ xẻ thì còn gì con nhỏ!

Út Nguyệt vẫn cố giải thích:

- Người ta nói nếu không mổ coi chừng đứa nhỏ trong bụng bị ngạt mà chết chứ chẳng phải chơi!

- Cô này nói xui xẻo không hà! Mà thôi, đi đánh điện cho thằng tài xế về nhanh lên, để chở nó đi liền!

- Đánh điện, nhận điện rồi đi về hai ngày nữa mới tới, chắc là con Phụng nó đau mấy lớp rồi! Sao không nhờ xe của bên nhà Phán Hữu cho tiện?

Bà Phủ trề môi:

- Thèm mượn của nhà đó! Cái xe Traction "cà tàng" đó chở con nhỏ đi bị dần xóc, chắc con Phụng sinh trên xe chứ không đợi tới nhà bảo sanh! Vả lại, nhà đó có ưa gì bên mình đâu mà mượn với vay. Cô không nhớ vụ con Thể Phụng từ hôn con trai họ sao? Họ thù nhà mình lắm!

Nguyệt vẫn nói:

- Theo em thì nếu mình nhờ là họ đáp ứng ngay! Mới hồi sáng này thằng Lộc còn qua hỏi thăm sức khỏe con Phụng đây, và còn gửi chục cam sành nói là của má nó mua biếu cho con Phụng! Họ còn thương con Phụng lắm!
 
- Thương với yêu gì cái ngữ ấy! Tôi nói thật, con Phụng từ hôn đúng lúc, chứ nếu không thì đời con nhỏ sẽ khổ cho mà coi! - Bà Phủ gạt ngang.

- Nhưng theo em thấy...

Thấy Út Nguyệt cứ một mực bênh vực cho họ, bà Phủ gắt lên:

- Tôi nói rồi, nhà đó không được! Cô thấy không, gả con Phụng cho cánh này, nó...

Bà bị Nguyệt cắt ngang:

- Tôi thấy có ngon lành gì đâu! Đến đỗi con nhỏ tới ngày sinh mà thằng chồng còn không ló mặc về, thì thử hỏi...

Bà Phủ tuy bị cứng họng, nhưng vẫn cố nói:

- Thằng Tường nó bận công chuyện làm ăn nên về không kịp, chứ đâu phải không về! Mà đàn ông thời buổi này họ lo làm ăn nhiều hơn là lo cho vợ con. Mà nói thật, tôi cũng không thích loại đàn ông cứ tối ngày lẽo đẽo bên vợ, ru rú trong nhà!

Út Nguyệt trề môi, lắc đầu:

- Đàn ông mà đi mịt mù kiểu đó ham cái gì! Tôi để ý rồi, bữa báo tin con Phụng sinh khó, bảo nó về gấp, vậy mà nó có về đâu.

Bà Phủ vẫn chống chế:

- Trên Sài Gòn báo điện về nói thằng Tường phải đi Đà Lạt lo việc làm ăn gì đó về không kịp.

- Đà Lạt chứ phải bên Tây Tàu gì đâu mà năm sáu bữa rồi về không tới? Nói thật với chị, chị cứ bênh nó hoài như vậy có ngày à...

Bà Phủ biết Út Nguyệt vốn có cảm tình với nhà Phán Hữu, mà thằng Lộc, con họ từng là bạn học của Nguyệt, nên khi Phụng từ hôn với Lộc, chính Nguyệt là người phản đối đầu tiên và còn quyết liệt phản đối việc Thể Phụng lấy Tường, con trai một của nhà trọc phú Ba Lến!

Biết cứ để cho Út Nggyệt nói một lát, cô ta sẽ càng nói linh tinh, nhức đầu lắm! Cho nên bà Phủ liền nói cho qua:

- Thôi được, cô muốn nhờ ai đó thì nhờ. Nhưng tôi không ra mặt đó!

Út Nguyệt hăng hái:

- Để tôi lo, chị Hai coi như không biết!

Cô chạy đi một lát, khi trở về đã hí hửng:

- Thằng Lộc sẽ trực tiếp lái xe đưa con Thể Phụng đi và chờ để đưa về nữa!

Bà Phủ có vẻ khó chịu, nhưng đành phải im lặng để Nguyệt lo. Tuy nhiên bà dặn:

- Coi chừng con Phụng sẽ không chịu lên xe đó nghen!

Út Nguyệt nheo mắt:

- Bảo đảm với chị, con nhỏ mà được thằng Lộc chở đi sinh nó càng sinh lẹ hơn cho chị coi.

Nửa giờ sau, chính Lộc lái chiếc Traction qua tận bệnh viện tỉnh, rước Thể Phụng và đưa đi Sài Gòn. Út Nguyệt đi theo. Trên đường đi, Út Nguyệt cười ngặt nghẽo:

- Bà già bị tao gạt mà cũng đành ngậm tăm mà chấp nhận! Bà ấy đâu có biết là con Phụng tính lộn ngày mang thai nên phải một tuần nữa mới tới ngày sinh. Bây giờ hai đứa bay tha hồ mà hú hí, chừng nào sắp sinh thì điện tín về cho bà ấy hay.

Thể Phụng hơi lo:

- Lỡ má con đòi lên Sài Gòn thăm con thì làm sao?

- Thì thằng Lộc "thêm tay thêm chân" cũng vài ngày thôi, chứ bộ muốn cả tháng sao. Lúc đó tao đã đưa con này vào nhà bảo sanh rồi, bà ấy có lên cũng đâu có sao.

Lộc cười gượng, anh nhìn sang Phụng nói mà lòng đau như cắt:

- Đáng lẽ mình tạo cả hình hài chứ đâu chỉ thêm tay thêm chân như thế này. Nhưng sao cũng được, miễn Phụng hiểu cho lòng dạ con là được rồi, dì Út.

Út Nguyệt cũng xót xa:

- Thấy tụi bay mà lòng tao cũng đau. Cũng tại thằng Lộc hết, lúc sắp đám cưới con Phụng, tao đã bảo là hai đứa cứ bỏ trốn mà mày không dám!

Lộc chống chế:

- Dì Út xúi nghe cũng phải, nhưng con mà làm vậy, ông Phủ cào nhà ba má con! Vả Iại Phụng lúc ấy có đồng tình đâu mà con dám...

Thể Phụng bùi ngùi:

- Tại má em đòi chết nếu em không từ hôn anh và lấy thằng Tường! Nói phải tội, chỉ vì má em ham cái tài sản khổng lồ mà thằng Tường được hưởng, chứ bà thừa biết em đâu thương yêu gì thằng đó!

Út Nguyệt chợt điểm mặt cả hai:

- Nhưng tao cảnh cáo nghe. Hai đứa bay cứ lén lút tò tí với nhau có bữa thằng Tường nó hay được thì có mà chết! Mà tao cũng nghi quá, không biết cái thai trong bụng mày đây thằng Lộc đóng góp hết mấy chục phần trăm.

Thể Phụng đập vào vai bà cô mình mấy cái liền:

- Cô này... biết rồi còn phải hỏi! Mà nói thật, nếu đổ bể ra con sẽ khai trong vụ này đầu dây mối nhợ là do cô Út! Chính cô bày đầu, chính cô chỉ đạo!

- Cha mày, giúp cho tụi bay mà bây giờ mang tiếng.

Lộc chen vào:

- Con cám ơn cô Út. Nếu không có cô Út giúp thì qua vụ bị từ hôn vừa rồi, con đã cắn lưỡi mà chết cho rồi! Đó là chưa nói ba má con đã nhục nhã, uất ức vô cùng khi bị từ hôn.

- Thôi thì bây giờ tao đền cho đây! Mà nói thật, không phải tao trù, chứ còn chuyện vợ chồng con Phụng này, tao dám chắc là sẽ không thọ đâu. Một khi con Phụng bỏ thằng Tường, mày có dám nhận lại nó không?

Lộc đáp không cần suy nghĩ:

- Con thề có trời, con nhận liền.

- Hưởng xái cũng được sao?

- Xái hay nguyên gì cũng được hết! Cô Út quên là con từng nói, nếu Phụng có tan nát hết đời thì con vẫn yêu Phụng, con quyết phải ăn đời ở kiếp với Phụng!

Thể Phụng bật khóc thành tiếng. Cô lắc vai Nguyệt:

- Cô Út đừng nói nữa, con... chết bây giờ!

Út Nguyệt nhìn cháu gái mình rồi nhìn sang Lộc và thở dài...

Bất chợt Lộc nói:

- Nếu bây giờ tụi con bỏ trốn luôn thì cô Út có giúp con không?

Út Nguyệt giật mình:

- Có phải hai đứa đã có tính trước phải không?

Thể Phụng ôm vai bà cô mình:

- Tụi con không giấu cô Út, hai đứa tính chuyến này trốn luôn! Tụi con sẽ đi thật xa, rồi sau khi sinh xong, chúng con sẽ lập nghiệp nơi đó luôn. Vậy sau khi đưa tụi con lên Sài Gòn xong thì cô Út quay về, sau đó khoảng một tuần lễ Út hãy nói với mọi người rằng sau khi sinh xong, con đã đi đâu Út không biết!

Út Nguyệt sợ hãi:

- Chuyện này thì không nên đâu! Hay là để sinh nở xong đã, đứa con này đem giao cho bên nội nó, rồi tụi con muốn đi đâu cũng được!

- Tới nước này con xin nói thật với cô Út, con không còn đứa con nữa! Phụng khóc rấm rứt.

Câu nói như sét đánh ngang tai Út Nguyệt, cô run giọng hỏi:

- Con nói gì, Thể Phụng?

Bây giờ Phụng bình tĩnh trở lại:

- Con đã phá cái thai này ngay từ tháng thứ năm rồi!

- Phụng!

Nguyệt gọi một tiếng lớn rồi nhìn sững đứa cháu gái mình. Mọi việc như một giấc mơ. Hồi lâu cô mới hỏi lại:

- Sao tới giờ con vẫn còn mang thai?

Bất ngờ, Phụng giở áo ngoài lên, để lộ cái thai giả quấn bằng vải độn gòn bên trong và kể:

- Út nhớ trận đau nặng của con cách nay mấy tháng không? Đó là lần con phá thai, suýt mạng vong! Sau khi phá xong, bởi thằng Tường đâu có khi nào ở nhà, cho nên con dễ dàng qua mặt bên chồng bằng cái bụng giả này! Sở dĩ con làm vậy là vì con không muốn có bất cứ mối quan hệ nào với cái gia đình quái quỷ đó. Con đã tính cùng với Lộc bỏ đi từ lúc ấy, nhưng chưa thuận lợi, nên mới nấn ná tới bây giờ. Đây là thời điểm thích hợp để tụi con thực hiện ý nguyện của mình, vậy cô Út hãy giúp con lần cuối! Con lạy cô Út!

Út Nguyệt chới với, ngẩn ngơ một lúc mới thở dài nói:

- Tụi bay đặt tao trước việc đã rồi này thì bảo tao còn làm cách nào được nữa! Thôi thì muốn làm gì đó cứ làm...

Cô móc trong túi ra còn một số tiền, thấy quá ít nên vội tháo luôn chiếc xuyến đeo trên tay và đôi bông nhận hột dừa luôn cho Thể Phụng:

- Cô không có nhiều, chỉ có bấy nhiêu thôi, hai đứa cầm đỡ để tiêu xài, rồi có gì cô liên lạc sau và giúp tiếp!

Phụng xua tay:

- Không cần đâu cô Út ơi! Con đã chuẩn bị từ lâu nay rồi, nên đã ngầm tích trữ, hiện nay cũng có được một số vốn kha khá, có thể gầy vốn làm ăn, sinh sống được, cô…
 
Suốt dọc đường đi, câu chuyện của ba người chỉ xoay quanh đề tài bỏ trốn. Đến xế chiều thì họ tới một nơi mà Lộc nói:

- Tối nay Út ngủ lại với tụi con chỗ này. Đây là ngôi nhà nhỏ mà tụi con đã âm thầm chuẩn bị từ mấy tháng nay, rất kín đáo, nên chắc chắn không một ai biết!

Đó là một xóm ngoại ô rất vắng vẻ nhà cửa, ít người qua lại. Ngôi nhà tuy nhỏ nhưng có được khoảng sân, có chỗ để xe kín đáo. Phụng hớn hở trước khung cảnh mới mẻ này, cô ôm chầm lấy Út Nguyệt:

- Đây mới thật sự là tổ ấm của tụi con đó cô Út ơi!

Nhìn qua một lượt, Út Nguyệt gật đầu:

- Cũng khá ấm cúng. Thôi, Út mừng cho hai đứa con. Còn bây giờ coi bộ con Phụng mệt rồi, hãy mở cửa vào nhà cho nó nghỉ ngơi, trong lúc đó để Út đi ra ngoài kia mua chút gì về chuẩn bị bữa cơm trưa nay và cho cả bữa chiều luôn!

Cô nói xong đi liền. Trong khi đó Thể Phụng cũng mệt thật sự, cô bảo Lộc:

- Anh cất chiếc xe cho kỹ, đừng để người quen nhìn thấy. Em đi nghỉ chút đây.

Cô mở cửa đi thẳng vào phòng khách. Nhưng vừa bước vào cô đã phải khựng lại, bởi ngay giữa bộ ghế trường kỷ đã có một người ngồi sẵn! Đó là một phụ nữ tuổi trung niên.

Bà ta không để Phụng lên tiếng, đã nói ngay:

- Đã sinh rồi mà cái bụng sao còn lớn vậy cô Thể Phụng?

Phụng giật mình, nhìn sững bà ta:

- Bà là...

- Là người đem tin chẳng lành đến cho cô! Cô có muốn nghe tin về đứa con năm tháng tuổi bị bỏ rơi không?

Như giẫm phải lửa, Phụng thảng thốt:

- Bà... bà nói gì? Tôi nào có... có bỏ ai.

Người phụ nữ mặt đanh lại:

- Chuyện bỏ con là chuyện riêng cô, còn tôi là người tới để bắt cô phải chịu trách nhiệm về đứa con của mình.

Bà ta lấy ra từ trong giỏ xách một tấm chăn bông và chiếc áo ấm còn mới, đưa cho Phụng và nói gay gắt:

- Người ta sinh con ra khi không nuôi, đem cho người khác thì ít nhất cũng bọc con trong cái chăn cỡ này, mặc cho đứa nhỏ cái áo ấm cỡ này... Có đâu như cô, chỉ cho đứa nhỏ một cái bao cũ, mấy tờ báo cũ để gói và liệng xuống ao!

Bà ta nói đến đâu Thể Phụng gai ốc đến đó, và cuối cùng cô phải bước lùi mấy bước run run hỏi:

- Bà là... là ai? Bà tới đây để...

- Tôi nói rồi, tôi tới để bắt cô chịu trách nhiệm về đứa con bị bỏ rơi của mình.

Phụng cố chống chế.

- Đứa con đó tôi bị hư thai. Bỏ nó là lẽ đương nhiên...

Giọng người đàn bà đanh lại:

- Nó đâu có chết khi thai đã hơn năm tháng tuổi! Lúc ấy nó đã thành hình và khi lọt lòng nó đã là một sinh mạng! Cô...

Thể Phụng vùng chạy ra ngoài trong tâm trạng bấn loạn, sau lưng cô, giọng nói kia vẫn vang lên:

- Cô không thèm nhìn mặt con mình hay sao? Nó đi tìm cô mà cô vẫn nhẫn tâm thì đừng có trách!

Phụng dừng lại ngay, cô sửng sốt:

- Nó làm sao sống được?

- Cô không nghe ai khóc trong phòng hay sao?

Lúc này Phụng mới để ý lắng nghe, và hốt hoảng khi nghe rõ mồn một tiếng trẻ con khóc từ bên trong nhà!

- Ai?

Người phụ nữ giọng vẫn lạnh lùng:

- Vào mà nhận con đi!

Như bị điện giật, Thể Phụng la lên:

- Tôi không có con! Tôi...

Người phụ nữ đứng vụt lên và bước thẳng ra ngoài cửa. Vừa lúc Lộc cất xe xong bước vào, anh ngạc nhiên:

- Có chuyện gì vậy em?

Vừa lúc tiếng khóc lớn hơn của đứa trẻ vọng ra, khiến cả Lộc và Phụng đều sửng sốt, họ chạy bay vào và... đứng sững lại trước một đứa trẻ hình hài quái dị đang nằm trên giường, khóc thét từng hồi!

Lộc bình bĩnh hơn, anh nói:

- Tìm hiểu xem là con ai mà bỏ đây đã, rồi sẽ tính.

Nhưng Phụng đã run rẩy và lắp bắp:

- Là con... con của... em!

Đến phiên Lộc há hốc mồm:

- Em điên hả Phụng?

- Em nói thật. Nó là cái bào thai năm tháng tuổi mà hôm trước anh dẫn em đi phá đó...

Lộc ngơ ngác:

- Nó đã chết ngay sau khi lấy thai ra mà! Chính anh đã thấy...

Thể Phụng rụng rời tay chân, phải ngồi bệt xuống sàn, mặt tái xanh... Lộc hỏi lại:

- Ai nói với em chuyện này?

- Lúc nãy anh không thấy người phụ nữ từ đây đi ra sao? Chính bà ta tới giao con và nói rõ...

Lộc chợt nhớ ra:

- Bà ta... anh nhớ ra rồi, bà này là người nhà của bà mụ, người anh đã nhờ lo vụ phá thai cho em. Hồi nãy thấy bà ta đi ra anh cứ tưởng là em có hẹn để nhờ vả chuyện gì đó...

Nhìn lại đứa trẻ một lần nữa, Lộc chợt rùng mình, anh nói rất khẽ với Phụng:

- Mình phải làm sao... chứ để vậy sao được?

Phụng nói như khóc:

- Làm sao thì... em đâu biết. Mà trời ơi, sao nó chỉ có một con mắt và không có cái lỗ mũi! Nó là người hay là...

- Là người! Là đứa con được người sinh ra đàng hoàng chứ bộ!

Tiếng nói đó phát ra từ đâu cả Lộc và Phụng đều không biết, họ ngơ ngác nhìn nhau rồi đảo mắt khắp phòng, tìm kiếm...

- Con đây nè!

Lúc này họ mới tá hỏa, bởi tiếng nói đó phát ra từ đứa bé! Thể Phụng gần như bò lết dưới sàn, cô hoảng loạn chỉ muốn bỏ chạy mà không làm sao đứng lên được.

Chợt giọng nói kia lại cất lên:

- Sao gặp con mà mẹ không mừng? Con là Tài đây mà. Tài Lộc, Lộc Tài, cái tên hồi đó mẹ dự định đặt cho con, mẹ không nhớ sao?

Giọng nói hướng về phía Lộc:

- Ba của con đây mà! Tài Lộc của ba đây!

Lộc chết điếng:

- Con... con..

Anh chỉ nói được mấy tiếng rồi cứng họng đờ đẫn cả người... Trong khi đó thì đột nhiên đứa bé nhanh như sóc nó phóng từ giường xuống rồi nhảy lên đeo cứng Thể Phụng, khiến cho cô phải ẵm nó khác nào mẹ ẵm con!

Giọng nó lại rót vào tai Phụng:

- Hãy ẵm con cho chắc con mà té thì con chết. Mà con chết thì.. người ẵm cũng chết theo luôn!

Phụng hầu như không còn kiểm soát được mình, cô sắp ngã người sang một bên thì Lộc đã kịp thời lao tới chụp lại kịp. Đứa bé thích thú cười vang:

- Như vậy phải được không! Có cả cha lẫn mẹ cùng ôm con như vậy mà bấy lâu nay con cứ tưởng là không bao giờ có được! Con cám ơn cha mẹ...

Phụng đã thật sự ngất. Lộc ngẫu nhiên trở thành người phải sang tay, ẵm đứa bé, để nó khỏi té. Và đến phiên anh nghe đứa nhỏ thỏ thẻ bên tai:

- Con đã về đây rồi thì đừng hòng đưa con đi nữa...

***

Phải khó khăn lắm Thể Phụng mới thoát được ra khỏi nhà. Suốt ba ngày phải sống trong cực hình, nằm bên một đứa trẻ mà nội hình hài của nó thôi Phụng đã phát chết khiếp. Có lẽ nhờ cô phát bệnh từ hôm đầu, cho nên suốt mấy hôm nay Lộc là người phải chịu trận bồng ẵm, chăm sóc cho nó!

Có một hôm lợi dụng lúc nó ngủ, cả Lộc và Phụng liền lẻn ra khỏi nhà, định bỏ trốn, nhưng khi vừa leo lên xe thì đã bị nó leo lên lúc nào chẳng biết và đeo cứng cổ, không cho Lộc lái xe! Bởi vậy bữa nay nhân nó nằm ngủ với Lộc, Phụng dặn trước Lộc, cô sẽ đi tìm bà mụ, người đã lấy thai ra cho cô, để hỏi cho rõ, nhất là gặp người đàn bà kia, hầu nhờ giải quyết vụ này.

Quả nhiên Phụng thoát được, cô đi một mạch về chợ Phụng Hiệp. Tuy lần đó đi lén vào ban đêm, nhưng Phụng vẫn còn nhớ nhà, cô hỏi thăm thì được người ta chỉ đúng chỗ bà mụ. Bà vừa gặp Phụng đã nhớ ra, bà ngạc nhiên hỏi:

- Sao, bộ cô có thai nữa và cần... phá nữa sao?

Phụng ngượng đỏ mặt:

- Làm gì có. Tôi tới là để thăm lần phá năm đó bà chắc là cái thai đã chết không?

Bà mụ Ba hơi sựng lại một chút, rồi đáp:

- Thì... lấy ra khỏi bụng mẹ thì... coi như chết chứ sao!

- Nhưng... cỡ thai đó liệu nuôi thì có sống được không?

- Hơn năm tháng, làm sao sống được.

- Vậy sao...

Phụng sợ nói ngang bà mụ không hiểu, nên hỏi lại:

- Hồi bà làm cho tôi, tôi nhớ có một bà phụ việc... bà đó bây giờ còn ở đây không?

- Bà Tám Thôi, chính bà ta đã là người giúp đem đứa nhỏ đi mai táng. Bà đó làm ăn đàng hoàng, chu đáo, nên cô đừng lo, vong hồn đứa bé chắc là cũng siêu thoát rồi. Chỉ tiếc là hồi đó tôi quên không hỏi bà ấy chôn cái xác đó ở đâu để mai mốt mình đem vào chùa cầu siêu cho nó.

- Tôi muốn gặp bà Tám đó, bà làm ơn...

Bà mụ Ba đáp gọn lỏn:

- Bà ấy chết cách đây hơn một tháng rồi!

Câu nói khiến cho Phụng tá hỏa:

- Bà nói gì? Ai chết?

- Thì bà Tám Thôi, bà bị chết bất đắc kỳ tử mà chẳng thấy có bệnh gì! Bởi vậy tôi mới không kịp hỏi bà chôn cái thai ở đâu.

Phụng phải vịn vào thành ghế mới đứng vững được, người cô run và phải một hồi sau mới có thể hỏi tiếp:

- Có phải chắc chắn đúng bà ấy là người đã cùng làm với bà?

Bà mụ Ba nói chắc nịch:

- Mấy cái vụ này thì làm sao dám cho người ngoài sờ tay vào. Bà Tám Thôi này xưa nay có tay nghề và kín miệng, cho nên chỉ mình bà ta là cùng làm với tôi, chứ không có ai khác cả!

Chưa tin hẳn, Phụng hỏi thêm:

- Bà chỉ nhà giùm... tôi tới thắp cho bà ấy nén nhang.

Nghĩ là Phụng có lòng, nên bà mụ Ba chỉ và còn dặn:

- Bà ấy hoàn cảnh khó khăn, cô có tới thì cũng cho bà ấy chút đỉnh.

Phụng đi ngay tới chỗ đó. Khi bước vào nhà thì cô đã nhìn thấy tấm ảnh chân dung của bà ta đặt trên bàn thờ, Phụng kêu khẽ.

- Đúng là bà ta rồi!

Người nhà đón tiếp Phụng rất ngạc nhiên khi thấy một người lạ mà tới nhà họ, nên đã hỏi thẳng:

- Cô tới để nhờ vả vụ... phá thai phải không? Nếu là chuyện đó thì yêu cầu cô đi ngay cho!

Phụng phải đính chính:

- Dạ không phải, tôi là người quen cũ, nhân về qua đây ghé thăm bà gửi cúng bà ít quà...

Cô lấy ra một số tiền kha khá đặt lên bàn thờ và nói:

- Cầu cho vong linh bà Tám siêu thoát...

Người con gái lớn của bà bỗng ôm mặt khóc:

- Má tôi đâu có làm gì ác, mà sao từ khi chết đến giờ đêm nào cũng về báo mộng, toàn là chuyện gì đâu không, làm cả nhà mất ăn mất ngủ?

Phụng tò mò:

- Có chuyện gì vậy?

Nghĩ Phụng cũng là người quen với má mình, nên chị nọ không giấu:

- Má tôi chết mà không có bệnh gì, tôi đã nghi rồi... không ngờ có thật? Đêm nào bà ấy cũng về báo là bị một oan hồn uổng tử đeo theo phá, đòi đền mạng! Bà sợ hãi, khóc lóc và kêu cứu, nhưng mình là người trần thì làm sao cứu giúp được những vong hồn cõi âm.

- Uổng tử là cái gì?

- Là vong hồn của trẻ nhi bị chết oan! Chẳng hiểu lúc giúp cho bà mụ Ba, má tôi có phạm phải tội ác gì hay không mà...

Chị nói tới đó thì lại khóc lớn hơn. Rồi lát sau hơi bình tâm lại, chị chỉ lên bàn thờ và bảo:

- Có cái tên của người nào đó mà lần nào hiện về má tôi cũng bảo ghi lại. Hỏi để làm gì thì bà nói để bà chỉ cho đứa uổng tử kia, để nó không còn đeo theo bà nữa!

Phụng như bị lôi cuốn vào câu chuyện, cô đứng lên và bước về phía bàn thờ, rồi tiện tay cầm lên mảnh giấy nhỏ có ghi mấy chữ: Thể Phụng, con gái bà Phủ Hoài!

Phụng tái mặt, cô tìm cách tháo lui ngay:

- Xin lỗi, tôi có việc phải đi... để lần khác tôi tới thắp nhang cho bà Tám sau.

Ra đường rồi Phụng đi như chạy và lúc này trong đầu cô hình ảnh của bà Tám Thôi hôm gặp cô ở nhà đang là nỗi ám ảnh khủng khiếp! Và theo như những gì đứa con gái bà thuật lại hồi nãy thì chuyện bà ấy mang đứa bé tới giao cho Phụng không phải là ý của riêng bà. Đó là ý của... oan hồn uổng tử kia!

Trở về Sài Gòn ư? Điều này Phụng không dám. Nhưng để cho Lộc chịu trận với đứa bé thì khác nào biết anh sắp nguy mà không cứu! Cuối cùng Phụng nghĩ ra một cách. Cô cũng về Sài Gòn, nhưng thay vì về thẳng nhà, cô ghé lại một nhà quen, nhờ một người đạp xích lô, cho anh ta một số tiền bằng cả ngày chạy xe và dặn:

- Anh tìm cách tới số nhà này, theo địa chỉ tôi ghi trong giấy, tới đó tìm người tên Lộc, gọi anh ta ra cửa rồi dặn anh ấy là phải đem đứa bé về nhà của bà Phủ Hoài. Đưa nó cho cô Út Nguyệt và dặn...

Người đạp xích lô lắc đầu nói:

- Cô dặn nhiều quá tôi đâu có nhớ. Tốt nhất là cô viết vô tờ giấy, rồi tôi tới đó đưa, người ta sẽ đọc và làm theo!

Nghe có lý, Phụng viết vội mấy ý, dặn Lộc cứ ôm đứa bé về nhà, nói đại là cô vừa sinh ra... quái thai, nên sợ không dám về nhà. Rồi bảo cô Út Nguyệt đem đứa nhỏ giao cho bên nội nó, để bên đó họ xử lý sao là tùy họ!

Người đạp xích lô đi chừng một tiếng đồng hồ, trở về với vẻ thất vọng:

- Việc cô nhờ tôi làm không xong rồi, tôi tới đó thì nhà đóng kín cửa, kêu hoài cũng chẳng ai ra mở!

Phụng lặng người đi khá lâu, cuối cùng cô quyết định liều, cô bảo chở mình về đó. Khi mở cửa ra thì đúng là Lộc và đứa bé không có ở nhà. Họ đi đâu chẳng hiểu, nhưng chiếc xe hơi thì vẫn còn ở đó.

Lúc xem lại hành lý thì những gì của Lộc cũng biến mất, chỉ còn lại quần áo, vật dụng của Phụng.

- Như vậy là sao? Chẳng lẽ Lộc bỏ trốn với đứa bé?

Điều này hoàn toàn không thể, nhưng những gì diễn ra trước mắt khiến cho Phụng càng lúc càng hoang mang. Cũng may, sau đó khi ra chỗ chiếc xe, Phụng chợt phát hiện có dòng chữ viết bằng phấn trên ca-pô xe: Anh đem con về nhà cho cô Út.

Phụng reo lên:

- Lộc đã làm đúng ý mình!

Cô thầm cám ơn trời phật đã giúp cho mọi việc như ý...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-04-18 16:00:07Soccon>
Phần 2

Út Nguyệt nhanh tay đặt đứa bé vào trong xe hơi của Tường, rồi chạy đi ngay khi nó còn đang ngủ. Do đã cho tiền tài xế Tư Sang rồi, nên anh ta lúc đó làm như vô tình bỏ đi uống cà phê.

Như vậy là mọi việc coi như ổn. Điều lo sợ canh cánh trong lòng từ hai ngày qua giờ đã giải tỏa. Việc này Út Nguyệt dám tự hào rằng, ngoài cô ra thì khó lòng ai làm được. Thứ nhất, không ai dám ẵm đứa bé dị hình và tính tình quỷ quái như nó. Thứ hai là ẵm được nó và giao tận nơi mà nó phải tới, người cha ruột thịt của nó, là điều khó lòng thực hiện!

Làm xong việc khó, như trút được gánh nặng ngàn cân, Út Nguyệt về nhà lòng hí hửng. Ở một căn nhà mướn tạm để cho Phụng và Lộc ở, Út Nguyệt phấn khởi kể lại thành tích của mình:

- Tụi bay biết không, lúc đặt đứa bé vô xe, tao cứ nơm nớp lo sợ nó giật mình tỉnh lại và đeo cứng như thằng Lộc nói, nào ngờ nó lại nằm im, ngủ ngon lành! Tao tưởng tượng lúc thằng Tường trở ra mà nhìn thấy nó chắc là hắn ta sợ đến... đái trong quần luôn!

Lộc vẫn chưa yên tâm:

- Đứa bé này nó quỷ quái lắm, không phải ai nó cũng đeo bám đâu. Chỉ đúng người nó mới làm vậy. Sợ e...

Út Nguyệt trừng mắt:

- Thì thằng Tường là cha đẻ của nó thì nhất định nó sẽ đeo khi gặp mặt. Chứ còn như tao, tụi bay thấy không, nó đâu có đeo cứng như đeo thằng Lộc... à mà cũng lạ, sao thằng Lộc là người ngoài, đâu có dính dáng máu mủ gì với nó đâu mà đứa bé lại đeo như sam là sao?

Bà quay sang Phụng:

- Mày nói thật coi, đứa bé là con của ai, thằng Tường hay thằng Lộc nào?

- Dạ... của ông Tường, chứ anh Lộc thì...

- Thằng Lộc không có sao đứa nhỏ đeo nó dữ vậy? Tao nghi quá... Hay là nó hoàn toàn là của thằng Lộc trước khi mày lấy chồng?

- Đâu có cô Út! Của cha Tường mà.

- Tao thấy sau ngày cưới rồi mà mày còn thậm thò thậm thụt với thằng Lộc, tao sợ...

Phụng không muốn bàn tới chuyện đau đầu này nữa, nên đứng lên và nói:

- Thôi, cô Út giúp kêu chiếc xe lôi vào đây, để tụi con trở lên Sài Gòn liền. Tụi con sẽ thực hiện tiếp những gì đã tính.

Út Nguyệt nhẹ lắc đầu:

- Tao cũng mất ăn mất ngủ vì chuyện tụi bay! Từ bữa con Phụng lên Sài Gòn rồi không thấy về, cả nhà thằng Tường chạy đôn chạy đáo kiếm tìm. Sau khi họ biết là mày cùng bỏ đi bởi thằng Lộc thì họ làm giặc lên, họ đòi kiện ba má bay! Cũng may là uy thế cha bay còn lớn nên họ mới để yên. Nhưng với thằng Lộc thì họ hăm sẽ làm dữ với nhà mày!

Lộc không hề nao núng:

- Con đã quyết rồi thì họ muốn làm gì cũng được. Cái quan trọng nhất với con là Phụng, trừ khi là Phụng bỏ con, chứ không thì con thề sẽ không bao giờ con để mất Phụng lần nữa!

Phụng cũng nói:

- Con chỉ lỡ một lần thôi, sẽ không có lần thứ hai.

Út Nguyệt hạ thấp giọng:

- Mà tao vẫn còn thắc mắc, sao mày không thương thằng Tường, sao lại để có con với nó! Mày ngừa rồi chứ cơ hội như thế này có phải đỡ rắc rối hơn không!

Phụng chán ngán:

- Ngừa sao được với cái thằng lúc nào về nhà cũng say xỉn. Mỗi lần như vậy hắn coi con như con súc vật, đè ra đánh, đập và... làm đủ trò, con làm sao cưỡng lại được!

Rồi Nguyệt thở dài:

- Cái số con này không ngờ lại khổ! Bởi vậy đâu phải cứ sinh làm con nhà giàu, nhà quyền thế là sướng đâu!

Phụng bước vào phòng trong chuẩn bị hành lý, thì từ trong đó cô hét to:

- Út ơi, anh Lộc ơi!

Hai người này chạy vào thì muốn chết khiếp! Bởi, trước mặt họ là đứa bé đang nằm ngủ ngon lành trên giường!

Phụng run giọng:

- Sao... sao nó vẫn còn ở đây cô Út?

Út Nguyệt cũng mất bình tĩnh:

- Nghe tụi bay kể tao không tin nó là… oan hồn uổng tử. Nhưng bây giờ thì… tao tin. Mà đã là oan hồn thì làm sao bắt nó theo ý mình được.

Phụng vừa sợ vừa chán nản:

- Con biết làm sao bây giờ đây Út? Út có cách nào giúp con với...

Út Nguyệt chợt nhớ, cô kéo tay hai đứa ra ngoài bảo:

- Cô có quen một ông thầy chuyên làm phép trục ma quỷ ít ra ông ấy cũng có thể làm cho đứa bé này không quậy phá con nữa.

Phụng mừng quýnh:

- Sao Út không nói sớm. Vậy Út còn chờ gì nữa.

Út Nguyệt bảo:

- Bây giờ để nó khỏi nghi, Lộc hãy ở lại nhà coi chừng nó, cô sẽ dẫn con Phụng qua bên ông thầy.

Ông thầy gọi là thầy Tư Thế, vốn nổi tiếng từ Xiêm La về. Đã lâu năm hành nghề từ Băng-Cốc, Nam Vang, Thất Sơn. Ông tài giỏi, nhưng rất kén khách. Chỉ những ai thầy cho là có hoàn cảnh ngặt nghèo, đáng thương thì nhờ thầy thầy mới giúp. Còn không, dẫu có trả bao nhiêu tiền thầy cũng từ chối.

Biết vậy nên trước khi ghé chỗ thầy, Út Nguyệt đã dò hỏi trước ở nhà một người quen và được người này cho biết:

- Thầy Tư đã đóng cửa không tiếp khách từ ba ngày nay. Có dặn mấy đệ tử là khi nào có người tới tìm thì từ chối hết.

Út Nguyệt thất vọng:

- Tôi từ xa tới, mà thầy như vậy thì biết làm sao đây?

Người nọ mách:

- Cũng đã từng có vài lần như vậy rồi. Nếu cô muốn được thầy tiếp thu phải đợi lúc nửa đêm tới đứng chờ thầy ở cổng. Giờ đó thầy thường ra ngồi cầu vong giữa trời. Lúc đó hễ thầy gặp ai đầu tiên thì nhờ gì thầy cũng giúp.

Út Nguyệt ái ngại:

- Nhưng tôi và đứa cháu là thân nữ, làm sao có thể tới vào đêm khuya như vậy được?

- Nếu không làm vậy thì đành chịu thôi!

Út Nguyệt về bàn lại với Phụng, thế là nửa đêm hôm đó hai cô cháu đích thân tới nhà thầy Tư Thế và đợi... Đúng như chị nọ nói, đúng nửa đêm hôm đó thầy Tư xuất hiện như một tiên ông, trong bộ quần áo toàn trắng. Thầy ngồi xếp bằng giữa sân, không thắp hương, nhưng mắt thầy nhìn vào khoảng không bao la như nhìn làn khói hương quyện bay theo gió... Hồi lâu bỗng thầy ngẩng lên và nhìn ra cổng nói đủ cho hai người nghe:

- Hai người chờ đợi chi cho mất công. Hãy về đi, oan gia nghiệp chướng đó đã trót mang thì không làm sao dứt ra được đâu!

Út Nguyệt nghe vậy lên tiếng liền:

- Lạy thầy, thầy đã biết rồi thì xin ra tay giúp giùm cho cháu tôi, tội nó lắm! Nó gặp phải cuộc hôn nhân không ra gì, bây giờ lại mang cái khổ này nữa, làm sao nó sống nổi.

Thầy Tư không nhìn Phụng, nhưng đã phán:

- Nó sống không nổi vậy sao bắt kẻ khác phải khổ?

Út Nguyệt cãi:

- Cháu tôi đâu có làm ai khổ đâu thầy! Nó... nó…

Thầy Tư giờ mới nhìn ra, giọng thầy đanh lại:

- Vậy xác đứa bé năm tháng tuổi nằm dưới đáy ao là con của ai?

Phụng nãy giờ im lặng, bỗng thốt lên:

- Chuyện đó không phải do con làm! Cái đó...

- Ai mang nó trong bụng?

- Dạ... con lỡ...

- Lỡ mang thì phải đẻ và nuôi, cớ sao phá bỏ giữa chừng, mà phá xong khi biết nó còn sống lại giết nó chết?

Phụng hốt hoảng:

- Con không có giết nó. Con giao chuyện ấy cho bà mụ và...

Thầy Tư đanh giọng:

- Tội của bà mụ và người trợ giúp cho bà ta thì đã rõ, cả hai người họ đều sẽ lần lượt lãnh hậu quả thôi.

Ông thầy nói xong câu đó thì im lặng, ngồi nhắm mắt và tiếp tục cuộc cầu hồn. Út Nguyệt và Phụng có nói gì thì vẫn không nhận được câu trả lời. Đứng mòn mỏi, cuối cùng Út Nguyệt dẫn cháu về. Họ nhận được lời khuyên của thầy nói với theo:

- Đứa bé có thể biến mất, nhưng nghiệp chướng thì sẽ không hết đâu!

Đầu óc hoang mang, Phụng đi theo Nguyệt chỉ được một đoạn rồi kêu đau bụng. Lúc đầu bụng chỉ đau râm ran... nhưng càng về sau thì cơn đau tăng lên dữ dội. Nhìn thấy mặt cháu mình xanh tái, Út Nguyệt hốt hoảng:

- Có sao không con?

Phụng thở hổn hển đầy mệt nhọc:

- Không... không xong rồi... Út ơi... con chịu không nổi nữa rồi...

Phụng chỉ nói được mấy tiếng đó rồi ngã quỵ xuống giữa đường. Hoảng quá, Út Nguyệt vội kêu xe chở đi bệnh viện. Phụng đã gần như mê man lúc vào tới chỗ khám bệnh. Sau gần một giờ, một cô y tá bước ra hỏi:

- Ai là thân nhân của cô Thể Phụng?

Út Nguyệt vội đáp:

- Dạ tôi.

Nhìn Nguyệt từ đầu đến chân, cô y tá hơi tò mò:

- Cô là gì của cô Phụng?

- Tôi là cô ruột của nó. Tôi...

- Được rồi, mời bà vô gặp bác sĩ.

Ngỡ bệnh tình của Phụng quá nặng, nên Út Nguyệt vừa bước theo mà vừa run. Vừa gặp bác sĩ cô đã hỏi ngay:

- Cháu tôi sao rồi bác sĩ? Liệu có chữa được không?

Vị bác sĩ Iại nhìn cô một lượt, rồi đột nhiên hỏi:

- Bà chưa biết gì?

Út Nguyệt ngơ ngác:

- Biết gì?

- Cô Phụng này đã có thai được ba bốn tháng, cái thai bị động nên hành, mà sao bà để cho đến nỗi này?

Út Nguyệt tưởng mình nghe lầm:

- Bác sĩ nói thật hay giỡn?

Vị bác sĩ nghiêm nét mặt:

- Tôi đâu có thời giờ để nói chơi với bà. Cô này bị động thai, nhất thời chúng tôi chưa xác định được là cái thai có bị gì hay không, phải đợi chuyển qua chuyên khoa rồi mới rõ.

Nguyệt bắt đầu run:

- Cháu tôi mới sinh đây mà sao lại có thai được? Hay là bác sĩ lầm lẫn?

Vị bác sĩ có vẻ bực mình, ông gọi cô y tá dặn:

- Cô cho chuyển bệnh nhân qua khoa sản ngay. Lưu ý, phải kịp thời, nếu không sợ e...

Ông bỏ ra khỏi phòng rồi mà Út Nguyệt vẫn còn ngơ ngác nhìn theo. Mãi một lúc cô mới hỏi lại cô y tá:

- Bác sĩ nói gì vậy?

Cô y tá cũng bực mình:

- Thì bà nghe rồi đó, bệnh nhân này bị động thai, chứ có bệnh hoạn nào khác đâu! Mà sao thai lớn rồi mà bộ không biết sao để cho nó tệ như vậy?

Năm phút sau thì Phụng được chuyển sang phòng khác. Khoa sản.

Cho đến nửa đêm hôm đó thì bệnh viện cho một kết quả động trời: Bệnh nhân Thể Phụng mang thai gần bốn tháng, thai bị động, có thể nguy hiểm chẳng những cho đứa bé trong bụng, mà ngay cả mẹ nó cũng bị nguy hiểm đến. Út Nguyệt thất thần:

- Không thể nào! Làm sao lại như vậy...

Bà cứ đứng yên như bị trời trồng, vừa lẩm bẩm khiến mấy cô y tá phải phát bực:

- Bà không đi làm thủ tục cho bệnh nhân nhập viện đi, còn đứng đó, bộ muốn nhìn bệnh nhân bị nguy hiểm sao!

Mãi đến khi theo Phụng vào tới phòng điều trị rồi mà Nguyệt vẫn còn lừng khừng như kẻ mất hồn. Cho đến khi cô gọi khẽ sau lưng:

- Cô Út! Cô Út...

Út Nguyệt quay lại thấy Phụng vừa tỉnh thì mừng:

- Con ơi, dậy đi để cãi với họ, chứ cô nói không được..

- Cãi cái gì?

- Thì... họ nói mày có thai bốn năm tháng gì đó, nghe có tức cười không?

Phụng cũng ngơ ngác:

- Thai gì? Con mới phá thai cách năm tháng trước, rồi từ đó có... ăn nằm gì với ông Tường đâu mà có thai?

Út Nguyệt ngập ngừng:

- Vậy mày với thằng Lộc... có gì với nó không?

- Làm gì có.

- Thật không?

- Con thề độc với dì mà.

Hai cô cháu nhìn nhau mà chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra...
 
***

Bà Phủ Hoài điếng hồn trước tin báo của Út Nguyệt. Bà ngồi thừ người ra hồi lâu rồi mới hỏi lại:

- Rồi biết ăn nói làm sao với bên nhà chồng nó? Cái con mẹ phú hộ Ba Lến là loại đàn bà miệng mồm độc địa, đâu dễ để yên.

Nguyệt đã tính kỹ rồi, nên có cách nói của mình:

- Sợ gì thứ nhà giàu dốt nát đó! Tôi nói thật với chị, cùng lắm thì mình bắt con Phụng về cũng có sao đâu!

Bà Phủ nhảy dựng lên:

- Bộ giỡn sao Út! Họ đâu có để cho mình yên khi con Phụng đã là dâu nhà họ? Rồi mình giải thích sao với thiên hạ nữa chuyện con Phụng mới đi bệnh viện nằm chờ sinh, rồi bữa nay lại nói mới có thai bốn tháng? Bộ cô nói họ con nít sao chứ!

Út Nguyệt hạ thấp giọng:

- Con Phụng sẽ có cách nói, nó đã tính rồi...

Bà Phủ trợn mắt nhìn đứa em chồng chỉ bằng tuổi con gái mình:

- Cô với nó còn tính toán, âm mưu gì nữa đây?

Nguyệt kề tai nói nhỏ cho bà chị dâu nghe một hồi.

Vừa nghe xong bà Phủ la lớn:

- Không được! Phá thai là tội lớn, suốt đời cất đầu lên không nổi đâu!

- Nhưng con Phụng đã...

Suýt nữa Nguyệt đã nói lộ ra chuyện Phụng từng phá thai một lần rồi, may mà cô dừng lại kịp... Bà Phủ tinh ý nên thắc mắc:

- Bộ con Phụng đã...

Nguyệt nói lảng ngay:

- Đâu có chuyện gì. Tôi muốn nói con nhỏ đang có sức khỏe kém, không thể để nó bệnh hoạn bởi mang cái thai... nhưng thôi, tôi sẽ có cách khác...

Thấy Nguyệt úp mở như vậy bà Phủ lo ngại:

- Cô tính toán gì thì cũng nghĩ tới tôi với ông anh Hai cô. Ông ấy mà biết được chuyện con Phụng làm bậy bạ gì đó là ông ấy giết chết!

Nguyệt nói ỡm ờ:

- Làm thì làm cho đúng, chứ ai lại làm bậy...

Cô nói xong đứng lên đi ngay, khiến cho bà Phủ càng lo thêm, bà gọi giật ngược:

- Cô Út! Cô lại đây tôi hỏi thêm coi!

Nhưng Út Nguyệt đã đi nhanh ra khỏi cửa. Bởi Phụng đang nằm ở ngôi nhà mướn chờ đợi...

Từ hôm ở bệnh viện về, Phụng lúc nào cũng ở trong tâm trạng nơm nớp lo sợ, hoang mang. Vừa thấy Nguyệt về, cô nàng đã vồ lấy, khóc nức nở:

- Con chết Út ơi! Nó... nó lại hành con...

- Ai hành?

- Cái thai! Từ sáng lúc Út đi thì nó liên tục quậy, làm con đau đớn không chịu nổi.

- Đã uống chén thuốc an thai mà cô pha sẵn chưa?

- Uống rồi, nhưng vừa uống vô là con ói ra sạch hết và cái thai càng quậy dữ hơn! Con chịu hết nổi rồi Út ơi!

Họ đang nói chuyện thì từ ngoài cửa Lộc chạy ùa vào. Anh vừa thở hổn hển vừa mừng ra mặt:

- Xong rồi cô Út ơi!

Nguyệt ngạc nhiên:

- Chuyện gì vậy?

- Đứa... đứa nhỏ.. coi như xong rồi.

Đến Phụng đang đau đớn mà cũng hỏi dồn:

- Xong là sao?

Lộc nói chậm từng tiếng một:

- Nó biến đâu mất rồi!

Út Nguyệt kinh ngạc.

- Thật vậy sao? Mà biến đi đâu?

Phụng lo lắng:

- Thứ quỷ quái đó không dễ bỏ đi đâu. Nó là oan hồn thì chuyện ở hay biến mình làm sao kiểm soát được.

Nhưng Lộc quả quyết:

- Anh đã tìm khắp nơi rồi, không hề thấy nó.
 
Và anh lấy ra bộ đồ trẻ con đưa cho Út Nguyệt xem, vừa trông thấy thì cả cô và Phụng đều kêu lên:

- Đồ của nó!

- Thì đây là quần áo đứa bé đang mặc, vừa rồi cháu tìm thấy nó bỏ ngoài sân.

Phụng nghe trong bụng mình nhói đau và như có ai xúi, cô thốt lên:

- Đem đốt nó đi!

Lộc còn lưỡng lự thì Út Nguyệt giật lấy, cô chạy ra sân và châm lửa đốt liền. Bộ quần áo cháy rất nhanh và khi nó vừa cháy hết thì cũng vừa lúc Phụng bật đứng dậy vừa reo lên sung sướng:

- Con hết đau bụng rồi Út ơi.

Cô đưa tay xoa xoa bụng như còn chưa tin và rồi đột nhiên hỏi:

- Hình như con... đâu còn có thai nữa?

Hôm qua Út Nguyệt đã sờ vào bụng cháu mình, rõ ràng cái thai gò lên và động đậy nữa, còn bữa nay...

Sau khi sờ vào, Nguyệt la lên:

- Đúng là không có gì hết!

Lộc chưa được thông báo việc Phụng có thai lần nữa, nên ngơ ngác:

- Cái gì không có vậy?

Út Nguyệt nháy mắt không cho Phụng nói, cô hỏi Lộc:

- Tao hỏi thật, mày có ăn nằm gì với con Phụng từ bốn năm tháng nay không?

Lộc thành thật:

- Từ lúc Phụng phá thai đến giờ tụi con hoàn toàn không có gì với nhau hết!

- Thật không?

- Dạ thật. Con mà nói láo cho trời tru đất diệt con đi!

Nguyệt cười:

- Thấy mày thề thốt tao cũng tạm tin. Mà thôi, để tao lo vụ con Phụng cho xong đã...

Cô quay sang Phụng thì cô này đang ưỡn ẹo ra vẻ mừng vui lắm:

- Con không còn thấy có chút gì trong bụng hết. Chắc chắn là con... hết mang thai rồi Út ơi!

Vô tình cô nói hớ lên khiến Lộc ngơ ngác:

- Em mang thai?

Đến nước này Út Nguyệt đành phải nói:

- Con Phụng thấy bụng đau, đi bệnh viện khám, người ta ghi là có thai...

Phụng chen vào nói:

- Nhưng bây giờ hầu như không có gì! Út ơi, mình trở lại bệnh viện cho họ khám lại đi!

Lộc xung phong:

- Để anh đưa em đi!

Út Nguyệt chặn lại:

- Ở đây gần với nhà chồng con Phụng, họ mà thấy nó đi với mày thì họ cào nhà mày xuống! Thôi, để tao đưa đi, thằng Lộc muốn nghe ngóng thì đi theo, nhưng phải cải trang thành người nào đó, để thiên hạ không nhận ra.

Lộc mau mắn:

- Để con giả làm người đạp xe lôi. Con có quen với một bác có chiếc xe lôi đang bỏ không, cô Út và Phụng chờ cho một chút, con sẽ kiếm đồ thay rồi đưa xe tới đây chở Út và Phụng đi tới một bác sĩ sản khoa giỏi mà con có biết.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Phần 3
 
Lộc đi chừng nửa giờ sau trở lại. Anh ngừng xe ngoài cửa gọi vào nhà:

- Ai đi xe thì ra đi!

Khi Út Nguyệt và Phụng bước ra họ đã vô cùng kinh ngạc khi nhìn trong lớp quần áo phu xe với chiếc nón lá rách lụp xụp trên đầu. Phụng kêu lên:

- Anh giống dân xe lôi quá trời!

Lộc đùa:

- Cũng phải tập dần, để mai mốt về sống chung với Phụng, lỡ có thất nghiệp thì cũng có sẵn cái nghề để sinh nhai chứ!

Họ leo lên xe, Lộc đưa tới một bà bác sĩ chuyên khoa sản. Sau khi khám thật kỹ, bà nói liền:

- Tuy còn phải thử thở mới biết được chắc chắn là có thai hay không, nhưng qua các dấu hiệu cho thấy thì cô đây hoàn toàn không có gì hết!

Phụng mừng rơn:

- Vậy là thật rồi, mừng quá!

Bà bác sĩ ngạc nhiên:

- Không có thai mà mừng vậy sao? Có đứa nào chưa?

Phụng lắc đầu:

- Dạ chưa?

- Chưa có con thì phải buồn khi chưa có thai chứ?

Út Nguyệt phải chen lời:

- Thưa bác sĩ là vầy... cháu nó chưa muốn có con để còn tiện làm ăn. Chờ lúc nào thuận tiện mới tính...

Bà bác sĩ quay sang Lộc:

- Anh chồng đây phải không? Anh cũng đồng ý với vợ sao?

Lộc miễn cưỡng gật đầu:

- Dạ, em cũng muốn vậy.

Bà bác sĩ lắc đầu:

- Từ nào đến giờ thân chủ của tôi hầu hết khi nghe chưa đậu thai thì thất vọng, chán nản lắm. Đây là lần đầu...

Trả tiền khám bệnh xong, Phụng giục hai người:

- Mình về thôi, chắc má tôi mừng íắm!

Út Nguyệt hốt hoảng:

- Bộ mày muốn trở về nhà hả Phụng?

Phụng gật đầu:

- Dạ, đúng rồl! Từ nay con không sợ gì nữa hết, con sẽ trở về nhà sống đàng hoàng, rồi con sẽ bỏ chồng, để chuẩn bị lấy anh Lộc!

Nguyệt lo lắng:

- Rồi biết ăn nói sao với bên phú hộ Tư Bền đây? Rồi thằng Tường nữa...

Phụng tỏ ra bình thản:

- Có gì mà phải lo. Bây giờ con nghĩ rồi, chẳng thà quyết định dứt khoát, chứ còn tiếp tục sống trong cảnh vợ hờ thì con không chấp nhận! Từ ngày lấy con, tay Tường chỉ ngủ nhà có ba đêm rồi biền biệt miết, con còn sống đời làm vợ kiểu đó được sao!

Thấy Lộc im lặng nhìn đi nơi khác, Út Nguyệt hỏi:

- Ý mày thấy sao, Lộc?

Lộc quay lại đáp rất dứt khoát:

- Con đã nói rồi, dẫu có chết con cũng quyết lấy Phụng!

Phụng cảm động ngã vào vai Lộc, âu yếm:

- Con không thể thiếu anh ấy được...

Út Nguyệt thở dài:

- Đành thôi, chứ biết sao...

Ngay tối hôm đó Phụng theo Út Nguyệt vào thẳng nhà mình. Bà Phủ Hoài vừa thấy con về đã định quát một trận, nhưng khi thấy Phụng vẫn tươi tỉnh và bình thản thì bà hơi ngạc nhiên:

- Mày có sao không vậy?

Phụng ôm chầm lấy mẹ, cầm tay bà đặt lên bụng mình khiến bà Phủ rụt tay lại, la lớn:

- Sao lại có thai, vậy còn đứa con mới sinh đâu?

Phụng thản nhiên:

- Bầu bì gì đâu má. Bộ má không thấy bụng con là bụng... con gái hay sao?

Bà Phủ tròn mắt:

- Mày với cô Út mày. Bộ muốn giỡn mặt với tao hả?

Út Nguyệt giờ mới lên tiếng:

- Cũng tại con nhỏ này, nó nói hoảng, làm em tưởng...

Bà Phủ mừng rỡ:

- Nếu vậy thì còn dễ ăn nói với bên kia.

Rồi bà thắc mắc:

- Sao cả chục năm nay rồi, từ lúc con Phụng được lên Sài Gòn sinh tới nay. Không hề thấy bên nhà Tư Bền qua hỏi thăm tiếng nào hết?

Phụng được dịp kể lể:

- Cái nhà đó mà biết gì tới ai ngoài họ đâu. Còn thằng Tường thì đi mút chỉ, hình như có vợ bé đâu trên Sài Gòn, còn nhớ gì tới nhà cửa, vợ con!

Út Nguyệt được dịp chen vào, kể tội:

- Tôi đã nói rồi, dứt khoát với cái nhà đó cho rồi mà chị còn không chịu!

Bà Phủ dịu giọng:

- Tôi cũng đâu có thiết tha gì, nhưng ngặt nỗi ông anh cô ông ấy sĩ diện, không muốn thiên hạ đàm tiếu. Bởi vậy cho nên...

Phụng nói thẳng ra ý của mình:

- Kỳ này con tính bỏ luôn! Nhân chuyện con đi sinh về mà không có con đem theo, con báo là sảy thai, chắc là họ sẽ giận dữ và kiếm chuyện, vậy cũng tốt, con sẽ tuyên bố bỏ về nhà cha mẹ luôn.

- Không được đâu con...

Bà Phủ can, nhưng Út Nguyệt đã đốc vào:

- Cứ làm vậy đi con! Nếu mà bây không dám nói thẳng, thì để cô. Tôi sẽ đi với con Phụng qua bên đó nói chuyện với họ một lần cho xong!

- Nhưng mà, còn anh cô...

Nguyệt xẵng giọng:

- Cùng lắm là anh Hai giết em chứ gì, em không sợ, miễn là em cứu con Phụng thoát cảnh khổ là được.

Nói xong cô hối cháu mình

- Mày đi liền với tao qua nhà họ!

Phụng do dự:

- Để từ từ đã cô. Con mới về, để con chơi với má con chút đã...

Nguyệt nóng nảy:

- Tao muốn đi liền, chứ để nguội tao mất lửa luôn, không nói được!

Phụng đành phải đi theo. Cô sắp sẵn trong đầu kịch bản để nói với nhà chồng chuyện mình có thai mà không sinh. Thậm chí Út Nguyệt còn chỉ thêm cho một mánh nói hiệu quả hơn:

- Mày cứ nói là sinh.. quái thai, nên sau khi sinh xong mày hoảng quá đã nhờ người bỏ đi rồi!

Phụng dè dặt:

- Mấy người già họ không chấp nhận vậy đâu. Có lẽ con sẽ nói là sinh con dị hình và vừa ra đời nó đã chết nên bệnh viện cho mai táng giúp rồi!

- Ừ, cứ như vậy...

Tuy nhiên, mọi việc diễn ra sau đó đã làm đảo lộn mọi dự tính của cả hai. Lúc vừa bước vào nhà đã gặp ngay bà chủ Bền. Hôm nay thấy mặt con dâu bà đã cười toe toét ngay:

- Dữ không, tưởng mày bỏ luôn cục cưng của tao chứ!
 
Phụng ngơ ngác nhìn bà rồi nhìn lại Út Nguyệt, chưa hiểu gì thì chủ Bền lại nói:

- Nó dễ thương lắm mày ơi! Tao vốn ghét con nít, vậy mà từ lúc nó về đây tao thương hết biết, bồng ẵm không rời tay!

Bà nói xong quay lại chiếc nôi đặt giữa nhà, bế lên một đứa bé còn trong tháng, vừa nựng nịu:

- Cục cưng của bà nội ơi, con mẹ mày nó hư lắm sinh ra mày rồi bỏ đi luôn, bữa nay mới về! Dậy mà la cho nó một trận đi!

Phụng thảng thốt:

- Má nói...

Bà chủ Bền sang thằng bé qua cho Phụng:

- Sinh con dễ thương như vậy mà không chịu về bồng ẵm, cưng yêu nó! May là có nó nên tao tha cho, bây giờ về mà chăm sóc nó đi. Nhưng nhớ, cục cưng của ta à nghen, nuôi không kỹ thì biết tay tao!

Phụng như từ trên trời rơi xuống:

- Má nói...?

Út Nguyệt cũng hỏi:

- Đứa trẻ này là...

Bà chủ Bền gắt lên:

- Trời ơi, con nó mà nó còn hỏi! Bộ mày điên hả Phụng? Chứ đứa nào sai ẵm nó về đây, nói mày còn phải nằm bệnh viện dưỡng bệnh sẽ về sau. Lúc đầu tao định lên Sài Gòn kiếm mày, nhưng mấy bữa nay mắc ôm cái cục cưng này đâu làm sao đi được!

Phụng ẵm đứa nhỏ trong tay mà chẳng hiểu ra sao, cô đưa mắt nhìn sang cô mình. Út Nguyệt lanh trí hơn, nên nói khỏa lấp:

- Đúng rồi, con Phụng bữa nay mới khỏe... Nhưng ai ẵm đứa nhỏ về vậy? Hay là của ba nó?

- Thì là con của thằng Tường chứ ai! Mà con thằng Tường là con của con Phụng! Bộ cô tưởng thằng con tôi nó năm thê bảy thiếp sao!

Bà quay qua Phụng, cầm bàn chân của thằng bé lên, suýt xoa:

- Bàn chân giống thằng Tường như khuôn đúc. Còn cái môi, cái mũi nó giống con như cắt để qua. May cho tụi bây, sinh ra mà không giống đứa nào thì chết với tao.

Phụng nhìn kỹ thì công nhận lời nói của bà không sai, đứa bé trai quả giống cả cô và Tường không chối cãi đi đâu được.

Bà chủ Bền chợt hỏi:

- Về sao không thấy đồ đạc đâu hết?

Út Nguyệt nhanh miệng đáp thay:

- Nhân tiện tôi đưa nó về nhà, để đem qua sau.

Rồi nhân lúc bà chủ không để ý, Út Nguyệt kéo cháu ra ngoài, hỏi nhỏ:

- Chuyện này là sao Phụng?

Phụng bối rối:

- Nhiều chuyện quá con cũng không biết sao nữa... Hết thằng quái thai kia, rồi cái thai mắc dịch, và bây giờ lại thằng nhỏ này? Con nghi có thể con rơi của thằng Tường, rồi nó tìm cách đưa về đây để bắt con gánh quá! Nếu vậy thì con sẽ bỏ nhà đi cho Út coi!

Út Nguyệt có được sự bình tĩnh lạ thường trong những trường hợp nguy. Cô suy nghĩ rất nhanh rồi nói:

- Chuyện này rất có uẩn khúc. Để tao tìm hiểu...

Phụng lắc đầu:

- Chắc con chịu thua quá Út ơi! Con không còn chịu nổi những rắc rối nữa. Rồi bây giờ không lẽ con phải ôm con người khác mà nuôi sao?

Bỗng từ miệng đứa bé thốt ra mấy lời nghe lạnh cả sống lưng:

- Sao lại là con người khác. Con là con của bà đây mà!

Suýt nữa Phụng đã buông rơi đứa bé xuống đất! Út Nguyệt đỡ lấy nó vừa run run nói:

- Không xong rồi, còn nguy hơn cả quái thai nữa!
 
***

Thầy Tư Thế không cần nhìn ra cũng đã biết là ai tới. Thầy cất tiếng:

- Tới kịp lúc thì vào đi, còn ngần ngại nỗi gì nữa.

Út Nguyệt nhìn Phụng rùng mình:

- Ông này như có mắt ở ngoài đường vậy?

Chưa đợi hai người bước vào tới nhà, thầy đã nói liền:

- Cái họa đã tới rồi phải không? Tôi đã nói rồi, oan gia nghiệp chướng này thì khó mà thoát được nó lắm!

Út Nguyệt mạnh dạn kể sơ qua câu chuyện đã xảy ra. Cô không kể rõ chi tiết, tuy nhiên thầy Tư đã nhắc:

- Cô kể còn thiếu lần có thai sau này của cô kia?

Rồi không đợi Nguyệt đáp, ông nói tiếp:

- Đứa quái thai đã biến mất rồi phải không?

Phụng nhanh nhảu:

- Dạ, nó biến rồi, con mừng quá!

- Thật ra nó không biến, mà chỉ thay đổi hình dạng thôi. Nó là biến thể của cái bào thai mà cô đã phá lúc năm tháng có thai. Nó chết đi và hiện về phá cô, báo oán thì đúng hơn! Nhưng do thấy cô quá sợ và khó lòng sống chung với cô và gia đình chồng, nên nó biến thành cái bào thai bất ngờ làm cho cô hoảng sợ mấy hôm! Chính nó định qua lần có thai lần nữa của cô để ra đời và bắt đầu cuộc báo oán ầm ĩ hơn...

Phụng buột miệng:

- Con đã không còn có thai nữa rồi thầy!

Thầy Tư lắc đầu:

- Có thể tự nhiên mà có thai được, bởi đó là mang thai của ma! Nhưng làm sao tự dưng mà hết có thai được.

- Vậy tại sao...?

- Cô đã sinh con mà không biết đó thôi! Con ma thì sinh cũng theo kiểu của ma! Cô vừa sinh non đứa bé đó trong lúc đi vệ sinh mà không hề hay biết. Và đứa bé đó hiện nay đang được bà nội nó nuôi!

Út Nguyệt hoảng hốt:

- Vậy ra đứa nhỏ đó...

Thầy Tư trầm giọng:

- Bây giờ nó đã lọt vào nhà phú hộ Bền được một cách êm xuôi, được cưng chìu nữa, như vậy coi như cuộc báo oán bắt đầu...

Phụng nói vội:

- Như vậy con có thoát được không thầy?

Ông thầy lắc đầu:

- Cô mang tội nghiệt quá lớn thì làm sao thoát được! Nhà phú hộ Bền do làm giàu bất chánh, từng có ân oán nặng với nhiều người và người ta muốn qua con cháu họ để báo oán. Đáng lý ra cô có thể thoát được, nếu cô không nhẫn tâm giết chết cái thai năm tháng tuổi đó. Bây giờ đứa bé vừa báo oán nhà Tư Bền, mà cô cũng phải lãnh phần. Nhưng do cha mẹ cô ăn ở có đức hơn, nên cô chỉ phải gánh chịu chuyện đứa bé cho đến khi nó được ba tuổi. Khi ấy nhà bá hộ Bền trả nợ xong thì cô cũng được thoát. Cho nên mọi chuyện của cô bây giờ là trở về nhà chồng và chờ cho đến mãn kỳ hạn mà thôi.

Phụng hốt hoảng:

- Cứu con thầy ơi! Con không thể chịu nổi...

Nhưng thầy Tư đã đứng lên, giọng dứt khoát:

- Ta chỉ biết và kể lại cho cô nghe thôi, còn mọi việc là do ở số phận, phúc phận của cô thôi. Về trước khi xảy ra những điều tệ hại hơn...

Ông nói xong bước ra nhà sau rồi mất tăm luôn.

***

Ba năm sau…

Cả vợ chồng phú hộ Tư Bền đều ngã bệnh và cùng chết một ngày trước sự ngơ ngác của thân nhân! Khi cậu Hai Tường về thì đáng lẽ phải đau buồn và lo lắng chuyện ma chay, đằng này anh ta lại dửng dưng, phó mặc cho mấy người bà con. Anh ta còn ra lệnh cho người chú họ:

- Chú lo chôn hai người họ xong thì bảo tất cả bà con ở quê lên phải về hết!

Ông chú Tám của Tường bất mãn:

- Bà con anh em người ta lên đây là do hay tin anh chị Tư chết, chứ đâu phải lên để nhờ vả gì đâu!

Nhưng Tường vẫn hách dịch:

- Tôi nói là sau đó tôi có chuyện phải làm việc với những quan chức ở Sài Gòn về. Tôi đâu cần nhiều người!

Quá bất mãn với thái độ mất dạy của Tường nên đám bà con thân nhân đã kéo nhau về hết. Cũng may cho họ, chứ nếu họ còn ở lại thì chỉ mất công chứng kiến một chuyện không ai ngờ.

Quả có khách Sài Gòn về thật. Nhưng họ không phải là khách thân thiện, mà họ về là để làm thủ tục tịch biên toàn bộ gia sản của phú hộ Tư Bền. Chính Tường cũng kinh ngạc:

- Tại sao mấy người làm vậy?

Một luật sư đại diện cho phía chủ nợ đã trưng ra các giấy tờ mà nhà này nợ ngân hàng họ. Số tiền quá lớn, đến Tường còn phải thất thần:

- Sao nợ gì mà lớn quá vầy nè?

Vị luật sư nói:

- Phân nửa số nợ này là do cậu vay đã mấy năm nay rồi mà chưa trả, nay đã quá hạn.

Tường gân cổ cãi:

- Nhưng hôm nay tôi sẽ tính sổ và trả hết!

Vị luật sư bảo:

- Đó là ý của cậu. Còn thực tế thì tài sản nhà cậu đâu còn gì để mà trả. Đây cậu coi.

Tường xem xong sổ sách, giấy nợ, anh thất thần:

- Trời ơi, như vậy mấy ông tính sao với gia sản này?

- Tính kỹ rồi, qua đối chiếu thì cả hai số nợ gộp lại thì tài sản này trọn vẹn đủ trả cho ngân hàng. Hôm nay chúng tôi làm thủ tục, yêu cầu anh ký tên.

Tường hét lên như điên:

- Tôi chỉ nợ một phần, còn lại ai nợ tôi đâu có biết?

- Như cậu thấy đó, người ký giấy nợ là cha mẹ anh và người được hưởng một phần sau khi ngân hàng tính toán chính là đứa con còn nhỏ của anh. Nó sẽ được hưởng khi đủ tuổi trưởng thành.

Tường bắt buộc phải ký tên vào giấy thanh lý. Sau đó anh ta phát điên và bỏ nhà đi mà chẳng biết là đi đâu.

Thế là chỉ trong phút chốc thì cả cái gia sản kết sù đã biến thành của người khác. Phụng âm thầm bỏ đi, để đứa bé ba tuổi lại với chị vú em.

Lạ một điều là hình như đã biết trước mọi việc, nên thằng bé vẫn bình thản khi biết Phụng bỏ đi. Nó còn nói như người lớn:

- Bà vú cứ ở lại với con, rồi bà vú sẽ được đền bù!

Chuyện kết cuộc đúng y như vậy: mười lăm năm sau đứa bé lớn lên và hưởng phần gia tài còn lại. Còn Tường thì chẳng thấy bóng dáng đâu. Có người nói hình như là anh ta điên đi lang thang rồi chết bờ chết bụi ở đâu đó...

Rồi vào một đêm kia, ngôi nhà ngói như cái dinh thự của bá hộ Tư Bền đã bỗng dưng bốc cháy dữ dội vài giờ sau thì cả cái cơ ngơi đó thành tro bụi...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-04-19 10:08:19Soccon>
Quyển XXX:
QUÁN CẦU HỒN
 
1. CÔ GÁI TRÊN BÈ CHUỐI

Phần 1
 
Trời mưa như trút nước, gió thổi mỗi lúc một mạnh thêm, bên ngoài trời tối đen như mực. Thỉnh thoảng, những tia chớp chỉ đủ cho Thái nhìn thấy được những lùm cây lờ mờ chứ không nhìn rõ được dòng sông. Thái vô cùng sốt ruột, bởi nếu đợi trời hết mưa thì làm sao con tim của anh chịu đựng nổi, trong khi hình bóng của Tuyết Mai vẫn bặt tăm. Tính đến lúc đó thì Mai đã mất tích đúng nửa ngày rồi.

Đối với người khác thì nửa ngày không là bao. Nhưng đối với Tuyết Mai xưa nay chưa từng rời khỏi nhà dù chỉ một giờ mà không có lý do. Nhất là sáng sớm nay đã xảy ra một biến cố trong gia đình: Cha của Mai sau khi thức trắng một đêm, ngồi uống hơn một chai rượu whisky đã nổi điên lên, khóa chặt cửa phòng con gái lại rồi nói như một lời thề:

- Nếu ai mở cửa cho nó ra khỏi phòng thì coi như đã xóa mạng thằng Tư Quang này!

Tư Quang là tên tục của Monsteur Directeur Trần Đại Quang, mà có người còn gọi trịnh trọng là quan lớn Đại!

Đã nổi tiếng là sát thủ khi giữ chức giám đốc Nha cảnh sát, mà ngoài đời thường lão Quang còn là khắc tinh của con cái trong nhà. Không ai không sợ mỗi khi nghe tiếng đằng hắng của ông ta, vậy mà trong nhà chỉ có cô con gái út Tuyết Mai là không hề bị ông ta khuất phục! Cụ thể như chuyện chiều qua, lúc ông đi làm về và gọi Tuyết Mai ra bảo:

- Con chuẩn bị thay quần cho thật đẹp, thật sang trọng, rồi bảy giờ tối nay đi với ba dự buổi tiệc chiêu đãi của ngài Thống sứ Pháp.

Lập tức ông ta nhận được câu trả lời của con gái:

- Ba đi một mình đi, con không bao giờ tới gặp họ. Bởi chẳng có việc gì con phải gặp ông ta cả!

- Gặp thằng Robert chứ ai bảo con gặp lão già đó làm gì!

- Dứt khoát không!

Nói xong, Tuyết Mai bỏ ra sân định lấy xe đi, lập tức lão Quang đã gầm lên:

- Mày nói chuyện kiểu đó với ai vậy, con ranh kia!

Bà vợ ông ta từ trên lầu bước xuống, thấy vậy thì hoảng hốt, nhào tới kéo tay lão ta lại. Bởi bà thừa hiểu, chọc giận lão cỡ đó thì chỉ có nước tự sát!

Nhưng Tuyết Mai vẫn ngang bướng quay lại nói:

- Ba bảo con đi đâu cũng được, nhưng đi tới nhà tên Tây đó thì con thà chết chứ không bao giờ đi!

Lão Đại Quang không còn dằn được, bước thẳng ra sân, dang thẳng cánh tay và tát mạnh một cái, khiến cho cô con gái bé bỏng của lão ta đang ngồi trên xe đã phải ngã nhào xuống đất, trước sự hoảng sợ của bà mẹ:

- Trời ơi, ông giết con sao!

Bà định lao ra thì lão Quang đã như một con mãnh thú, cúi xuống nắm búi tóc dài của Mai, lôi xềnh xệch vào nhà. Nhìn đôi mắt lão long lên, bà Thanh Nguyệt biết khó mà cản nổi cơn giận, nên chỉ biết đứng yên, gào lên trong vô vọng:

- Nó là con mình mà, ông ơi.

Lão Quang hầu như điên cuồng, chẳng còn nghe ai nói gì nữa, lão lại dang tay tát liền mấy cái nữa vào mặt con gái. Tuyết Mai lúc ấy chỉ còn như một cánh hoa nghiêng ngả trước gió bão, chỉ vài chục giây sau thì cô đổ nhào xuống sàn nhà, cùng lúc là tiếng quát to của lão sát thủ:

- Nhốt nó lại trong phòng!

Rồi từ đó đến hết đêm, lão Quang đuổi hết người nhà ra, đóng cửa phòng lại và ngồi uống rượu một mình. Cho đến sáng thì người nhà phát hiện lão Quang gục tại chỗ, say đến không còn biết trời đất gì nữa, còn cửa phòng của Tuyết Mai thì mở toang. Cô con gái út của lão Quang đã biến mất.

Người nhà của Tuyết Mai ngầm báo tin cho Thái biết, thay vì chạy theo mọi người đi nhiều hướng để tìm, Thái lại chọn ngôi nhà bên dòng sông La Ngà này để ngồi đợi. Nó có lý của nó, bởi nơi này chính là chỗ hẹn đầu tiên, cũng là điểm mà mỗi khi cần gặp nhau thì anh và Tuyết Mai thường tới.

Cơn mưa đột ngột khiến Thái phải chôn chân ở trong căn nhà lá mà thường khi Thái vẫn gọi đó là Thảo Mai quán (quán lá của Mai), bởi quán rất vắng khách, đôi khi suốt buổi chỉ có anh và Tuyết Mai là khách. Chủ quán có lần giải thích với Thái:

- Vợ chồng già chúng tôi ở đây, nên sẵn đó mở quán bán, khách nào tiện đường thì ghé uống nước, nghỉ chân, chứ thật ra nơi này vắng và khuất, có mấy khách lui tới đâu!

Do vì quán vắng và là nơi quen biết, nên từ đầu cơn mưa đến giờ, Thái chưa thấy chủ quán đâu, nhưng anh cũng không quan tâm, anh chỉ nôn nao trong dạ về sự biệt tăm của Tuyết Mai mà thôi...

Có những tiếng động bất thường ở phía ngoài, hướng bờ sông, Thái căng mắt nhìn ra, nhưng không thấy gì, phải đợi đến lúc một tia sấm chớp nữa, anh mới thoáng thấy có một bóng người đang khệ nệ ôm vật gì đó vừa chạy rất nhanh vào quán.

Lúc tông cửa quán vào, người đó lên tiếng:

- Mưa gì mà mưa như điên thế này, may mà quán chưa sập!

Đó là ông chủ quán. Thái lên tiếng ngay:

- Bác Hai hả, cháu là Thái đây!

Nghe tiếng anh, ông chủ quán reo lên:

- Mav rồi! có cậu đây rồi!

Ông đặt vật trên tay xuống một cách cẩn thận, vừa hướng về phía Thái:

- Sao cậu còn ở đó, có biết ai đây không?

Thái chưa kịp chuyển động thì lão chủ quán đã gắt lên:

- Nhanh lên, cô ấy chưa biết sống chết thế nào nữa!

- Ai?

- Cô bạn cậu! Tôi đang bơi xuồng từ bên kia sông sang thì may trông thấy cô ấy đang chới với sắp chìm. Vớt lên xuồng rồi tôi mới lờ mờ nhận ra là cô bạn của cậu.

Như bị điện giật, Thái bật ngay dậy lao tới và hốt hoảng lên tiếng:

- Có đúng là cô ấy không? Cô ấy...

- Đang bị ngất đi sau khi tôi kéo lên khỏi mặt nước, như vậy không phải chết đuối. Chắc là do sợ và lạnh quá.

Vừa chạm vào cánh tay của cô nàng, Thái suýt rút tay về, bởi hơi lạnh khác nào băng giá.

- Tuyết Mai!

Thái nghe một tiếng ư nhỏ, rồi bàn tay nàng nắm lấy tay anh, tuy yếu, nhưng đủ để xác định mình còn sống. Thái quên hết cả mệt, anh ôm chầm lấy người yêu mà quên là nàng đang ướt đẫm và lạnh.

- Cậu tìm cách thay quần áo khô cho cô ấy ngay đi!

Thái tuột phăng quần áo ngoài của mình ra và nhân cơ hội ông chủ quán bước vào trong nhà, lột quần áo ướt của Mai ra, thay thật nhanh. Vừa lúc ngọn đèn dầu được chủ quán đốt lên và giọng thúc giục của ông ta:

- Cậu mau đưa cô ấy vào trong đi, có chiếc giường đó, cho cô ấy nằm đỡ. Có cả mền nữa, tuy không sạch lắm, nhưng lúc này cần phải trùm để cô ấy ấm, tránh cảm lạnh. Chờ tôi đốt bếp lửa lên, cậu hơ cho cô ấy.

Thái nghe theo, nhưng vừa bế Tuyết Mai vào tới phòng trong thì anh nghe nàng thỏ thẻ bên tai:

- Em tỉnh rồi, nhưng cứ làm như em còn mệt, anh ôm em đi!

Thái thở phào nhẹ nhõm, cất đi gánh lo ngàn cân từ cả buổi vừa qua. Anh bảo cũng thật khẽ:

- Cứ nằm yên đó.

Khi ông chủ quán Hai Lượm bưng bếp lửa vừa nhóm xong vào thì giọng ông vẫn còn lo lắng:

- Tôi mà tới chậm chừng nháy mắt nữa thì cô ấy đã chìm rồi, mưa quá lớn và gió cũng mạnh nữa. Người cỡ tôi đây mà trầm mình dưới nước như thế cũng chịu không nổi nữa là...

Không đợi bếp lửa cháy rực lên thì người của Tuyết Mai đã ấm lại rồi. Chính Thái cũng ngạc nhiên:

- Em rơi xuống nước lâu chưa mà người không lạnh?

Nàng đáp khẽ:

- Sao không lạnh. Hồi nãy bộ anh không thấy sao…

Thái nhớ lại lúc mới chạm vào cánh tay của Mai anh suýt kêu lên, nên anh càng ngạc nhiên hơn:

- Bây giờ hầu như chẳng còn chút gì là lạnh lẽo nữa. Kỳ vậy?

- Nhờ anh đó!

Thấy trong hoàn cảnh này mà nàng còn đùa được, Thái hỏi nhỏ:

- Nói cho anh nghe coi, em biến đi đâu mất từ đêm qua đến giờ?

Nói chuyện vô cùng hệ trọng mà giọng Mai dửng dưng như không:

- Em đi tự tử!

- Kìa, Tuyết Mai!

Thái nghĩ nàng trong tâm trạng bất an nên nói năng không kiểm soát, anh đem chuyện nghe thấy ở nhà thuật lại cho Tuyết Mai nghe. Nhưng vừa nghe xong, Mai chỉ nói gọn lỏn:

- Cha mà ác tâm với con, thì coi như con nó đã chết!

- Mai...

Nàng đưa tay bụm miệng anh lại:

- Tốt hơn hết là anh đừng nói gì chuyện nhà em hết. Chỉ biết bây giờ em đang ở bên anh là tốt rồi! Mà điều này thì cách đây vài giờ tưởng chừng như em đã...

Thái nghe chừng như trong cách nói năng của Mai có chút gì đó khang khác. Anh định hỏi, nhưng lúc đó ông Hai chủ quán đã bước vào, nên anh thôi. Bấy giờ ông mới hỏi:

- Sao cậu thì ở đây, còn cô thì chìm dưới sông là sao? Bộ đi bơi xuồng rồi cô bị rớt sông, trời mưa cậu tìm không được phải không?

Thấy Mai chừng như không muốn giải thích, nên Thái đỡ lời:

- Dạ, đúng vậy thưa chú.

- Cậu chọn cách ngồi ở quán đợi cũng là cách khôn ngoan. Chứ nếu không thì...

Rồi chợt ông đổi giọng:

- Cũng may cho cô cậu, nếu chuyện xảy ra ngày mai thì quán này đóng cửa, không có ai ở đây, cậu đâu vào quán ngồi đợi được.

Thái ngạc nhiên:

- Sao chú đóng cửa quán? Chú bận việc gì sao?

- Không phải bận, mà đóng cửa luôn. Chờ đến khi nào bán cho chủ khác, họ thích mở quán nữa thì mở cửa bán, còn không thì tùy họ.

Thái tắc lưỡi:

- Chú bỏ quán này uổng quá. Rồi còn chỗ đâu để tụi này...

Ông chủ quán hỏi một câu bất ngờ:

- Cậu có biết ai mua quán không, tôi bán rẻ?

Thái cười, lắc đầu:

- Cháu đâu biết.

- Hay là cậu mua đi, làm nơi hóng mát!

- Dạ, cháu...

Chợt giọng Tuyết Mai rót nhẹ vào tai anh:

- Anh mua đi!

Thái định hỏi lại, nhưng sợ lộ chuyện nàng tỉnh lại, nên anh phải lúng túng:

- Dạ...

Ông Hai quả quyết:

- Tôi nói thật đó. Nếu cậu mà mua thì tôi bán thật rẻ. Để cho cậu tôi thích hơn là bán cho người khác, họ sẽ phá nơi này làm lại, tôi thấy uổng...

Thái còn lưỡng lự thì nàng lại giục:

- Ừ đi!

- Dạ...

Thái ậm ừ như vậy, nhưng ông Hai thì ngỡ anh đồng ý, nên quyết ngay:

- Bán cho cậu giá chỉ bằng tiền mua hai chiếc xuồng thôi! Tôi gom tiền mua chiếc ghe đủ hai vợ chồng chèo lên chèo xuống con sông này, chứ bây giờ tôi cũng không còn thích sống một chỗ nữa. Vậy nghe, cậu cứ đưa trước cho tôi phân nửa cũng được.

Thái lại bị thúc ngầm, cuối cùng anh phải gật đầu:

- Thôi, cũng được. Cháu cũng cần một nơi để tới lui.

- Rồi, sáng mai mình nói chuyện cụ thể hơn. Bây giờ cô cậu có thể nằm giường đó ngủ đi, tôi ra ngoài này. Nhớ, nếu cô có bệnh hoạn gì thì kêu tôi liền.

Trời đã ngớt mưa...

Nhưng đêm cũng khá khuya. Thái hỏi khẽ:

- Anh ngủ chung, có tiện không?

Nàng bất ngờ ôm chặt lấy Thái, khiến anh gần muốn ngạt thở, cố đẩy ra thì Mai dỗi:

- Bộ không muốn gặp người ta hả?

- Bậy. Anh chỉ ngại...

Yêu nhau đã hơn ba năm, đây là lần đầu tiên Thái mới biết mùi vị của cơ thể người yêu. Anh lóng cóng mãi mới đánh bạo ôm lại và đặt một nụ hôn nhẹ lên môi nàng. Bất ngờ Thái bị nàng ghì chặt, môi anh gần như dính vào môi nàng, khó mà rời ra được!

Ở ngoài kia, ông già Hai hình như cũng chìm vào giấc ngủ...

Khoảng một canh giờ sau...

Chợt Thái nghe nàng nức nở khóc! Quá đỗi ngạc nhiên, anh hỏi khẽ:

- Chuyện gì vậy?

Nàng thổn thức đáp:

- Người ta đã là vợ anh rồi, đã bỏ nhà đi rồi, nếu anh bỏ em thì... em đi luôn!

Thái kề sát tai nàng, rót vào những lời bằng tất cả chân tình:

- Anh thề mà. Anh chẳng bao giờ thay đổi. Chỉ sợ em thôi.

- Em thì chỉ có mình anh. Em trốn nhà đi cũng chỉ vì ba em bắt ép gả cho người mà em không yêu. Ba đã hành hạ em như không phải tình máu mủ, cho nên bây giờ em chỉ còn trông cậy vào anh thôi. Anh mà bỏ em nữa, em sẽ...

Bụm miệng nàng lại, Thái nghiêm giọng:

- Đừng nói gở. Anh thề với em.

Người ta thường nói sau cơn mưa trời lại sáng, hôm sau quả đúng như thế. Bầu trời buổi sáng thật trong lành, rạng rỡ. Chừng như sau một cơn mưa lớn đã gột rửa những bụi bặm, u ám đi hết, bình minh chào đón hai tâm hồn trẻ vừa vượt qua cơn sóng dữ bằng ánh nắng sớm xuyên qua khe cửa sổ vào phòng. Thái bật dậy thì không thấy Tuyết Mai đâu, anh lo lắng cất tiếng gọi:

- Mai ơi, em ở đâu?

Có tiếng đáp của chú Hai chủ nhà:

- Cô ấy thức sớm và đi ra ngoài sông, có lẽ hít thở không khí trong lành buổi sáng. Cậu cũng nên ra đó.

Thái vừa bước ra thì ông già bảo:

- Lát nữa tôi có việc phải đi, hai cô cậu cứ ở lại đây rồi ít hôm tôi trở lại mình tính toán chuyện cái nhà cũng được. Xem ra cô ấy cần phải có thì giờ nghỉ ngơi nhiều đó cậu Thái.

Thái cám ơn ông rồi đi thẳng ra ngoài bến sông. Tuyết Mai đang ngồi đó với dáng vẻ ưu tư, khác hẳn với sự tươi tắn, linh hoạt của đêm qua.

- Sao em không gọi anh dậy?

Mai nhìn lại anh với vẻ buồn buồn. Thái lo ngại:

- Có chuyện gì vậy em?

Nàng không đáp, chỉ nhẹ lắc đầu rồi kéo Thái ngồi xuống bên cạnh. Một lúc sau, nàng đưa tay chỉ một đám lục bình trôi từ xa lại, hỏi:

- Anh nhìn kỹ xem, có phải là chiếc bè chuối không?

Thái nhìn rồi đáp:

- Không phải, lục bình đó. Nhưng sao em quan tâm tới bè chuối làm gì?

Nàng nhẹ lắc đầu:

- Thì em hỏi vậy mà...

- Sao em không vui? Hay là đã hối hận chuyện đã... cho anh?

Nàng siết chặt tay Thái:

- Điều đó làm cho em vui hơn thì có. Chỉ có điều...

Nàng lại có vẻ lo lắng, chỉ tay về phía xa và hỏi:

- Có phải cái bè chuối không?

Thái nhìn lại và vẫn lắc đầu:

- Không phải...

Tuyết Mai đột ngột hỏi:

- Nếu bây giờ em xa anh thì anh làm gì?

Thái trố mắt nhìn nàng trân trối:

- Nãy giờ em toàn nói chuyện gì đâu, em sao vậy Tuyết Mai?

- Nhưng câu em hỏi anh chưa trả lời?

- Còn làm gì nữa. Anh sẽ đi theo em!

Mai lại lắc đầu:

- Không được, trong chúng ta chỉ có một người phải xa thôi. Người đó là em. Em hỏi thật, anh có dám ở lại đây ròng rã vài ba năm không?

Thái kêu lên:

- Em lại nói lăng nhăng nữa rồi!

Nàng nghiêm giọng:

- Em hỏi thật đó. Anh sẽ làm gì nếu ở lại đây một mình? Hay là sẽ đi tìm người con gái khác về cùng chung sống?

Thái siết chặt nàng trong vòng tay:

- Tìm người này nè.

- Anh có chắc vậy không?

- Chắc chắn là vậy. Anh thề...

Nàng ngả vào lòng Thái, hai khóe mắt ươn ướt. Thái hốt hoảng:

- Em sao vậy?

- Em...

Đột nhiên Tuyết Mai ôm lấy ngực, không nói được lời nào, nhưng trông dáng vẻ thì đau đớn lắm. Thái sợ hãi:

- Em sao vậy, Tuyết Mai? Em đừng làm anh sợ.

Nàng nói qua hơi thở gấp:

- Đỡ lấy em. Cho em nhìn ra ngoài sông...

Vừa khi ấy nàng reo lên, giọng nghe rất yếu:

- Cái bè chuối!

Quả nhiên, khi nhìn ra sông Thái thấy một chiếc bè chuối trôi giữa dòng. Nàng hốt hoảng:

- Vớt nó lên, đừng để nó trôi đi!

Chưa biết là chuyện gì, nhưng Thái thấy người yêu nói như thế cũng định đứng lên, vừa lúc đó có tiếng của ông già Hai chủ quán:

- Trên bè chuối hình như có cái gì đó, để tôi bơi xuồng ra vớt lên coi!

Sẵn xuồng, ông bơi nhanh ra và chặn được hướng trôi của chiếc bè. Lát sau ông Hai vào tới, ông gọi từ dưới bến:

- Hai người xuống coi nè, có một đứa bé trên bè!

Dù đang rất mệt nhưng nghe nói thế Tuyết Mai giục:

- Anh đưa em xuống đó coi.

Thái phải dìu mới đưa Mai đi được. Vừa nhìn thấy đứa bé nằm gọn trong chiếc khăn trùm kín, Tuyết Mai reo lên:

- Đúng rồi!

Và đột nhiên nàng ngã ra ngất đi. Thái hốt hoảng:

- Tuyết Mai! Em... em sao vậy? Em...

Ông già Hai bảo:

- Chắc cô ấy xúc động khi nhìn thấy cảnh này. Vậy cậu đưa cô ấy lên nhà đi, để tôi bế đứa bé.

Ông bế đứa bé lên, nó giật mình khóc thét, đồng thời từ miếng tã lót trên lưng nó rơi ra một mảnh giấy, Thái không để ý, nhưng một cách ngẫu nhiên, mảnh giấy ấy bị gió thổi tung lên, rồi bay đáp đúng vào giữa ngực của Tuyết Mai, tức nằm đúng tầm mắt Thái, anh đọc được rõ ràng:

- Hãy nuôi nấng nó chu đáo. Còn mạng sống của nó tức là còn mạng em!

Đang mang nặng, bỗng Thái dừng ngay lại, anh buông một tay ra và đưa lên mũi của nàng.

- Trời ơi, Tuyết Mai.

Thái phát hiện nàng không còn thở nữa!

- Chú Hai ơi, cô ấy đã chết rồi!

Đưa Mai vào trong nhà, xem kỹ lại thì đúng là nàng đã tắt thở, tim ngừng đập!

- Sao vậy chú Hai? Sao vậy Mai?

Thái cứ lặp lại câu hỏi mà chẳng ai trả lời cho anh. Hồi lâu ông Hai mới lên tiếng:

- Để tôi qua bên kia sông rước thầy về xem cô ấy bị bệnh gì.

Thái lắc đầu:

- Không cần đâu chú, cháu đã nghĩ ra rồi, cô ấy đã biết trước mình sẽ chết nên đã chuẩn bị rồi. Đứa bé này, mảnh giấy viết sẵn này.

Anh đưa cho ông Hai đọc tờ giấy. Ông già đồng tình:

- Cậu nói đúng. Nhưng phải tìm hiểu nguyên do nào khiến cô ấy làm điều này? Tự tử phải không cậu?

Thái quả quyết:

- Không phải. Hình như...

Thái nhớ lại từng cử chỉ, lời nói của Tuyết Mai suốt đêm qua. Mọi việc đã báo trước mà anh không để ý.

Anh quay sang ông chủ quán:

- Cháu sẽ mua ngay quán này. Cháu sẽ ở cùng cô ấy nơi đây.

Ông Hai buồn bã nói:

- Tôi cũng không nỡ lấy tiền cậu. Hay là...

Thái móc ngay số tiền đang có trong túi:

- Chú cứ cầm lấy trước số này, còn lại bao nhiêu một tuần nữa cháu sẽ đưa luôn.

Ông Hai đưa tiền lại cho Thái:

- Tôi chưa cần ngay, cậu cứ để lại đó lo cho cô ấy, chừng nào tiện tôi sẽ nói cậu đưa. Tôi cũng ở lại đây giúp cậu một tay cho xong việc rồi mới đi.

Nhờ ông nên việc hậu sự cho Tuyết Mai được chu tất. Ban đầu Thái muốn về báo cho cha mẹ Tuyết Mai hay, nhưng nhớ lại những cơn giận dữ điên cuồng của ông Tư Quang thì Thái bỏ ngay ý định. Anh phân trần với ông già Hai:

- Có bác làm chứng cho về cái chết của cô ấy, để sau này tránh người ta nghĩ là cháu.

Ông Hai hiểu ý:

- Cậu yên tâm, cứ mai táng cô ấy ở phần đất phía sau nhà này, đất đó của riêng cậu về sau, không ai tranh chấp cả.

Thái để xác của người yêu qua đến ngày hôm sau mới chôn. Lạ một điều là đã chết rồi mà sắc mặt của Tuyết Mai vẫn tươi nhuận, y như đang nằm ngủ! Thái lưỡng lự mãi rồi mới cho xuống huyệt. Tuy nhiên, trước giờ hạ huyệt thì đứa trẻ bỗng khóc thét lên như phản đối! Thái phải dừng tay, anh bảo ông già Hai:

- Chú Hai để ý xem, có phải đứa bé không muốn mình chôn xác cô ấy xuống mộ?

Thái thử một lần nữa, lần này anh đích thân ôm xác Mai ra, cho cỗ quan tài xuống trước, rồi mới đặt nàng trở lại. Vẫn tiếng khóc thét còn lớn hơn lúc nãy! Thái chưa biết phải làm sao thì bỗng một cơn gió thật mạnh thổi lên, rồi cát bụi bay mịt mù. Lúc lặng gió trở lại, bỗng Thái kêu lên thảng thốt:

- Tuyết Mai. Cô ấy...

Không còn thấy xác của Mai đâu, mà cỗ quan tài thì đã bị cát đất lấp kín lại, như vừa mai táng xong. Thái ngỡ ngàng một lúc rồi hỏi ý ông Hai:

- Mình có nên đào trở lên không chú?

Suy nghĩ một lúc, ông Hai nói:

- Nếu trời đất khiến không để cho cậu đích thân chôn cất thì cậu cũng không nên cãi lại. Thôi, dù gì thì cô ấy cũng đã ở dưới rồi, ai chôn cũng được.

Sau khi đắp mả cẩn thận, Thái trở vào nhà và anh muốn đứng tim khi nhìn thấy cái xác của Tuyết Mai đang nằm yên như đang ngủ trên giường.

- Tuyết Mai!

Thái kêu lên rồi đứng như trời trồng...
 
***

- Dô!

- Dô trăm phần trăm mày!

Tám Lành và Năm Sự đã cụng đến ly thứ năm, nên giọng điệu có phần chếnh choáng. Họ uống chưa hết ly rượu vừa cụng thì bỗng nghe tiếng ai sau lưng:

- Dô bằng ly đó mà cũng dô. Có ngon thì chơi mỗi lần một chén coi!

Ba Tàng mặt mày đỏ gay, chắc là đã nhậu lâu rồi, anh ta nhắc lại:

- Thằng nào dám chơi với ta hai chén không? Ai thua thì phải làm chuyện mình thách đố ngày hôm qua!

Tám Lành vốn không ưa tật châm chọc của Ba Tàng, nên trợn mắt nhìn anh ta:

- Mày có dám chắc là làm được không? Hay là thua rồi rút êm?

Ba Tàng tru môi:

- Thằng này chưa từng làm thỏ đế nghe! Chơi không?

Tám Lành quay vào trong quán gọi lớn:

- Cho mượn cái tô múc canh chủ quán!

Chủ quán Tư Son mang tô ra liền, mụ ta nói khẽ với anh chồng đang xớ rớ cạnh đó:

- Ba cái rượu ông mua về bán cho ai cũng chê, bữa nay có mấy thằng này thách đố, đem ra cho nó uống hết!

Thật ra sức của mấy tay này chỉ chịu nổi nửa tô là bò càng rồi! Ba Tàng la lớn:

- Mày thua rồi, Tám Lành! Mày...

Anh ta nói chưa dứt câu đã lăn kềnh ra, chẳng còn biết trời trăng gì nữa. Tám Lành cũng chẳng khá hơn, anh ta làm rơi tô rượu, tô vỡ tan tành, rồi cũng ngã nhào như cây chuối bị đốn!

Còn lại mình Năm Sự, anh ta ra vẻ ngon:

- Mấy thằng nhóc, tửu lượng bao nhiêu mà cũng bày đặt!

Ông già Hai nãy giờ ngồi im ở góc nhà giờ mới bắt đầu lên tiếng:

- Có phải tụi nó thách đố chuyện đứa nào dám qua quán của thằng Thái bên kia sông chứ gì?

Năm Sự vỗ ngực:
 
- Anh nó đây mà dám múa rìu qua mắt thợ à!

Ông già Hai dò hỏi:

- Vậy chú mày dám làm chuyện đó?

- Chuyện gì ông già?

- Thì chuyện đột nhập quán Bảy Thái!

- Dư sức qua cầu.

Chợt ông già phá lên cười:

- Tao thấy mắc cười tụi bay quá trời! Ai đời chuyện của người ta, chẳng mắc mớ gì mình, lại cá độ với nhau rồi uống đến chết lên chết xuống thế này, có phải ngu không!

Năm Sự tỏ ra rành chuyện:

- Sao lại không mắc mớ! Ông Hai không nhớ là cái quán cũ của ông, sau khi ông sang lại cho thằng trẻ tuổi đó nó dẫn về con vợ trẻ măng, để rồi con vợ lăn kềnh ra chết. Tưởng đâu vợ chết nó sẽ bỏ đi, để tụi này kiếm cái quán đó làm chỗ chứa cờ bạc ai dè nó vẫn bám trụ, ở lì. Mà còn gay go hơn nữa, hình như nó có vợ khác hay sao đó... Có người đồn đêm nào họ cũng nghe trong buồng nhà nó có tiếng rù rì thủ thỉ kỳ lạ lắm!

Ông già Hai nghe tên nọ nói thế thì có vẻ lo trong lòng, ông nghĩ hắn ta biết khá nhiều chuyện, như vậy Thái sẽ không ổn. Mà điều đó không làm sao yên tâm, nên tìm cách nói dạt ra:

- Tụi bay toàn nghĩ tào lao! Tao biết thằng đó, nó là học trò mới ra trường, có con vợ trẻ bị chết nên thua buồn ở lại đó để tưởng nhớ con vợ chớ có rước ai khác đâu, đừng nghĩ bậy!

Năm Sự vẫn không thôi:

- Người ta còn đồn là không thấy anh chàng ấy đi chợ bao giờ, nhưng bữa nào cũng ăn ngon, có người dọn ăn cho. Như vậy không rước đàn bà khác về thì ai làm?
 
Ông già Hai gắt giọng:

- Mà ví dụ nó có vợ khác đi nữa thì cũng đâu mắc mớ gì mình. Tụi bay rõ là kiếm chuyện.

Năm Sự cười hô hố:

- Ông Hai quên là tụi này đang muốn lấy hoặc mua lại rẻ căn nhà đó để chứa bài hay sao? Tôi nói thật, bằng mọi cách tụi này cũng làm cho thằng đó phải dọn nhà đi mới thôi!

Nghe giọng nói của hắn, ông già Hai ghét lắm, nhưng ông biết nói ra sự chống đối lúc này không có lợi, nên ông chỉ tìm cách lái câu chuyện đi hướng khác:

- Tụi bay không nghe đồn gì sao?

Là chuyên gia nghe ngóng những lời đồn thi, nên Năm Sự chú ý ngay:

- Chuyện gì ông Hai?

- Chuyện con heo quay của nhà Hương cả Thạnh thả trôi sông trưa nay!

Quả là tin quá hấp dẫn, Năm Sự hỏi tới:

- Sao tới bây giờ ông già mới nói, bây giờ là mấy giờ rồi?

- Sắp sửa thôi chớ chưa tới. Tụi bay mà đón ở cửa Hội đồng thì thế nào cũng lấy được. Tao nghe tụi thằng Sáu Lùn cũng quyết cướp con heo đó, nghe nói heo thật lớn, đến gần một tạ!

Năm Sự vỗ đùi:

- Tổ cha thằng Sáu Lùn cũng không ăn được con heo này nữa là nó! Nhưng mà...

Anh ta nhìn lại hai thằng bạn mình thì thất vọng:

- Chiến hữu mà như vậy thì còn làm ăn gì được nữa.

Chợt hắn ta búng tay nghe cái tróc và reo lên:

- Có cách rồi!

Hắn quay sang ông già Hai:

- Ông cho tôi mượn cái dây lưới giăng dài của ông đi!

Biết cho mượn thì coi như đi đời tay lưới kiếm cơm của mình, nhưng ông già Hai đành phải chiều lòng hắn:

- Lưới cơm của tao nghe mày, làm gì cũng phải giữ cho kỹ, đừng để rách nghe chưa.

Năm Sự nheo mắt:

- Trăm phần trăm ngon lành mà ông già!

Đã đoán biết là hắn mượn tay lưới dài để làm gì rồi, kiểu đó thì còn gì là lưới của ông, nhưng già Hai chỉ khẽ lắc đầu rồi đi lấy lưới ra đưa cho hắn.

Đợi cho Năm Sự đi rồi, ông già Hai gọi thằng con út ra:

- Con chèo xuồng qua sông liền, tìm gặp anh Thái mày, nói ba dặn như vậy... như vậy...

Thằng út Hơn rất khoái, mỗi lần sang chỗ Thái để được anh dạy cho vẽ hình, cho nên nó phấn khởi đi ngay.

Còn riêng Năm Sự, sau khi có được tay lưới, hắn trở ngay về nhà, lấy chiếc xuồng nhỏ, bơi ngược dòng sông về hướng nhà Hương cả Thạnh. Đi ngang qua khúc cua Hội đồng, hắn thoáng thấy lố nhố mấy bóng người đang tụ nhau dưới gốc cây bần, trong số đó có bọn thằng Sáu Lùn.

Năm Sự khéo léo mọp người khi đi ngang qua đó, và nhờ vậy hắn không bị bọn kia phát hiện. Hắn lên trên đó khoảng vài trăm bước, neo xuồng lại rồi cột một đầu lưới vào gốc cây dừa. Xong, hắn lặn xuống và băng qua sông, tránh không để ai phát hiện. Qua bờ bên kia, hắn trồi lên và cột một đầu lưới vào một gốc bần. Như vậy hắn đã có được một cái bẫy, mà bất cứ vật gì như chiếc bè chuối trôi ngang qua cũng sẽ bị vướng lại, và...

Tự cho là mình thông minh khi nghĩ ra cách này nên Năm Sự cười đắc ý, rồi nấp kỹ để chờ...

Quả nhiên, đúng ngọ thì một chiếc bè chuối thật lớn, cỡ như một chiếc xuồng ba lá từ trên trôi xuống. Năm Sự hồi hộp khi nghĩ tới con heo quay béo ngậy, vàng ươm đang nằm trên bè... Bữa nay sau khi tụi thằng Tám Lành, Ba Tàng tỉnh lại sẽ phải phục lăn hắn ta, và đêm nay bọn hắn sẽ tha hồ mà chè chén tới sáng luôn!

Bè chuối trôi mỗi lúc một gần hơn, và rõ ràng trên bè có một vật to như con heo trăm ký đang được phủ bằng mấy tàu lá chuối, trông hấp dẫn làm sao!

Và đúng như Năm Sự mong đợi, chiếc bè trôi tới rồi vướn vào dây lưới giăng ngang, dừng lại giữa dòng! Mắt Năm Sự sáng lên, hắn lao ra ngay và kéo chiếc bè vào bờ, lựa một chỗ khuất, vừa định giở lá chuối phủ con heo ra thì đã nghe giọng lè nhè cất lên:

- Thằng khỉ đột, định ăn một mình à!

Nhìn lên, thấy Tám Lành và Ba Tàng chân hươu chân nai vừa trờ tới. Năm Sự giục:

- Mau tiếp một tay coi, hai thằng quỷ, tụi bay còn dậy nổi sao?

Ba người kéo chiếc bè lên bãi bùn một cách dễ dàng và Năm Sự người lẹ tay nhất, tốc ngay tàu lá chuối lên.

- Trời ơi!

Tiếng thét lên của ba tên cùng lúc! Trước mặt chúng, không phải là con heo quay béo ngậy, mà đó lại là... một xác chết. Xác một cô gái!

Ba Tàng vẫn còn chưa tỉnh rượu, vậy mà lúc này hắn đã vùng đứng lên và co giò chạy. Tám Lành cũng làm theo. Chỉ còn Năm Sự, do hai chân đang bị lún sâu dưới bùn, chưa rút lên được nên đứng yên mà hai mắt trợn tròn, mồm há hốc và... tất cả ba tên chẳng hẹn mà cùng gục ngã tại chỗ.

Chiếc bè chuối lúc ấy tự dưng như được đẩy ra, trong phút chốc đã trôi ra giữa dòng và... vượt qua dây lưới một cách dễ dàng, để tiếp tục trôi về phía hạ lưu...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Phần 2

Khi mọi người hay tin bọn Ba Tàng, Năm Sự và Tám Lành bị nạn ngoài bãi bồi, họ chạy ra đưa được cả ba về thì ba tên đã ở trong tình trạng hầu như hôn mê. Sau khi được hơ lửa, thoa dầu thì may sao bọn họ hồi tỉnh.

Vừa mở mắt ra, Năm Sự đã thét lớn:

- Ma! Bớ người ta!

Hai tên kia cũng tình trạng như vậy, bọn chúng chưa hoàn hồn, nên nhìn chung quanh cứ ngỡ như chúng đang ở địa ngục. Tám Lành lắp bắp:

- Đừng... đừng bắt hồn tôi. Tôi không cố ý...

Ba Tàng còn tệ hơn, hắn tiểu tiện ra quần và bò càng trên đất, vừa la khóc, vừa van xin ai đó:

- Tha cho tôi, từ nay tôi xin chừa...

Có mặt ở đó, ông già Hai lên tiếng:

- Tụi bay đã được cứu sống rồi, còn làm gì vậy?
 
Vẫn chưa tin, Năm Sự đưa mắt nhìn ông già và hỏi với giọng thảng thốt:

- Cô... cô ta đâu... đâu rồi?

Ông già Hai hỏi lại:

- Cô nào?

Năm Sự líu cả lưỡi:

- Ở... ở trên... trên bè...

Ông già Hai cười lớn:

- Mấy thằng này chỉ giỏi tài ăn nhậu, quậy phá thiên hạ chứ không làm chuyện gì cho ra hồn! Chỉ cho đi lấy con heo quay mà cuối cùng cũng để cho tụi thằng Sáu Lùn xóm dưới nó lấy được. Thật là nhục cho tụi trai tráng xóm mình!

Vừa nghe đến điều đó, tỉnh hẳn người ra, hắn hỏi lớn:

- Thằng Sáu Lùn làm gì?

Chỉ tay về phía sân đình, ông già Hai nói nhanh:

- Ra đó mà coi tụi nó đang xẻ con heo quay ra chia phần cho mọi người, phần còn lại cả bọn gần hai chục đứa ăn nhậu đã đời cả buổi rồi mà vẫn chưa hết!

Tám Lành và Ba Tàng cũng đã nghe, bọn hắn đưa mắt nhìn nhau ngỡ ngàng, hồi lâu mới hỏi nhau:

- Sao kỳ vậy?

Năm Sự lắc đầu lẩm bẩm:

- Không thể có chuyện đó... Chính là tôi đã thấy...

Ông già Hai bỏ đi vừa nói với lại:

- Tụi bay có thèm heo quay thì ra mà chia phần với người ta!

Dù cảm thấy nhục nhưng bọn Năm Sự cũng nháy mắt cho nhau rồi cùng chạy ra sân đình. Trước mặt chúng, chiếc bè chuối được kéo nguyên chiếc lên để giữa sân, trên bè vẫn còn một phần ba con heo quay đang ăn dở dang. Bọn Sáu Lùn vừa nhác thấy mấy tên chạy tới đã reo lên:

- Các chiến hữu đi đâu mà tụi này kiếm cả buổi không thấy? Vào, vào đây làm tiếp đi, bọn này ăn không hết!

Năm Sự nổi máu du côn:

- Tụi bay có biết là chính tao đã vớt được con heo này không? Sao tụi bay...

Sáu Lùn đâu có vừa, đứng lên cười hềnh hệch:

- Có muốn ăn ké thì tụi này cho ăn, còn nói giọng đó thì coi chừng... ăn đòn đó!

Tám Lành kề miệng nói khẽ:

- Rõ ràng hồi nãy mình thấy... xác chết, mà sao bây giờ bọn chúng lại ăn ngon lành vậy? Hay là tại mình xỉn?

Tám Lành cãi:

- Chứ thằng Năm Sự có say đâu?

Năm Sự chỉ tay vào con heo quay:

- Mày coi lại coi, tụi bay đang ăn giống gì vậy?

Sáu Lùn điên tiết lên:

- Thằng này bữa nay tới số rồi chắc!

Hắn lao tới định thoi vào mặt Năm Sự, nhưng vừa đưa tay lên thì bụng quặn đau như bị ai cắt đứt, khiến hắn co quắp người lại. Bọn em út thấy vậy ngạc nhiên hỏi:

- Sao vậy anh Sáu?

Một người lớn tuổi đứng gần đó lên tiếng:

- Chắc là tại ăn nhiều quá chớ gì! Một mình hắn mà ăn hết cái đùi heo, hèn gì!

Vừa khi ấy, bỗng có người thét lên:

- Xác người!

Thì ra trước mặt họ, trên chiếc bè chuối lúc ấy là một nửa xác người!

Chưa bao giờ tưởng tượng nổi cảnh này, cho nên mọi người vừa nhìn thấy đã ù té chạy, một số thì đứng tại chỗ thi nhau nôn mửa liên hồi!

Năm Sự là người đã chứng kiến từ lúc nãy, nhưng giờ đây nhìn thấy lại cũng phải tối tăm mặt mày, lảo đảo muốn ngã khuỵu! Còn phần Sáu Lùn thì sau khi lăn lộn bởi cơn đau, đã nằm im không có dấu hiệu gì của sự sống.

Bọn đàn em của hắn đứa thì co giò chạy, đứa sợ quá kêu la khóc um sùm. Còn những người lúc nãy trót nhận phần chia thịt heo quay thì sợ đến gần chết ngất. Cũng may là hầu hết họ đều chưa có người nào ăn miếng nào! Tất cả không ai bảo ai, đã cùng nhau đem quăng bỏ số thịt ấy và rời khỏi sân đình tức khắc.

Tin tức loan truyền rất nhanh, chưa đầy một giờ sau thì hầu như chuyện bọn Sáu Lùn ăn xác chết đã rao khắp làng. Người sợ thì không dám tới sân đình để xem lại cảnh tượng hãi hùng lúc nãy. Nhưng còn những người không biết sợ và tò mò thì rủ nhau kéo tới nhìn cho tận mắt. Trong số này có người đã chứng kiến, giờ nghĩ lại, thấy cần phải coi lại cho chính xác, nên cũng tháp tùng theo nhóm người mới.

Nhưng khi họ kéo tới sân đình thì tất cả đều ngẩn người ra, bởi trên chiếc bè chuối vẫn là... gần nửa con heo quay ăn dang dở!

Mấy người mới tới bàn tán:

- Làm gì có chuyện ăn xác người! Có lẽ mấy người kia giành con heo quay nên tung tin nhảm. Mà cũng có thể là họ bị mờ con mắt bởi... ăn nhiều quá!

Mặc ai nói gì thì nói, nhưng bọn Sáu Lùn thì vẫn bị quằn quại rên la. Riêng Sáu Lùn sau một lúc mê man đã tỉnh lại, nhưng khi nhìn thấy mọi người thì bỗng quỳ và lạy bất kể ai. Anh ta vừa lạy vừa lùi như muốn chạy trốn mà chạy không được. Đến lúc anh ta lùi tới mé sông thì ngã nhào xuống đó và... mất hút!

Những người chứng kiến vội hô hoán lên rồi vài người nhảy theo mò, nhưng sau hơn một giờ tìm kiếm vẫn chẳng thấy xác của Sáu Lùn đâu.

Chính Năm Sự cũng lạnh sống lưng về chuyện này. Hắn ta nói riêng với Tám Lành:

- Tao nghĩ chuyện này có dính tới... ma quỷ gì đó phải không mày, Tám?

Tám Lành run giọng đáp:

- Chắc vậy quá.

Ba Tàng thì tỏ ra rành hơn:

- Hồi nãy tao để ý thấy lúc đầu cái xác chỉ còn lại một phần ba, nhưng bây giờ sau khi mọi người tới coi thì nó còn gần phân nửa mà lại là phần đầu, chớ không phải phần chân như lúc nãy!

Năm Sự cũng nhận ra điều đó:

- Đúng rồi.

Rồi cả bọn họ đều lẳng lặng rút lui khỏi nơi ấy. Một lúc sau, cũng chín Năm Sự hỏi bạn:

- Tụi bay còn giữ ý định qua thám thính nhà của thằng Bảy Thái không?

Hai tay kia đều tán thành:

- Sao lại không? Cũng tại mày tào lao dính vào vụ con heo cúng nên mình mới gặp rắc rối. Bây giờ mình lén qua sông đi.

Họ thực hiện ngay ý đồ, và hơn nửa giờ sau đã có mặt ở quán Thảo Mai. Vẫn ít khách như thường lệ, vẫn chỉ một mình anh chủ quán chứ không hề có ai phục vụ. Đã có chủ ý trước nên bọn Năm Sự đã hỏi ngay khi vừa ngồi xuống quán:

- Có gì nhậu không ông chủ? Mà sao chỉ một mình ông đứng bán, bà chủ đâu?

Bảy Thái chủ quán giờ đây đã già hơn nhiều so với ba năm trước, khi anh tới đây để sang lại quán này của ông già Hai, anh vẫn nụ cười hiền hòa, trả lời:

- Quán ế ẩm mà mướn người phụ việc làm gì cho tốn kém, còn bà chủ thì... có đâu mà chủ với tớ!

Thấy anh cũng biết nói đùa, nên bọn Năm Sự cũng dễ dò la:

- Không có bà xã sao anh về đây bao năm trời nay mà chịu nổi? Sao không kiếm bà nào về hủ hỉ cho vui lại đỡ đần công việc?

Thái không hứng thú trả lời chuyện này, nên anh quay trở vào trong. Hai Lành gọi giật lại:

- Chưa cho gọi thức uống mà ông chủ!

Thái quay lại hỏi:

- Quý anh dùng gì?

Ba Tàng lớn giọng:
 
- Cho một chai đế!

Thái lắc đầu:

- Quán tôi không bán rượu từ nào tới giờ, mong quý anh thông cảm uống thứ khác. Có cà phê mới đem từ chợ về, ngon lắm.

Hai Lành sừng sộ:

- Quán mà gọi cái gì cũng không có, vậy mở quán để làm gì?

Thái vẫn nhẹ giọng:

- Dạ, mở cho vui, bán vài thứ giải khát thôi còn rượu thì tuyệt đối không có.

Ba Tàng đứng dậy, hai tay chống nạnh, hất hàm hỏi:

- Chú mày biết bọn này là ai không mà dám nói giọng đó, hả?

Thái vẫn tỉnh bơ:

- Là ai thì cũng không có rượu. Bởi lẽ đơn giản là từ mấy năm nay tôi không hề có rượu trong nhà.

- Hỗn láo.

Hắn ta quát lên, vừa lao tới như muốn ăn thua đủ.

Chợt có tiếng của Năm Sự vang lên:

- Nóng nảy có ích gì đâu, đây cũng là chỗ quen biết mà. Mày phải thông cảm cho chú ấy, vợ chết còn đang buồn mà, làm sao nhìn thấy kẻ khác say sưa be bét trong nhà mình. Vả lại chú ấy còn để thì giờ để... rước bà nhỏ về nữa chớ!

Bị chạm chuyện riêng tư, Thái nghiêm giọng:

- Các anh tới uống nước thì tôi cám ơn, còn chuyện riêng tư thì xin các anh tôn trọng cho, đừng chạm tới.

Biết thế nào Ba Tàng cũng nổi điên, Năm Sự chặn lời ngay:

- Thôi, xin lỗi vậy. Bọn tôi không có ý đó, chẳng qua thấy ông chủ một mình cực khổ lại buôn bán ế ẩm, nên chỉ có ý là...

Hắn ta ngừng lại, có ý dò phản ứng của Thái trước khi tiếp lời:

- Hay là ông chủ sang lại quán này cho tụi tôi đi!

Đang mềm mỏng, bỗng Thái đổi ngay thái độ, gắt lên:

- Ai cho phép các anh vô cớ hỏi sang quán của người ta?

Hơi bất ngờ về thái độ của Thái, nhưng chỉ sau vài giây thì Năm Sự đã lên giọng:

- Hỏi sang quán thì có gì không phải. Bởi bọn này biết trước sau gì chú mày cũng phải bỏ của chạy lấy người thôi! Ở đây làm sao nổi khi một thân một mình mà tuổi đời thì còn quá trẻ.

Thái không còn chịu nổi trước thái độ khiếm nhã đó, anh thẳng thừng:

- Nếu không còn chuyện gì khác để nói nữa thì xin mời các anh đi cho!

Thái đi thẳng vào phòng trong, cứ ngỡ như vậy là bọn họ sẽ tự động bỏ đi. Nhưng anh đã lầm. Đã có ý đồ trước khi tới đây thì đời nào chúng chịu thua. Năm Sự ra dấu cho hai bạn hắn, cùng nhau rón rén theo chân Thái đi vào trong.

Không đề phòng nên Thái không phát hiện có người theo mình. Anh mở cửa phòng, rồi cứ để vậy không đóng lại bước tới bên giường, vừa đưa tay vặn ngọn đèn dầu đầu ở giường lên. Căn phòng sáng hẳn, đủ cho ba kẻ tò mò ngoài cửa nhìn vào và thấy một người đang nằm trên giường! Đó lại là một... phụ nữ!

Đầu tiên là Năm Sự, rồi Tám Lành và Ba Tàng, lần lượt cả ba tên đều quỵ xuống tại chỗ miệng như bị ai bóp cứng không kêu lên được tiếng nào. Rồi chẳng ai bảo ai, chúng cùng bò, lết, nhắm hướng ra ngoài mà thoát thân.

Gần 5 phút sau, cả bọn đã tới ngoài vườn. Lúc này Năm Sự mới có thể nói được, tuy giọng còn thất thần:

- Tụi bay có thấy... thấy gì không?

Ba Tàng đáp trong nỗi sợ hãi tột cùng:

- Xác... xác chết trên bè chuối!

Tám Lành thì vẫn chưa hoàn hồn:

- Ma... ma thật rồi!

Năm Sự bình tĩnh hơn:

- Xác chết thôi, chớ chưa chắc là ma. Nhưng tại sao mới lúc nãy nó ở trên kia sân đình mà bây giờ lại ở đây? Mà lại ở trong phòng của thằng này là sao?

- Hay là...

Ba Tàng vừa nghĩ ra điều gì đó, hắn định nói, nhưng Năm Sự đã cắt ngang:

- Theo tao thì tụi mình chạy nhanh cho rồi! Tao thấy vụ này có cái gì đó ghê ghê.

Bà Tàng nhún vai:

- Tao hiểu rồi, chính thằng cha già Hai có liên hệ với thằng chủ quán này! Có thể thằng cha già ấy nó bày ra vụ này chăng?

- Vụ gì?

- Thì cái xác con nhỏ kia!

Càng bàn thì lại càng rối thêm. Cuối cùng Năm Sự bảo:

- Tốt hơn hết là đừng dính tới vụ này nữa. Rút nhanh lên!

Hai tên kia vẫn còn chần chừ thì bỗng Ba Tàng cảm thấy lưng mình có vật gì đó lành lạnh luồn từ lưng quần đi lên, giống như con rắn chui vào áo hắn.

- Cứu... cứu tao?

Hắn chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi mắt gần như đứng tròng! Năm Sự và Tám Lành chẳng biết chuyện gì xảy ra, chúng hỏi:

- Mày sao vậy Ba Tàng?

Cũng vừa khi ấy vật làm cho Ba Tàng chết khiếp đó xuất hiện ngay từ ống quần của cả hai. Chúng nhận ra và chưa kịp kêu lên tiếng nào thì đã trợn trừng và... ngưng thở! Vật đang làm chúng khiếp sợ đó là... một cánh tay trần từ dưới đất nhô lên, như con rắn trườn.
 
***

Ông già Hai nhìn Thái với sự ái ngại:

- Tôi lo cho cậu. Vừa rồi nếu không có những chuyện kỳ lạ đó xảy ra thì e rằng bọn quỷ côn đồ ấy đã phát hiện ra chuyện riêng của cậu rồi.

Thái thắc mắc hỏi:

- Cháu vừa nhìn thấy họ đứng ở cửa phòng nhìn vào và thấy vợ cháu đang nằm, cháu lo quá chưa kịp phản ứng gì thì chẳng hiểu sao họ lại hoảng sợ bỏ chạy vậy chú Hai?

- Không phải tự nhiên đâu. Chính vì chúng nó thấy vợ cậu ở đây nên hoảng sợ đó. Bởi mới cách đó không lâu chúng đã nhìn thấy trên chiếc bè chuối.

Thái lại ngạc nhiên:

- Bè chuối gì nữa chú Hai?

Ông già Hai đem chuyện xác chết trên bè chuối kể cho Thái nghe. Anh càng rối thêm:

- Sao lại có chuyện đó chú Hai? Mà đó là xác của ai vậy?

Ông già Hai biết là Thái thật sự không rõ chuyện đã xảy ra, ông nói:

- Xác ấy là của cô Mai, vợ cậu!

Thái tròn mắt:

- Chú Hai nói gì cháu không hiểu?

- Ban đầu tôi cũng không hiểu. Nhưng sau khi chuyện xảy ra, tình cờ tôi nhìn thấy chính con bé Thu, con nuôi của cậu đã dìu cô Tuyết Mai lướt trên mặt sông!

Thái hoảng kinh:

- Con bé Thu! Nó... nó đã chết đuối cách đây trên một năm rồi, chú không nhớ sao?

Ông Hai gật đầu:

- Sao tôi lại quên, bởi chính tôi là người đã vớt nó và đem chôn ở sau vườn này. Nhưng rõ ràng tôi thấy nó.

Thái lẩm bẩm:

- Vậy là nó không bỏ đi như mình nghĩ.

- Nếu thật sự nó đi thì xác của cô Tuyết Mai đã rã từ lâu rồi, chứ đâu còn nguyên vẹn sau hơn ba năm lìa đời. Cậu không nhớ lời cô ấy dặn trong mảnh giấy để lại sau lưng con bé Thu ngày ấy sao?

Thái gật đầu, giọng buồn bã:

- Sao cháu lại không nhớ. Và đó là nỗi ray rứt của cháu cho đến bây giờ. Năm đó nếu cháu không mải lo ngày đêm ngồi bên xác người yêu cháu trong phòng, quên cả con bé, để cho nó bò ra bờ sông rồi chết đuối... Cháu tự trách mình, nhưng chỉ còn biết cầu nguyện vong linh Tuyết Mai tha thứ cho lỗi lầm đó của cháu.

Ông già Hai tỏ ra rành chuyện đến nỗi Thái phải ngạc nhiên:

- Nếu không có chuyện đó xảy ra thì những ngày cầu hồn của cậu không kéo dài quá ba năm như bây giờ đâu. Cậu không để ý những chi tiết về cái chết của bé Thu ngày đó sao, đâu phải tự nhiên mà con bé bò ra ngoài sông, nếu khi đó cô Tuyết Mai không dẫn đường cho nó đi. Cậu nhớ lần cậu hốt hoảng chạy đi tìm cô Mai lúc nửa đêm không?

Thái gật đầu:

- Khi cô ấy chết được gần một năm thì vào một đêm trời mưa, do quá buồn ngủ nên cháu đã ngủ quên bên cạnh giường nằm của cô ấy, lúc chợt giật mình thì không thấy Tuyết Mai đâu, cháu hoảng hốt chạy đi tìm thì gặp chú Hai từ dưới sông lên, trên tay ẵm bé Thu. Chú báo tin con bé bị chết đuối thì cháu không chú ý lắm, bởi cháu còn mải lo không biết Tuyết Mai đi đâu?

- Và thật ra cô ấy chẳng hề đi đâu phải không?

- Dạ đúng. Sau khi tìm một hồi, cháu trở vào phòng thì xác cô ấy vẫn còn nằm đó.

Ông Hai trầm ngâm một lúc rồi mới tiết lộ:

- Lúc ấy tôi cũng không biết chuyện gì đã xảy ra. Mãi sau này, khi vào nửa đêm bỗng tôi nghe tiếng cô Mai gọi cửa nhà, tôi ra mở cửa thì chẳng thấy cô ấy đâu, mà chỉ thấy con bé Thu nằm ngay ngạch cửa.

Thái ngơ ngác:

- Con bé đã chết và chính chú Hai chôn nó rồi mà?

- Điều đó thì đúng nhưng việc xác nó nằm ngay cửa nhà tôi lúc ấy cũng không sai! Bởi sau đó, chính cô Tuyết Mai báo mộng cho tôi hay, chính cô ấy đã cứu con bé, nhưng không dám đưa về nhà lần nữa vì giữa nó và cậu không hợp nhau, nếu để chung thì một là nó lại chết, hai là chính cậu sẽ chết! Nên cô ấy năn nỉ nhờ tôi giữ xác nó giùm, đợi đến khi nào cậu và cô Mai hết vận hạn sẽ tính. Tôi nghe chuyện và bắt đầu hiểu, chớ nói thật với cậu suốt thời gian dài trước đó tôi vẫn nghi hoặc chuyện của cậu, không tin một xác chết như cô Mai lại có thể không đem chôn nhiều năm mà vẫn không hề có chuyện gì xảy ra, vẫn ở bên cạnh cậu như một người nằm ngủ bình thường!

Lâu nay Thái giấu kín chuyện này, nhưng nay ông già Hai đã biết nhiều hơn anh nghĩ, nên Thái chỉ biết thở dài, rồi khẽ bảo ông:

- Chú Hai như cha cháu, nên việc này cháu không dám giấu nữa. Chú hãy đi theo cháu vào đây.

Thái đưa ông già Hai vào tận phòng riêng, anh chỉ xác của Tuyết Mai:

- Cô ấy vẫn nằm đó, thi thể vẫn còn ấm suốt hơn ba năm qua, bởi vậy cháu đâu dám đem chôn. Ngày đêm cháu chỉ biết cầu hồn cho cô ấy...

Ông Hai mỉm cười:

- Cô ấy còn giữ được như thế này là do những lời cầu hồn của cậu đó! Đúng ra là cô ấy đã chết thật vào cái đêm con bé Thu chết đuối, bởi bé Thu là oan hồn theo để chờ rước cô Tuyết Mai đi và lần đó là kỳ hạn cuối.

Thái chưa hiểu:

- Chú Hai nói vậy là sao? Chính Mai đã cứu bé Thu khi nó bị thả trôi trên bè chuối và dặn cháu nuôi dưỡng nó, vậy tại sao nó muốn bắt cô ấy đi.

- Tôi là người ngoài làm sao biết nhiều ơn cậu, nhưng qua chuyện tôi cứu con bé Thu từ bến sông lên, cô Tuyết Mai đã báo mộng cho tôi biết mọi chuyện. Sở dĩ cô ấy không báo cho cậu biết là bởi cô ấy phải tránh cho hồn ma bóng quế đang canh giữ ngày đêm quanh xác của cô. Chuyện nó như thế này...
 
Ông không dám nói, mà kéo Thái ra một góc nhà, nói thật khẽ chỉ đủ cho Thái nghe:

- Thật ra ngày đó, khi tôi vớt được cô Mai lên khỏi sông thì cô ấy chỉ còn là cái xác. Hồn phách đã lìa khỏi xác rồi, chỉ được cho sống lại trong thời gian ngắn để gặp gỡ cậu và sau đó đúng ra phải chết luôn lúc con bé trên bè chuối xuất hiện. Cậu biết không, con bé Thu chính là một hồn ma của một đứa trẻ bị chết oan cùng với mẹ nó ở khe sông này, mẹ nó thì tận số nên bị bắt đi luôn, riêng nó do bị chết oan nên vất vưởng theo dòng sông, hôm đó nó gặp cô Tuyết Mai nhảy sông tự tử nên nó bám lấy, tưởng đâu cô Mai là mẹ mình. Chính nhờ nó mà hồn phách cô Tuyết Mai không bị bắt đi hẳn, cậu nhớ chưa?

Thái nhớ lại, anh lẩm bẩm:

- Thảo nào cô ấy dặn cháu là phải giữ cho bằng được con bé, bởi nó mất thì cô ấy cũng mất!

Ông già Hai bảo:

- Suýt nữa thì cậu đã làm hại cả hai người. Bé Thu cũng đang chờ được hồi sinh như cô Mai vậy.

Thái Sốt ruột hỏi:

- Con bé bây giờ ở đâu, chú Hai?

Hồn phách nó thì tôi đang thờ ở nhà, còn xác nó thì vẫn ở nguyên chỗ tôi chôn lúc trước. Hồi nãy chính nó đã khiến cho lũ thằng Năm Sự một phen hết vía, để bọn ấy từ nay không còn dám léo hánh tới đây nữa.

Thái thật lòng hỏi ông già Hai:

- Giờ đây cháu phải làm gì nữa chú Hai? Nói thật với chú, nếu chỉ để được gần gũi với Tuyết Mai thì cháu có thể để cô ấy trong tình trạng này suốt đời cũng được. Cháu có thể sống với người vợ nằm ngủ yên như thế là đủ rồi. Nhưng còn bé Thu mà như lời chú vừa kể thì cháu chẳng biết phải làm sao.

Ông già Hai trấn an:

- Tôi biết rõ chuyện này nên hiểu rằng tấm lòng thành của cậu đã lay động được cõi âm hồn, cậu sẽ sớm được đền đáp. Mà lúc nào cô Tuyết Mai hồi sinh thì con bé Thu cũng được hưởng lây. Cậu cứ tiếp tục cầu đi, hồn phách của người cậu thương yêu không phụ cậu đâu.

Trước khi ra về, ông già Hai dặn lại:

- Bọn người xấu kia nhằm mục đích làm cho cậu nản lòng, bỏ đi, để chúng chiếm ngôi nhà này dùng làm chuyện phi pháp. Vậy cậu không được lung lay ý chí. Tôi hứa sẽ ngày đêm để mắt giúp cậu.

Thái cảm động xiết chặt tay ông ngầm cám ơn. Tiễn ông ra tận bờ sông, đến khi anh quay vào nhà thì không thể tin vào mắt mình nữa: Trước mặt anh, một cô gái đang đứng giữa nhà, nhoẻn miệng cười rất tươi hướng về anh!

- Tuyết Mai!

Đúng là một Tuyết Mai bằng xương bằng thịt đang đứng đó! Thái còn ngỡ ngàng chưa tin hẳn thì nàng đã bước tới ôm chầm lấy anh, thổn thức:

- Rồi mình cũng có ngày này mà.

Mai biết anh chàng vẫn còn hoang mang, nên kéo tay Thái vào tận phòng ngủ, chỉ lên giường:

- Anh nên đem đi mai táng. Đó là tất cả những gì còn lại của một Tuyết Mai vắn số. Nó là xác phàm của em do cha mẹ sinh thành, giờ thì trả em về cát bụi. Chỉ còn em ở đây, cũng là thân xác, nhưng lại do chính anh cầu nguyện mà thành. Em hồi sinh là do sự trì chí, lòng thành của anh thấu tận cõi hư vô, nên từ nay em hoàn toàn thuộc về anh!

Giọng nàng nói thật chân thành tha thiết. Âm điệu lời nói vẫn như xưa, tuy có điều bây giờ là một Tuyết Mai chững chạc, trưởng thành hơn.

Thái bước tới bên giường và giật mình khi nhìn thấy dưới lớp chăn đắp là một bộ xương khô! Tuyết Mai lặp lại để anh yên tâm:

- Như em vừa nói, ấy là thể xác của em phải trở về cát bụi. Anh hãy chôn ngay đi. Chôn bên cạnh mộ của bé Thu. Anh làm ngay đi, nếu không em có thể bị nhập trở lại đó!

Thái hốt hoảng làm theo lời. Anh một mình bế bộ xương khô ấy ra, đào một hố huyệt bên cạnh phần mộ không nấm đất của bé Thu mà ông già Hai đã chôn mấy năm trước.

Lạ lùng thay khi Thái vừa đặt bộ xương xuống, chưa kịp lấp đất thì tự nhiên đất chỗ đó liền lại và ở nấm mộ kế bên có một làn khói màu xanh bay lên, trong nháy mắt đã không còn thấy nữa.

Còn đang ngẩn ngơ thì từ trong nhà đã có tiếng trong trẻo của Tuyết Mai gọi vọng ra:

- Hôm nay em sẽ khao anh một bữa thịnh soạn. Anh vào sửa soạn đi, để còn đón chú Hai và bé Thu về nữa.

Tuyết Mai lau dọn nhà cửa thành thạo, quen thuộc như người từng sống trong nhà này từ lâu. Thấy Thái cứ nhìn mình lạ lẫm, nàng cười bảo:

- Có gì đâu mà anh phải ngạc nhiên, tuy em mới ngồi dậy được đây, nhưng hồn phách em đã ở trong ngôi nhà này từ ba năm nay. Em đâu còn lạ gì nữa.

Đến trưa đó thì ông già Hai lại sang. Ông dẫn theo một đứa bé gái cỡ ba bốn tuổi, nó vừa trông thấy Thái và Mai thì đã chạy ào tới, ôm chầm lấy và khóc nức nở:

- Tưởng là con không còn gặp lại mẹ cha nữa! Con là bé Thu đây.

Ông già Hai gật đầu:

- Nó vừa hồi sinh là bảo phải dẫn qua đây ngay!

Cuộc trùng phùng quá bất ngờ, nhưng không có sự ngỡ ngàng lâu, bởi trong đầu của ba người dường như thoáng hiện những kỷ niệm đã qua, dù là rất mơ hồ, nhưng họ hiểu đó là những gì mà họ từng có. Như một giấc chiêm bao, giờ biến thành sự thật.

Trước khi bữa tiệc gia đình bắt đầu với hai con gà luộc, Tuyết Mai nói với ông Hai:

- Cháu nhờ chú Hai lập giùm một cái miếu ngay cạnh hai ngôi mộ đất ngoài kia, chắc chú hiểu ý cháu?

Già Hai gật đầu:

- Cháu không nhờ thì chú cũng sẽ làm. Miếu tưởng niệm hai người được hồi sinh, chứ không phải thờ vong hồn như xưa nay người ta vẫn làm.
 
***

Người ngoài không hiểu chuyện, thấy tự dưng Thái có cô vợ trẻ đẹp và đứa con hơn ba tuổi, họ đồn nhau:

- Thằng cha chủ quán Thảo Mai coi vậy mà đào hoa. Vợ chết được mấy năm, nay lại vớ được một cô nàng thật là xinh xắn. Anh ta tốt số thật!

Có người thì bảo:

- Con riêng của vợ mà xem ra con bé kia lại quyến lyến, thương yêu cha vượng còn hơn con đẻ nữa, lạ thật!

Thái và vợ nghe những lời bàn tán ấy chẳng những không khó chịu mà còn xúc động, nhìn nhau cười.

Họ sống với nhau trong hạnh phúc dài lâu.. Đôi khi Thái tế nhị nhắc:

- Dẫu sao em cũng tìm cách về thăm lại cha mẹ chứ?

Lần nào Tuyết Mai cũng lắc đầu bảo:

- Em đã nói rồi, thân xác do cha mẹ sinh ra đã trả lại cát bụi rồi. Em bây giờ hoàn toàn là của hai đứa mình. Tuy nhiên, em vẫn cầu nguyện cho họ sống vui, sống khỏe. Đợi khi họ trăm tuổi già em sẽ là người thờ tự...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
3. HỒN TIỂU QUYÊN

Chuyện ông bá hộ Tung hơn bảy mươi tuổi mà còn đòi lấy vợ trẻ chẳng những làm cho cả nhà sững sờ, mà ngay như người làng cũng ngơ ngác bảo nhau:

- Ông ta có hồi xuân không mà đòi lấy gái mười tám?

Có người lại nói:

- Mà có đứa ưng thuận mới là chuyện lạ! Chắc là ham tiền, chứ con gái mà đi lấy một ông già như thế?

Nói gì thì nói, việc đã thành sự thật. Hôm đó trong buổi họp mặt gia tộc, bá hộ Tung đã long trọng tuyên bố:

- Nhà này từ nay sẽ có chủ mới. Con gái của chủ nhà máy xay lúa Đồng Xanh ở cồn Cái Thia đã nhận lời và làm... má mấy đứa trong nhà này.

Người đầu tiên lên tiếng phản đối là con gái út của ông, cô Út Liên:

- Nghe nói con đó mới mười tám tuổi, như vậy còn nhỏ hơn tuổi con, sao làm... mẹ tụi này được.

Bá hộ Tung trợn mắt:

- Mày kêu ai bằng con này con nọ, con kia?

Út Liên không vừa:

- Ba mà cưới nó về thì đừng trách tụi con bỏ nhà đi hết cho ba ở với nó!

Người em gái thứ sáu của ông cũng ca:

- Bộ hết chỗ lấy sao anh lấy con này về làm vợ? Mà nghe đâu bên cánh đó cũng đâu có ưng, chỉ bởi anh ép họ...

Bá hộ Tung đập bàn quát tháo vang cả nhà:

- Đừng có bàn ra. Tao cưới vợ là cưới cho tao, chứ có cưới cho mấy người đâu. Nhà cửa này là của tao, sản nghiệp này cũng do tao tạo dựng, như vậy tao là chủ, tao có quyền quyết định chuyện riêng của tao!

Thấy ông anh của mình nói đến nước đó, nên cô Sáu quay sang nói với mấy đứa cháu:

- Ba bay đã nói như vậy rồi thì tốt hơn hết là tụi con qua nhà cô mà ở. Để nhà này cho ông ấy sống với vợ "nhí" đi!

Cả ba đứa con gái đều đồng tình. Trước khi đi chúng còn nói như trối:

- Chỉ khi nào ba chết tụi con mới về để tang, chứ không bao giờ tụi con đặt chân về nhà này!

Không ngờ con cái phản ứng dữ quá lão bá hộ đành xuống nước:

- Tụi con thương ba tuổi đã già, sống cô đơn buồn quá chắc là ba mau chết!

Em gái ông nói:

- Nếu vậy tôi làm mai cho anh con Tư Gấm năm nay nhỏ hơn tôi ba bốn tuổi. Nó là người đàng hoàng, từ nào đến giờ chưa lấy chồng, lại con nhà gia giáo nữa.

Ông bá hộ rùn vai, lè lưỡi:

- Cô cho tôi lạy, con vợ già mới chết, bây giờ cô lại bảo tôi đi kiếm một con... chằn cái khác về hả? Còn lâu!

Cô Sáu Nết nhún vai, lắc đầu:

- Anh hết thuốc chữa rồi!

Mấy cô cháu dắt tay nhau ra khỏi nhà. Lão bá hộ nhìn theo dửng dưng. Tuy nhiên, khi họ đi hết rồi thì ông chợt cảm thấy trống vắng. Kể từ ngày vợ chết cách ba năm trước, bề ngoài thì lão có vẻ là người chung tình, nhưng thật ra lão là người trăng hoa khó ai bì! Cho đến khi một sự tình cờ, lão được người mách cho cô gái tân tên là Tiểu Quyên. Đúng hơn là có người mai mối.

Một bà mai có cỡ. Chính bà ta tìm tới gặp riêng lão và tiếc lộ:

- Ông bá hộ bộ tính chết già trong cô độc hay sao vậy?

Bá hộ Tung ngao ngán lắc đầu:

- Nghe tới vợ con là phát ngán rồi! Sống một mình thấy khỏe hơn.

- Nhưng vợ là vợ già chứ còn... nàng hầu, đào "nhí" thì phải khác chứ!

Và ngay lập tức, mụ ta mách:

- Bá hộ biết chủ nhà máy xay lúa Đồng Xanh ở bên cồn Cái Thia không?

- Biết. Nhà máy xay lúa thuộc loại lớn nhất vùng này?

Mụ ta cười phá lên:

- Ai hỏi về sự lớn nhỏ của nó làm gì. Bởi có lớn, có giàu gì thì cũng chỉ bằng cái móng tay của ông mà thôi. Tôi hỏi là hỏi đứa con gái hoa nhường nguyệt thẹn của nhà đó kìa!

Bá hộ Tung ngạc nhiên:

- Thì cũng mắc mớ gì tôi? Hình như là nhà đó có đứa con gái năm rồi tính đưa đi dự thi sắc đẹp ở Tây đô thì phải.

Mụ mai vỗ tay:

- Đó đó. Cái đáng nói là ở đó đó!

Rồi mụ ta kề tai nói nhỏ:

- Ông có muốn có con nhỏ đó để hết cô đơn không?

Đúng là đưa mỡ đúng vào miệng mèo! Lão bá hộ có sụm chân đi nữa mà nghe giới thiệu món ngon như thế cũng phải ứa nước dãi:

- Nó chịu tôi sao?

Mụ ta nheo mắt:

- Chịu ngang xương thì đời nào nó chịu. Nhưng... phải có những cái khác thường thì mới gọi là bá hộ Tung chớ!

Vẫn thầm phục cái tài xúi người này, giục người kia của mụ ta, nên ông bá hộ hỏi khẽ:

- Có cách nào?

Lúc này mụ mới nói thẳng ra:

- Số là thằng cha chủ nhà máy xay lúa đó vừa bị vỡ nợ, thiếu nhà băng số tiền khá lớn, sắp bị xiết nợ mất cái nhà máy xay. Cho nên nó mới... bán đứa con gái mà trả nợ.

- Bán con gái? Có phải cái cô đi thi sắc đẹp không?

Mụ mai lại vỗ đùi:

- Còn ai vào đó nữa! Và chỉ có ông thôi...

Trong lúc bá hộ Tung còn chưa rõ thì mụ ta đã giải thích rành rọt như người trọng cuộc:

- Chỉ cần ngài bỏ ra nửa vạn bạc là xong. Đó là số tiền cha cô nàng thiếu nợ nhà băng!

Nghe tới số tiền quá lớn, lão bá hộ phát hoảng:

- Số tiền trị giá ba bốn trăm lượng vàng đâu phải chuyện chơi!

Mụ mai hạ thấp giọng ra vẻ quan trọng:

- Bởi vậy tôi mới nói chỉ có mình ông là tính được! Nhiều thì có nhiều, nhưng để có được người đẹp như tiên giáng trần đó thì... cũng đâu có quá mắc.

Lão bá hộ đã bắt đầu nao núng:

- Sao bà biết họ chịu đổi con?

Mụ mai đánh đòn quyết định:

- Được hay không là do tài của con Tư Thắm này mà, ông bá hộ!

Rồi mụ ta nói chi tiết hơn:

- Vừa rồi chính thằng chủ nhà máy chạy qua cậy nhờ tôi nói giùm ông bá hộ. Nếu ông đồng ý giải nguy cho ông ta bằng cách trả cho nhà băng số tiền nợ đó, thì đổi lại ông ta sẽ cho con gái về làm thứ thiếp cho ông. Nói thứ thiếp cho có vẻ, chứ đó là làm bà bá hộ nhí cho ông đó!

Mắt lão bá hộ sáng lên nhưng vẫn còn e dè:

- Biết cô ấy có thuận không?

- Miễn là ông chịu thì giá nào cũng xong!

- Nhưng mà...

Lão ta nhẩm tính và im lặng hồi lâu. Cuối cùng đã gật đầu. Thế là mụ mai Tư Thắm phấn khởi nói:

- Ông chờ đó, chỉ trong vòng hai mươi bốn giờ là xong.

Mụ ta nói đúng. Bởi qua chiều hôm sau thì có tin tốt:

- Ông chuẩn bị tiền đi, xong rồi!

Một cuộc gặp mặt giữa bá hộ Tung và chủ nhà máy xay Mười Lực, với lời giao ước:

- Giải nợ nhà băng xong thì lập tức tổ chức đám cưới!

Bá hộ Tung muốn chắc ăn hơn, đã ra điều kiện:

- Phải cho tôi gặp mặt cô Tiểu Quyên trước, chỉ cần một lời hứa của cô ấy thôi thì bao nhiêu tôi cũng chi!

Dĩ nhiên Tiểu Quyên không chịu! Cô khóc òa lên khi nghe cha nói thẳng ra ý định và cương quyết nói:

- Nếu cha bắt ép con lấy lão ấy thì con sẽ cắn lưỡi chết ngay lập tức!

Biết con mình nói là làm, nên Mười Lực phải cầu viện tới bà mụ Tư Thắm, mụ này bày mưu:

- Tôi đã lường trước rồi. Phải như thế này thì mới xong...

Mụ ta bày trò như thế nào đó mà ngay ngày hôm sau, Mười Lực đã ngã bệnh nặng, đồng thời có một lũ đầu trâu mặt ngựa kéo tới đòi đốt nhà máy xay, nếu không trả nợ kịp thời.

Lúc đầu Tiểu Quyên không quan tâm chuyện gì đang xảy ra. Tuy nhiên, khi gia nhân báo tin cha bệnh nặng, rồi nhà máy bị hăm đốt, côn đồ kéo tới đông như kiến thì cô gái đáng thương phải rung động. Cô chạy đi tìm cha thì thấy ông nằm thoi thóp trong phòng, ông ra dấu cho con tới bên cạnh rồi nói như trối trăng:

- Nếu cùng lắm thì con hãy châm lửa trước, đốt nhà này, đốt luôn cả nhà máy, không để cho chúng nó chiếm lấy. Còn phần con thì hãy đi về quê nội tạm lánh thân, sau sẽ tính...

Ông nói trong hơi thở dồn dập khiến cho Tiểu Quyên hoảng sợ:

- Cha! Vậy cha hãy đi đi, con sẽ cho người mang cha ra khỏi nhà, phần con thì...

Cô muốn nói là sẽ ở lại tử thủ, dẫu cho có tự thiêu trong biển lửa cũng cam đành nhưng lời cô chưa dứt thì ông Mười Lực đã quát lớn:

- Hãy mau đi đi, tụi nó kéo tới đây bây giờ!
 
Vừa nói ông vừa tung mền ngồi dậy và lao thẳng vào tường như hành động tự sát!

Tiểu Quyên lao theo cha, gào lên:

- Đừng cha ơi! Con, con.. nghe theo cha. Con...

Rồi nàng ta ngất đi. Mọi việc trở lại bình thường ngay sau đó. Kể cả bọn đầu gấu hung hăng cũng tự động rút đi...

Thì ra đó là màn dàn cảnh của mụ Tư Thắm. Mười Lực cũng là con rối của mụ. Vậy mà kết quả lại vô cùng mỹ mãn.

Khi Tiểu Quyên tỉnh lại, chính cô đã nói với cha:

- Cha hãy gọi lão bá hộ tới đây. Con muốn nói chuyện với lão ta trước khi cử hành hôn lễ!

Không biết Tiểu Quyên đã nói gì, mà sau đó bá hộ Tung đã xuất ngay số tiền lớn để giải nợ nhà băng cho cha cô. Mọi việc xong xuôi rồi, cô mới bảo mọi người:

- Hãy chuẩn bị đám cưới!
 
***

Nguyên cái đám cưới giữa một ông bá hộ 75 tuổi với một cô hoa khôi 18 tuổi đã là một tin hấp dẫn, còn cộng thêm tin đồn là sẽ có biến cố ngay trong ngày cưới bởi một chàng trai, người yêu của cô dâu, sẽ xuất hiện phá đám cưới, nên trên quãng đường vài cây số, đã có hàng ngàn người đứng chật hai bên đường để chờ xe hoa đi qua.

Nhưng họ phải thất vọng, bởi xe đưa dâu được đưa từ Sài Gòn về, là loại xe mui kiếng bít bùng, cô dâu ngồi trong xe thì như tọa trong thành trì kiên cố, người ngoài nhìn vào không thấy. Và có lẽ đoán trước tình hình bất ổn, nên lão bá hộ đã mướn trên hai chục võ sĩ của các lò võ Thiếu lâm từ Chợ Lớn về hộ tống hai bên đoàn xe hoa. Bởi vậy đoàn xe đưa dâu đi qua yên lành chẳng hề có chuyện gì xảy ra.

Trên chiếc xe rước dâu, lão bá hộ diện nguyên bộ âu phục màu mỡ gà nên trông trẻ ra... vài tuổi. Ngồi bên cạnh là cô dâu, đầu trùm kín trong một vuông lụa màu đỏ giống như phong tục của người xưa.

Suốt quãng đường đi, cô dâu chú rể không hề nói với nhau lời nào. Khi đến nơi, trước khi bước xuống xe cô dâu mới lên tiếng, đủ cho bá hộ Tung nghe:

- Ông đã hứa với tôi rồi, phải ba tháng sau ngày cưới ông mới được phép bước vào phòng tôi. Có nghĩa là phải qua ba tháng tôi mới chính thức trở thành vợ ông! Vậy lát nữa đây, tôi sẽ vào luôn phòng riêng, không xuất hiện chào hai họ và cũng không dự tiệc cưới. Ông cứ nói là tôi bị bệnh bất ngờ cần nghỉ ngơi. Nhớ đó!

Nhìn thấy mọi người chờ đợi ở sân nhà quá đông, hình như họ muốn nhìn mặt cô dâu, khiến bá hộ Tung bối rối:

- Người ta đón đông quá như vậy làm sao? Hay là em cứ lên tiếng phía bên trong cái mạng che cũng được, cho họ một tiếng?

Nàng đáp cụt ngủn:

- Không!

Cũng may, vừa khi ấy thì có bà mai Tư Thắm xuất hiện. Bà ta rất nhanh trí, đã cho hai người đi kè bên cô dâu, vừa đi vừa hô lên:

- Cô dâu bị mệt, mau đi vào phòng trong nghỉ ngơi!

Nhờ vậy mà thoát được cảnh bẽ mặt trước đám đông. Và cũng nhờ vậy mà sau đó có cớ nói với bà con hai họ:

- Cô dâu bị bệnh bất ngờ, bây giờ phải nằm trong phòng chờ hồi phục sức khỏe!

Đích thân mụ Tư Thắm phải trổ tài miệng lưỡi thì mới qua được chuyện cô dâu làm thủ tục lạy gia tiên và chào hai họ. Thiên hạ bàn tán xôn xao nhưng cuối cùng cũng có người nói:

- Mấy đứa dâu trẻ nó làm bộ làm tịch như vậy đó, phải chịu thôi!

Lão bá hộ tức lắm, nhưng vì đã trót hứa rồi, nên cũng đành ráng chịu đựng. Lão ta dặn mấy tên gia đinh:

- Tụi bay canh kỹ bên ngoài, đừng để ai làm phiền giấc nghỉ ngơi của... bà!

Đám gia nhân đưa mắt nhìn nhau cười lén. Lão bá hộ biết thế nhưng có lẽ lúc này trong đầu lão chỉ nôn nao có một chuyện là làm thế nào được sớm gần người đẹp, cho nên lão không bắt lỗi bọn kia. Lão cũng quên cả việc uống rượu mừng mà khách khứa, bạn bè đang chờ ngoài nhà khách.

Đến khuya hôm đó, đích thân lão bưng cơm vào gõ cửa người đẹp:

- Mình ơi, dậy ăn chút rồi ngủ!

Tiếng xưng mình của lão khiến những gia nhân đứng chung quanh không thể nhịn được cười. Và hậu quả là lão ta nổi điên lên, đuổi cổ mấy tên đi khỏi chỗ đó. Còn lại một mình, lão ra sức kêu nhiều lần nữa mà bên trong vẫn không có tiếng đáp, cũng chẳng có động tĩnh gì, như là không có người trong đó!

Quá lo sợ, lão đập mạnh cửa! Vẫn im phăng phắc. Lão nói to, cố ý để cho bên trong nghe:

- Tụi bay lấy búa để tao phá cửa coi nàng có việc gì trong đó không!

Quả nhiên có tác dụng. Cửa nhẹ hé mở và một giọng nói yếu ớt phát ra:

- Có gì đưa vào đây.

Lão bá hộ mừng quá vừa đưa mâm cơm vào vừa nói:

- Mình có mệt không để ta đấm bóp cho!

Lão nhận ngay một tiếng xì dài rồi cửa phòng đóng sầm lại ngay! Vẫn không thất vọng lão nói với vào:

- Tôi ở ngoài này, có gì thì gọi!

Và đêm đó, lão bắc ghế dựa nằm ngay ngoài cửa phòng, mặc dù đã mệt nhừ sau một ngày tất bật. Do đám con cái đã tẩy chay bỏ nhà đi, nên sau khi khách khứa ra về hết, cả đám gia nhân cũng bị lão cho tạm về nhà mấy bữa. Chỉ còn lại trơ trọi một mình trong nhà, lúc ấy lão mới thấm thía nỗi cô đơn.

Đêm đầu tiên, lão biết thế nào là cảnh chú rể nằm chèo queo ngay trong đêm tân hôn!

Và qua đêm thứ hai...

Suốt ngày qua, dù lão nói cách gì người đẹp cũng không ra ngoài. Mâm cơm lão đưa vào hôm qua được đưa ra y nguyên, nàng không đụng đến miếng nào!

Lão bá hộ thật sự lo:

- Mình làm gì cũng phải ăn uống, chứ nhịn như thế này làm sao chịu nổi?

Nàng vẫn im lặng. Trưa hôm đó, lại một mâm cơm nữa được đưa vào rồi đẩy ra mà không hề đụng tới chút nào.

Qua ngày thứ ba...

Lúc này lão bá hộ phải xuống nước:

- Nàng muốn gì cũng được, kể cả việc ta để nhà này cho nàng ở một mình ta đi chỗ khác. Chỉ yêu cầu nàng ăn uống để mà sống!

Nàng vẫn im lặng. Lão không còn nhẫn nại được nữa, phải dùng sức tung cửa ra. Phải tung đến lần thứ ba thì cánh cửa mới bật mở, và... lão há hốc mồm kinh hãi! Bởi đang nằm trên giường không phải là Tiểu Quyên, mà lại là... Út Tiên, con gái của lão!

- Trời ơi, sao vậy nè?

Lão hô lên, nhưng do đám gia nhân tạm nghỉ việc hết, nên cuối cùng lão phải đích thân bế xốc con gái mình dậy trong tình trạng hầu như chỉ còn thở rất yếu.

Nửa giờ sau, nhờ sự tận tình cứu chữa của mấy người hàng xóm, Út Liên mới tỉnh lại. Cô nàng ngơ ngác khi nghe cha mình hỏi:

- Sao con lại ở trong phòng đó, còn... nàng đâu?

Liên chỉ biết cô đang ngủ nhà bà cô, không hề hay biết tại sao lại ở đây?

Còn lão bá hộ thì gần như điên tiết lên khi hỏi mà chẳng ai biết Tiểu Quyên ở đâu. Lão gầm lên:

- Nó trốn về nhà rồi!

Mặc dù lão biết trong căn phòng đó không làm cách nào nàng ta trốn đi đâu được, bởi không có cửa sổ cũng không có bất cứ lối đi nào khác, ngoài cửa phòng ra vào duy nhất. Lão nhất quyết chạy trở qua nhà cha mẹ Tiểu Quyên để tìm.

Nhưng vừa bước ra tới sân thì lão thấy một thanh niên lạ bước vào. Anh ta hất hàm hỏi trịch thượng:

- Tiểu Quyên đâu?

Đang căng thẳng vì lo, lão bực dọc quát:

- Mày là ai?

Chàng trai vẫn bình tĩnh bước thẳng vào nhà mà không đếm xỉa tới lão.

- Nè, thằng kia...

Lão vừa nói thì bỗng cảm giác như bị ai đó tát mạnh vào má mình hai cái liền! Lão ngơ ngác:

- Ai... ai vậy?

Quay một vòng không thấy ai, lúc đó thì chàng trai đã bước hẳn vào phòng khác. Lão phải chạy theo vừa lặp lại câu hỏi:

- Mày kiếm ai?

Anh chàng đáp cộc lốc:

- Tiểu Quyên.

- Mày là ai mà... mà...

Câu nói vừa phát ra thì cũng là lúc anh ta xông thẳng vào căn phòng đang mở toang cửa. Nhìn chẳng thấy ai, anh ta quắc mắt hỏi lớn khiến lão Tung phải giật mình:

- Cô ấy đâu? Tiểu Quyên đâu?

Lão Tung chưa kịp đáp thì đúng lúc ấy ngoài cổng có nhiều tiếng chân ngựa chạy rầm rập vào, cùng với tiếng hỏi lớn:

- Có nhà không ông bá hộ?

Người chạy vào đầu tiên là Mười Lực. Không để ý gì khác, ông hỏi dồn:

- Con gái tôi đâu?

Lão bá hộ quay sang chàng trai lúc nãy định chỉ anh ta thì vô cùng ngạc nhiên, bởi anh chàng đã... biến đi đâu từ lúc nào rồi!

Thấy lão có vẻ lúng túng, Mười Lực nghi hoặc:

- Ông đã làm gì con Tiểu Quyên nhà tôi rồi?

Không còn còn cách nào hơn, lão ta đành phải nói thật:

- Cô ấy ở trong phòng suốt hai hôm nay, rồi lúc nãy tôi mở cửa phòng ra thì chẳng thấy đâu mà thay vào đó là con gái tôi!

Mười Lực có linh tính điều chẳng lành nên run lên:

- Chết con tôi rồi!

Rồi ông ôm đầu rên rỉ:

- Phải biết như vậy thì tôi đâu có ép gả con mình! Tiểu Quyên ơi, vì ba mà con bây giờ chẳng biết ra sao, còn thằng Quân thì đã chết sau khi con lên xe hoa. Trời ơi!

Đang rối trí mà nghe Mười Lực nói. Lão bá hộ phải hỏi lại:

- Quân nào? Ông nói Quân nào?

Mười Lực không giấu giếm:

- Quân là người yêu của con gái tôi. Đáng lẽ tụi nó sẽ cưới nhau vào Tết này, nhưng do tôi ép Tiểu Quyên, nên chúng nó phải chia lìa nhau. Vừa rồi khi hay tin con Quyên đi lấy chồng, thằng ấy đã đập đầu vào vách nhà máy xay lúa mà chết rồi!

Lão bá hộ không tin vào tai mình:

- Quân! Nó... nó mới vừa ờ đây!

Mười Lực như bị điện giật:

- Cái gì? Ông nói sao? Thằng Quân...

- Nó mới vừa ở đây. Nó cũng nói là đi tìm Tiểu Quyên. Ông bước vào nó mới... biến mất!

Mười Lực nói như người bị tâm thần:

- Lạy trời... lạy trời xin đừng làm gì con gái tôi. Lạy trời...

Rồi ông lạng choạng bước ra cửa, vừa đi vừa cất tiếng gọi:

- Quyên ơi! Quyên!

Tiếng của ông chìm vào không gian đang lặng gió...

Bá hộ Tung gục xuống ôm đầu rên rỉ:

- Tôi đã làm gì thế này? Tôi gây ra chuyện gì đây?

Ông chợt nhớ tới con gái mình và bàng hoàng bật dậy lao đi:

- Liên ơi! Con ơi...
 
***

Những gì hiện ra trước mắt đã khiến cho bá hộ Tung càng bàng hoàng hơn. Xác của Quân vẫn còn nằm đó với cái đầu đầy máu. Điều này có nghĩa là...

Giọng của bà mẹ Quân như xé nát con tim lão bá hộ:

- Nó thương con Tiểu Quyên, nó muốn sống đời với con nhỏ, mà con nhỏ cũng thương nó, bất kể giàu nghèo. Vậy mà người ta đành đoạn chia lìa tụi nó ra, để bây giờ xảy ra thảm cảnh này. Trời ơi, Quân ơi!

Bà không biết mặt bá hộ Tung, nên đứng bên lão ta mà vẫn nói như lời kết tội của một quan tòa:

- Họ ỷ mình giàu nên làm những chuyện thường luân bại lý mà cũng làm được! Một thằng già đáng tuổi ông nội ông ngoại mà ép duyên một đứa con gái mới lớn, mà sao trời không có mắt, cứ để cho nó xảy ra, hả trời...

Một người đứng cạnh đó, lên tiếng:

- Thằng cha ruột của con Quyên còn đáng trách hơn. Lão Mười Lực này mắc nợ quá rồi hóa điên, không còn lý trí gì hết nỡ đem con mình đưa vào chỗ chết! Giờ đây chẳng biết đã sáng mắt chưa.

Trong khi đó, người ta phát hiện có một xác chết treo lơ lửng ở gốc cây đa ngoài đầu làng. Một người chạy về báo cho Mười Lực:

- Con Tiểu Quyên tự tử chết ngoài kia kìa.

Không có Mười Lực ở đó, lão bá hộ nghe vậy vội vã chạy đi, vừa hớt hải kêu lên.

- Tiểu Quyên. Tiểu Quyên ơi...

Nhưng lão ta đúng là không có duyên trùng phùng với Tiểu Quyên, nên khi lão vừa chạy tới thì hai người hàng xóm khiêng xác Quyên về tới. Cô gái đáng thương đã chết thật rồi, thi thể lạnh ngắt.

Đặt hai thi thể nằm sóng đôi nhau giữa nhà, khiến mọi người chứng kiến đều bất nhẫn, không cầm lòng được phải bật khóc. Nhất là bà mẹ của Quân, bà gào lên từng hồi:

- Con ơi, thương nhau mà khi sống người ta đã chia lìa tụi bay, phải đến khi chết mới được bên nhau như vậy, thê thảm quá trời ơi!

Có một người vừa ở bên nhà bá hộ Tung chạy về, họ báo tin:

- Con gái út của lão bá hộ cũng bị trời hại chết rồi!

Bá hộ Tung lúc ấy vừa trở lại, đang đứng ở ngoài, nghe tin đó đã rụng rời, phải cố lắm mới lê bước vào nhà được.

Út Liên không còn nằm ở đó nữa, lão bá hộ thẫn thờ một lúc rồi lại rời khỏi nhà, lão đã đoán nơi con mình được đưa đến.

Khi lão qua tới nhà của cô em gái thì quả thấy mọi người đang xôn xao trong nhà. Vừa trông thấy lão cô Sáu Nết đã kêu lên:

- Con gái anh nó ra nông nỗi này mà anh còn không biết sao?

Lão Tung nhào tới ôm xác con, gào lên:

- Con ơi!

Bất ngờ Út Liên mở mắt ra nhìn lên ngơ ngác. Cô Sáu đứng bên vừa mừng vừa sợ, la lên:

- Con Liên sống lại rồi!

Ngồi bật dậy như người sau một giấc ngủ say. Liên nhìn cha mình và bỗng sợ hãi lùi lại, hai tay ôm lấy ngực như một người thủ thế, sợ bị tấn công! Lão Tung phải lên tiếng trấn an:

- Ba đây con! Ba xin lỗi con, ba biết mình sai rồi, ba xin hứa...

Thái độ của ông có tác dụng phần nào giúp cho Liên lấy lại bình tĩnh, cô quay sang cô mình rồi ôm chầm lấy.

Cô Sáu lên tiếng:

- Có cô đây con. Ba con cũng biết lỗi rồi. Vả lại giờ đây thì con nhỏ đó cũng đã chết rồi. Mình không trách nó, chỉ tội nghiệp thôi. Để rồi cô sẽ qua tận nhà nó lo tang lễ cho đàng hoàng, như chuộc lỗi với người ta.

Lão bá hộ cũng nói:

- Tiền tôi bỏ ra trả nợ cho cha cô ấy coi như là món quà để chuộc tội. Tôi sẽ xin cô ấy...

Ông nghẹn lời không nói tiếp được. Liên chừng như hài lòng với cử chỉ đó, cô siết chặt tay cô Sáu và rồi quay sang nhẹ giọng với cha:

- Con hiểu, con không giận ba.

Thế là từ bi kịch đã chuyển thành niềm vui lớn của nhà bá hộ. Trong niềm vui tột cùng đó, không ai để ý thấy cái nhìn của Liên về phía cha mình có cái gì đó khang khác.

Lão Tung đề nghị:

- Bây giờ không còn gì để con và mấy chị con giận ba nữa, thôi ta về nhà chớ!

Út Liên nói khéo:

- Ba về trước, để con ở chơi với cô Sáu, chiều chúng con về.

Lão bá hộ ra về một mình trang tâm trạng buồn vui lẫn lộn. Trong trái tim thầm kín, lão vẫn nhớ và tiếc Tiểu Quyên.
***

Chỉ mới được giới thiệu qua một lần mà tự dưng lão Tung có cảm tình ngay với chàng trai lạ mà người bạn dẫn tới. Lão nhìn anh ta một lúc nữa rồi hỏi:

- Cháu nói là người ở đâu?

Tân, tên chàng trai lễ phép thưa:

- Dạ thưa bác, cháu ở Ô Môn, Cần Thơ.

- Cháu có bà con với ai ở xứ này?

Ba Kiệm, người bạn lâu năm của lão Tung phải trả lời thay:

- Nó là cháu ruột, kêu vợ tôi bằng cô. Nó vừa thi đậu bằng Diplomma chuẩn bị vào học trường Thông ngôn ở Sài Gòn.

Họ đang nói chuyện thì Út Liên từ nhà sau bước lên, chợt kêu lớn:

- Anh Tân! Sao anh biết đây mà tìm?

Hai người lớn còn đang ngơ ngác thì Liên đã giải thích:

- Lúc con học ở Cần Thơ đã quen với Tân.

Người mừng nhất có lẽ là lão Tung, lão nói thẳng ý của mình:

- Ngẫu nhiên mà hai đứa nó quen nhau vậy nếu cháu Tân đây chưa có mối nào thì...

Liên ngượng, nên chạy vào nhà, vừa nói:

- Ba này!

Ba Kiệm nhẹ giọng:

- Hôm nay tôi dẫn nó qua đây có ý để ra mắt cho anh biết mặt. Không ngờ tụi nó lại quen biết trước, thật đúng là duyên nợ.

Thế là chỉ một lời hứa, hai bên đã đồng ý với nhau sẽ tiến hành hợp tác cho Liên và Tân. Dĩ nhiên anh chàng Tân không thể nào từ chối chuyện này...

Một tháng sau...

Đám cưới của Liên và Tân được tổ chức trọng thể. Nhà bá hộ lo hết mọi việc. Do Tân mồ côi cha mẹ nên Ba Kiệm đứng ra lo bên họ đằng trai.

Nhưng có một biến cố thật bất ngờ, không ai nghĩ tới.

Ngay trong ngày cử hành hôn lễ thì lão bá hộ Tung bỗng lăn đùng ra chết mà không hề có bệnh tật gì.

Đám cưới cử hành được ba ngày thì hai người con gái lớn của ông bá hộ bỗng khăn gói chuẩn bị ra khỏi nhà.

Mỹ Dung cô chị cả vừa lo sợ vừa hấp tấp nói với cô em kế Kim Lan:

- Tối qua lại thấy nữa, không thể ở lại được đâu!

Kim Lan cũng nói:

- Vong hồn hai đứa nó cứ đòi mình phải bỏ nhà này, nếu ở lại thì nó giết chết! Mà nghĩ lại thì mình cũng nên qua bên cô Sáu mà ở cho rồi, bây giờ ba chết, đâu còn ai! Con Liên thì... sao kỳ kỳ... nó cứ phớt lờ mình đi!

Mỹ Dung giục em:

- Đi nhanh lên, cái nhà này bây giờ tao có cảm giác toàn là hồn ma không hà!

Họ ra đi mà không màng gì tới chuyện quyền lợi, tài sản. Và đó là một quyết định đúng. Bởi chỉ một buổi sau khi họ rời khỏi nhà thì Út Liên đột ngột phá bỏ bàn thờ bá hộ Tung đi. Cô ta nói với chồng:

- Mình không ác, nhưng dẫu sao dẹp hết chướng ngại vật này cũng là phải đạo. Thờ một kẻ đã hại đời mình trong nhà thì làm sao mình có thể an tâm mà sống.

Cô ta cho người gói tất cả lư hương, ảnh thờ của lão Tung, gửi sang nhà cô Sáu Nết với lời nhắn:

- Đừng bao giờ đem trở lại!

Từ hôm đó, cuộc sống của Liên và chồng trở nên cô lập với mọi người. Không bao giờ người ta thấy đôi vợ chồng trẻ này bước ra khỏi nhà. Họ cũng không thuê mướn người giúp việc. Bởi vậy có người tự hỏi, họ sống bằng gì hằng ngày khi không chợ búa, mua sắm.

Ba tháng sau...

Tình cờ, chị người làm cũ của nhà bá hộ, một hôm lẻn vào nhà để lấy một món đồ mà hồi trước khi thôi làm chị ta bỏ quên, nên đã mục kích một chuyện mà chị ta sững sờ: Anh chồng đã gọi Út Liên bằng Tiểu Quyên và cô này cũng gọi lại anh ta là Quân.

Chị này đem chuyện sang nhà cô Sáu Nết kể lại cho mọi người nghe thì ai nấy đều sửng sốt. Tuy nhiên, chị vừa kể xong thì hộc máu tại chỗ và trở thành người điên loạn từ đó!

Tìm hiểu cặn kẽ hơn người ta phát hiện một sự thật:

- Út Liên và chồng thật ra là vong hồn của Quân và Tiểu Quyên nhập vào. Họ đã trả thù và được toại nguyện...

Tuy biết vậy, nhưng do sợ họa lây, nên từ đó mọi người không ai dám hé răng kể lại với người khác...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
4. HẬN TÌNH

Vừa nhìn thấy cô giáo bước vào nhà thì bà Phán Sử đã hài lòng ngay, bà khều con dâu nói khẽ:

- Con nhỏ này được đó con, coi bộ thùy mị, kín đáo, chứ không như mấy con trước đây cứ ăn mặc như sắp đi hẹn hò với trai vậy,

Liên Hương cũng đồng tình:

- Cô này thấy tướng đi cũng biết con nhà có giáo dục. Cô mặc chiếc áo dài kín đáo mà đẹp quá. Không phải là con nhà giàu mà tướng quý phái ghê!

Bà Phán hỏi đùa:

- Con học làm thầy bói bao giờ mà vừa nhìn người đã biết là giàu nghèo rồi?

Liên Hương cười:

- Dễ thôi má, nếu con nhà giàu, thì ai chịu khó đi dạy thêm!

- Ờ há.

Mẹ con bà vừa nói xong thì cô gái đã dẫn xe đạp vào tới thềm nhà, nhìn thấy hai người cô lễ phép cúi đầu chào:

- Dạ, cháu chào bác, chào chị.

- Chào cô giáo. Có phải cô là người mà bên nhà thầy Tú giới thiệu không?

- Dạ phải. Cháu là Cẩm Hà, cháu tới để...

Liên Hương có cảm tình ngay với cô ta, nên đứng dậy đon đả nói:

- Mời cô giáo vào nhà rồi nói chuyện. Nghe bác Tú nói nhưng tôi không tin là cô còn quá trẻ như vậy. Chắc là cô...

Có lẽ sợ bị chê ngay từ phút đầu gặp gỡ, nên Cẩm Hà đã vội lên tiếng:

- Em đã hai mươi mốt tuổi rồi ạ.

Bà Phán cười vui:

- Hai mươi mốt mà đã già lắm sao? Mới bằng tuổi con gái út tôi. Phải chi nó...

Bà đang nói tới đó thì chợt ngừng lại và như nghẹn lại, Liên Hương phải chen ngang vào:

- Má lại nhắc tới cô út rồi, để con lấy nước má uống.

Sau khi rót nước cho bà mẹ chồng xong, Liên Hương quay sang bảo cô giáo:

- Cô theo tôi lên lầu, các cháu có phòng riêng trên đó.

Quay lại bà Phán, Cẩm Hà lễ phép:

- Cháu xin phép bác.

Bà Phán đang cố nén cơn xúc động đang chợt trào dâng, nghe cô gái chào, bà ngẩng lên và bỗng giật mình khi nhìn thấy cô từ phía sau, bà kêu lên khẽ:

- Sao giống con Thu Hường như đúc vậy?

Thu Hường là cô con gái út mà bà vừa chợt nhắc và phát xúc động. Cô gái đã chết!

Vô tình Cẩm Hà đâu có biết, cô bước đi chầm chậm theo sau Liên Hương lên lầu và mỗi bước đi của cô lại càng khiến cho bà Phán Sử tưởng chừng như nhìn thấy con gái mình tái sinh!

Mãi đến lúc Cẩm Hà đã khuất trên cầu thang rồi mà bà vẫn còn ngẩn ngơ nhìn theo. Tuy gương mặt giống ít có lẽ do Thu Hường là con nhà giàu ăn sung mặc sướng, trắng da dài tóc, còn cô gái này con nhà nghèo, da hơi đen, nhưng sao có người lại có dáng đi giống con gái bà đến như vậy! Bà lẩm bẩm:

- Phải chi nó còn sống...

Bà lại khóc!

Lúc Liên Hương trở xuống, cô khoe với mẹ chồng:

- Cô giáo đồng ý dạy luôn bữa nay đó má. Và có điều này nữa con có ý này thì đúng hơn, con muốn mời cô ấy ở lại đây luôn để tiện việc dạy tụi nhỏ. Cô ấy đang đi học Văn khoa, má thấy có tiện không?

Bà Phán reo lên:

- Ôi, còn gì bằng! Nhà đơn chiếc quá, có thêm được người như cô tới ở thì má con tôi vui lắm! Vậy ý cô giáo thế nào?

Cẩm Hà hơi ngập ngừng:

- Vừa rồi chị Liên Hương có ngỏ ý, cháu...

Bà Phán giục:

- Nhận lời đi cô! Tôi nói thật đó, ý con dâu tôi cũng là ý của tôi mà.

Cẩm Hà có phần xiêu lòng:

- Dạ, cháu sẽ tính. Còn ngay lúc này, cháu sẽ chờ các em dậy và sẽ bắt đầu luôn.

Không giữ ý, bà kéo tay Cẩm Hà ngồi xuống bên cạnh, giọng trìu mến:

- Nói thật với cô, kể từ khi con gái tôi mất...

Liên Hương sợ bà lại xúc động nên lại xen vào:

- Má đừng có...

Nhưng bà đã bình tĩnh xua tay:

- Má không sao đâu, để má nói chuyện với cô giáo.

Cuộc trò chuyện giữa một già một trẻ chẳng mấy chốc đã trở nên thân thiết, cảm thông. Cuối cùng chính Cẩm Hà đã vui vẻ nhận lời:

- Cháu cám ơn bác và chị Liên Hương. Vâng, ngày mai cháu sẽ dọn tới đây.

Rồi câu chuyện lại xoay qua riêng tư. Bà Phán nhìn Cẩm Hà một lúc và hỏi thẳng:

- Cháu là người ở xứ nào?

- Dạ, cháu ở Châu Đốc.

Bà Phán giật mình:

- Châu Đốc mà miệt nào, huyện thị nào?

- Dạ, cháu ở Châu Phú.

- Trời đất! Bác cũng ở Châu Phú đây.

Lại thêm một lần ngẫu nhiên mà họ có chung bản quán với nhau, khiến cho tình cảm đậm đà hơn. Bà nắm chặt tay Cẩm Hà, nói:

- Nếu con không chê, bác xin nhận con là... con nuôi, cháu thấy có tiện không?

Cẩm Hà vui hẳn:

- Thưa bác, cháu đang cần...

Cô đang vui, bỗng ngậm ngùi:

- Cháu không còn ai...

Liên Hương nói thêm:

- Vừa rồi cô ấy kể cho con nghe, cô mồ côi cả cha lẫn mẹ từ nhiều năm trước.

Bà Phán thương tâm:

- Tội nghiệp con tôi! Vậy cha mẹ con là ai ở xứ đó?

- Dạ, ba con cũng có chút tiếng tăm ở vùng đó. Hồi ấy con còn nhớ, người ta gọi ông là ông Huyện Phò...

Câu nói của Cẩm Hà chưa dứt thì đã nghe bà Phán kêu lên:

- Trời ơi!

Rồi chẳng hiểu sao bà như á khẩu, người lạnh ngắt.

Liên Hương hốt hoảng:

- Má! Má sao vậy.

Cô cùng với Cẩm Hà phải phụ nhau đưa bà vào phòng riêng. Trong lúc hiểm nguy đó mà bàn tay của bà vẫn cố nắm chặt tay của Cẩm Hà. Miệng cứ mấp máy nhiều lần như muốn nói điều gì đó mà không nói được.
 
***
Có tiền sử bệnh huyết áp cao, lại bị nhiều chuyện dồn nén từ khi hai đứa con của bà chết cùng lúc, nên tâm thần bà Phán luôn trong trạng thái bất an. Việc bà bị sốc đột ngột khi đang nói chuyện với Cẩm Hà đã khiến cả Liên Hương và Cẩm Hà đều thắc mắc không hiểu sao, nhưng mấy ngày sau cũng chưa giải tỏ được, bởi bà Phán từ lúc ấy hầu như chỉ tỉnh lại sau vài lần. Tuy bác sĩ đã trấn an là tình trạng sức khỏe bà không sao, chỉ ở tình trạng đó hơi lâu, chứ không nguy hiểm. Tuy nhiên Liên Hương lo lắng vô cùng, bởi trong nhà bây giờ không còn có ai, nếu bà mẹ chồng mà có mệnh hệ nào thì chẳng biết phải làm sao. Cô đành phải trông cậy vào Cẩm Hà:

- Từ lúc này em phải giúp chị lo cho má. Chứ chị thì cũng không còn nhiều sức nữa. Nlư em thấy đó, chỉ mấy đứa con chị, nó cũng... mồ côi cha...

Cẩm Hà đã hiểu điều đó ngay từ bữa đầu tiên, nhưng chưa kịp tìm hiểu, nay cô mới nhân cơ hội biết thêm:

- Em muốn hỏi, chồng chị mất trong trường hợp nào?

Chỉ lên bàn thờ có hai ảnh, một của chồng và một của cô em chồng:

- Hai anh em họ đi chung xe rồi bị tai nạn một lượt! Hôm ấy chị ở lại nhà giờ chót nên còn sống.

Cẩm Hà thốt lên:

- Hèn chi!

Cô định hỏi thêm, nhưng thấy không tiện nên thôi.

Liên Hương hình như cũng không muốn khơi gợi lại nỗi đau đang gậm nhấm trong lòng, nên nói sang chuyện khác:

- Em ngủ trên phòng đó có tiện không?

Cẩm Hà thấy hài lòng:

- Tốt lắm rồi chị. Ở chỗ em trọ đâu tiện nghi bằng.

Liên Hương cũng nói thật:

- Từ hôm có em tới ở chung, chị an tâm lắm. Nhất là gặp lúc má bệnh như thế này, nếu không có em tiếp thì chắc chị cũng nằm theo má quá!

Đã hai đêm liền vừa thức học bài, vừa phải lo chăm sóc bà Phán, nên tối nay Cẩm Hà cảm thấy mệt. Cô chưa kịp nói thì Liên Hương cũng đã thấy, cô nói:

- Em phải ngủ sớm tối nay đi. Để chị thức với bà già. Em phải ngủ đủ giấc sáng mai chị em mình cùng dậy ăn sáng chung, chị có món quà này cho em.

Cẩm Hà chỉ chờ có thế, cô lên phòng riêng trên lầu, chỉ kịp tắm qua thì đi ngủ liền, chứ không đọc mấy trang sách như lệ thường...

Được cái là nơi này khá yên tĩnh, nhà lại ít người, nên rất dễ dỗ giấc ngủ. Chỉ hơn mười phút sau Cẩm Hà đã ngủ sâu...

- Nè, sao vào nhà tôi mà ngủ vậy?

Câu nói lặp lại có lẽ đến lần thứ ba thì Cẩm Hà mới giật mình tỉnh dậy. Lúc đầu cô vẫn còn nằm yên, nhưng khi đã nghe rõ câu nói đó là dành cho mình, cô mới bật dậy. Tuy nhiên cả người Cẩm Hà như bị đè bởi một khối đá nặng, nên cô không thể nào cử động, đồng thời lồng ngực bị nén đến sắp nghẹt thở.

Vùng vẫy đến mấy lượt, sau cùng Cẩm Hà cũng thoát ra được. Cô mở ngay ngọn đèn trên đầu nằm và có cảm giác như chỗ nệm bên cạnh nơi cô nằm vẫn còn hơi nóng!

Có tiếng của Liên Hương từ bên ngoài:

- Em bị sao vậy Cẩm Hà?

Cẩm Hà định kể lại chuyện mình vừa bị, nhưng kịp nghĩ nên ậm ừ:

- Dạ... em bị chiêm bao.

- Chị đang ngủ nghe em la lớn nên tưởng có chuyện gì.

- Dạ, không có gì.

- Niệm Phật rồi ngủ yên thôi.

Liên Hương trở về phòng của mình chỉ được một lát thì lại nghe tiếng Cẩm Hà thét lớn:

- Chị Liên Hương ơi!

Chạy trở sang, Liên Hương ngạc nhiên hơn khi thấy Cẩm Hà đang nằm lăn dưới sàn ở bên ngoài cửa phòng!

- Sao vậy em?

Không thể giấu được nữa, Cẩm Hà phải nói thật:

- Em chưa kịp ngủ thì như có ai đó quăng em ra đây!

Liên Hương quá đỗi ngạc nhiên bước thẳng vào phòng tìm khắp nơi, cả dưới gầm giường. Chẳng thấy ai, cô hỏi:

- Lúc nãy em có đóng cửa phòng không?

- Dạ có, em còn cẩn thận cài chốt bên trong nữa!

- Nhưng nhà này đâu có ai khác ngoài mấy người mình. Chị thì ngủ bên kia, còn má thì nằm liệt giường trong phòng tầng dưới, đi còn không được, nói gì ôm em ném ra ngoài. Không lẽ thằng nào lẻn vào đây?

Cẩm Hà nói khẽ, như sợ có người nghe:

- Không phải đàn ông, mà là.. con gái!

- Nhưng mà...

Liên Hương vừa nói tới đó thì chợt nhìn thấy vật gì đó nằm dưới sàn, cô cúi xuống nhặt lên, bỗng kêu lớn:

- Cô út!

Cẩm Hà kinh ngạc:

- Cô út nào?

Giọng Liên Hương chùn hẳn xuống.

- Cô út nhà này. Cái trâm cài này là của cô ấy. Không lẽ nào...

Cẩm Hà cũng vừa hiểu, cô lặp lại câu nói nửa chừng của Liên Hương:

- Không lẽ chị ấy vào phòng em? Mà cũng có thể lắm...

Cô thuật lại câu nói lúc đầu:

- Đầu tiên em nghe có người đuổi em, hỏi sao dám vào nhà này. Giọng có vẻ hằn hộc lắm, em đâu ngờ là chị út?

Liên Hương lặng người đi một lúc, cô tự hỏi:

- Không lẽ có chuyện này?

Cô không tin chuyện ma quỷ, nên càng không nghĩ cô em chồng của mình hiện hồn về. Tuy nhiên nhớ lại lúc liệm xác Thu Hường, chính mắt cô nhìn thấy vật này vẫn còn đính trên tóc của cô ấy mà! Mà chiếc trâm cài này lại do chính cô mua tặng cô ấy lúc mới về nhà chồng nữa nên không thể nào có chuyện nhìn lầm.

- Hay là vô tình vật của chị ấy để sót lại mà em không thấy, để nó rơi nên bị quở chăng?

Không muốn làm cho Cẩm Hà sợ nên Liên Hương nói cho qua:

- Có lẽ vậy.

Nói thế, nhưng sau khi đã về phòng rồi, chính Liên Hương phải trằn trọc rất lâu để suy nghĩ về chiếc trâm.

Nếu bà Phán còn tỉnh cô đã sang hỏi cho ra lẽ.

Nhìn sang hai đứa bé ngủ say, Liên Hương sợ con thức giấc nên không dám mở đèn sáng, mặc dù lúc ấy cô rất muốn mở tủ, xem lại một số đồ vật. Trong số đó có chiếc trâm thứ hai, mà lúc mua cô đã mua một cặp, tặng cho Thu Hường một cái, còn cái kia thì cô dùng cho đến khi chồng chết cô mới thôi không cài tóc nữa, đem cất trong tủ.

Nằm mãi vẫn không ngủ được, cuối cùng Liên Hương cũng phải nhè nhẹ bước tới tủ áo, kéo nhẹ ngăn tủ nữ trang bên trong ra. Tuy qua ánh đèn ngủ không nhìn rõ chi tiết, nhưng Liên Hương vẫn phát hiện chiếc trâm của cô không còn trong hộp nữ trang nữa.

- Kỳ vậy?

Liên Hương hỏi hơi lớn, nên một trong hai đứa con cô, thằng Hải giật mình hỏi:

- Mẹ bị sao vậy?

Liên Hương nhìn lại đã thấy Hải đứng bên cạnh rồi, cô xoa đầu con:

- Không có gì đâu con, ngủ đi.

- Sao mẹ không ngủ?

- Ờ, mẹ...

- Mẹ ngủ với con đi.

Chìu con, Liên Hương đành phải đóng tủ, trở lại giường nằm dỗ con. Thằng bé vô tình nói:

- Đêm qua khi ngủ con thấy cô út đó mẹ.

Liên Hương giật mình:

- Cô út sao, cô làm gì con?

Thằng Hải rút đầu vào ngực mẹ:

- Đâu có sao. Con thấy cô út kêu con, bảo con là cô thương con nhưng không thương mẹ!

Liên Hương lay vai con:

- Đúng là cô út nói vậy sao?

- Dạ đúng. Mà lần thứ hai rồi đó! Lần trước lúc con bệnh tháng rồi, khi ngủ con cũng nghe cô út nói vậy.

- Sao con không nói lại cho mẹ nghe?

Thằng bé ngây thơ:

- Con biết là chiêm bao, cô út nói dối, nên con không nói lại cho mẹ nghe!

Biết là lời trẻ con nói, vả lại đã là chiêm bao. Tuy nhiên khi hồi tưởng lại, điều thằng bé nói không sai lắm. Lúc mới về nhà chồng, người đối xử với cô tệ nhất chính là cô em út Thu Hường này. Ban đầu Liên Hương nghĩ có lẽ do ganh tỵ của cô em chồng, nên Liên Hương cố ăn ở cho đúng phép, đem tình thương đổi lại sự ganh ghét ấy để dần lấy lòng cô em. Vậy mà nhiều năm sau Thu Hường vẫn có cái gì đó mà mỗi khi đối diện vẫn khiến cả hai khó chịu. Tuy có lòng bao dung, không cố chấp, nhưng thật tình mà nói, mãi cho đến lúc anh em họ chết, Liên Hương vẫn thấy khó chịu khi đối với cô lạnh nhạt bao nhiêu, thì đối với Tú, chồng Liên Hương, thì cô em gái đôi khi thân mật quá mức, hầu như muốn độc quyền thương yêu ông anh mình!

- Má, ngủ đi!

Thằng Hải nhìn như không muốn mẹ mình suy nghĩ, nó giục thêm lần nữa. Buộc lòng Liên Hương phải tắt cả đèn ngủ để cố nhắm mắt lại, tìm giấc ngủ.

Nhưng chỉ được một lát thì bên phòng của Cẩm Hà lại vang lên tiếng kêu của cô giáo. Và chỉ chút xíu sau đã nghe tiếng chân Cẩm Hà chạy bên ngoài, cô gọi cửa:

- Cho em qua ngủ với chị Liên Hương! Em sợ...

Mở cửa ra thấy Cẩm Hà ôm quần áo mền gối trong trạng thái hoảng loạn, Liên Hương không kịp suy nghĩ gì:

- Vào đi em!

Hai đứa bé thấy cô giáo vào ngủ chung thì mừng lắm, cứ huyên thuyên hỏi đủ chuyện. Sợ con nghe Cẩm Hà kể chuyện ma quỷ, nên Liên Hương ra dấu cho Cẩm Hà im lặng, cô nói khẽ:

- Để chút nữa tụi nhỏ ngủ lại, em nói chị nghe.

Cẩm Hà nghe lời, nhưng nghe cách cô thở gấp Liên Hương hiểu là cô đang sợ hãi và muốn nói gì đó, không thể chậm trễ, cô liền tìm cách bảo Cẩm Hà:

- Em bị bệnh thì theo chị sang đây chị cạo gió cho.

Liên Hương dặn hai đứa con:

- Hai đứa nằm lại đây và mau dỗ giấc ngủ, sáng mai cô Cẩm Hà sẽ đưa đi chơi sở thú!

Nghe được đi chơi, hai đứa trẻ reo lên:

- A, được đi chơi rồi!

Kéo Cẩm Hà xuống hẳn phòng khách, mở đèn sáng lên, Liên Hương hỏi:

- Em nói chị nghe coi, chuyện gì vừa xảy ra?

Cẩm Hà chưa hết run, cô không đáp mà lấy một gói giấy nhỏ đưa ra. Liên Hương tiếp lấy vừa mở ra xem đã giật mình:

- Ở đâu em có cái này?

Lúc bấy giờ Cẩm Hà mới lên tiếng:

- Cô ấy đưa cho em.

- Cô nào?

- Cô út.

Liên Hương chết lặng đi bởi vật trên tay và cũng bởi tin mà Cẩm Hà vừa tiết lộ.

- Đúng là... cô út?

Cẩm Hà thuật rõ:

- Lúc nãy khi chị vừa về phòng thì em nghe có hơi thở lạ của ai đó rất gần, em kịp bật đèn ngủ lên thì thấy một người con gái đứng cạnh giường, em chưa kịp kêu thì cô ấy đã nói rõ từng tiếng một bảo em phải rời khỏi phòng ngay, nếu không thì sẽ biết thế nào là tội chiếm nhà người khác! Trước khi bước đi, cô ấy còn xưng tên mình là Thu Hường!

Đưa vật đang cầm trên tay ra, Liên Hương chưa kịp hỏi thì Cẩm Hà đã nói:

- Trước khi biến mất sau cửa sổ, cô ấy còn ném vật ấy lại cho em và dặn: Đưa cho Liên Hương, bảo với nó rằng Thu Hường và nó tình đoạn, nghĩa tuyệt.

Trên tay của Liên Hương là chiếc trâm cài tóc, mà vừa nhìn thấy là cô biết ngay là của mình, vật mà lúc nãy xem trong hộp nữ trang cô biết là bị mất.

- Em ngạc nhiên hơn khi thấy cô ấy có vẻ hằn hộc khi nói tới chị. Ngoài ra cô ấy còn ném lại thêm cái này nữa.

Nhìn vật Cẩm Hà vừa đưa, một lần nữa Liên Hương chết điếng:

- Trời ơi!

Cô chỉ kêu được hai tiếng rồi thừ người ra, mặt biến sắc và để rơi vật trên tay. Một chiếc chìa khóa bình thường thôi.

- Chìa khóa này của phòng nào vậy chị?

Cẩm Hà cố tình hỏi. Liên Hương đáp như cái máy:

- Phòng không được phép mở trong nhà này!

Rồi không đợi Cẩm Hà hỏi thêm gì, Liên Hương bất thần đứng dậy và bước thẳng lên lầu. Cẩm Hà chạy theo, nhưng vừa tới chân cầu thang thì Liên Hương nói:
 
- Đây là chuyện riêng trong mà, em cứ về phòng chị ngủ với hai đứa nhỏ, lát chị sẽ xuống.

Liên Hương đi thẳng lên lầu trên nữa, nơi mà khi ba chồng cô còn sống đã nhiều lần nghiêm cấm: Đây là nơi lưu giữ riêng những gì của dòng họ này, ngoại trừ ta với má tụi con ra không người nào được bước vào. Có quy định nghiêm ngặt ghi ở cửa, nếu vi phạm thì coi như không còn đủ tư cách làm thành viên trong nhà này nữa.

Tám năm về làm dâu nhà này, chưa bao giờ Liên Hương vi phạm và thâm tâm cô luôn nghĩ rằng cái gì người khác không muốn thì mình đừng bao giờ làm. Mặc dù cô biết chiếc chìa khóa màu vàng này dùng để mở căn phòng đó, nó luôn móc trên lưng quần của bà Phán và có lần bà cũng tiết lộ rằng nó dùng để mở căn phòng mà bà gọi là dòng họ Đỗ.

Nay thì sự thôi thúc trong lòng đến độ Liên Hương không còn kiềm chế nổi. Nhất là khi cô biết ý của Thu Hường muốn cô khám phá căn phòng ấy, Liên Hương tự nhủ, mình không thể không biết!

Tuy quyết tâm, nhưng khi tra chìa khóa vào, vừa xoay một vòng là Liên Hương chùn tay. Phải lấy hết can đảm, cuối cùng cô cũng mở được và khựng lại ngay khi nhìn một chữ viết bằng Hán tự thật lớn trên tường trước mặt. Vốn thuở nhỏ có học tiếng Hán, nên Liên Hương hiểu nghĩa của chữ này, đó là chữ Hận! Phía bên dưới, chỗ chân tường có một cái rương cũ, ngoài ra không hề có một vật gì khác trong phòng!

Như vầy sao gọi là phòng bí mật của dòng họ Liên Hương tự hỏi và một lần nữa nhìn chăm chú vào chữ Hận trên tường. Phải chăng bí mật là từ chữ này. Mà tại sao lại hận, ai hận ai trong nhà này?

Trong lúc quan sát, tình cờ Liên Hương phát hiện có một ảnh chân dung nhỏ của ai đó đặt ở cạnh chiếc rương.

- Ảnh của bà Phán?

Tuy ảnh chụp khi còn khá trẻ, nhưng nhìn nét mặt, nhất là cái nốt ruồi trên môi của người trong ảnh, Liên Hương đoán ngay đó là bà mẹ chồng mình thời trẻ.

Quả nhiên khi cầm bức ảnh lên Liên Hương đọc được, hai chữ sau ảnh: Ngọc Nga. Mà Ngọc Nga chính là tên của bà Phán Sử...

- Hận người này ư?

Một lần nữa Liên Hương tự hỏi và không tìm được câu trả lời. Phải đến khi cô mở nhẹ chiếc rương ra. Vật đập vào mắt Liên Hương đầu tiên trong rương là ảnh hai đứa trẻ mới sinh, hai bé gái. Lật phía sau bức hình thấy có ghi dòng chữ: Ngày... Thu Hường và Cẩm Hà được bảy ngày sinh!

Liên Hương kêu lên:

- Thu Hường và... Cẩm Hà!

Liên Hương bắt đầu run tay, suýt nữa đã để rơi tấm ảnh xuống sàn. Nhưng chưa hết, còn một dòng chữ viết bằng mực đỏ, qua thời gian nó hơi mờ đi so với dòng chữ màu xanh bên trên: Hận tình này làm sao trả được đây?

Hai dòng chữ tuy cùng trên một tấm ảnh nhưng lại do hai người viết. Dòng trên có thể là bà Phán viết, còn dòng dưới là nét chữ rắn rỏi của đàn ông.

- Sao lại là Cẩm Hà? Cô Cẩm Hà gia sư của hai con mình phải chăng chỉ là trùng tên ngẫu nhiên.

Liên Hương tự hỏi và một lần nữa thêm vào mớ bòng bong thắc mắc chưa có lời giải. Cô lại tiếp tục giở từng vật trong rương ra. Tiếp theo là một phong thư đã vàng úa. Trong phong bì có một lá thư dài mà ngay dòng đầu tiên đã gây chú ý cho Liên Hương: Ngọc Nga yêu dấu...

Chỉ bấy nhiêu đó cũng đủ lý do cho Liên Hương ngồi xuống và đọc ngấu nghiến lá thư:

"Ngọc Nga yêu dấu!

Khi em đọc được những dòng chữ này thì người viết đã ra đi rất xa rồi! Anh ra đi vì nỗi hối hận không nguôi, nỗi ray rứt khiến cho một con người mang tiếng là hung ác, cường quyền bậc nhất ở xứ này phải bỏ ăn, mất ngủ kể từ khi vừa sinh con xong đã bỏ bệnh viện mà đi và vội vã đến nỗi chỉ mang theo được một đứa con trong hai đứa song sinh! Em có biết là khi hay tin, anh đã tới bệnh viện ẵm đứa bé còn lại về nhà mà lòng tan nát, dày vò dữ dội. Anh biết mình không xứng đáng để được em ở lại, bởi dù sao anh cũng là kẻ dùng cường quyền ép em lấy trong lúc em đã có người yêu. Anh cũng biết em yêu Phán Sử hơn và dành trọn tình yêu cho hắn ta, nhưng thử hỏi em, anh cũng đâu thua gì hắn về khoản yêu em say đắm? Chỉ vì anh đã lỡ có vợ rồi, em là kẻ đến sau. Nhưng đúng ra, chính chúng ta là những người yêu nhau trước mà. Chúng ta yêu nhau khi Phán Sử chưa yêu em và Ngọc Diệp chưa làm vợ của Huyện Thời này!

Vậy mà chúng ta đành phải lìa xa nhau, để anh phải mang tiếng là lừa em trong cơn say để chiếm đoạt và khiến em mang thai, sinh đôi và phải đứt ruột trốn đi, còn anh bị mang tiếng là kẻ cưỡng đoạt con gái nhà nghèo! Anh nói mà đâu ai tin, trong đó chắc có cả em nữa! Bởi vậy, anh chỉ biết âm thầm chịu đựng và cố nuôi cho con Cẩm Hà khôn lớn... anh giấu con về tông tích mẹ nó và nó cũng không hề nghi ngờ gì. Khi anh sắp chết, anh đã sắp đặt gởi nó về nội nuôi, trước khi lìa đời anh nhớ nó có hỏi anh là mẹ nó đâu, anh bảo dối con là em đã chết, nên chắc từ đó nó luôn nghĩ rằng nó mồ côi trên cõi đời này. Tội nghiệp con. Anh mong em có ngày nào đó thuận tiện hãy về tìm nó. Nó vẫn tên Cẩm Hà, bên vai trái có 2 nốt ruồi son để em dễ nhận.

Điều ray rứt thứ 2 mà đến khi chết anh vẫn chưa thể làm được, đó là xin em bức ảnh mà em đã nhờ thợ ảnh chụp hai đứa nhỏ lúc còn trong bảo sinh viện. Em còn giữ nó phải không? Anh rất muốn nhìn lại con Thu Hường 1 lần, nhưng có lẽ không kịp nữa rồi...

Vĩnh biệt!"

Cuối thư không có chữ ký, mà chỉ một chữ viết tên Thời hơi run và xấu... có vẻ người viết đã chết ngay sau khi viết tới đây!

Buông lá thư xuống Liên Hương lại thắc mắc:

- Má sinh hai cô con gái này rồi mới về với ba, vậy tại sao anh Tú cũng là con của hai người, lại là anh cả?

Bao nhiêu điều chưa rõ đó lại càng khiến cho Liên Hương muốn tiếp tục khám phá số đồ vật trong rương còn lại. Vật tiếp theo lại cũng là một lá thư khác, không phong bì, dạng như là một đoạn nhật ký được trích ra.

Nét chữ hình như là của bà Phán:

"Mình cố giấu mọi chuyện với Sử khi mình bảo với anh ấy rằng con Thu Hường là kết quả của những ngày vụng trộm của hai đứa, mình trốn anh ấy, trốn gia đình đi sinh xong mới ẵm con theo anh ấy lên Sài Gòn. Ban đầu anh ấy tin là thật và rất thương con Thu Hường. Nhưng cũng vì một sơ xuất nhỏ, tức là bức thư của Huyện Thời nhờ người mang đến trong lúc mình vắng nhà, Sử đã đọc và hiểu hết! Anh ấy điên lên khi biết mình bị phản bội và Thu Hường không phải là dòng máu của anh!

Để trả thù mình, Sử đã lao vào các cuộc trác táng, nhậu nhẹt bê tha và cả mèo mỡ lung tung, đến phải nhận hậu quả là căn bệnh giang mai quái ác. Chính căn bệnh ấy mà Sử mắc chứng vô sinh. Anh ấy không thể có được giọt máu chính thức với mình! Điều ấy càng làm cho Sử hận đời hơn, anh lại dấn sâu vào các cuộc bài bạc rượu chè. Cho đến một hôm, anh ấy tự tay mang về 1 đứa trẻ lớn hơn con Thu Hường ba bốn tuổi. Ban đầu mình ngỡ đó là giọt máu rơi của anh ấy, nhưng sau hỏi kỹ lại thì mới biết do quá ham có được đứa con, nên Sử đã nhờ một người bạn xin giùm một đứa trẻ mồ côi về làm con nuôi. Đứa trẻ ấy là thằng Thanh Tú. Nó lớn hơn con Hường nên đương nhiên là anh, đẩy con Thu Hường xuống là em. Đó cũng là ý Sử, anh ấy không muốn con của tình địch lại là con trưởng trong nhà! Mình cũng phải chấp nhận và cũng hết lòng yêu thương thằng Tú, để làm vui lòng chồng..."

Đọc đến đây Liên Hương thừ người ra, cô thốt lên:

- Thì ra là vậy. Thảo nào...

Nhớ lại những cử chỉ thân mật, những cách đối xử với nhau lúc cả hai còn sống, Liên Hương bất giác thốt lên:

- Có điều gì đó!

Cô bất chợt nhìn thấy một mẩu giấy khắc nằm bên dưới. Mẩu giấy với chữ viết của bà Phán!

"Sử vừa mất thì mình lại nhận được tin khác khiến lòng mình đau như cắt. Con Thu Hường và thằng Thanh Tú yêu nhau. Trời ơi, sao lại có chuyện đó được, trong khi mình đã cưới vợ cho thằng Tú rồi mà!

Thằng Tú làm chuyện này rồi làm sao với vợ nó đây! Khi mình kêu hỏi nó thì thằng Tú nói thật nó và con Thu Hường đã yêu nhau ngay từ khi con Thu Hường được mười lăm tuổi. Đó là kết quả của những ngày chung sống trong cùng một nhà.

Dù hai đứa nó không phải là ruột thịt, máu mủ gì của nhau nhưng mình làm sao chấp nhận cho được chuyện đó? Mình phản đối quyết liệt và hăm đuổi Tú ra khỏi nhà nếu nó không chấm dứt hành động ấy! Nó lặng lẽ bỏ đi khỏi nhà suốt mấy ngày liền, trong khi con vợ nó, Liên Hương thì không biết gì, cứ tưởng chồng mình có việc gì đó vắng nhà. Để rồi... trời ơi, chuyện không ai ngờ đã xảy ra! Tụi nó âm thầm hẹn nhau đi chơi và... cùng lao xuống vực sâu! Chúng nó tự tử vì tình, trong lúc những kẻ đau khổ lại chính là mẹ và vợ con của chúng!"

- Trời ơi!

Lần này là tiếng kêu thảng thốt của Liên Hương! Cô bủn rủn tay chân, người lảo đảo sắp ngã. Trời đất như sụp đổ trước mắt người vợ suốt đời chỉ biết thương chồng, chung thủy với chồng cho đến phút cuối cùng.

Tú ngoại tình, với anh thì còn có thể tin được, nhưng sao lại là Thu Hường? Điều khó tin nhất trên đời lại là sự thật!

- Thảo nào...

Liên Hương cứ vân vê những tờ giấy trong tay mà không biết phải làm gì. Cuối cùng cô xếp nắp rương lại, bước ra khỏi phòng mà trong lòng trống rỗng, xót xa...

- Mẹ ơi! Cô giáo...

Cả hai đứa con của Liên Hương đều chạy lên, chúng hớt hãi nói không tròn câu:

- Cô giáo... Cô giáo đã...

Liên Hương hốt hoảng:

- Cô giáo sao rồi?

Thằng Hải bình tĩnh hơn đáp:

- Cô giáo bị cô út dẫn đi rồi!

- Trời ơi!

Liên Hương vừa chạy vừa hỏi:

- Đi hướng nào?

Thằng bé Sơn chỉ tay ra ngoài sân sau:

- Hướng này.

Liên Hương chỉ kịp bảo hai đứa:

- Hai con trở về phòng đóng cửa lại, để mẹ đi tìm cô giáo.

Cô chạy ra vườn vừa nghĩ đến khu mộ hai cái chôn gần nhau của Tú và Thu Hường. Quả nhiên khi gần tới nơi cô nghe giọng của Thu Hường cất lên:

- Tao đã mất người yêu về tay một đứa con gái lạ, bây giờ gặp bất cứ đứa lạ nào vào nhà thì thà tao diệt nó trước, hơn là phải hối hận về sau!

Không nghe tiếng trả lời, nhưng từ xa nhìn thấy một người nằm dài dưới đất, Liên Hương đoán ra ngay đó là Cẩm Hà. Bước tới gần hơn thì người đang đứng nói giọng của Thu Hường chỉ là một cái bóng xõa tóc, phất phơ theo gió đêm!

- Hồn ma Thu Hường!

Giọng cô ả lại cất lên:

- Ta yêu suốt năm năm nhưng chưa hưởng được một giây của cuộc sống vợ chồng, vậy mà đứa lạ vào đây cướp mất người yêu của tao, rồi còn sinh ra hai đứa con cho anh ta nữa! Cũng vì hai đứa trẻ này mà tao không ra tay báo thù kẻ cướp tình yêu của mình được, tao hận thấu xương và tao quyết giết bất cứ đứa con gái nào xuất hiện trong nhà. Mày là đứa tao ra tay đầu tiên, vậy hãy khóc cho đã đời đi rồi nhận cái chết!

Cô ta vừa nói vừa giơ thẳng cánh tay lên như sắp giáng xuống. Liên Hương thu hết can đảm nói lớn:

- Cô út, hãy dừng tay!

Nghe tiếng Liên Hương, Thu Hường gầm lên:

- Ước gì tao giết được con tiện nhân này!

Rồi cô ả quay phắt người lại, lúc này Liên Hương mới nhìn thấy được gương mặt xanh như tàu lá cùng với hai chiếc răng nanh nhô ra hai bên khóe miệng.

- Mày muốn cứu con này hả, còn lâu!

Chẳng còn cách nào hơn, Liên Hương liền đưa ra những trang giấy mình cầm trên tay và ném mạnh về phía cô ả, vừa nói to:

- Người đó là chị em ruột của cô đó!

Lạ thay, những tờ giấy vừa nằm trong tay cô ta tức thời cháy bùng lên như có ai đốt! Thu Hường không nao núng, vẫn giữ lấy vật đang cháy, gương mặt vẫn tỉnh táo như không...

Những tờ giấy vừa cháy xong thì cũng là lúc Thu Hường nhảy lùi một bước, lần này ả kêu lên:

- Sao lại có chuyện này?

Liên Hương chợt hiểu, đối với hồn ma thì cách đọc thư là phải đốt cháy, giống như khi cúng vái giấy tiền vàng bạc vậy! Vừa rồi nàng ta đã làm cho những tờ giấy gồm thư của ông Phán, nhật ký của bà Phán... và cô ta đã hiểu mọi chuyện!

- Trời ơi!

Tiếng kêu trời của một hồn ma nghe là lạ, khiến Liên Hương hơi yên tâm, cô giải thích thêm:

- Đây là đứa chị em song sinh của cô út. Cô ấy hoàn toàn không hay biết chuyện của má với ông Huyện Thời ba ruột của cô. Cũng như tôi, làm sao tôi biết chuyện cô và anh Thanh Tú yêu nhau, chứ nếu biết thế thì tôi đời nào chen vào làm chi cho khổ cả ba người. Dẫu sao thì tôi cũng cám ơn cô đã tha cho mạng sống để tôi nuôi mấy đứa con, chúng nó đâu có tội tình gì.

Thu Hường ngã gục xuống như tàu lá rụng. Trong lúc đó thì Cẩm Hà vừa mới tỉnh lại, cô ngơ ngác hỏi:

- Em... em bị sao vậy chị Liên Hương?

Nhìn bên cạnh thấy một đống quần áo nằm sóng soài, cô càng ngạc nhiên hơn:

- Cái gì đây chị...

Liên Hương biết có nói thì Cẩm Hà cũng không tin, cô liền nắm tay lôi đi, và bảo:

- Đi vào gặp má. Em sẽ nghe chính má kể lại tất cả mọi chuyện.

Vùa bước đi Cẩm Hà vừa nhìn lại sau lưng, chợt cô ngạc nhiên kêu lên:

- Chị Liên Hương xem kìa!

Trước mắt họ, ngay chỗ ngôi mộ của Thu Hường, có một đống lửa đang bùng cháy dữ dội! Liên Hương lẩm bẩm:

- Không lẽ cô ấy đã...

Liên Hương nghĩ tới chuyện hồn ma từ giã cõi trần. Người ta thường nói khi một oan hồn ra đi thường bốc cháy thành khói hoặc biến thành hơi sương. Phải chăng từ nay Thu Hường sẽ siêu thoát?

Nắm chặt tay Cẩm Hà cô nói khẽ:

- Oan hồn của Thu Hường lúc nãy đòi giết em phải không nào?

Cẩm Hà dè dặt gật:

- Dạ, đúng rồi, em sợ lắm, chẳng hiểu sao cô ấy lại cứ theo đòi giết em hoài?

- Chỉ vì cô ấy tưởng em vào nhà này để cướp người yêu của cô ta lần nữa!

Cẩm Hà ngạc nhiên hơn:

- Người yêu nào?

- Đó chính là chồng của chị, là anh của Thu Hường. Được rồi, để chị kể sơ lượt cho em nghe trước khi đi gặp má.

Cô kể lại mọi chuyên. Nghe xong Cẩm Hà ngơ ngác:

- Sao lại có chuyện đó? À mà cũng có lý...

Cuối cùng Cẩm Hà nhận ra:

- Em nhớ rồi, ba em từng nói rằng ông có một mối tình tội lỗi. Nhưng em không ngờ em lại rơi vào mối tình ấy.

Cô khóc rấm rức...
 
***

Bà Phán chợt tỉnh. Đây là lần tỉnh đầu tiên của bà sau gần một tuần lễ. Việc đầu tiên sau khi mở mắt ra bà hỏi ngay:

- Con Cẩm Hà đâu?

Cẩm Hà đã ngồi bên cạnh, vội lên tiếng:

- Dạ, con đây.

Quay lại nắm chặt tay Cẩm Hà, bà òa lên khóc! Liên Hương vội ngăn lại:

- Má đừng quá xúc động. Con đã nói sơ với Cẩm Hà rồi, cô ấy hiểu và chờ má nói đó.

Bà Phán kéo Cẩm Hà vào lòng, giọng trìu mến:

- Má xin lỗi con, vì hoàn cảnh ngày đó má ra đi mà không kịp đem con theo để con phải mang tiếng mồ côi từ nào đến giờ. Mà phải chỉ có con cùng với con Thu Hường thì chắc nó...

Bà lại sắp khóc, nên Liên Hương lại phải chen vào:

- Vừa rồi Cẩm Hà và cô út cũng đã gặp nhau rồi. Má không cần phải lo nữa, họ đã thông hiểu nhau rồi!

Bà Phán mừng vô kể:

- Cả đời má vẫn nơm nốp sợ chuyện hai chị em nó không biết nhau vô tình sinh hận thù nhau. Bây giờ trong cái rủi còn có cái may. Tuy con Thu Hường chết rồi nhưng trời còn thương má, cho con Cẩm Hà trở về!

Rồi bà nói thêm:

- Lúc mới gặp con má đã giật mình rồi, không phải cái tên mà bởi tướng đi, dáng vóc, nó giống y con Thu Hường!

Rồi bà lại ôm cứng con gái, như sợ Cẩm Hà thoát ra.

Cẩm Hà cũng khóc, hai mẹ con thi nhau khóc vì niềm vui đoàn tụ. Lát sau bà Phán tiếp lời:

- Để má kể lại chuyện tại sao ông Phán Sử suốt đời hận cha con con Cẩm Hà...

Liên Hương nói nhanh:

- Dạ, con mạng phép má, con đã đọc hết những gì trong phòng cấm trên lầu. Và cũng nhờ vậy mà vừa rồi con đã cứu được cô út Cẩm Hà đó!

Kể sơ lại cho bà nghe, bà Phán gật đầu:

- Má không trách gì con hết. Căn phòng đó vì tôn trọng ông ấy nên từ khi ông ấy qua đời má vẫn giữ lại, mặc dù má rất sợ khi phải lên đó.

Bà đứng lên, kéo tay Cẩm Hà và con dâu:

- Đi, mình ra ngoài một chút.
 
Liên Hương tính ngăn, nhưng nghĩ sao cô lại thôi, dìu một bên cùng mẹ chồng ra ngoài vườn. Cẩm Hà xúc động lắm, cô vừa đi vừa đưa tay lau nước mắt...

Khi đứng trước ngôi mộ bà bỗng trố mắt nhìn cảnh cháy đen và hốt hoảng:

- Sao vậy? Ai đốt vậy?

Liên Hương thuật lại, cô kết luận:

- Có thể hồn phách của cô út và cả anh Tú nữa đã ra đi vĩnh viễn rồi.

Sau gần nửa giờ đứng đó, cả ba trở vào nhà. Bà Phán yêu cầu dẫn bà lên lầu, chỉ cái phòng cấm, bà nói:

- Má muốn lên đó lạy ông Phán ba lạy, má xin lỗi ông ấy.

Nhưng khi đứng trước bức tường, chính bà và Liên Hương cùng kêu lên:

- Ủa, đâu mất rồi?

Chữ "Hận" cực lớn trên tường đã biến mất không để lại một dấu vết gì! Cả chiếc rương gỗ cũng không cánh mà bay!

Bà Phán lắp bắp:

- Hay là... hay là...

Liên Hương nói thầm:

- Chắc là họ rút khỏi nhà này rồi.

Bà Phán đứng lâm râm khấn một lúc rồi bà lặng lẽ bước một mình xuống lầu, không cho ai kè. Có lẽ bà thấy nhẹ người, khỏe khoắn lại như lúc bình thường.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Quyển XXXI:
HỒN MA ĐÒI CHỒNG
 
Phần 1

Đã hai lần bị thức giấc đột ngột, Huyền hơi bồn chồn trong dạ nên bật dậy định uống một ly nước rồi dỗ lại giấc ngủ. Nhưng khi nhìn đồng hồ trên tường thì cô giật mình. Mới có 12 giờ.

Mọi đêm vào giờ này Huyền đang ngủ rất say, bởi công việc suốt ngày quần quật, mãi đến hơn mười giờ mới buông ra được, có đêm chưa kịp ăn cơm là Huyền đã nhướng mắt hết lên và thường ngủ thay ăn! Và đêm nay, mãi đến hơn 14[/size]15 giờ mới chợp mắt, vậy mà cứ vừa đi vào giấc ngủ thì y như là có ai đó chạm vào người, làm cô bé thức giấc. Hai lần rồi mà khi thức dậy Huyền chẳng hề thấy ai bên cạnh.

Hay là tại vắng Hoa...

Có thể lắm. Hai chị em từ nhỏ đến giờ, nhất là từ khi mồ côi mẹ lúc chưa đầy mười tuổi đến nay, không lúc nào ngủ xa nhau. Chiều nay ba bảo chị Hoa đi cùng ba ra vườn ngoài Long Thành mà xe không còn dư chỗ nên Huyền mới chịu ở nhà. Nghĩ Hoa sẽ trở về nhà kịp bữa cơm tối, vậy mà đến 10 giờ Dì Ngọc mới báo là ba về không kịp, phải ngủ đêm ở vườn, và đây là lần đầu hai chị em không ngủ cùng nhau.

Tự cho đó là nguyên nhân khiến mình mất ngủ nên Huyền vừa uống xong ly nước đã trở lại giường và tin rằng mình sẽ ngủ say ngay... tuy nhiên lại một lần nữa, khi Huyền vừa nhắm mắt thì dường như có ai đó nắm lấy bàn chân mình kéo thật mạnh! Huyền bật dậy hỏi lớn:

- Ai vậy?

Bật đèn phòng lên, toàn bộ căn phòng nhỏ hiện ra, nhìn rõ mọi vật, nhưng tuyệt nhiên không có ai, cửa phòng vẫn đóng kín, cài chốt bên trong. Huyền hơi chột dạ, mặc dù xưa nay cô vốn là người không bao giờ biết sợ vu vơ.

Bước tới cửa sổ, bấy giờ Huyền mới phát hiện ra tuy hai cánh cửa vẫn đóng kín, nhưng chốt không gài và ở một cánh khi khép đã kẹt lại một mảnh vải màu xanh lá. Cầm lên xem thì ra đó là một chiếc băng đô cài đầu mà thoạt trông Huyền đã có cảm giác quen quen... Hình như là của ai đó mà cô đã nhìn thấy đôi ba lần. Nhất thời chưa đoán ra là của ai nên thuận tay Huyền bung luôn cánh cửa ra và... cô há hốc mồm khi thấy đứng cách cửa sổ chưa quá mười bước chân là một người phụ nữ xõa tóc, đang đứng quay mặt đi chỗ khác, nhưng nhìn từ sau lưng Huyền đã phải kêu lên:

- Mẹ!

Phải, cái bóng đứng kia trông giống hệt như mẹ, khiến Huyền không chút lo sợ, kêu lần nữa:

- Mẹ! Phải mẹ không?

Rồi như bị một lực hút vô hình, Huyền bung cửa phòng, theo hướng sau nhà, chạy bay ra nơi cô vừa nhìn thấy bóng người kia. Không còn thấy ai nữa, nhưng Huyền vẫn cắm đầu chạy theo hướng trước mặt, vừa chạy Huyền vừa cất tiếng gọi:

- Mẹ ơi! Con là Huyền đây!

Một lát sau Huyền đã ra tới hàng rào kẽm gai phía sau vườn, nơi ngăn khu nhà rộng với bên ngoài. Thường khi, Huyền chỉ đứng bên trong rào nhìn ra rặng cây ở bên kia sườn đồi mà chưa một lần dám bước ra, bởi lệnh cấm của cha, mà cũng bởi sợ một điều gì đó mà lâu lắm rồi Huyền chưa lý giải được.

Lần này thì bằng cách nào cũng phải ra cho bằng được! Huyền nói thầm và cúi người tìm cách chui qua hàng rào kẽm gai khá kiên cố.

- Mất công thôi!

Một giọng nói thật quen thuộc, đồng thời một bàn tay mát lạnh của ai đó đặt lên vai Huyền. Chưa kịp nhìn lại thì toàn thân Huyền đã đờ ra, đầu óc lờ mờ...
 
***

Mở mắt ra, Huyền suýt kêu lên khi nhìn ra gian phòng bên ngoài, nếu không có bàn tay của ai đó bụm ngang miệng cô lại. Chừng như ai đó không muốn cho Huyền bị lộ diện, nên cô giữ im lặng và nhìn kỹ hơn những gì đang diễn ra trước mắt. Giữa gian phòng lớn đang có bốn người, hai người ngồi quay lưng lại phía Huyền, họ đang chụm đầu vào nhau thì thầm điều gì đó nghe không rõ, nhưng nhìn trên tay họ Huyền lờ mờ đoán ra: Họ đang cầu hồn!

Sở dĩ Huyền đoán được bởi có hôm, vô tình cô đã nhặt được một quyển sách chép tay ở bếp nhà mình, mà tựa đề quyển sách đã nói lên nội dung của nó: Cầu hồn - nói chuyện với vong linh người chết. Quyển sách sau đó bị bà dì ghẻ đòi lại và còn mắng cho Huyền một trận, bởi hình như sách đó là thứ mà bà ta đang nghiên cứu, không muốn để cho ai khác đọc. Trong sách có nói và vẽ cả hình minh họa cảnh lễ cầu hồn, nó giống như những gì Huyền đang nhìn thấy trước mắt!

Lạ lùng hơn, một trong hai người đang ngồi cầu hồn kia là hai người phụ nữ đầu trùm kín bằng chiếc khăn đen! Và khi nhìn kỹ hai người nữa đang nằm im trước mặt họ, lại là cha và chị Hoa!

Huyền hốt hoảng định kêu lên, nhưng lúc này cô như bị điểm huyệt, không há miệng ra được. Người nào đó nãy giờ đứng bên cạnh Huyền cũng đi đâu mất.

Lúc này chợt Huyền nghe người ngồi bên trái lên tiếng:

- Cái vong hồn này lạ lắm, hình như đã được che chở bởi thế lực nào đó mạnh hơn quyền lực của ta, nên nhất thời không trục nó về được!

Mụ bên phải tức tối:

- Đã tốn bao công sức mới gài cho cha con nó đi cùng nhau ra vườn, hầu thực hiện buổi hôm nay. Như vầy có nghĩa là bó tay sao, công cốc sao?

Mụ kia cũng không còn bình tĩnh:

- Tôi có thể nhìn suốt cõi vô hình, muốn trục cái hồn nào về thì phải về, nhưng người này thì đã hai tiếng đồng hồ rồi, sức tôi sắp kiệt rồi đây, mà vẫn chưa làm sao gọi nó về được!

Nhìn lại hai người đang nằm, mụ bên trái ngao ngán:

- Bây giờ biết giải quyết hai của nợ này sao đây?

Mụ kia thu dọn vài thứ linh tinh của mình xong, vừa đứng lên vừa nói:

- Đã là của nợ thì khử nó đi cho rảnh việc!

Mụ bên trái trợn tròn mắt:

- Bộ bà quên là tụi nó còn cần cho tôi đến cỡ nào hay sao! Cho đến khi nào...

Mụ ta kề tai nói khẽ gì đó, rồi họ nhìn trước sau, mụ ta nói:

- Nơi này vắng, ngôi nhà này vốn bỏ hoang từ mấy năm rồi, có lẽ ta bỏ họ ở đây, dù họ tỉnh lại thì cũng chẳng ai hay biết.

Mụ kia hỏi lại:

- Lúc làm cho họ mê man để đưa về đây có để họ nghi ngờ gì không?

Mụ nọ lắc đầu:

- Tôi nhờ thằng tài xế ruột, cho nó số tiền bằng ba tháng lương thì có cạy miệng nó cũng không nói. Nếu có bị hạch hỏi thì nó cũng biết phải trả lời thế nào rồi.

Hai mụ đàn bà nhìn quanh một lượt rồi tắt đèn, rời khỏi phòng. Đợi cho họ đi xa rồi Huyền mới bước ra, bật điện lên và chạy đến bên cha và chị. Huyền càng lo lắng thêm khi hai người vẫn còn bất động.

- Ba ơi! Chị Hoa ơi! Tỉnh dậy...

Gọi đến lần thứ ba thì ông Thiện mới hơi khẽ động đậy hai tay, sau đó từ từ mở mắt ra.

- Đây là...

Huyền mừng rỡ:

- Ba! Ba không sao chứ!

Nhìn thấy con gái, ông Thiện hỏi ngay:

- Hoa đâu?

Lúc này Hoa cũng đã tỉnh, cô ngơ ngác:

- Sao mình ở đây ba? Sao có cả Huyền nữa?

Huyền ngại ở lại không tiện, nên giục:

- Mình rời khỏi đây ngay, nguy hiểm lắm!

Không biết là chuyện gì nhưng thấy thái độ của Huyền, ông Thiện và Hoa cũng phải nghe theo. Khi ra đến ngoài ông Thiện mới nhận ra nơi mình đang đứng:

- Đây là ngôi nhà hoang mà!

Hoa cũng nói:

- Lâu đài ma!

Huyền kéo mọi người đi thật nhanh rời khỏi nơi ấy, đến một nơi an toàn, rồi cô mới hỏi:

- Tại sao ba và chị Hoa nói là đi ra trang trại, sao trở về nơi này?

Ông Thiện bình tâm lại một lúc rồi đáp trong trạng thái mệt mỏi:

- Ba chỉ nhớ lúc sắp rời trang trại ra về thì tự dưng ba xây xẩm đầu óc, rồi sau đó không còn biết gì hết...

Hoa kể lại:

- Khi ba ngất chị đã là người phát hiện. Chị gọi chú Ba tài xế ra phụ khiêng ba lên xe, mãi đến khi xe chạy được một quãng thì chị cũng bị tình trạng như ba vậy!

Huyền kể lại những gì mình vừa nghe được:

- Chú tài xế đã bị người ta mua chuộc để làm chuyện này. Họ là đồng bọn với nhau đó.

Ông Thiện vẫn không tin:

- Ai thì ba còn nghi ngờ, chớ chú Ba ấy thì không thể nào... Bởi chú ấy là người đã làm việc cho ba từ thời ba mới khởi nghiệp.

- Chính tai con nghe hai người cầu hồn nói rõ như vậy. Bây giờ về nhà tìm gặp chú tài xế và hỏi thì rõ thôi. Mà nè ba, sao con thấy cái dáng của một trong hai người cầu hồn quen quen sao đó... giống như bà Ngọc vậy đó!

Ông Thiện nhắc:

- Con quên là bà ấy đã đi du lịch Hồng Kông hai ngày rồi sao. Tuần tới mới về.

Hoa chợt hỏi:

- Huyền nói em gặp mẹ?
 
Huyền kể mà vẫn còn nguyên vẻ xúc động:

- Em thấy rõ ràng. Chính mẹ đưa em tới ngôi nhà hoang đó, chớ em làm sao biết nơi ấy. Và cũng chính mẹ đã giúp đặt em vào chỗ kín đáo để mục kích được chuyện vừa rồi và kịp cứu chị và ba ra.

Ông Thiện lâu nay vẫn bị hai con oán về việc bước đi bước nữa sau khi mẹ chúng mất, nên rất lúng túng mỗi khi nhắc tới bà vợ trước của mình. Tuy nhiên lúc này ông vẫn lên tiếng:

- Có thể đúng là bà ấy.

Hoa tiếc nuối:

- Phải chi chị có mặt ở nhà để gặp mẹ!

Huyền đưa bàn tay lên sờ quanh miệng mình, nhớ lại:

- Em còn nguyên cảm giác bàn tay mẹ bụm miệng không cho em lên tiếng. Hơi ấm lòng bàn tay y như của một người còn sống. Chớ không như người ta mô tả người cõi âm tay lạnh như băng. Ba nói cho tụi con nghe về cái chết của mẹ đi. Có đúng là mẹ chết sau một cơn bạo bệnh không?

Ông Thiện hơi lúng túng:

- Chuyện đó... lâu rồi... Nhưng mà nhắc làm gì cho thêm buồn.

Nhưng Huyền cương quyết:

- Ba không nói thì có lúc tụi con cũng sẽ rõ. Dì út Hạnh có lần đã nói...

Ông Thiện chặn lại ngay:

- Các con không được nghe dì Hạnh. Giữa dì ấy và bà Ngọc bây giờ vốn có nhiều mâu thuẫn với nhau từ lâu, làm sao dì ấy nói tốt cho bà Ngọc được.

Hoa sẵng giọng:

- Lúc nào ba cũng bênh bà ta!

Biết nói về bà vợ kế thì thế nào cũng rắc rối, nên ông Thiện lái sang chuyện khác:

- Tụi con có muốn biết tại sao người ta gọi ngôi nhà hoang lúc nãy là nhà ma không?

Đúng là bị chạm vào sự tò mò, nên Hoa quên ngay chuyện căng thẳng vừa rồi, cô hỏi ngay:

- Nghe nói đó cũng là sản nghiệp nhà mình?

- Đúng, ngôi nhà ấy hiện vẫn còn là sở hữu của dòng họ mình. Hồi thời Pháp thuộc ông nội các con vừa xây xong ngôi nhà đó thì xảy ra chuyện rồi thì bỏ luôn, không dám ở từ đó đến nay đã trên bốn chục năm rồi!

Huyền hỏi:

- Nhà bỏ hoang nhưng lúc nãy con thấy khu vườn rộng chung quanh khá quang đãng?

- Chỉ có nhà là không người ở, còn khu vườn thì ba cho một người bà con khai thác, nên họ có lui tới dọn dẹp, trồng trọt.

Hoa vẫn thắc mắc:

- Ba nói ngày xưa từng xảy ra chuyện gì?

- Ba không trực tiếp gặp, nhưng nghe ông nội con kể thì lúc nhà vừa xây xong thì vào ban đêm người ta thấy có những bóng người chạy rầm rập trong đó, đèn đuốc sáng choang, nhưng đến khi lại gần quan sát thì chẳng thấy gì! Về sau ông nội con đã nhờ người tìm hiểu nguyên do thì phát hiện nhà xây trên một nền đất vốn trước kia là một nghĩa địa hoang, nơi đó nhiều người bị giết và xác bị chôn giấu một cách bí mật! Ngoài ra người ta còn nói rằng hiện vẫn còn mấy nấm mồ nằm ngay phía dưới phòng khách của ngôi nhà!

Hoa tính nhút nhát nên nghe nói tới ma đã rùng mình:

- Vậy thì phá luôn ngôi nhà cho rồi, để làm gì, vậy mà hồi nãy con với ba nằm trong đó...

Cô lay vai Huyền:

- Còn em nữa, một mình mà lại dám...

Huyền cười hồn nhiên:
 
- Còn có mẹ nữa chớ bộ!

Nghe nhắc tới người vợ quá cố, một lần nữa ông Thiện lại cố tình nói sang chuyện khác:

- Ba cảm thấy trong người ớn lạnh, ta nên về nhà ngay thôi.

Huyền lo lắng:

- Ba nằm dưới đất chắc là lâu lắm, coi chừng nhập thổ. Đó là chưa nói, còn có thể bị mấy mụ kia làm bùa phép gì đó nữa...

Ông Thiện tự tin:

- Chắc là không có chuyện đó.

Nhưng Hoa thì lo:

- Cũng có thể lắm. Như Huyền kể, họ muốn dùng ba với con để cầu hồn cầu vong của ai đó... Sao kỳ vậy ba?

Ông Thiện chưa đáp thì Huyền đã nói:

- Rõ ràng là họ muốn hại ba, để thực hiện ý đồ gì đó? Nãy giờ con suy nghĩ hoài, họ là ai mà tính chuyện ác như thế chớ?

Họ gọi tắc xi về nhà. Hoa bàn:

- Bữa nay chỉ có cha con mình ở nhà, ta nên làm một buổi liên hoan, coi như mừng thoát nạn và cũng nhân tiện cúng vong hồn mẹ.

Bấy giờ ông Thiện mới dám nói một câu liên quan đến vợ:

- Phải nói là cúng vong mẹ các con trước, sau đó mình liên hoan luôn!

Huyền nhìn cha cảm thông:

- Ba nói phải. Vậy để con đi mua thức ăn, chị Hoa ở nhà lo dọn bàn thờ mẹ.

Nhớ tới chuyện Huyền kể đang ngủ bị kéo chân, Hoa xua tay:

- Thôi để chị đi chợ cho, Huyền lo ở nhà đi!

Hiểu ý chị nên Huyền cũng không tranh cãi, cô chỉ dặn:

- Chị nhớ mua mấy thứ mẹ thích, nhất là món bánh patê chaud.

Nghe các con bàn với nhau làm cho lòng ông Thiện quặn đau. Đã lâu rồi, mỗi khi nhớ đến người vợ quá cố, muốn cúng bà thứ gì ông không dám nhắc các con, mà âm thầm mua về đặt lên bàn thờ rồi âm thầm khấn vái và tránh đi ngay. Có lần Huyền nhìn thấy đĩa bánh paté chaud, cô hỏi của ai thì ông chỉ im lặng rồi quay đi...
 
***

Vừa bước lên gác lửng nơi đặt bàn thờ mẹ, Huyền đã kêu lên:

- Ba ơi, sao kỳ vậy nè!

Nghe kêu, cả ông Thiện và Hoa đều chạy lên. Họ vô cùng ngạc nhiên khi nhìn thấy bát nhang trên bàn thờ đang bốc cháy dữ dội! Hoảng hốt, ông Thiện chạy tới dùng tay kéo vội những chân nhang đang cháy ra, sợ nó cháy lan sang những thứ khác. Nhưng khi nhúm chân nhang vừa được kéo lên thì những giọt nước màu đỏ như máu từ đó chảy ra, rơi loang đỏ cả nền nhà!

Hoa thảng thốt:

- Trời ơi, gì vậy?

Huyền bình tĩnh hơn, bước tới gần, nhìn rồi nói:
 
- Giống như là máu!

Bảo con bật đèn lên, ông Thiện cúi xuống nhìn thật kỹ rồi cũng xác nhận:

- Giống như máu vậy.

Mà quả là vậy. Bởi thứ nước màu đỏ ấy sau một lúc đã gần như đông đặc lại. Lúc này Hoa càng hốt hoảng:

- Máu... máu của ai vậy?

Huyền tự dưng nhớ tới mẹ, cô la lên:

- Mẹ nguy rồi!

Không ai hiểu Huyền muốn nói gì, cô bé đã vùng chạy xuống nhà dưới, vừa đi vừa gọi Hoa:

- Chị Hoa theo em!

Ông Thiện lo sợ:

- Con đi đâu vậy Huyền?

- Con đi tìm mẹ!

Hoa tức tốc chạy theo. Hai chị em bằng phương tiện xe gắn máy đã chạy hướng ra ngoại ô. Hoa hỏi:

- Mình đi đâu?

- Chị khắc biết!

Lát sau khi đến nghĩa trang thì Hoa mới hiểu:

- Vô chỗ mộ mẹ!

Họ gởi xe và đi bộ tới dãy mộ bên trong. Vừa tới cách mấy chục bước Huyền đã kêu lên:

- Chuyện gì vậy, chị Hoa!

Ngôi mộ xây đã bị ai đó đập phá một phần, dấu vết còn mới.

- Thảo nào...

Huyền lặng người đi một lúc, rồi bảo chị:

- Em nghĩ nó có liên quan tới vụ cầu hồn đêm qua. Họ muốn hồn mẹ phải về với mục đích gì đó, trong khi mẹ thì không khuất phục. Đúng là quân dã man!

- Em nói ai!

- Thì bọn bắt chị và ba hôm qua đó, chớ còn ai nữa!

Một mặt nhờ người bảo vệ nghĩa trang thuê người sửa chữa lại ngôi mộ, một mặt Huyền bảo chị mình:

- Ta đi tìm chú Ba tài xế.

Lúc này Hoa mới chợt nhớ:

- Ờ, nhắc chị mới nhớ, sao lúc về nhà mình không thấy chú ấy đâu?

Huyền kéo tay chị đi, vừa nói:

- Ông ấy đã bị mua chuộc rồi!
 
- Ai mua chuộc?

Huyền không trả lời, cắm đầu chạy một mạch tới khu lao động bên kia cầu bắt qua con kinh nước đen. Đứng trước một ngôi nhà cửa đóng then cài, Huyền gọi đến ba bốn lượt mà chẳng có ai lên tiếng. Lát sau một người ở nhà bên cạnh thò đầu ra bảo:

- Người ở nhà đó đã trả lại nhà, dọn đi từ hôm qua rồi.

- Họ dọn đi đâu dì có biết không?

Bà nọ lắc đầu:

- Tôi không biết.

Huyền thất vọng quay xe ra, Hoa nói:

- Chị còn biết nhà bà chị của chú ấy ở khu Bàn Cờ nữa, hay ta qua đó xem.

Tuy nhiên lại một lần nữa họ thất vọng. Bởi nhà đóng cửa mà lối xóm chẳng biết là đi đâu.

Huyền quả quyết:

- Tìm ra ông ta thì mọi việc sẽ sáng tỏ.

Hoa chưa rõ lắm nên hỏi:

- Em nghi ông ta đào mộ mẹ? Nhưng nó có liên quan gì tới hiện tượng chảy máu ở bàn thờ lúc nãy?

- Em chỉ suy đoán thôi, nhưng nó đã đúng khi nó trùng với việc mộ mẹ bị đào xới lên. Mà chị không nhớ là việc chôn mẹ, đi làm cỏ mộ hằng năm đều do một tay chú Ba tài xế hay sao?

- Vậy ông ta đào mộ để lấy cắp đồ?

Huyền lắc đầu:
 
- Em không nghĩ vậy, mà quan trọng và nguy hiểm hơn. Họ muốn hại cả nhà chúng ta nữa!

Hoa là người chân chất, nên tuy là chị nhưng không sâu sắc bằng cô em, vẫn nghĩ đơn giản:

- Xưa nay người ta chỉ đào mộ để lấy cắp vàng bạc, nữ trang mang theo người chết, chớ chị đâu có nghe chuyện đào mộ để làm gì khác?

Biết có nói thêm thì chị mình cũng không hiểu, bởi Hoa là người rất lười đọc sách và cũng không thích tìm hiểu chuyện huyền bí, nên Huyền quay về. Ông Thiện vừa trông thấy con đã nói ngay:

- Có những hiện tượng kỳ lắm. Lúc hai đứa đi rồi nhà mình lại bị cháy lần nữa! Mà lần này tại ở chỗ khác...

Nghe mùi khét còn lại, Huyền hốt hoảng:

- Cháy ở đâu vậy ba?

Chỉ lên lầu hai, ông Thiện nói mà giọng vẫn còn mất bình tĩnh:

- Ở phòng tụng kinh của bà Ngọc.

Chị em Huyền chạy lên thì căn phòng vẫn còn mùi khét và khói. Nhìn mấy bát nhang trên bàn cúng đều bị cháy lụi, tự dưng Huyền buột miệng:

- Đáng đời!

Căn phòng này trước đây là của mẹ, nhưng kể từ khi mẹ mất, nhất là từ lúc mụ "phù thủy" đó chuyển về sống hẳn trong nhà này thì mụ ta chiếm luôn làm nơi hằng ngày tụng kinh gõ mõ, với trang thờ Phật bà cực to mà lúc nào cũng nhang đèn rực rỡ. Không dám xúc phạm thánh thần, nhưng mỗi lần nghe tiếng tụng niệm của mụ ta thì Huyền là người ghét hơn ai hết. Bởi Huyền luôn có ấn tượng mụ ấy tụng kinh mà lòng dạ độc ác, kiểu khẩu Phật tâm xà!

- Huyền có thấy gì không?

Hoa đứng sau lưng vừa hỏi, Huyền nhận ra ngay:

- Bát nhang bàn thờ Phật bà còn nguyên, chỉ những trang thờ khác mới bị cháy!

- Sao lạ vậy?

Huyền kéo tay chị mình xuống dưới nhà, nói cho cha cùng nghe:

- Con tin là mẹ đã làm chuyện này!

Ông Thiện nhìn con gái rồi nhẹ lắc đầu, không nói gì. Hoa lên tiếng:

- Nhưng sao mẹ lại cũng làm cháy bát nhang ở bàn thờ của chính mẹ?

Huyền không đáp, cô giục chị mình:

- Mình lo đi chợ nhanh để còn kịp cúng nữa. Em muốn cúng mẹ thật long trọng. Em đang có cảm giác như mẹ đang hiện diện trong nhà lúc này.

Do không có mặt bà mẹ ghẻ ở nhà, nên chị em Huyền thoải mái hơn, họ làm bữa cúng khá nhanh. Đến giữa trưa thì thức ăn được dọn cúng khá thịnh soạn. Bát nhang bị cháy lúc sáng đã được thay tro mới và khi đốt lên đã cháy bình thường.

Ông Thiện lần đầu tiên, do không có mặt vợ kế, nên đã có vẻ thoải mái khi cúng vái. Ông đứng rất lâu trước bàn thờ, khấn rất thành khẩn và nếu tinh ý sẽ thấy ông đang rơm rớm nước mắt.

Bỗng nhiên Hoa kêu lên:

- Coi kìa, ba!

Cả ông Thiện và Huyền cùng nhìn theo hướng tay chỉ của Hoa và đều sững sờ khi thấy di ảnh của bà Thiện đang có hai giọt lệ màu đỏ như máu chảy xuống!

Huyền là người nhạy cảm, nên nói ngay:

- Mẹ về báo điều bất lành với chúng ta đó, ba!

Ông Thiện lên tiếng, hướng về di ảnh:
 
- Bà có điều gì phải không? Làm sao cha con tôi nói và nghe được từ bà đây, Ngọc Lệ?

Lần đầu tiên kể từ khi vợ mất, ông Thiện mới gọi tên vợ một cách thoải mái như thế. Điều mà khi có mặt bà vợ kế Kim Ngọc ở nhà ông luôn khép nép, né tránh, kể cả không dám thắp nhang trên bàn thờ vợ lớn.

- Ba ơi, mẹ chớp mắt!

Huyền kêu lên vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. Hoa cũng phụ họa:

- Con cũng thấy nữa.

Huyền khấn qua màn nước mắt:

- Mẹ ơi, nếu mẹ hiển linh về đây thì xin mẹ nói hoặc làm gì đi, cả nhà đang có mặt bên mẹ đây nè!

Hai dòng máu từ hai khóe mắt di ảnh càng lúc càng lan rộng ra, khiến ông Thiện phải giục con:

- Lấy khăn sạch đến lau đi con!

Hoa chạy lấy chiếc khăn mặt từ phòng tắm, nhưng vốn nhát gan nên lại đưa cho Huyền:

- Em lau cho mẹ đi!

Huyền chẳng chút sợ hãi, đã bước tới lau di ảnh mẹ.

Chợt cô kêu lên:

- Ba tới coi nè!

Ông Thiện bước tới, nhìn thấy một dòng chữ hiện trên mặt bàn thờ, do vệt máu chảy tới đâu tạo ra đến đó: Tới chỗ ngôi mộ, lấy lên gói giấy mà họ mới bỏ xuống. Hãy cứu mẹ với!

Ông Thiện chưa hiểu hết chuyện nên đưa mắt nhìn Huyền. Cô bé mau mắn:

- Con nghĩ không sai mà, người ta đang muốn hại mẹ!

Huyền lôi tay cha:

- Ba đi với con!

Hoa trông nhà, ông Thiện và Huyền đi nhanh tới nghĩa trang. Những người thợ do Huyền thuê lúc sáng đã hoàn tất phần sửa chữa ngôi mộ. Vừa thấy Huyền tới, họ báo ngay:

- Chuyện lạ lắm! Tụi tui lấy xi măng vá lại chỗ bị đập vỡ kia nhưng làm cả chục lần vẫn không được. Hầu như bao nhiêu xi măng đều rơi tuột vào trong hết. Cuối cùng tui phải dùng một miếng nhôm ốp bên ngoài mới tạm trám được chỗ bị thủng. Nhưng xem ra không chắc chắn lắm.
 
Ông ta nói vừa dứt lời thì nguyên mảng xi măng mới lại bong hết ra, để lộ một chỗ khá to. Huyền bước tới và không hề sợ sệt, vội cho tay vào lôi ra một gói giấy được cột rất kỹ. Cô quay sang hỏi mấy người thợ:

- Các chú có thấy ai cho cái này vào mộ không?

Mấy người thợ lắc đầu:

- Nãy giờ chỉ có bọn này ở đây, đâu có ai tới. Mà có ai tới tụi tui cũng không cho làm chuyện bậy bạ đó. Mà cái gì vậy cô?

Huyền đưa mắt nhìn cha, rồi nhanh tay mở dây. Qua nhiều lớp giấy, cuối cùng lộ ra một hình nhân bằng vải, có dạng một phụ nữ, cùng với mấy tờ giấy màu vàng có ghi chữ ngoằn ngoèo, kỳ dị.

Trong lúc Huyền chưa biết phải làm gì thì một trong số mấy người thợ tỏ ra rành chuyện, đã nói:

- Đây là hình nhân và bùa ếm của ai đó ếm người trong mộ, may mà cô lấy ra kịp. Bây giờ để hóa giải, cô phải đốt nó ngay đi!

Ông Thiện cũng từng nghe nói chuyện này, nên ông đích thân cầm lấy mấy thứ kia và mượn bật lửa của một người thợ, rồi đốt cháy ngay tức khắc.

Ngọn lửa cháy cũng lạ, nó không phải màu đỏ hay vàng như thường thấy, mà phát ra một thứ ánh sáng xanh lặc lè rất quái dị. Lửa tàn rất nhanh trong tiếng thở phào của Huyền. Cô giục mấy người thợ:

- Mấy chú trám lại giùm chỗ bị vỡ đó đi!

Mấy người thợ vô cùng ngạc nhiên khi việc làm của họ diễn ra khá dễ dàng, chỉ một lúc sau họ đã trám xong lỗ vá khá lớn. Một người nói:

- Chẳng bù với lúc nãy. Có lẽ do cái vật quỷ quái kia cũng nên!

Họ chẳng hẹn mà cùng nhau quỳ xuống trước mộ, lạy một cách thành kính. Huyền cũng khấn:

- Mẹ ơi, nếu muốn gì mẹ cứ hiện về như vừa rồi, con sẽ cùng mẹ...

Lúc này hai mắt ông Thiện đỏ hoe và ông cũng không giấu giếm sự xúc động của mình trước mặt con nữa...

- Mình về ba.
 
Hai cha con nắm tay nhau rời khỏi nghĩa trang. Lúc đó trời đã xế bóng...

Có điều họ không hay biết, khi họ vừa bước đi thì ở ngôi mộ bà Ngọc Lệ đột ngột xuất hiện một bóng người, chập chờn như sương khói, thoắt ẩn thoắt hiện rồi sau cùng như một vệt khói bay theo hướng cha con ông Thiện.

Đang đi trên đường, chợt Huyền rùng mình liền mấy lần, cô ngạc nhiên nói với cha:

- Tự dưng con cảm thấy lạnh và như có ai vừa hôn má mình, ba ạ!

Ông Thiện cũng vừa có cảm giác như có bàn tay ai đó chạm vào vai mình, lành lạnh... Ông bảo:

- Ba cũng thấy như có cái gì đó...

Khi họ về đến nhà thì lại ngạc nhiên hơn khi nghe Hoa kể lại:

- Lúc ba và Huyền đi chừng một giờ, khi con đang ngồi dưới nhà thì nghe như có tiếng ai bước đi trên lầu, con sợ quá chưa biết phải làm sao thì bỗng có tiếng chuông điện thoại reo. Con bước tới nghe mà mắt vẫn không rời khỏi cầu thang, bên kia đầu dây chỉ có tiếng thở dài mà không ai lên tiếng! Con hỏi thì cũng vẫn nhận được tiếng thở dài đó... Hơi bực mình, con đặt ống nghe xuống thì chuông lại reo. Nhấc ống nghe lên thì vẫn tiếng thở dài. Con hỏi lớn: “Ai vậy?” Thì bên kia chợt có tiếng nói, thật ngắn, nghe như vọng về từ cõi nào: "Hoa hả con?".

Hoa kể tới đây thì cảm giác lạnh cả người, Huyền hỏi:

- Có phải mẹ không?

Hoa lắc đầu:

- Chị sợ quá không dám hỏi và run tay làm rơi ống nghe xuống!

Nghe chị mình nói Huyền tiếc nuối:

- Gặp mẹ mà chị không nói chuyện! Phải chi...

Ông Thiện nhẹ giọng:

- Nếu mẹ đã về thì thế nào bà ấy cũng về nữa. Cứ chờ đi con...
 
Huyền chạy lên lầu và từ trên đó cô gọi to xuống nhà:

- Đúng là mẹ rồi ba ơi!

Ông Thiện và Hoa chạy lên, họ ngạc nhiên khi thấy Huyền đang ôm bức di ảnh của mẹ trong lồng ngực, bức ảnh sáng rỡ, không có dấu vết gì của những giọt máu lúc sáng. Huyền nói:

- Cả trên bàn thờ, chỗ những chữ máu hồi sáng cũng đã biến mất hết.

Ba cha con nhìn nhau nghẹn ngào...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Phần 1 (tt)

Bà Kim Ngọc cẩn thận đóng kín cửa sổ, gài chốt bên trong trước khi lên giường ngủ. Bà cảm thấy mệt và buồn ngủ đến nỗi hai mí mắt như bị trì kéo xuống. Sở dĩ bà cẩn thận như thế, bởi lúc chiều khi lên lầu thượng đốt nhang bà đã nhìn thấy bát nhang bị cháy và một vài hiện tượng khác thường. Linh tính báo cho bà một điều gì đó...

Kể cả bộ mặt của mấy đứa con riêng cũng làm cho bà khó chịu. Khi thấy bà trở về chúng chẳng những không chào mà còn vênh lên như thách thức và còn xầm xì những gì đó rất khả nghi... Bà Ngọc vốn là cây gai trong nhà, bà biết thế, nhưng với bà, bọn nhóc đó mới chính là những cây gai cần phải nhổ đi!

Trước khi nhắm mắt tìm giấc ngủ bà ta còn lẩm bẩm:

- Trước sau gì thì cũng phải đến...

Hơn mười hai giờ đêm...

Cả nhà im ắng, lặng như tờ. Bà Kim Ngọc cũng vừa đi vào giấc ngủ ngon. Chợt có âm thanh từ ngoài vọng vào, qua khe cửa sổ. Thứ âm thanh rất lạ, ban đầu nhỏ, rồi rõ dần... đó là tiếng khóc của một người phụ nữ.

Lúc đầu có lẽ chẳng ai trong nhà nghe được âm thanh đó, nhưng chỉ nửa phút sau thì người đầu tiên nghe được chính là bà Kim Ngọc! Bà ta vừa trở mình thì giật mình mở mắt ra ngơ ngác. Ai khóc?
 
Tiếng khóc càng lúc càng gần và hình như nhắm thẳng vào cửa sổ, nơi sát chiếc giường bà ta đang nằm.

Lúc này bà Ngọc mới hối hận là lúc chiều đã chọc giận ông Thiện, để ông ta sang phòng riêng ngủ. Nếu có ông ta thì dẫu sao bà cũng đỡ sợ hơn.

- Ông Thiện ơi!

Bà ta lên tiếng gọi đại để tự trấn an, chớ biết chắc là ông chồng không thể nghe được. Tuy nhiên tiếng khóc hình như không hề nao núng với sự lên tiếng của bà, mà trái lại, vừa khi ấy chợt có một tiếng động lạ và... giống như có ai vừa nhảy vào phòng!

Do có thói quen ngủ không để đèn, nên lúc này thuận tay bà Ngọc mới bật công tắc lên. Lúc ấy bà ta há hốc mồm chớ không còn kêu được nữa. Trước mắt là một bóng người đứng giữa phòng trong tư thế yên lặng, mặt quay đi hướng khác, nhưng vừa thoạt trông thấy dáng đứng đã làm cho bà Ngọc sửng sốt, run lẩy bẩy:

- Bà... bà là...

Lúc này bóng người kia mới từ từ quay mặt lại. Một phụ nữ với bộ mặt đầy máu tươi đang chảy xuống làm ướt đẫm cả bộ quần áo màu trắng đang mặc. Bà ta vẫn im lặng...

- Ông... ông...

Bà Ngọc cố gọi to hơn, nhưng chỉ được mấy tiếng rồi thì cổ họng như bị ai chận ngang, cảm giác đang nghẹt thở, sắp chết!

- Ô... n... g...

Bóng người kia từ từ bước đến gần giường hơn, hai bàn tay của bà ta vẫn bất động, nhưng càng lúc bà Ngọc cảm thấy như cổ bị siết mạnh và trước mắt tối dần, đầu óc quay cuồng...

Bà ta ngất đi chẳng biết là bao lâu, cho đến khi từ bên ngoài có tiếng bước chân dồn dập chạy rồi tiếng hỏi to của ông Thiện:

- Bà Ngọc ơi!

Gọi không nghe trả lời, ông vặn nắm cửa thì cửa khóa trong. Gọi lần nữa vẫn im lặng. Cuối cùng ông phải chạy về phòng riêng lấy xâu chìa khóa dự phòng sang mở. Vừa đẩy cửa phòng bước vào ông Thiện đã hoảng hốt khi thấy bà Ngọc nằm bất động trên giường mà chung quanh toàn là máu!

- Trời ơi!

Cứ ngỡ bà ta bị giết, nên ông Thiện không dám lại gần, ông kêu to cho hai con gái:

- Hoa ơi, Huyền ơi?

Hai cô gái đang ngủ ở tầng dưới vội chạy lên ngay và họ cũng khựng lại, ngơ ngác đứng nhìn từ ngoài chớ không dám bước vô. ông Thiện sợ hãi:

- Hình như bà ấy bị đâm chết!

Trước sự việc kinh khủng đó, ông Thiện phải điện báo cho cảnh sát. Đến khi xe cảnh sát tới, họ bước vào khám hiện trường thì lúc ấy mọi người mới vô cùng ngạc nhiên, bởi bà Ngọc không hề chết! Bà ta bò dậy, nhìn mọi người đến khi nhìn lại thân thể mình thì bà thét lên, rồi có lẽ vì quá sợ hãi, bà ngất đi lần nữa!

Cảnh sát định chuyển bà ta đi bệnh viện thì bà tỉnh lại, hỏi bằng sự hoảng loạn:

- Bà ta đâu rồi?

Bà ta quay khắp nơi tìm kiếm, cuối cùng chỉ tay về phía cửa sổ, lắp bắp:

- Nó... nó chui qua...

Một cảnh sát tới cửa sổ quan sát rồi nói ngay:

- Cửa sổ cài chốt bên trong thì làm gì có người đột nhập vào qua chỗ đó.

Ông Thiện cũng nói:

- Lúc tôi mở cửa cái vào thì chốt bên trong cũng còn khóa nguyên. Như vậy...

Họ đưa mắt nhìn với sự hoài nghi. Nhất là khi sau đó họ phát hiện ra khắp thân thể bà Ngọc không hề có vết thương nào. Một người hỏi:

- Bà bày ra việc này nhằm mục đích gì?

Bà Ngọc ngơ ngác:

- Cái gì bày ra? Mấy người không thấy tui bị như thế này sao?

- Chỉ có máu vấy khắp giường chứ bà có thương tích gì đâu?

Quay sang ông Thiện, một cảnh sát hỏi:
 
- Bà ấy có bị tâm thần không?

Ông Thiện lắc đầu:

- Không, bà ấy vẫn bình thường.

Nhưng Huyền thì la lên:

- Bà ấy bị lên cơn đó!

Do bị nghi ngờ dựng chuyện nên bà Ngọc bị hạch hỏi đủ thứ và cuối cùng một viên cảnh sát đã cảnh cáo:

- Nếu bà còn giỡn mặt như thế này nữa thì chúng tôi không để yên đâu!

Mặc cho bà ta lớn tiếng thanh minh, nhưng các viên cảnh sát vẫn không tin. Đến lúc họ về rồi, bà ta lại trút giận lên chị em Huyền:

- Lúc nãy đứa nào nói gì?

Ông Thiện thì không muốn rầy rà trong nhà nên nói xuôi:

- Đã không có chuyện gì thì thôi, bà đi thay đồ đi.

Khác với trước kia lúc nào cũng lép vế, sợ sệt, lúc này tự dưng Huyền tự tin hẳn lên, cô trả treo ngay:

- Tôi nói bà lên cơn đó!

Từ ngày về nhà này bà ta là xếp, chưa từng nghe những lời lẽ chướng tai như vậy, nên bà ta trừng mắt nhìn Huyền:

- Con kia, mày vừa nói gì, nói lại tao nghe coi!

Huyền cũng quắc mắt:

- Từ nay tui miễn có sợ bà đi, tui nói...

Mụ ta quen thói đanh đá, không đợi Huyền nói dứt lời, đã nhào tới định chụp lấy cô bé. Tuy nhiên, bỗng dưng mụ khuỵu xuống và kêu thét lên như vừa bị ai đánh té! Từ khóe miệng bà ta trào ra hai dòng máu.

Phản ứng tự nhiên, ông Thiện kêu lên:

- Bà sao vậy?

Ông bước tới vừa định đỡ bà ta lên thì chợt kinh ngạc:

- Ai viết chữ gì trên ngực bà thế này?

Lúc này nhìn kỹ mọi người mới thấy ngay giữa ngực áo bà Ngọc có một dòng chữ rất sắc nét: "Hãy trả lại những gì đã cướp!".

Ông Thiện còn chưa lên tiếng thì Huyền đã reo lên:

- Đúng là mẹ rồi! Mẹ ơi, trả thù đi mẹ!

Cô bé quá kích động nên vừa chạy xuống lầu vừa la toáng lên:

- Ông trời có mắt bà con ơi! Bớ mọi người, hãy tới coi mẹ con trả thù mụ phù thủy nè!

Trái với thường khi, lúc ấy tuy vẫn còn tỉnh táo, nhưng mụ Ngọc vẫn không phản ứng gì trước những lời của Huyền. Trái lại, mụ ta lại co rúm người lại, vẻ sợ hãi tột độ!

Không muốn làm kinh động lối xóm, nên ông Thiện xuống nhà khuyên nhủ Huyền:

- Rồi bà ta sẽ trả giá, nhưng con làm quá lại không hay.
 
Hoa cũng nói:

- Coi bộ mụ ta phải một phen kinh hãi lắm rồi, kệ mụ.

Huyền vẫn còn phấn khích:

- Con đoán là vừa rồi mụ ta đã bị mẹ về trị cho một trận nên thân rồi, chứ không phải tự nhiên đâu. Ba có thấy dòng chữ trên ngực mụ ta không, nó giống hệt tuồng chữ của mẹ!

Ông Thiện cũng ngầm hiểu như vậy, nhưng không nói ra. Chỉ có Hoa là thắc mắc:

- Máu vấy đỏ trên giường và quanh người mụ ta là gì vậy, có đúng là máu không? Mà sao mụ ta không bị thương? Hay là...

Câu nói của Hoa làm cho Huyền giật mình:

- Không lẽ máu đó là của...

Hoa hoảng hốt:

- Mẹ bị bà ta làm bị thương?

Huyền vụt chạy bay lên lầu, cô tông cửa vào phòng bà Ngọc, định sẽ truy xem bà ta đã làm gì mẹ mình. Nhưng khi cửa phòng vừa bật mở ra thì cô đứng sựng lại, trố mắt nhìn một cảnh tượng lạ thường trước mắt: Trên bốn vách tường quanh phòng đều có những dòng chữ đỏ như máu, giống hệt dòng chữ trên ngực bà ta: "Hãy trả lại những gì đã cướp của tao!".

Mụ Ngọc thì vẫn nằm yên dưới nền gạch...
 
***

Bà Mai bước thật nhanh sau khi phát hiện có người cứ đi theo sau mình hoài. Nhưng bà ta càng đi nhanh thì người phía sau lại càng bước nhanh hơn. Qua khỏi đoạn đường ngắn là tới một con hẻm dài hơn dẫn về nhà, bà Mai hơi yên tâm, bởi đây là xóm quen, có gì bà ta chỉ cần la lên một tiếng là có người tiếp cứu ngay. Nhưng tại sao bà ta lại sợ một người cũng là phụ nữ và cũng cỡ tuổi như mình?

Có lẽ do thói quen thôi. Đến khi cách nhà chừng vài chục mét thì bà Mai thở phào, bà bước nhanh, vừa ngoái đầu nhìn lại sau. Người kia không còn theo nữa.

- Có lẽ mình lo xa...

Bà Mai vừa lẩm bẩm vừa tra chìa khóa mở cửa. Đèn vừa bật sáng thì bà ta cũng kêu lên:

- Bà... tại sao...?

Trước mặt bà có một người phụ nữ ngồi sẵn ở ghế phòng khách. Trông bà ta giống y như người vừa đi theo ngoài đường, khiến bà Mai biến sắc:

- Bà... vừa rồi...

Người kia nhếch mép cười:

- Bà buộc tôi phải theo hơi mỏi chân. Hình như bà cố tình tránh mặt, trong lúc tôi chỉ muốn hỏi bà vài câu rồi thôi. Đành vậy...

- Bà là ai? Sao lại vô nhà tôi được?
 
Đó là chưa kể, chỉ mới thấy đó, sao bà ta lại đi quá nhanh và lọt được vào nhà trước cả chủ nhà! Bà Mai hơi run.

- Khách đến nhà sao không mời được ly nước sao?

Đáng lý phải hỏi cho ra khách là ai, nhưng tự dưng bà Mai lại dịu giọng:

- Tôi xin lỗi...

Bà bước vào phòng riêng với ý định dùng điện thoại riêng gọi ra ngoài báo tin cho ai đó. Nhưng ý định chưa thực hiện được thì đã nghe từ bên ngoài nói vọng vào:

- Báo tin cũng vô ích thôi. Tốt nhất là bà hãy ra nói chuyện với tôi vài câu. Tôi sẽ không ở đây lâu. Mời bà.

Giọng nói lịch sự của bà ta càng làm cho bà Mai rợn người hơn. Bà riu ríu bước ra như bị sai khiến.

- Bà ngồi đi cho. Ai lại tiếp khách mà đứng bao giờ.

Bà Mai cóng cả tay chân, phải vịn vào thành ghế mới ngồi xuống được. Trong giọng nói của người khách như có một ma lực gì đó ghê gớm, khiến cho người đối diện chẳng những không dám nhìn thẳng, mà thậm chí còn không chịu nổi âm thanh từ giọng nói của bà ta.

- Bà là tác giả của những thứ này?

Vừa nói người khách vừa ném ra trước mặt bà Mai một gói nhỏ toàn những tờ bùa chú màu vàng. Thoạt nhìn thấy bà Mai đã há hốc mồm, run rẩy:

- Tôi... tôi...

Bà khách cười khẩy:

- Hỏi bà vậy thôi, chớ khi tôi đã tới đây tức là đã xác định chính bà là tác giả của các thứ này rồi, phải không bà Mai Liên, Miên Lai!

Bà ta còn biết cả biệt danh của mình. Bà Mai càng run hơn:

- Tôi... tôi chỉ... chỉ làm chơi thôi.

Vị khách nghiêm giọng, gắt lên:

- Làm chơi mà để hại người, triệt linh hồn không cho người ta siêu thoát, ngăn không cho người ta bảo vệ con cái người thân yêu của mình sao!

Bà ta nói tới đó thì vụt kéo phăng mái tóc đang xõa trước trán xuống, hỏi to:

- Làm chơi mà suýt đâm thủng hai con mắt người ta như vầy sao!

Lộ ra hai lỗ thủng khá sâu ngay trên chân mày hai bên mắt của bà ta. Giọng bà càng trở nên dễ sợ hơn:

- Nếu không ngăn kịp thời thì giờ này bà và con mụ kia đã thực hiện được ý đồ lấy trọn gói tài sản của một người đã chết. Hành vi tội ác đó làm sao che mắt được ai, hả!

Rồi bà lại rít lên:

- Cái đêm ở ngôi nhà hoang đó, nếu bà và con mụ ác nhân kia thành công thì giờ này còn gì là cái gia đình vốn đã bị nát tan vì lòng dạ con mụ kia...

Bà ta nói tới đó bỗng vụt khóc òa lên, giọng nghe sắc lạnh và thê lương lạ thường! Bà Mai phát sợ, định bước lùi ra thì chợt bị bàn tay vươn ra chụp lấy. Như bị điểm huyệt, bà ta đờ người ra, trước khi bà khách ngừng khóc và hỏi:

- Ai bày cho mấy người cái trò ma quỷ hại người này? Có phải lão tài xế nhà ông Thiện không?

Bà Mai lắp bắp:

- Tôi... tôi không...
 
- Khỏi chối. Trước khi tới đây tôi đã ghé thăm lão ấy ở Cát Lái, nơi mà bọn các người có cái am tu tiên giả hiệu, lừa bịp thiên hạ! Chỉ tội cho lão Thiện, chỉ vì khờ khạo, tin người mà bị bán đứng, suýt mất mạng!

Bị điểm đúng tim đen, mụ Mai chỉ còn biết ngớ người ra, chờ đợi điều tồi tệ nhất xảy ra. Tuy nhiên, chợt bà khách đứng lên:

- Màn chưa hạ ở đây đâu, bởi mưu ma chước quỷ của bọn các người đâu chỉ đơn giản thế này. Gieo bao nhiêu thì gặt bấy nhiêu, nhớ như vậy!

Bà ta nói xong bước thẳng ra cửa. Thoắt cái đã không còn thấy bóng. Mọi việc diễn ra quá nhanh khiến cho mụ Mai không kịp phản ứng gì...

- Có chuyện gì vậy?

Người hỏi và vừa bước vô là bà Kim Ngọc. Mụ Mai cứ tưởng người khách lúc nãy trở lại nên suýt kêu lên, chừng nhận ra người quen, bà ta dồn dập:

- Bà không tới sớm một chút, cùng tôi...

Bà Kim Ngọc hỏi:

- Chuyện gì sao bà gọi điện cho tôi rồi im lặng không nói gì hết, làm tôi lo quá nên chạy qua đây. Có chuyện gì vậy?

Phải định thần lại một lúc bà ta mới thuật lại mọi chuyện. Vừa nghe xong bà Ngọc hốt hoảng:

- Bà nói... người đó vừa mới ở đây ra?

- Chưa đầy một phút.

- Đúng là nó rồi.

- Bà nói nó là ai?

Bà Ngọc buông người xuống ghế, thất thần:

- Điều không mong đợi đã tới rồi!

Rồi nhìn không thấy ai khác trong nhà, mụ Ngọc vạch ngực áo ra chỉ vào đó:

- Bà xem thì biết!

Dòng chữ màu đỏ như máu, hiện trên da ngực rất rõ ràng: "Hãy trả lại những gì đã cướp của tao!", vừa nhìn thấy bà Mai đã sợ sệt ngồi lùi ra:

- Cái này...

Tự dưng bà ta cảm thấy ngứa ở ngực, vội đưa tay chụp lên đó và bằng đôi tay run run, kéo áo ra... và lần này mụ Ngọc kêu lên:

- Bà cũng có như tui!

Trên ngực người đàn bà này hiện lên dòng chữ: "Phải trả giá cho những gì đã làm!".

Hoảng quá mụ đưa tay chà lên dòng chữ hy vọng sẽ tẩy xóa chúng. Nhưng chỉ hoài công, bởi những chữ ấy chừng như đã nổi lên từ trong da thịt, càng tẩy thì nó càng rõ hơn và còn gây rát bỏng thêm!

Mụ Ngọc chép miệng:

- Tôi đã thử xóa rồi, nó như một vết xăm, không tài nào xóa được.

- Nhưng mụ ấy đâu có đụng vào ngực tôi, mà sao...

Chợt nhớ ra, bà ta kêu lên:

- Phải rồi, chắc là lúc con mụ ấy nắm tay tôi!

Bà Ngọc cũng thuật lại chuyện xảy ra ở nhà mình. Nghe xong mụ Mai sợ hãi, nhìn trước nhìn sau rồi nói rất khẽ:

- Chắc là phải chuyển chỗ ở ngay thôi, ở đây không yên rồi...

Mụ Ngọc thất vọng:

- Tôi đang tính qua ở tạm với bà, mà kiểu này thì không ổn rồi. Bà còn chỗ nào khác không?

Bà Mai suy nghĩ một lúc rồi lắc đầu:

- Kể cả cái am tu tiên của tôi bên Cát Lái cũng bị phát hiện rồi, còn biết nơi nào là an toàn nữa!

Hai mụ đàn bà đầy mưu mẹo, vậy mà giờ đây đang lâm vào thế bất an. Họ bàn mãi, cuối cùng với bản chất gian xảo của mình, mụ Ngọc kề tai mụ kia nói gì đó một lúc. Cả hai tỏ ra đắc ý:

- Mình phải ra tay trước thôi!

Trước khi ra về, mụ Ngọc dặn kỹ:

- Bà đừng liên lạc với tôi tại nhà. Chuyện đó để cho Ba tài xế lo.

- Mà nè, mụ ta đã biết rõ chuyện làm của Ba tài xế rồi, không êm đâu.

- Vậy tôi sẽ có cách khác, bà cứ yên tâm.

Mụ Ngọc hấp tấp ra về. Bà ta cẩn thận nhìn trước nhìn sau rất kỹ trước khi đi vào con hẻm nhỏ, mãi đến khi ra tới đường lớn mới thở phào nhẹ nhõm. Chiếc xích lô chở mụ ta tới lúc nãy vẫn còn đậu chờ. Mụ hất hàm bảo:

- Chạy về ngay nhà tôi!

- Bà không đi chùa như đã dặn lúc nãy?

- Thôi, tôi có chuyện này gấp hơn.

Mụ quá căng thẳng, nên xe vừa chạy một quãng đã nhắm mắt lại dưỡng thần. Lát sau khi mở mắt ra mụ ngạc nhiên hỏi:

- Chú chạy đi đâu vậy? Ở đây giống như...

Người phu xe không trả lời, có thể là không nghe, bởi lúc đó xe cộ chung quanh rất đông. Bà Ngọc phải lặp lại:

- Đây đâu phải đường về nhà!

Vẫn không nghe anh ta đáp, mà xe thì như được tăng tốc độ, vượt qua mặt nhiều xe khác. Cuối cùng rẽ vào một con đường nhỏ hơn, vắng vẻ. Lúc này mụ Ngọc mới nhận ra, mụ kêu lên:

- Vô khu nghĩa trang này làm gì?

Tay phu xe lúc này mới lên tiếng, giọng hơi lạ:

- Tới đây thăm người quen!

- Kìa, dừng lại!

Nhưng không còn kịp nữa. Chiếc xích lô phom phom chạy thẳng vào cổng nghĩa trang. Cho đến khi ngừng lại thì mụ Ngọc mới ngớ ra, bởi trước mặt mụ ta là hằng hà những ngôi mộ, chẳng biết đâu là đâu.

Rồi chẳng cần ai nhắc nhở, mụ ta bước thẳng tới trước, đi giữa dãy mồ mả. Đến một ngôi mộ xây, có tấm bia đề dòng chữ: Mộ phần của Ngọc Lệ. Lúc này mụ ta mới hốt hoảng:

- Mộ của...của...

- Của người đã bị mụ hại chết!

Mụ Ngọc ngẩng lên nhìn thì thấy người vừa nói chính là bác phu xe. Giọng bác trở nên sắc lạnh:

- Những toan tính xấu xa sẽ phải trả giá, càng để lâu cái giá sẽ càng đắt!

Mụ Ngọc muốn nói gì đó, nhưng hình như mụ ta không còn khả năng ứng khẩu. Rồi như một thân cây đổ, mụ ta khuỵu chân xuống, theo thế quỳ gối, đôi mắt nhìn thẳng vào tấm bia, mà hình như lúc ấy di ảnh của bà Ngọc Lệ đang long lên, đầy căm thù!

Người phu xe đã bỏ đi mất, nhưng mụ Ngọc vẫn quỳ đó, không dám nhúc nhích, cũng không hé môi lấy nửa lời...

Nghĩa địa giờ này vắng lặng như tờ, không có bóng ai khác, nhưng văng vẳng như có tiếng thì thầm của ai đó... Âm thanh càng lúc càng rõ hơn, lát sau chính mụ Ngọc điếng hồn khi nhận ra tiếng ấy phát ra từ dưới mồ!

Âm thanh không thành câu, nhưng những gì rót vào tai mụ Ngọc hầu như mụ ta hiểu hết, nên cứ thỉnh thoảng lại gật đầu và chốc chốc lại nói một mình:

- Tôi biết tội mình. Tôi biết...

- Chỉ vì lòng tham, chỉ vì ích kỷ muốn chiếm đoạt nên tôi...
 
Không nghe lời chất vấn, nhưng hết câu trả lời này đến câu khác, mụ Ngọc như tự thú:

- Tôi muốn chiếm đoạt cái tài sản đó. Tôi muốn giết chết hết họ bằng nhiều cách... mà cách tốt nhất là một cuộc lật xe có chủ tâm.

Mặt trời lúc ấy đã lên trên đỉnh đầu, nắng như đổ lửa, vậy mà mụ đàn bà ấy vẫn quỳ bất động, miệng thì không ngớt nói và nói...

Cho đến khi xế bóng thì cũng là lúc người bảo vệ nghĩa trang bước tới. Ông ta lên tiếng gọi:

- Bà ơi!

Gọi đến lần thứ ba chẳng nghe đáp, lúc ấy ông ta mới đưa tay lay nhẹ mụ Ngọc. Và, như một khúc gỗ, mụ ta ngã sõng soài trên đất.

Vừa định đỡ mụ ta dậy thì ngay sau lưng ông ta đã có người lên tiếng:

- Để tôi, bà ấy do tôi chở đến, có lẽ do bị huyết áp.

Người phu xe nhẹ nhàng bế xốc mụ ta lên, đi ra chiếc xích lô đậu sẵn. Và cũng như lúc nãy, lão ta cứ đạp thẳng một mạch về hướng mà chắc lúc tỉnh mụ Ngọc cũng không ngờ tới.

Khi ngừng lại trước ngôi nhà hoang phế thì người phu xe lại bế mụ Ngọc vào trong. Đặt mụ ta xuống giữa gian phòng ngập trong bóng tối, lúc ấy lão mới thở hắt ra, chừng như vừa trút được gánh nặng, mà cũng có thể là do đã ráng quá sức. Bởi vừa lúc ấy lão cũng đã giở chiếc nón rộng vành xuống, để lộ ra một khuôn mặt đàn bà, với mái tóc dài vừa buông xuống quá lưng!

Đúng lúc ấy, ở ngoài sân cũng vừa có một chiếc xe hơi ngừng lại. Lát sau một người đàn ông có tuổi, nhưng dáng vẻ khỏe mạnh, hai bên vai vác hai cái bao tải cột kín miệng, bước vào.

Người đàn ông đặt hai cái bao xuống vừa nhìn quanh và tỏ vẻ hài lòng khi thấy mọi bề yên ắng. Ông ta nhanh chóng mở miệng hai bao tải ra và nói một mình, nhưng đủ lớn, bởi không sợ ai nghe thấy:

- Yên tâm mà nằm đây đi, hai con quỷ cái, chỉ lát nữa thôi thì chúng mày tiêu ma luôn!

Thì ra trong hai bao tải là hai cô gái nằm bất động, nhưng thân thể còn mềm mại, chứng tỏ là chỉ ngất đi chứ chưa chết.

Lại nhìn trước sau lần nữa, xong xuôi lão ta quay ra, khóa chặt cửa bên ngoài. Cẩn thận hơn, lão ta đi một vòng quanh nhà, quan sát trước sau, thấy tất cả cửa nẻo đều được khóa cẩn thận.

Lúc ấy lão ta mới yên tâm lên xe, rồ máy chạy từ từ ra khỏi nơi đó. Để lại sau lưng những điều kỳ lạ mà chính lão ta cũng không ngờ tới...
 
***

Từ trong bóng tối của gian phòng ẩm thấp, mụ Ngọc choàng tỉnh dậy. Mụ ta ngơ ngác định lên tiếng thì chợt tay phải sờ đụng một thân thể của ai đó. Người bị sờ cũng bật dậy và hỏi:

- Ai vậy?
 
Nghe giọng quen quen, mụ Ngọc hỏi khẽ:

- Chị Mai hả?

- Ủa, bà hả Ngọc?

Họ còn định hỏi thêm, nhưng chợt bà Ngọc nghe bên trái mình có một tiếng động, đưa tay sờ thì hoảng hốt suýt kêu lên. Bởi cạnh bà chẳng biết tự lúc nào đã có sự hiện diện của một người đàn ông!

- Ai?

Cả hai mụ đều không hỏi thêm được tiếng nào thì đã nghe giọng rất khẽ:

- Tôi đây, Thầy Tám...

Mụ Mai ngạc nhiên:

- Sao ông ở đây?

- Tui cũng đâu có biết... Còn hai bà, sao lại...

Hai mụ đưa tay chận lại, không cho lão pháp sư trụ trì am tu tiên ở Cát Lái nói. Bởi vừa lúc ấy họ đã nhìn thấy ở phòng bên ngoài có khá đông người đang ngồi vây chung quanh một phụ nữ mặc toàn trắng, mà vừa trông thấy là cả hai đã điếng hồn.

- Là bà ta!

Vây quanh người phụ nữ vận đồ trắng gồm có ông Thiện, chị em Hoa, Huyền và nếu mụ Ngọc bình tâm có thể nhớ ra, đó là ông bảo vệ nghĩa trang. Ông ta hướng về người phụ nữ ngồi giữa nói một cách kính cẩn:

- Lúc đầu tui không để ý, nhưng qua lần sau thì tôi thấy có một chiếc xe hơi, giống hệt chiếc mà ông Thiện đây đi, do một người đàn ông lớn tuổi, khỏe mạnh lái, đậu phía ngoài cổng nghĩa trang, rồi tài xế đi thẳng vào đây. Ông ta đi thẳng vô chỗ ngôi mộ của bà Ngọc Lệ, sau khi quan sát không thấy ai thì bắt đầu dùng cưa máy loại nhỏ, thứ cưa có thể cắt đứt sắt, cưa đứt một góc ngôi mộ. Tôi là người duy nhất nhìn thấy nhờ đứng ở một nơi khuất, tôi định chạy tới hỏi, nhưng sau đó thấy ông không lấy gì trong mộ ra, mà lại nhét thứ gì đó vô trong mộ. Tôi còn đang ngạc nhiên, chưa biết phải làm gì thì lúc đó có cô đây chạy tới, trong khi người lái xe hơi vừa đi ra nên không hay biết. Chính tôi là người nhận giúp thuê thợ trám lại một chỗ bị vỡ cho cô đây.

Lão vừa nói vừa chỉ sang Huyền. Huyền gật đầu:

- Lúc ấy cháu cũng không biết bác là bảo vệ nghĩa trang, nên đã không kịp xin phép bác để đốt những thứ lấy ra từ trong mộ.
 
- Tôi nhìn thấy hết và cũng đã mục kích việc bức di ảnh của bà đây chảy máu mắt. Thú thiệt, đã từ lâu, đêm đêm tôi thường nghe tiếng khóc từ ngôi mộ đó. Tôi đoán là người chết có nỗi oan ức gì đó, tôi muốn tìm cách báo tin cho gia đình biết, nhưng ngặt nỗi là không biết họ ở đâu.

Ông ngừng nói, đưa mắt nhìn người phụ nữ trùm kín mặt nãy giờ vẫn ngồi im lặng. Vẫn chẳng có tín hiệu gì từ bà, trong lúc ông Thiện lên tiếng:

- Anh chờ một chút, người này tới rồi anh nhận diện xem có đúng là kẻ đã đào mộ không?

Khoảng 5 phút sau, có tiếng xe ngừng ngoài sân và liền đó một người đàn ông cao lớn bước vào. Huyền kêu lên:

- Chú Ba tài xế!

Hoa nói khẽ:

- Chính chú đã vác tụi mình trong bao tải tới đây. Lúc ấy chị còn tỉnh, nhưng không dám kêu.

Nhìn thấy cảnh trước mắt, Ba tài xế muốn tháo lui, nhưng bỗng chân như bị ai níu lại, rồi như bị một lực hút mạnh, lão lao nhanh tới và quỳ xuống ngay trước mặt người phụ nữ? Vẫn không nghe người đó lên tiếng, nhưng tự động lão tài xế thành khẩn như thú tội:

- Dạ, xin bà chủ tha thứ cho thằng Ba dại dột này. Chính tôi đã cấu kết với con mụ Ngọc để hại bà. Ngay từ lúc bà và Ngọc còn là bạn thân thiết của nhau, khi lui tới nhà chơi mụ ta đã ngầm móc nối với tôi để tìm cách lừa bà vô một âm mưu đê tiện...

Nghe tới đó Huyền đã sôi máu, cô định lên tiếng thì lão Ba đã tiếp lời:

- Lúc bà bị bệnh nằm liệt cả tháng trời cũng là lúc tôi nghe theo sự sai khiến của mụ Ngọc, mỗi ngày khi đưa rước bác sĩ tới nhà khám bệnh, cho thuốc, tôi đã lén tráo thuốc, cho bà chủ uống những loại thuốc lấy từ lão pháp sư ở am tu tiên bên Cát Lái, do mụ Mai chủ mưu. Những loại thuốc bà chủ uống là độc dược, chỉ uống trong vài ngày là bị xuất huyết nội, dẫn đến cái chết không phương thuốc nào chữa khỏi! Bởi vậy bà chủ đã chết khi hai cô Hoa và Huyền đây chỉ mới bảy tám tuổi. Khi bà chủ chết được vài tháng là mụ Mai thực hiện ngay ý đồ, mụ ta tìm cách chèo kéo ông chủ, một bữa gài bẫy để ông chủ mắc mưu tới dự một tiệc rượu ở một khách sạn, khi ông chủ bị say do bị bỏ thuốc mê trong rượu thì mụ ta nhờ tôi dìu ông lên phòng và... ông đã vô tình ăn nằm với mụ ta. Khi ông chủ tỉnh lại thì mụ ta bù lu bù loa lên, nói mình bị làm nhục và buộc ông chủ phải có trách nhiệm với mình. Do không biết bị lừa, nên ông chủ đã chấp nhận cho mụ ta quan hệ và từ đó mụ dần dần thay thế vai trò bà chủ...

Lão ta ngừng nói, lần này nhìn sang ông Thiện, rồi tiếp:
 
- Sau khi đã thực hiện thành công âm mưu ban đầu, mụ Ngọc vẫn chưa hả dạ, mụ còn muốn tiến hành bước thứ hai là loại bỏ hai cô Hoa và Huyền, bởi sự có mặt của hai cô trong nhà khác nào cái gai trước mắt mụ. Đã ba lần mụ sai tôi chở ông và hai cô đi ra trang trại, xúi tôi tìm cách lái xe lao xuống vực, rồi nhảy ra khỏi xe, bỏ mặc cho ba cha con. Nhưng tôi chưa làm được. Rồi lần cuối cùng, mụ nghe theo mụ Mai và lão pháp sư Tám, định cho mấy cha con uống bùa điên, sau đó ếm cho vong của bà chủ không về báo oán được. Tôi cũng là người đứng ra thực hiện... Tôi đáng tội chết!

Huyền không kiềm chế được, đã nhảy tới chụp lấy lão tài xế, vừa đánh vừa gào thét:

- Quân dã man! Đồ giết người!

Ông Thiện thì trầm tĩnh hơn, ông chỉ chua xót nhìn người tài xế bao nhiêu năm của mình, thở dài:

- Tôi có bao giờ xử tệ với chú đâu, vậy mà...

Ba tài xế rên rỉ:

- Tôi vì tham tiền mà tối con mắt, tôi lạy ông chủ.

Ông ta lạy sâu nhiều lần, mặc cho Huyền liên tục đấm đá. Ông Thiện không đành lòng, liền nói:

- Thôi con, mọi việc có trời. Vả lại...

Ông định nói tới người phụ nữ ngồi trước mặt, nhưng hơi ngượng, nên thôi. Trong lúc Hoa nhỏ nhẹ lên tiếng:

- Mẹ, làm sao bây giờ?

Người mà Hoa gọi là mẹ vẫn yên lặng. Một làn gió nhẹ thổi qua lay động vạt áo của bà, lúc này những người đối diện mới nhận ra thân thể bà hầu như không có, giống như con bù nhìn khoác áo bên ngoài! Hoa kêu lên:

- Mẹ!

Huyền nghe gọi quay lại và cô òa lên khóc:

- Mẹ, sao mẹ như thế này!

Lúc đó thân thể bà vụt đứng lên và chẳng khác gì một bộ quần áo không người mặc, bay lơ lửng giữa không trung!

Ông Thiện giờ mới dám nói với bà:

- Tôi xin lỗi. Bà muốn xử sao tôi cũng chịu.

Nhưng cái bóng như sương khói kia đã từ từ biến vào khoảng không ngoài vườn. Tuy nhiên, trước khi biến mất bà còn nói vọng vào phía trong:

- Ra đi!

Trước sự ngạc nhiên của mọi người, từ trong phòng tối ba người lần lượt xuất hiện: Mụ Ngọc, Mai và lão pháp sư Tám - Họ khúm núm không dám ngẩng mặt lên và tới quỳ bên cạnh tên tài xế.

Không nói lời nào, bởi lúc ấy dù có muốn nói thì cả lũ họ cũng chẳng thể nào cất tiếng được, bởi nếu nhìn kỹ lúc ấy mới thấy họ đã mất lưỡi!

Mụ Ngọc đổ gục xuống trước, mụ há to miệng như để cho mọi người thấy cái miệng đầy máu, vô cùng ghê rợn của mụ ta!

Hai người kia lần lượt cũng làm như vậy. Nhìn cảnh tượng ấy, dù có phẫn uất tột độ, nhưng chị em Huyền cũng không thể lên tiếng. Ông Thiện quá đỗi kinh hãi, lùi lại định bảo vệ hai con, bỗng vấp phải cái chân của Ba tài xế, khiến ông suýt ngã và cũng nhờ thế đã phát hiện ra lúc ấy gã tài xế đang nằm bất động, miệng trào máu tươi lênh láng.

Hoa yếu bóng vía nên vừa run vừa bám chặt vào em gái. Huyền thì mím chặt môi, nhìn lũ người kia không chớp mắt, theo dõi mọi động tĩnh của họ. Nhưng thật ra lúc ấy cả bọn họ đâu còn gì nữa để mà dõi theo. Lão pháp sư Tám thường khi lắm trò, bày ra lắm thứ hại người, vậy mà bây giờ như một mớ giẻ rách, nằm lăn lộn, rên la.

Sợ Huyền manh động nên ông Thiện kéo tay hai con đi:

- Mình không cần làm gì hết, họ đã đền tội rồi còn gì.

Huyền lúc này mới nhớ đến mẹ:

- Không biết tại sao mẹ lại bỏ đi?

Hoa nhắc:

- Em không nhớ khi cùng chúng ta tới đây mẹ đã nói là mẹ luôn luôn ở bên cạnh mình. Chắc chắn mẹ không bỏ đi đâu.

Ông Thiện cũng nói:

- Mẹ con sắp đặt hết mọi chuyện này, nên có lẽ bà ấy biết phải làm gì. Ba nghĩ lúc này mình nên trở về nhà thì hơn.
 
***

Có bốn con người biến mất khỏi thế gian mà chẳng ai biết họ đi đâu. Đó là mụ Ngọc, mụ Mai, lão pháp sư Tám và tài xế Ba. Có rất nhiều tin đồn quanh họ. Một trong những tin đó là họ đi chung trong một chuyến hành hương rồi xe bị rơi xuống vực ở một đoạn đèo miền Trung, xe cháy mất xác.
 
Người nhà họ có đi kiếm tìm, cuối cùng đành phải chấp nhận giả thuyết trên.

Trong khi đó, thật sự họ đang có mặt ở ngôi nhà hoang. Không biết là họ còn sống hay đã chết, nhưng cả bốn người họ như những bóng ma, ban ngày biến mất trong ngôi nhà huyền bí thâm u đó, chỉ ban đêm mới thấy thấp thoáng bóng hình của họ. Nhiều người chung quanh đồn rằng đó là những hồn ma, nên càng ngày càng thêu dệt thêm nhiều chuyện ly kỳ.

Có điều chắc chắn họ là những người câm, tâm thần bấn loạn và thỉnh thoảng lúc nửa đêm thường cất tiếng kêu như chó tru.

Ngôi nhà hoang từ ấy hầu như không còn ai dám lui tới.

Trong khi đó...

Tại nhà ông Thiện mọi việc lại hoàn toàn trái ngược. Nếu mấy năm qua không khí trong nhà luôn căng thẳng giữa hai cô con gái với bà mẹ ghẻ, thì giờ đây một hoạt cảnh gia đình đầy ắp tiếng cười. Hai cô con gái luôn quấn quít bên cha và lúc nào họ cũng ngồi quanh bàn thờ của người mẹ quá cố. Huyền quả quyết:

- Mẹ không sống lại bằng xương bằng thịt được, nhưng mẹ đang có mặt trong ngôi nhà này. Mẹ sẽ về bất cứ lúc nào nhà này gọi mẹ!

Điều đó người ngoài không thể biết được và cũng khó tin, nhưng đang là sự thật! Hằng ngày đích thân Huyền nấu những món mà khi sinh tiền mẹ thích ăn, hoặc cúng những trái cây mà cha kể là mẹ khoái khẩu. Lúc còn con gái... Hầu như tất cả những món đồ cúng trên bàn thờ đều được ăn hết!

Do có những hiện tượng lạ như thế, nên nhà ông Thiện từ đó không thuê người ngoài vào giúp việc. Không một ai hay biết chuyện ấy...

Nếu tinh ý, vào những đêm nhà có yến tiệc, thường tổ chức trên lầu, thì từ dưới đường nhìn lên có thể thấy được vây quanh bàn tiệc luôn có bốn người: Ba cha con ông Thiện và một bóng người phụ nữ luôn ngồi giữa họ.

Có một người phụ nữ ở cõi âm đã đòi được chồng sống ở dương thế...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Phần 2

Ở vùng kinh xáng này không nơi nào đông khách bằng nhà Huyện Hỉ, bởi vậy chuyện một vài chiếc ghe bầu sang trọng ghé vào bến cùng lúc không phải là chuyện lạ. Tuy nhiên, lần này có đến bốn chiếc ghe sơn phết sặc sỡ, rèm sáo treo đẹp mắt ghé một lượt đã làm cho đám gia nhân nhốn nháo cả lên. Mà người đứng ngồi không yên lại là cô con gái rượu của nhà Huyện Hỉ. Đã suốt từ sáng sớm, lúc nào cô Hai Tuyết cũng hỏi thăm con Năm Nở, đứa tớ gái riêng của mình:

- Có thấy khách nào tới chưa?

Biết cô chủ mình đang nóng lòng đợi một ai đó, nên Năm Nở trấn an:

- Cô cứ để con canh chừng cho, hễ có khách tới là con chạy vô báo tin ngay!

Đến lúc thấy đoàn ghe bầu vừa cặp bến, con Nở đã ba chân bốn cẳng chạy bay vào phòng riêng của chủ thông báo liền:

- Tới rồi cô Hai ơi!

Hai Tuyết quýnh lên:

- Đông người không?

- Dạ, tới bốn ghe lận, có đến vài chục người!

Dù đã chuẩn bị sẵn, nhưng Tuyết vẫn không bình tĩnh khi hết chụp món này lại chụp sang món khác, một lúc vẫn chưa chọn được cái áo nào để mặc vào. Con Nở lanh lợi, biết tâm trạng chủ nên nó nói ngay:

- Cô Hai nên bận cái áo màu hồng, đẹp hơn màu xanh lục kia.

Lời nhắc của con Nở đã khiến cho Tuyết nhớ ra là đã cả chục lần cô mặc thử chiếc áo dài màu cánh sen mà lần nào nhìn vô kính cũng thấy hài lòng. Vậy thì tại sao phải đổi màu khác...

Con Nở nhanh nhẩu chạy trở ra, nó nói với lại:

- Khi nào ông bà gọi, con sẽ chạy vô cho cô hay!

Khách từ trên bốn chiếc ghe bầu bước xuống quả là đông như lời mô tả của con Nở. Mà người nào cũng ăn mặc sang trọng, quần lãnh áo lụa đủ sắc màu. Lại có những người bưng mâm quả nữa, giống như một đám hỏi.

Con Nở đứng nhìn mà không chớp mắt, nó tự hỏi:

- Hổng lẽ bữa nay đám hỏi cô Hai Tuyết?

Chuyện trọng đại này sao nó không nghe cô chủ nói? Bởi nhất nhất chuyện gì cô chủ cũng thường thổ lộ với nó, vì cô là người sống khép kín, ít đi lại, không có bạn cũng không se sua, đỏng đảnh như hầu hết các cô tiểu thơ nhà giàu khác.

Khi đoàn khách kéo hết vào nhà, được đích thân ông bà Huyện đón tiếp, thì Nở đã nhanh chân chạy đi báo ngay:

- Đúng là đám hỏi cô ơi! Có đủ lễ bộ, mâm trầu cau, ngũ quả và con còn nghe bên kia nói bữa nay là ngày lành tháng tốt nữa...

Hai Tuyết hơi ngạc nhiên:

- Làm gì có đám hỏi gì ở đây? Bữa nay tao đang chờ gia đình anh Ba Thông qua để...

Con Nở mau miệng:

- Con đâu có thấy thầy ký Thông! Đây toàn là những người lạ không hà.

Tuyết lẩm bẩm:

- Ba má đã đồng ý mời người ta qua mà. Sao lại có khách nào nữa?

Chính ngày hôm qua Tuyết còn nhắc lại chuyện ba má mình chịu cho mời cha mẹ thầy ký Thông sang chơi và cũng chính Tuyết đã cho gia nhân tức tốc đưa ghe sang đó rước họ. Đáng lẽ giờ này họ cũng đã về tới...

- Thưa cô Hai, ông bà cho mời cô Hai ra tiếp khách.

Tiếng của con Sáu Lý, đứa tớ hầu hạ bà Huyện nói vọng ngoài cửa phòng. Hai Tuyết bước vội ra hỏi nó:

- Khách nào vậy?

Con Lý lắc đầu:

- Dạ, con cũng hổng biết. Bà dặn cô sửa soạn quần áo cho chỉnh tề.

Nói xong nó bước trở ra ngay. Tuyết bảo con Nở:

- Mày ra coi kỹ lại coi khách tới làm gì, nói gì rồi vô đây báo ngay cho cô!

Con Nở chạy ra vừa lúc nghe bên khách nói:

- Thưa anh chị Huyện, được sự cho phép của anh chị, vợ chồng tui đã nhờ người coi tuổi rất kỹ, may quá tuổi thằng Tư nhà tui và tuổi cô Hai nhà này hạp nhau vô cùng! Thầy bói nói hai tuổi này mà ăn ở với nhau sẽ sinh quý tử, dựng nên nghiệp lớn sau này!

Họ còn nói nhiều nữa, nhưng nội bấy nhiêu đó cũng đủ làm cho con Nở điếng hồn, nó chạy bay vô, báo tin mà không giữ nổi bình tĩnh:

- Không... không xong rồi... cô Hai. Họ... họ đi... cưới... cưới cô!

- Ai cưới?

- Cưới cô Hai! Họ đang bàn chuyện...

Vừa lúc ấy con Lý lại trở vô:

- Thưa cô Hai, bà hối cô ra liền, nếu không bà vô đó!

Tuyết giục con Nở:

- Mày ra nghe kỹ lại coi!

Con Nở vừa bước ra thì đã thấy bà Huyện bước nhanh vào:

- Sao kêu cả buổi mà không chịu ra vậy, Tuyết! Còn con này nữa, biểu mày kêu mà sao còn ở đây?

Con Nở lúng túng:

- Dạ con... con...

Tuyết bước ra, hỏi mẹ:

- Khách nào vậy má?

Bà Huyện nghiêm giọng:

- Vợ chồng Bá Hộ Tòng bên Cái Tàu. Bữa nay họ qua... coi mắt con.

Tuyết trố mắt nhìn mẹ:

- Má... con đã nói rồi, bữa nay bên nhà thầy ký Thông...

Bà Huyện chặn ngang:

- Ai qua cứ qua, còn đám này ba má đã hẹn trước. Người ta lại mang lễ vật...

Bà ta biết là hố lời nên dừng lại, nhưng Tuyết đã hiểu, cô lớn tiếng:

- Có phải ba má hứa gả con cho họ không?

- Thì... con cứ ra chào người ta đã. Còn gả hay không là quyền của mình, chớ phải lấy ngay đâu mà sợ!

Bà nói xong thì trở ra nhà ngay, nhưng trước khi đi đã không quên thòng một câu:

- Ra ngay, chớ để ba mày vô thì có chuyện lớn đó!

Tuyết buông mình xuống giường, cơn phẫn nộ trào dâng, nhưng nguồn cơn sự việc lại bắt đầu từ cha mẹ, nên cô đâu thể nào trút ra sự thịnh nộ. Bởi vậy chỉ có khóc là hữu hiệu nhất. Tuy nhiên con Nở đã nhắc:

- Cô Hai đừng khóc, son phấn trên mặt hư hết, ông lại nổi giận...

Nó ôm chầm lấy cô chủ, an ủi:

- Không sao đâu cô Hai. Cô cứ ra chào khách, rồi chút nữa khi khách của cô tới thì ắt họ sẽ hiểu. Làm vậy đi cô.

Tuy tuổi còn nhỏ, nhưng sự khôn dại thì con Nở còn tỏ ra hơn hẳn cô chủ của mình. Cho nên sau khi nghe nó phân tích, Tuyết đã quẹt nước mắt, dặm lại son phấn rồi miễn cưỡng bước ra chào khách.

Người đứng bật dậy trước tiên khi thấy Tuyết xuất hiện là một chàng trai tuổi trên hai mươi, đầu tóc láng bóng, ra dáng công tử nhà giàu. Khi Tuyết cúi chào thì người phụ nữ lớn tuổi bên phía khách lên tiếng ngay:

- Con Hai nhà anh chị quả là đẹp người đẹp nết, xứng đôi với thằng Tư nhà chúng tôi phải biết!

Thấy dáng vẻ miễn cưỡng của con gái, bà Huyện phải lên tiếng trước:

- Bữa nay cháu nó không khỏe trong người, nên ra chào rồi xin phép cho nó vô nghỉ ngơi.

Người phụ nữ lớn tuổi bên khách đúng là bà bá hộ Tòng, bà ta đứng lên nhanh, vừa chụp lấy tay Tuyết vuốt ve.

- Bác không ngờ cháu lại trắng và đẹp đến như vầy! Cũng may, bác đã lường trước nên cũng không phải thiếu chu đáo...

Bà lấy ngay ra từ trong giỏ xách một chiếc hộp bọc nhung đỏ và nói ngay:

- Cườm tay trắng ngần này mà đeo vòng cẩm thạch thì thua gì Tây Thi!

Bà ta vừa nói, vừa nhanh nhẹn tròng vào cổ tay của Tuyết chiếc vòng cẩm thạch khá to:

- Vòng này tui gởi mua từ bên Hồng Kông, chỉ để tặng cho... con dâu tương lai thôi!

Bà là tay khá sành sõi chuyện đeo vòng, nên chỉ loáng một cái, chiếc vòng đã nằm gọn ở cổ tay của Tuyết. Khiến cho Tuyết có muốn phản đối cũng không kịp, cô chỉ lí nhí:

- Con không... không quen đeo...

Quay sang bà Huyện, bà bá hộ nói nhanh:

- Đây là quà riêng tui cho con nó, không nằm trong lễ vật, anh chị cho phép.

Một cách bướng bỉnh, Tuyết tìm cách tháo chiếc vòng ra, nhưng không tài nào làm được. Nhìn thấy, bà Huyện vội lên tiếng:

- Con tới đứng bên má đây một chút rồi xin phép vô nghỉ.

Đôi mắt cú vọ của anh chàng con trai nhà bá hộ cứ nhìn thẳng vào phía Tuyết. Con Nở núp trong màn nhìn ra cũng thấy chướng, nó thầm nghĩ: "Đàn ông con trai gì thấy con gái là nhìn muốn... muốn rớt... luôn!".

Lát sau bà Huyện đích thân đưa Tuyết vô, bà dặn khẽ:

- Không được tháo chiếc vòng ra, nghe chưa!

Khi trở về phòng rồi, Tuyết mới òa lên khóc. Cô khóc nức nở làm nhòe cả son phấn trên má, khiến cho con Nở lo lắng:

- Cô bình tĩnh, chớ có...

Tuyết giục:

- Em ra bến đợi coi, chừng nào thấy có ghe ghé lại thì vô báo ngay.

Nở đi chưa tới bến thì đã gặp Bảy Nô, anh chàng được Tuyết sai đi rước nhà ký Thông. Nó ngạc nhiên hỏi:

- Ủa, sao chú về một mình?

Bảy Nô tỏ vẻ sợ sệt:

- Tui... tui đâu có rước cậu ký.

- Sao vậy? Cô Hai đang chờ mà?

Bảy Nô ghé sát tai Nở, thì thầm:

- Hồi sáng khi tui đi được một đoạn thì bà Huyện sai người chạy ghe máy theo kêu lại, biểu khỏi phải rước. Rồi còn cho tui mấy đồng ra chợ ăn hủ tiếu từ sáng tới giờ nữa!

Con Nở thốt lên:

- Hèn chi!

Nó định chạy vô báo cho Tuyết biết chuyện, nhưng Bảy Nô đã kéo lại:

- Mày mà nói cho cô Hai biết là bà Huyện đuổi cổ mày ra khỏi nhà đó!

Nở mím chặt môi, nó đứng thẫn thờ hồi lâu, rồi giả bộ đi về phía nhà kho, đợi cho Bảy Nô không để ý, nó chạy vụt vào phòng của Tuyết, cuống quýt:

- Cô ơi... không... không xong rồi! Cậu Ký... cậu Ký...

Tuyết hốt hoảng:

- Có chuyện gì?

Mãi hồi lâu Nở mới nói thành lời:

- Cậu Ký không... có qua!

Tuyết ngạc nhiên:

- Sao em biết?

- Bảy... Bảy Nô...

Nó thuật lại đầu đuôi lời Bảy Nô, rồi còn dặn:

- Nếu cô mà nói ra vụ này thì Bảy Nô và con sẽ bị đuổi lập tức!

Tuyết mím chặt môi, hai tay nắm lại để kiềm chế cơn uất nghẹn trong lòng. Trước mắt cô bầu trời như tối sầm lại...

Lát sau, khi đã trấn tĩnh lại, Tuyết bảo khẽ con Nở:

- Em lén lấy chiếc xuồng nhỏ, bơi trước ra vàm và đợi cô ở đó, cô sẽ ra sau. Nhớ đem theo mấy bộ đồ.

Con Nở tròn mắt nhìn cô chủ. Nhưng nó không nỡ ngăn cản hay chối từ. Bởi lúc ấy nó nhìn thấy hai dòng lệ đang lăn dài trên má Tuyết...
 
***

Thấy con trai cứ đứng ngồi không yên, mà suốt mấy ngày liền không đi làm, vợ chồng Tám Thảnh đều lên tiếng hỏi:

- Sao con không đi làm việc, bữa nay là thứ Hai mà?

Thông đáp nhẹ hều:

- Con nghỉ...

Thím Tám ngạc nhiên:

- Nghỉ phép hay sao?

- Dạ nghỉ luôn...

Đến phiên chú Tám tròn xoe mắt:

- Con nói vậy là sao? Bộ bị ông Huyện cho thôi việc hả?

- Dạ.

Thím Tám lo lắng:

- Bộ con làm điều gì không hay phải không? Chớ có lý nào xưa nay ông bà Huyện thương con, giúp đỡ cho vào làm ở công sở, mà còn...

Bà muốn nhắc tới chuyện bà Huyện có lần còn nói xa nói gần việc tác hợp cho con gái họ với Thông, nhưng thấy chồng lừ mắt nên thôi. Thông lấy ra một bao thư lớn, đưa cho cha mẹ:

- Hồi sáng nay ông bà Huyện gửi cái này cho con. Ba má coi thì sẽ rõ.

Ông Thảnh mở bao thơ ra và ngạc nhiên vô cùng khi thấy ngoài một lá thư còn có khá nhiều tiền!

- Tiền gì nhiều dữ vậy?

Trong lúc thím Tám hỏi thì chú đọc nội dung lá thư. Đọc xong, chú thẫn thờ:

- Người ta cám ơn về sự nhiệt tình bấy lâu nay của thằng Thông, nhưng nay vì nhu cầu công việc, cần người khác thích hợp hơn, nên quyết định cho thằng Thông nghỉ. Để đền bù công lao của nó, ông bà Huyện gửi cho một số tiền khá lớn...

Thím Tám cầm xấp tiền đếm kỹ, rồi kêu lên:

- Tiền này mua được mấy chiếc ghe lớn cũng chưa hết!

Thông thở dài:

- Con đâu có ham tiền bạc này. Cái mà con cần là...

Chú Tám chặn lời con:

- Người ta đã nói vậy rồi và cũng đã biết điều cho mình số tiền lớn, thôi thì mình lo kiếm chuyện khác mà làm.

Thím Tám mau miệng:

- Có số tiền này mình mở một vựa gạo ở chợ, thằng Thông giỏi tính toán thì ở nhà làm chủ mua bán, còn tui với ông lấy tiền mua thêm chiếc ghe đi thu mua lúa gạo về cung cấp cho cửa hàng. Cái nghề này mau khá lắm đó nghen!

Trong lúc cha mẹ say sưa bàn tán chuyện làm ăn thì Thông lặng lẽ bước ra trước sân nhà, nhìn ra sông mà nghe lòng tê tái. Chỉ mới hôm thứ bảy đây thôi lúc về nghỉ cuối tuần Thông còn dệt bao nhiêu là mộng đẹp, khi chính anh đã được Tuyết thỏ thẻ khi tiễn anh lên ghe:

- Ba má đã chịu cho tụi mình tính chuyện cưới hỏi rồi đó. Có thể sáng mai em sẽ cho người qua đón ba má và anh qua gặp mặt ba má em để người lớn nói chuyện.

Vậy mà...

- Làm gì mà thừ người ra vậy?

Giọng nói phía sau lưng làm cho Thông giật mình, quay lại và... há hốc mồm kêu lên:

- Tuyết!

Nhìn Tuyết bằng xương bằng thịt đứng trước mắt mà Thông cứ tưởng như mơ! Tuyết phải nhắc:

- Không xách tiếp người ta chiếc va-li nặng nữa sao!

Thông lúng túng đỡ lấy chiếc va-li lớn, lắp bắp nói:

- Em... em qua đây... với ai?

Nhìn lại trước sau cũng chỉ mình Tuyết nên Thông càng nhạc nhiên hơn:

- Em đi một mình?

Tuyết gật đầu:

- Đi một mình, chắc là không được thầy ký tiếp đón phải không?

Hai người đang nói chuyện thì thím Tám từ trong nhà bước ra, kinh ngạc:

- Ai vậy con?

Thông quay về phía mẹ:

- Đây là cô Hai Tuyết, con gái ông bà Huyện.

Hồi nào đến giờ chỉ nghe con nói, chớ chưa gặp mặt Tuyết bao giờ, nên thím Tám Thảnh ngoài sự bất ngờ về sự xuất hiện đột ngột của khách, thím còn sững sờ trước tấm nhan sắc của cô con gái quyền quý!

- Kìa má, khách tới nhà mà má không mời vô, còn đứng đó...

- Ờ, ờ... mời cô vô nhà. Mèng ơi, rồng mà tới nhà tôm, làm cho tui hết hồn!

Tuyết cười dịu dàng:

- Con tới xin cơm hai bác và anh Thông, chớ khách khứa gì.

Thông là người tinh ý, anh nhìn chiếc va-li thì hơi thắc mắc, phải đợi khi Tuyết nói câu đó anh mới hỏi khẽ:

- Em đi đâu mà đem đồ đạc nhiều vậy?

- Qua đây ở luôn!

Câu trả lời khiến Thông ngơ ngác:

- Em...em...

Tuyết tế nhị nói đủ cho Thông nghe:

- Lát vô nhà em sẽ nói sau.

Chú Tám nghe có khách thì cũng bước ra. Đã từng qua thăm nhà ông bà Huyện Hỉ, và đã từng gặp mặt Tuyết, nên chú ngạc nhiên quá đỗi khi thấy sự hiện diện của cô ở đây:

- Cô Hai... đi với ai?

Tuyết cúi chào và lễ phép đáp:

- Dạ, con đi một mình.

Vừa vào trong bỗng Tuyết vòng tay trước mặt chú thím Tám:

- Con xin phép hai bác, cho con được tá túc và cũng xin hai bác tác hợp cho chúng con.

Đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác nên chú thím Tám nhất thời chưa biết phản ứng ra sao. Trong lúc Thông thì lúng túng:

- Em... sao em... như vậy? Hay là...

- Em trốn khỏi nhà!

Câu trả lời của Tuyết làm cho mọi người như đang mơ! Thím Tám kêu lên:

- Chuyện này rắc rối lắm đây!

Chú Tám thì đăm chiêu. Lúc này chỉ có Thông là còn tỉnh táo, anh hỏi kỹ lại:

- Có chuyện gì bên nhà?

Tuyết không giấu giếm, đem chuyện nhà kể ra hết. Rồi cô tha thiết:

- Con hết đường tính rồi, nên mới làm liều thế này. Xin hai bác thương tình, cho con ở tạm ít bữa, rồi con với anh Thông sẽ tính.

Trước tình cảnh đó, không còn cách nào khác, nên vợ chồng Tám Thảnh đành phải chấp nhận. Thím Tám bảo Thông:

- Con dọn phòng đã làm sẵn chờ ngày con cưới vợ cho cô Hai đây nghỉ. Con ra ngoài này ngủ ở bộ ngựa gõ.

Không ngờ Tuyết đã quỳ ngay xuống:

- Hôm nay con xin phép được kêu hai bác là ba má! Bởi dẫu gì thì con đã quyết là vợ anh Thông rồi, nếu bữa nay mà không đặt ba má con trước sự đã rồi thì không hy vọng gì sau này được sự đồng ý.

Quá bất ngờ nên đôi vợ chồng chân chất chỉ biết lặng thinh. Còn Thông thì chỉ biết nắm chặt tay Tuyết trong tay mình, lí nhí gì đó không ai nghe rõ...

Tuyết không đợi sự đồng ý của cha mẹ Thông, đã kéo tay Thông vô trong, rồi nói nhanh:

- Nếu ta không thành chồng vợ ngay bữa nay thì ba má em sẽ tìm và bắt em về, lúc đó có hối cũng không kịp!

Tội nghiệp Thông, vốn xưa nay chỉ biết nghe lời, có dám cãi ai đâu, nhất là với cô con gái rượu của ông Huyện Hỉ, người là chủ và là người ơn của mình. Bởi vậy, lời nào Tuyết nói ra anh chàng cũng chỉ biết gật đầu rồi làm theo...

Đêm đó lễ động phòng bất đắc dĩ của Thông và Tuyết đã khiến cho đôi vợ chồng già phải mất ngủ cả đêm. Đến gần sáng thì thím Tám bàn với chồng:

- Bề gì thì tui với ông cũng phải qua bên nhà ông bà Huyện để thưa cho rõ chuyện này. Con gái người ta là cành vàng lá ngọc, tuy nó quá thương con mình mà làm liều như vậy, nhưng dễ gì họ để yên...

Chú Tám cũng đồng ý:

- Tui với bà lấy cớ đi công chuyện, đừng cho tụi nó biết, rồi đi luôn qua bên đó ngay sáng nay.

Mặt trời đã lên cao nhưng Thông và Tuyết vẫn chưa dậy, chú Tám Thảnh sau khi hội ý với vợ, đã đứng ngoài nhà nói vọng vào:

- Ba má có chuyện đi qua bên Cồn, tới chiều mới về. Hai đứa ở nhà cứ ăn cơm trước, đừng đợi.

Họ xuống xuồng và bơi nhanh về hướng Phụng Hiệp. Trên đường đi, chú Tám cẩn thận bàn trước những cách đối đáp khi giáp mặt ông bà Huyện:

- Người ta là nhà quan, bởi vậy có nói chuyện thì bà cũng phải tính toán, đừng nói lung tung. Cứ những gì tui dặn hồi hôm mà nói.

- Tui lại sợ ông, khi được mời vài ly rượu thì ruột gan gì cũng móc ra phơi bày hết, không khéo lại hư bột hư đường!

Mãi bàn đủ thứ chuyện nên quãng đường mấy chục cây số không mấy chốc đã tới nơi. Từ xa nhìn cơ ngơi đồ sộ của nhà Huyện Hỉ, đôi vợ chồng già thấy tủi thân:

- Sui gia nhà người ta như vầy, còn mình thế kia, thiệt khó hết sức...

Nhưng khi xuồng tấp vô bến thì thím Tám ngạc nhiên hỏi chồng:

- Ông nghe in là tiếng trống, tiếng kèn... đám ma, đúng không?

- Chắc là ở gần đâu đây.

Nhưng lúc bước lên bờ thì chính chú Tám phải sững sờ khi nhìn cảnh nhộn nhịp đang diễn ra đúng ở nhà của ông Huyện! Bảy Nô là người từng đôi lần sang nhà chơi, nên vừa trông thấy vợ chồng Tám Thảnh đã ngạc nhiên kêu lên:

- Kìa, sao hai ông bà biết tin mà sang đây? Còn thầy ký Thông đâu?

Thím Tám linh tính nhạy hơn, đã hỏi ngay:

- Đám... của ai vậy?

Bảy Nô chép miệng:

- Thì của cô Hai Tuyết chớ ai!

- Hả? Cái... cái gì?

Ngỡ là họ quá xúc động, nên Bảy Nô lập lại:

- Cô hai nhà này mới mất hồi trưa hôm kia. Cô ấy đi xuồng với đứa tớ gái, khi qua sông lớn đã bị gió thổi lật xuồng. Cả hai đều không biết lội nên chìm luôn. Mới vớt xác được sáng qua.

- Ông ơi...

Thím Tám nắm chặt tay ông, miệng muốn nói mà chẳng làm sao thốt nên lời. Chú Tám bình tĩnh hơn, hỏi lại:

- Chắc là vậy không?

Bảy Nô cả quyết:

- Chính tui lặn mò được xác cô ấy mà. Tội nghiệp cũng chỉ vì...

Do đám tang có quá đông người, nên sự hiện diện của vợ chồng Tám Thảnh chẳng ai hay biết, ngoài Bảy Nô.

Khi thím Tám ngỏ ý muốn vô chào ông bà Huyện và nói lời chia buồn, cũng như muốn kể về chuyện lạ đang ở nhà mình, thì Bảy Nô đã ngăn lại:

- Theo tui thì anh chị không nên vô bây giờ. Họ đang giận thầy ký Thông lắm, bởi cũng chỉ vì cô Tuyết đi tìm thầy ký mà ra cớ sự.

Bảy Nô đem mọi chuyện kể lại, rồi kết luận:

- Chỉ bởi ông bà Huyện muốn ngăn không cho thầy ký và cô Hai Tuyết yêu thương nhau, nên mới nhận lời đám bá hộ Tòng, mà lòng dạ cô Hai Tuyết thì chỉ thương có thầy ký thôi.

Lòng bán tin bán nghi, nên cuối cùng chú Tám bàn với vợ:

- Mình quay ngay về nhà xem sao. Nếu đúng là con Tuyết còn bên đó thì mình trở qua cho họ hay, để họ mừng!
 
***

Trở về tới nhà thì trời đã tối. Vợ chồng Tám Thảnh hấp tấp lên nhà và gọi ngay khi còn ngoài sân:

- Thông ơi!

Không nghe tiếng đáp, thím Tám cằn nhằn:

- Thằng này mới có hơi đàn bà đã sinh ra lười nhác rồi.

Thím đẩy cửa đi thẳng vào trong, vỗ vô vách ván, kêu lớn:

- Thông ơi, kêu Hai Tuyết ra má biểu coi.

Vẫn im phăng phắc. Chú Tám hơi ngạc nhiên:

- Tụi nó đi đâu giờ này?

Thấy trời sắp tối mà đèn đóm trong nhà chưa đốt, lại vắng tanh một cách không bình thường, khiến Thím Tám sinh nghi: Thím đẩy cửa phòng và gọi lần nữa:

- Thông ơi!

Lần này thím nghe có tiếng ú ớ... Thím giục chồng:

- Ông đốt cho tui cây đèn coi!

Ngọn đèn dầu được đốt lên, vừa lúc thím Tám kêu lớn:

- Thằng Thông! Sao vầy nè con?

Nhìn thấy Thông nằm trên giường, một tay ôm cứng cái va-li, còn tay kia thì đưa lên như cố vẫy vẫy...

- Chuyện gì vậy con?

Chú Tám nhào tới đỡ con dậy, thì phát hiện thân thể Thông lạnh ngắt, mắt nhắm nghiền, nhưng miệng thì nói lí nhí:

- Tu... y... ết...

- Không xong rồi ông ơi!

Thím Tám chạy đi lấy dầu xoa cho con, còn chú thì đốt bếp lửa than lên, hơ khắp thân thể cho Thông. Lát sau Thông tỉnh lại. Anh vẫn cố ôm chặt cái va-li, vừa khóc vừa nói:

- Con không để mất Tuyết đâu ba má ơi!

Hỏi sự tình thì Thông kể:

- Tối qua con với Tuyết ngủ với nhau bình thường cho đến quá nửa đêm... Sau đó tụi con mệt quá nên ngủ một giấc. Ba má đi hồi nào con cũng không hay. Đến gần chiều con mới giật mình tỉnh dậy thì chẳng thấy Tuyết đâu. Con gọi và muốn bật dậy đi tìm, nhưng người mất hết sinh lực không làm sao đứng dậy được. Cuối cùng con sờ đụng vật này trên giường, ngay bên cạnh chỗ con nằm.

Thông mở va-li ra, bên trong không hề có quần áo gì, chỉ có duy nhất một miếng như miếng vải, rất lạ, mà khi Thông trải rộng nó ra trên giường thì cả chú thím Tám đều ồ lên, giật mình. Bởi đó là... một bộ da người!

- Hai... Tuyết!

Tuy chỉ là bộ da mỏng tanh, nhưng nguyên vẹn hình hài của Tuyết, sinh động như một người sống!

Thông vừa khóc vừa nói:

- Con hiểu ra rồi, khi Tuyết tới đây là cô ấy đã chết. Chẳng biết chuyện gì đã xảy ra cho cô ấy? Con phải sang bên nhà...

Thím Tám buông tiếng thở dài:

- Nó đã chết thật rồi!

Họ thuật lại cho Thông nghe mọi việc. Anh chàng gào lên:

- Trời ơi! Tôi đã giết cô ấy...
 
***

Từ đó...

Một năm... Rồi hai năm sau...

Người ta thấy thầy ký Thông vẫn không lấy vợ, nhưng cuộc sống của anh chàng càng ngày càng vui vẻ, hạnh phúc, còn hơn những người lập gia đình sinh con đẻ cái.

Đúng như ý nguyện của cha mẹ, Thông lập một vựa gạo ở chợ và trực tiếp quản lý. Vợ chồng Tám Thảnh do già yếu nên không ra phụ giúp gì được cho con trai. Tuy nhiên nếu có ai để ý họ sẽ ngạc nhiên khi nhà cửa một người độc thân như Thông lại vô cùng ngăn nắp, chẳng khác gì có bàn tay đàn bà!

Đã có nhiều cô gái giới bình dân có, mà con nhà khá giả cũng nhiều, để ý thương Thông, nhưng trước sau gì Thông cũng nói thẳng với họ:

- Tôi đã có vợ con đang đợi ở quê nhà!

Và từ chối tất cả lời mời mọc.

Chẳng ai hiểu vì sao. Người ta chỉ đoán do quá thương Hai Tuyết, nên Thông thề không bao giờ lấy vợ. Tuy nhiên, có một bí mật mà người ngoài không thể biết được: Trong phòng riêng của Thông lúc nào chiếc va-li của Tuyết cũng được Thông đặt ngay bên cạnh gối của mình. Trong va-li dĩ nhiên là có bộ da người. Và chính bộ da người ấy là nguyên nhân của việc mãi mãi không lấy vợ của Thông. Bởi cứ đêm đến, hoặc những lúc Thông đi đâu về và khóa cửa ngoài, thì bộ da người đó không còn là vật vô tri giác nữa. Nó trở thành một Tuyết bằng xương bằng thịt!

Cuộc sống lạ thường đó kéo dài và cả hai vô cùng mãn nguyện với thực tại đó...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Phần 3

Nhận ca trực lúc nửa đêm, nhưng suốt hơn một tiếng đồng hồ mà không có ca cấp cứu nào. Cả ê-kíp trực đều ngạc nhiên, quay sang chàng bác sĩ trưởng kíp trực, một cô y tá trêu chọc:

- Con bệnh sợ bác sĩ Tuấn quá nên chẳng dám vô!

Bấy giờ bác sĩ Tuấn mới ngẩng đầu khỏi tờ báo đang đọc, nhẹ cười rồi bước vô phòng riêng. Y tá Liên là người quan tâm đặc biệt tới chàng bác sĩ trẻ tài hoa này, nên khi cô vừa đứng lên liền bị các đồng nghiệp nói liền:

- Pha cho chàng một ly cà phê nóng đi!

Liên đang có ý định ấy, nhưng sợ bị trêu chọc, nên giả bộ:

- Biết ảnh có uống không mà pha...

Ngọc nheo mắt:

- Dẫu pha cà phê không đường mà do Liên mang vào chàng cũng uống nữa là...

Liên bước tới chỗ đặt phích nước, thì cũng vừa lúc có chiếc xe cấp cứu ngừng gấp ở ngay cửa phòng cấp cứu. Tiếng huyên náo vang lên và tiếng chân người chạy rầm rập như thường lệ. Một ca cấp cứu có vẻ khẩn cấp.

Người ta đẩy vào một bệnh nhân máu me đầy người và bác sĩ Tuấn đã có mặt kịp thời. Anh giục các y tá:

- Cho lau sạch các chỗ chảy máu, nhanh lên!

Nạn nhân nữ mặc nguyên bộ áo dài màu vàng nhạt, mà máu thì hầu như loang khắp người, đặc biệt là khuôn mặt hầu như khó thể nhận ra, bởi vết thương nơi đó là nặng nhất.

Trong lúc Tuấn đo mạch, xem một lượt vết thương trên mặt thì các y tá lấy mẫu máu đi phân tích nhóm máu và vài người khác như thông lệ đã cởi bỏ hết y phục của nạn nhân để tìm thêm thương tích. Còn có một vết thương khá sâu ở bụng và một bên nơi xương sườn bị gãy.

Nạn nhân còn thở rất yếu và hầu như hôn mê, không biết gì. Tuấn giục:

- Lấy ngay kết quả phân tích nhóm máu và truyền máu ngay, kẻo không kịp!

Tất cả ê-kíp trực đều làm việc khẩn trương với tinh thần trách nhiệm cao. Nhưng Tuấn vẫn chưa hài lòng, anh lại giục:

- Tôi đã chích thuốc cầm máu rồi, hãy chuẩn bị tiếp máu ngay, nạn nhân mất máu quá nhiều.

Bỗng đôi mắt Tuấn như muốn nổ tung khi anh lướt qua ngực bệnh nhân! Từ đầu vú bên này chạy thẳng sang đầu vú bên kia rải đều ba nốt ruồi màu đen tuyền! Hình ảnh này...

Quên sự hiện diện của cả kíp trực, Tuấn chụp lấy miếng gạc và lau nhanh những vết máu còn lại trên vùng ngực căng tròn của nạn nhân. Liên hồi hộp theo dõi hành động của Tuấn, chợt thấy anh khựng lại, rồi thảng thốt kêu lên:

- Tuyết Ngân!

Hai tay của Tuấn run lên, có lẽ anh đang xúc động mạnh. Liên nhận ra điều bất thường đó trước tiên, cô bước lại gần, hỏi khẽ:

- Gì vậy bác sĩ?

Tuấn như kẻ mộng du:

- Đúng là cô ấy đúng là...

Tuấn đã từng nhiều lần nhìn vùng ngực căng tròn đó và anh đã từng gọi ba nốt ruồi giăng ngang độc đáo ấy là ba giọt nước mắt của thiên thần! Và anh đam mê, thương yêu ba giọt lệ ấy vô cùng... Bởi người có ba giọt lệ rơi trên ngực ấy chính là Tuyết Ngân, là người yêu đã xa cách anh ngót ba năm rồi!

Giờ đây...

- Bác sĩ sao vậy?

Nghe Liên hỏi mà Tuấn ngỡ như trong cơn mơ, anh lẩm bẩm:

- Tuyết Ngân... sao lại thế này?

- Có kết quả phân tích máu rồi đây, nhóm máu O, mình đang có sẵn loại máu này.

Các nhân viên kíp trực đã quá quen thuộc với công việc nên chỉ nửa phút sau thì cuộc cấp cứu đã diễn ra suôn sẻ. Tuy nhiên, sau mười lăm phút, thì vị trợ lý theo dõi mạch đã buồn bã báo tin:

- Không xong rồi, tim đã ngừng đập.

Đích thân Tuấn dùng tay ấn mạnh lồng ngực bệnh nhân mà không đợi mấy người y tá nam như lệ thường. Nhưng sau cả chục lần làm hô hấp không hiệu quả, một y tá lấy máy kích động tim, can thiệp tiếp. Cũng vô vọng.

- Cô ấy đã chết do vết thương trên đầu quá nặng.

Tuấn đứng buông thõng hai tay, hồn phách như bay mất đi đâu... Tuyết Ngân của anh đã vĩnh viễn rời xa anh rồi! Điều mà ngót ba năm nay lúc nào Tuấn cũng nghĩ thế nào rồi nàng cũng quay trở về...

- Chỉ còn mấy ca cấp cứu nhỏ, anh tranh thủ ngủ một chút đi, coi bộ bác sĩ đã quá mệt rồi!

Y tá Liên bưng tách cà phê bốc khói đứng ngay cửa phòng, nhìn Tuấn trìu mến. Nhưng tâm trí của Tuấn đâu còn để ý đến ai. Kể từ lúc người ta chuyển xác của Tuyết Ngân xuống nhà xác thì Tuấn hầu như suy sụp hoàn toàn.

Tiếp tách cà phê, Tuấn nốc một hơi hết sạch, rồi đột ngột hỏi:

- Xác cô ấy đâu rồi?

Liên nhìn anh, ngạc nhiên nhưng vẫn lễ phép đáp:

- Dạ, đã đưa xuống nhà xác rồi.

- Cô dặn khi có người nhà vào nhận xác thì phải báo cho tôi ngay!

- Dạ. Nhưng để làm gì ạ?

Tuấn đứng bật dậy:

- Mà thôi, để tôi lo.

Anh dặn lại Liên:

- Nếu có ca nào nữa thì nhờ bác sĩ Thuần lo giùm. Tôi ra ngoài một chút.

Tuấn đi thẳng xuống khu nhà xác. Anh dặn thật kỹ người phụ trách phòng lưu xác:

- Xác của một nạn nhân nữ mới chuyển xuống, anh làm ơn bảo quản cẩn thận giùm. Khi nào có thân nhân tới nhận thì liên lạc với tôi ngay.

Người phụ trách hỏi ngay:

- Phải một người nữ không? Trên phòng cấp cứu mới đưa xuống nhưng vẫn chưa có tên tuổi, nghe nói trong người nạn nhân không có giấy tờ tùy thân.

Tuấn bảo:

- Cô ấy là Tuyết Ngân, là... người nhà của tôi.

Người phụ trách nhà xác ghi vội tên họ do Tuấn vừa cung cấp vào một tờ phiếu, vừa nói:

- Biết được tên ngay còn may, có người chết cả tuần vẫn chưa có ai nhận, bởi không có bất kỳ thứ giấy tờ gì.

Theo yêu cầu của Tuấn, người bảo vệ đồng ý để cho anh vào tận phòng lưu xác, kéo tấm vải lên, nhìn vào một lần nữa ba "giọt nước mắt" trên bộ ngực vẫn còn căng tròn...
 
***

Phải đợi đến ba ngày sau, khi chẳng một ai khác đến nhận xác, thì Tuấn được phép làm thủ tục đưa xác cô gái tên Tuyết Ngân về. Do nhà Tuấn ở là một ngôi nhà biệt lập, thuộc khu ngoại ô khá vắng vẻ, nên việc xe của bệnh viện đưa xác về đã không gây sự chú ý nào của người chung quanh.

Được một tuần nghỉ phép, Tuấn dành trọn cho việc "ma chay". Sở dĩ Tuấn quyết định đưa nàng Tuyết Ngân của mình về nhà là do trong đầu anh đã có một quyết định táo bạo: Tuấn sẽ giữ mãi thân thể của nàng bên cạnh, dù chỉ là một xác chết!

Vốn có hiểu biết về phương pháp ướp xác, do đã từng học ở nước ngoài nhiều năm, nên Tuấn thực hiện ý định không khó. Đầu tiên anh đặt mua một quan tài bằng thủy tinh khá đắt tiền, sau đó là các hương liệu để ướp. Công đoạn khôi phục lại gương mặt bị biến dạng do va đập của nàng mất khá nhiều thì giờ mà vẫn không làm cho Tuấn ưng ý. Bởi sau nhiều lần cố gắng anh vẫn không làm sao giúp cho khuôn mặt ấy dễ nhìn hơn, nên sau cùng Tuấn quyết định dùng vải tẩm keo đặc chế quấn quanh khuôn mặt, giống như các xác ướp Ai Cập trong các lăng mộ xưa. Chỉ có phần thân thể là để nguyên.

Phải mất ba ngày Tuấn mới hoàn thành được công việc khá công phu và nhiều cảm xúc này. Nhiều cảm xúc là bởi trong suốt thời gian tiếp xúc với xác người yêu, con tim Tuấn vừa thương cảm vừa nhói đau. Tuấn khóc gần cạn nước mắt khi công việc hoàn tất.

Trong khu vườn nhà Tuấn có một gian nhà vốn được anh dùng làm phòng thí nghiệm hóa sinh mini lúc còn đi học y, nên giờ đây khá thuận tiện cho việc anh biến nó thành một nhà mồ với chiếc quan tài thủy tinh Tuyết Ngân đặt giữa nhà. Tuấn bật máy điều hòa suốt ngày đêm để duy trì xác dài lâu. Mỗi ngày, cứ lúc nào rỗi là Tuấn lại vào ngồi trong đó rất lâu, bên quan tài, giống như anh ngồi nhìn người yêu đang ngủ say...

Những việc lạ thường đó tất nhiên chỉ mình Tuấn biết. Bất cứ ai, dù quen thân tới đâu Tuấn cũng không cho vào ngôi nhà để xác.

Cuộc sống của Tuấn có một chút thay đổi, nhưng ít ai để ý. Đó là từ khi ấy Tuấn luôn đi làm về đúng giờ, thay vì đi cà phê hay nhậu nhẹt với bạn bè. Sinh hoạt của một bác sĩ độc thân như Tuấn là điều không bình thường lắm, nhưng cũng nhờ trước đó anh luôn là anh chàng độc thân không "linh tinh" như đa phần các người đồng cảnh ngộ khác, nên cũng không gây sự thắc mắc cho bạn bè.

Tuấn thầm cám ơn Trời Phật đã giúp cho anh có được những giây phút tuyệt vời này. Anh thầm nhủ: "Chỉ cần như thế này, mình sẽ không bao giờ lấy vợ!".

Người thất vọng nhất trong việc này có lẽ là cô y tá Liên, người lúc nào cũng dành cho bác sĩ Tuấn thứ tình cảm sâu nặng. Từ ngày ấy Tuấn lúc nào cũng về ngay sau khi hết ca trực, khiến cho Liên lỡ mất mấy lần đón anh ở căn tin và mỗi lần như vậy cô phải mang về mấy thứ mà cô đã chuẩn bị sẵn để biếu Tuấn. Những món ăn nấu sẵn mà Liên biết Tuấn rất thích!

Bữa nay nhất định phải khác! Liên thầm hạ quyết tâm như vậy khi đứng đợi ngay đầu ngõ dẫn vô nhà Tuấn. Khi thấy Tuấn từ xa, Liên đã bước ra giữa đường đưa tay vẫy:

- Anh Tuấn!

Đang chạy ngon trớn, đầu óc lại đang nghĩ chuyện gì đó, sự xuất hiện đột ngột của Liên khiến cho Tuấn phải thắng gấp xe chao sang một bên. Anh ngạc nhiên:

- Cô làm gì vậy Liên?

Cô y tá khá dễ thương hơi lúng túng:

- Dạ em... em chờ anh.

Tuấn cau mày:

- Sao lại chờ tôi là thế nào?

Bao nhiêu ý tứ sắp xếp trong đầu trước khi tới đây giờ phút ấy tự dưng bay đi mất hết, Liên lí nhí:

- Dạ... dạ em... có cái này.

Cô đưa cái túi nhựa ra trước mặt:

- Em mang cái này cho anh.

Rồi sợ Tuấn vặn vẹo, Liên nói một hơi:

- Mấy lần chờ anh ở căn tin không được, em phải mang về và ăn gần bị trúng thực luôn!

Thấy cử chỉ lời nói của cô y tá mà mình hằng quý mến như một cộng sự thật thà, Tuấn nói một câu dễ nghe:

- Một thân một mình như tôi ăn gì chẳng được, cô Liên bận tâm chi cho mất công. Vả lại...

Liên không để cho Tuấn nói:

- Bữa nay là món mà em biết bác sĩ thích nhất, món gì đoán coi?

Tuấn đành phải nói đại:

- Mực ống dồn thịt!

Liên reo lên:

- Y chang!

Và cô nàng liếng thoắng:

- Món ăn còn nóng, bởi em mới làm và mang đến đây ngay. Em muốn thực khách phải thưởng thức ngay!

Đã từng đôi ba lần được Liên tặng cho món ăn nấu sẵn, Tuấn đã ăn và công nhận là ngon và rất hợp khẩu vị nhưng anh vẫn ái ngại:

- Cô Liên làm cho tôi ngại quá. Vả lại chiều nay tôi có cái hẹn ăn cơm với mấy người bạn ở ngoài.

Vẻ mặt Liên xìu xuống thấy rõ, cô lẩm bẩm:

- Em buồn chết được...

Thật ra Tuấn chỉ tìm cách thoái thác, nhưng trước thái độ của Liên, anh lại không đành:

- Hay là thế này vậy...

Liên chỉ chờ có thế, cô reo lên:

- Anh bỏ bữa ăn ngoài nhé! Em sẽ cùng về nhà, nấu cho anh ăn nhe!

Tuấn hốt hoảng:

- Không được đâu!

Liên tiu nghỉu:

- Sao vậy? Em đã từng tới nhà anh rồi mà...

Tuấn giờ lại là người lúng túng:

- Nhưng mà... lần trước Liên tới với các bạn. Còn bây giờ...

Liên bạo dạn hơn:

- Em làm chung với anh, em tới là mang thức ăn cho anh, chớ có phải gì đâu mà anh ngại.

- Nhưng... tôi ở một mình, Liên là phụ nữ, như thế không tiện...

Thật ra Tuấn ngại là vì chuyện khác. Anh đỡ lấy túi thức ăn, định tìm cách từ chối khéo việc mời Liên vào nhà:

- Thôi tôi nhận và sẽ ăn ngay.

- Nhưng em muốn hâm nó lại và nêm nếm thêm một chút. Vả lại phải có rau ăn kèm thì mới ngon. Em có mang theo túi rau, chưa lặt và rửa, để em vào nhà làm. Anh không phải ngại đâu, anh ăn xong là em về ngay mà.

Tuấn rất khó xử trước tấm lòng của Liên, nên cuối cùng anh đành phải chấp nhận:

- Xin lỗi Liên, chẳng phải tôi mất lịch sự không mời cô vào nhà. Tuy nhiên, mong cô hiểu cho...

Liên nghĩ đơn giản nên nói:

- Đàn ông độc thân luôn sợ phụ nữ tới nhà đột xuất chớ gì! Không sao, em hiểu bác sĩ mà...

Và thật bất ngờ, Liên nhảy lên phía sau xe của Tuấn và giục:

- Anh chạy lẹ lên, có người nhìn kìa!

Anh chàng bác sĩ độc thân quả là không rành mánh của phụ nữ, nên rồ ga chạy tới, trong khi Liên nở nụ cười mãn nguyện.

Vừa dựng xe ở sân, chợt Tuấn giật mình bởi những tiếng va đập mạnh trong nhà. Liên cũng ngạc nhiên:

- Có ai ở nhà nữa vậy bác sĩ?

- Làm gì có.

Tuấn đáp mà không yên tâm, bởi anh nghĩ có thể khi đi làm anh đã quên khóa cửa sau. Tuy nhiên, khi mở cửa vào thì cửa nẻo vẫn còn nguyên. Vật ngã đổ vừa rồi là chiếc bình hoa lớn đặt trên bàn cạnh cửa sổ. Tuấn hơi lạ, bởi bình hoa đầy nước, lại đặt vững chắc ở giữa bàn, mà nhà lại không nuôi mèo. Vậy tại sao chiếc bình bị rơi xuống và vỡ toang?

Liên giải tỏa giúp Tuấn sự khó xử bằng cách nhanh chóng đi dọn dẹp những mảnh vỡ và lau sạch nước đổ tràn cả phòng khách.

Nhưng chuyện đó chưa làm cho Tuấn kinh ngạc bằng khi bước xuống bếp. Cảnh tượng bày ra trước mắt là một cuộc hỗn chiến! Hầu như tất cả đồ dùng nhà bếp đều bị dập nát, bẹp giúm!

Ai đã làm chuyện này khi cửa nhà đang khóa kín?

Tuấn đứng yên khá lâu, trong khi Liên thì ngoan ngoãn dọn dẹp. Khi mọi việc đã tạm xong thì lại có chuyện khác tiếp theo. Ngay cửa sổ nhà bếp thông ra vườn, dù cửa vẫn cài chốt bên trong, nhưng lại có một nửa vạt áo phụ nữ kẹt ở khe cửa.

Cầm mảnh vải trên tay, bỗng Tuấn nhớ lại đã có lần anh đã nhìn thấy nó.

- Của Tuyết Ngân!

Đúng là lần cuối cùng Tuyết Ngân gặp anh rồi ra đi biền biệt là lần cô mặc chiếc áo lụa màu cánh sen này. Cái màu đặc trưng mà ít người con gái trẻ nào thích mặc.

Liên thấy Tuấn đứng ngẩn ngơ liền hỏi:

- Có chuyện gì vậy?

Tuấn giấu mảnh vải vào túi quần:

- Không có gì, mà này, cô Liên, có lẽ cô nên về. Lúc này tôi đang có chuyện rồi, không còn lòng dạ đâu để ăn. Lúc khác gặp lại cô nhé.

Tuấn nói xong bỏ ra ngoài sân, biểu lộ ý muốn đuổi khách. Liên hơi phật ý nhưng cũng lặng lẽ bước ra ngoài đón xích lô. Đợi khách về rồi, Tuấn mới bước ra chỗ nhà mồ. Anh đẩy cửa vào và một lần nữa trố mắt nhìn một mảnh vải khác, cũng giống như mảnh vải lúc nãy, nằm gần bên nắp quan tài thủy tinh!

- Tuyết Ngân!

Anh kêu lên, vừa ngồi xuống bên quan tài. Tuấn nghĩ ngay tới hồn phách của người chết vừa xuất hiện, anh gọi khẽ:

- Tuyết Ngân! Có phải em vừa mới về?

Thân thể cô gái trong quan tài vẫn không có gì thay đổi, chỉ có điều hơi lạ là ánh sáng chiếu từ nắp quan tài xuống cái xác, vốn từ khi mai táng, Tuấn đã cố ý dùng màu hồng để giúp màu xác lúc nào cũng hồng hào, y như người sống, còn bây giờ, ánh sáng đó lại là màu xanh lục!

- Hay là...

Tuấn nghĩ hay là có trục trặc gì đó từ hệ thống ánh sáng, nên ngồi xuống, nhìn vào bên trong.

Bỗng nhiên đèn trong phòng tắt ngấm. Tuấn đang ngồi chợt như có ai đẩy mạnh làm bật ngửa ra sau. Rồi như có một luồng hơi lạnh khác thường từ trong quan tài bay ra, chạm vào cơ thể Tuấn, khiến anh rùng mình rồi tứ chi hầu như tê liệt.

Loáng thoáng bên tai Tuấn hình như có tiếng ai đó thở dài...

***

Vừa dẫn xe ra khỏi cổng bệnh viện, Tuấn đã nghe tiếng ai đó gọi mình từ bên kia đường. Do xe quá đông nên khi Tuấn nhìn kỹ lại thì đã thấy người gọi anh đã băng qua đường, vừa đưa tay vẫy.

Cứ tưởng mình bị hoa mắt, nên Tuấn phải dụi mắt mấy lần rồi mới nhìn kỹ lại. Và lần này anh phải buột miệng kêu lên:

- Tuyết Ngân!

Rõ ràng người bên đường đang vẫy tay với anh là Tuyết Ngân! Tuấn đứng sựng lại như trời trồng, khiến mấy người đi xe phía sau phải la lên:

- Sao ngơ ngáo giữa đường vậy cha nội!

Bị la nhưng Tuấn vẫn không chớp mắt, nhìn Tuyết Ngân đang mỗi lúc tiến gần về phía anh hơn.

- Anh làm gì nhìn em dữ vậy, bộ không nhận ra sao?

Tuấn lắp bắp:

- Tôi... tôi...

Nàng bước sát bên và chụp lấy tay Tuấn, khiến lúc ấy anh mới hoàn hồn.

- Bộ em lạ lắm sao mà anh nhìn như mất hồn vậy?

- Em... em là... là Tuyết Ngân?

- Thì em đây chớ ai! Mới xa có mấy năm mà đã quên rồi, tệ thiệt.

Tuấn không thể nào tin nổi vào mắt mình, nên để cho Tuyết Ngân nói một lúc, anh mới hỏi lại:

- Em... có phải là em... hiện về không?

Tuyết Ngân trố mắt nhìn Tuấn:

- Anh nói gì giống như đang nằm mơ vậy? Anh có làm sao không vậy Tuấn?

Lúc ấy từ bên kia đường có một người đàn ông dẫn xe đi đến gần, Tuyết Ngân quay lại gọi:

- Tới đây, Thành!

Người này đi tới, vừa cúi chào Tuấn:

- Chào anh, tôi là Thành, đã được nghe vợ tôi nhắc về anh lâu nay, giờ mới hân hạnh gặp.

Trong lúc Tuấn còn ngơ ngác, thì Tuyết đã nói thêm:

- Đây là chồng em. Vừa rồi đi qua đây tình cờ trông thấy anh từ trong đi ra nên em gọi.

Như từ trên trời rơi xuống, Tuấn hết nhìn Tuyết Ngân rồi nhìn sang anh chàng kia. Rồi hình ảnh người nằm trong quan tài thủy tinh như đang nhảy múa trước mặt, khiến Tuấn hoa mắt, anh lảo đảo...

- Kìa, sao vậy anh Tuấn?

Tuấn buông chiếc xe ra, hình như có người đỡ và cả anh nữa, Tuấn có cảm giác như mình ngã xuống và rơi vào vòng tay của ai đó...

Đến khi tỉnh lại, Tuấn ngơ ngác khi thấy mình nằm trong bệnh viện. Bên cạnh là Liên và cả Tuyết Ngân nữa!

- Sao lại...

Tuấn chưa nói hết câu thì đã nghe Liên nói:

- Em đang sửa soạn ra về thì thấy chị này đưa anh trở vô, nên em ở lại. Em đã đo huyết áp rồi, anh bị hạ áp khá thấp.

Tuyết Ngân dịu dàng:

- Anh Thành cùng đưa anh vào, rồi em bảo anh ấy về nhà trước để lo cho mấy đứa con, còn em ở lại.

Tuấn bật dậy ngay, vừa lay tay Ngân:

- Em giải thích cho anh biết, tại sao?

Ý câu hỏi của Tuấn bao gồm luôn cả nguyên nhân... đội mồ sống dậy của Tuyết Ngân, nhưng cô nàng thì chỉ hiểu đơn giản anh muốn biết tại sao Ngân đi lấy chồng? Nên sau vài giây đắn đo, cô đáp:

- Chuyện cũng đơn giản thôi. Khi xa anh là em trở về quê, khi đó mẹ đang hấp hối. Nhà em đơn chiếc như có lần em nói với anh, em chỉ còn hai mẹ con, ngoài ra không còn thân nhân nào nữa. Lúc em về thì mẹ phải cấp cứu ở bệnh viện suốt hơn một tháng bởi căn bệnh hiểm nghèo. Em không còn tiền lo cho mẹ nên định ôm mẹ rồi hai mẹ con cùng chết, may nhờ có Thành. Anh ấy nuôi bệnh ở giường bên cạnh, thấy hoàn cảnh em, anh ấy cảm thông, giúp mẹ con em vượt qua cơn hoạn nạn. Ban đầu em không hề có ý nghĩ gì khác ngoài lòng biết ơn một người đã có tấm lòng như Thành. Nhưng sau một thời gian khá dài, khi em phải ở lại nhà nuôi mẹ thì từ chỗ ân nghĩa, giữa em và Thành đã nảy sinh tình cảm lúc nào em cũng không biết. Phụ anh thì em không muốn bởi chúng ta đã có với nhau mấy năm trời bên nhau, nhưng thực tế đã giục em phải quyết định khác. Trong quá trình lo cho mẹ, em đã nợ Thành số tiền quá lớn, đồng thời mẹ cũng muốn em phải đền đáp lại tấm lòng của người ta. Thế là em chấp nhận lấy Thành. Em biệt tăm luôn là vì nguyên nhân ấy. Lần này vào đây mục đích chính của em là tìm gặp anh để nói rõ và xin lỗi.

Tuấn lại lắc tay Ngân lần nữa:

- Nhưng em... sao lại ra khỏi mồ?

Câu hỏi của Tuấn khiến Tuyết Ngân kinh ngạc:

- Kìa, anh nói gì vậy Tuấn?

Nghĩ Tuấn có vấn đề về tâm thần, nên Ngân quay sang tìm y tá Liên để hỏi, nhưng lúc ấy Liên đã bước ra ngoài.

- Tuấn, anh hãy nhìn em nè. Em xin lỗi đã làm anh thất vọng. Nhưng em vẫn còn sống bằng xương bằng thịt trước mắt anh đây. Em có chết đâu mà ở dưới mồ!

Tuấn vụt bật dậy, nhảy xuống giường bệnh, người chưa vững vàng, nhưng cũng thoát chạy nhanh ra hành lang.

- Tuấn!

Tuyết Ngân định đuổi theo, nhưng chân cô vướng phải vật gì đó, ngã sõng soài ở cửa phòng.

Tuấn chạy bộ ra ngoài và không đợi đón xe, anh cứ cắm đầu nhắm hướng nhà mình chạy như đuổi theo ai đó...

Đến khi chợt có ai đó gọi lớn tên mình, Tuấn nghe nhưng không còn tỉnh táo để nhìn xem đó là ai, anh cứ chạy.

Và khi qua một góc đường Tuấn lảo đảo, rồi ngã xuống...
 
***

Lúc tỉnh lại thì Tuấn nhận ra đang nằm trong phòng khách nhà mình. Ngồi bên cạnh là một người đàn ông râu tóc xồm xoàm, trông hơi quen quen, nhưng nhất thời anh chưa nhớ rõ là ai.

- Cậu tỉnh rồi, may quá.

- Tôi... tôi...

Ông ta chặn lời:

- Cậu cứ nằm nghỉ. Vừa rồi khi đi tới góc phố kia tôi chợt thấy cậu chạy như điên, tưởng bị ai đuổi nên tôi vòng xe chạy theo. Đến chỗ ngã tư thì cậu bị ngã, tôi kịp cứu đưa cậu về nhà. Tôi lấy chìa khóa trong túi cậu mở cửa đưa cậu vô. Cậu không nhớ tôi sao, đã có lần cách đây mấy tháng, tôi tặng cho cậu quyển sách viết về tâm linh, quyển "Những bí ẩn của thế giới tâm linh". Tôi ở ngay cạnh nhà cậu đây mà.

Lúc này thì Tuấn đã nhớ ra và đầu óc anh cũng quân bình trở lại, anh nhẹ giọng:

- Dạ, cám ơn chú.

- Nói tôi nghe xem, có chuyện gì mà chạy thục mạng vậy?

Tuấn chợt vùng dậy, anh không để ý đang có mặt của khách, đã thoát chạy bay ra sau vườn. Nhằm hướng ngôi nhà mồ.

Vừa đẩy cửa vào Tuấn đã khựng lại. Bởi trước mặt anh, trong quan tài thủy tinh, cô gái mà anh nghĩ là Tuyết Ngân vẫn còn nằm im đó. Ánh sáng trong quan tài giờ đã trở lại màu hồng như trước.

- Như thế này là sao?

Tuấn tự hỏi và không tự trả lời được, nên cứ đứng lặng người, nhìn vào quan tài...

- Cậu gặp rắc rối gì phải không?

Vị khách đã đứng sau lưng Tuấn. Khi chợt nhìn thấy quang cảnh trước mắt, ông hiểu một phần, nên nhẹ giọng:

- Thi thể của người yêu phải không?

Tuấn nhớ đọc trong sách của ông viết, cũng có kể vài chuyện về ướp xác người yêu. Anh quay sang ông, hỏi như để giải tỏa gút mắc trong lòng:

- Làm sao bây giờ chú?

Anh kéo ông ra ngoài, kể lại đầu đuôi chuyện lầm lẫn tai hại của mình và chuyện đem xác cô gái lạ về đây ướp trong quan tài thủy tinh... Nghe xong vị khách già chép miệng:

- Người chết vẫn còn linh hồn cậu ạ. Việc cậu mang xác cô gái này về đây và ướp cẩn thận, giữ gìn chu đáo như thế là việc làm tốt. Nhưng chính lòng tốt ấy sẽ khiến cậu gặp rắc rối.

- Thế nghĩa là...

- Tôi đã nghiên cứu hàng ngàn trường hợp và rút ra kết luận rằng, trường hợp như cậu đây thì chắc chắn người con gái trong quan tài kia sẽ đeo theo ám cậu cho mà coi!

Tuấn bắt đầu lo:

- Giờ cháu phải làm sao chú Tùng Linh?

Nhà viết sách tâm linh trầm ngâm một lúc:

- Nhất thời, tôi cũng chưa thể nói cụ thể cậu phải làm gì có lẽ cậu vào nhà, giở cuốn sách của tôi, xem lại bài viết về "Sự giao hoà giữa hai thế giới", nó sẽ có ích trong trường hợp này.

Khi vị khách ra về rồi Tuấn mới tìm lại quyển sách để đọc. Anh tìm gặp bài viết mà ông khách vừa nói một cách dễ dàng. Đọc xong anh thất vọng, thở dài:

- Làm gì tìm được như trong sách.

Trong sách kể chuyện một anh chàng cũng vì quá thương người yêu, nên sau khi người yêu chết mất xác trong một vụ đắm tàu, anh ta đã cố công tìm và ăn cắp xác của một cô gái trong nhà xác bệnh viện, mà anh ta cho là giống với người mình yêu, đem về ướp và để trong phòng riêng. Sau này linh hồn của xác chết hiện về và đeo dính anh chàng đó, khiến anh ta gần như suốt đời không lấy vợ được. Mãi cho đến khi có sự xuất hiện tình cờ của một cô gái khác, mà cô ấy lại chính là em song sinh của xác chết. Kỳ lạ thay, kể từ khi có sự xuất hiện đó thì xác chết không quấy phá gì anh chàng kia nữa! Các nhà nghiên cứu cho rằng do linh hồn người chết lầm tưởng người em song sinh kia tới là để thay thế cho cô ta, sống bên cạnh anh chàng. Oan hồn bỏ đi...

Tuấn đọc hết đoạn sách, vừa thất vọng vừa mệt mỏi, anh ngả đầu trên ghế nệm ngủ một giấc...

- Ngủ mà để cửa ngõ thế này, có ngày mất luôn cả chủ nhà!

Tuấn choàng tỉnh. Anh ngạc nhiên khi thấy Tuyết Ngân xuất hiện. Cô giải thích ngay:

- Lúc anh bỏ chạy em đuổi theo không kịp, cũng may có cô Liên, cô ấy đã cho em địa chỉ để lần tới đây.

Thấy vẻ mệt mỏi của Tuấn, Tuyết Ngân hỏi ngay:

- Anh bị sao vậy Tuấn, hay là anh giận em?

Tuấn nhẹ lắc đầu:

- Không...

Rồi anh bật dậy, kéo tay Tuyết Ngân ra sau vườn:

- Em xem cái này sẽ hiểu.

Anh muốn Ngân nhìn tận mắt cô gái nằm trong quan tài, nên mở cửa nhà mồ ra, dẫn Ngân vào.

- Cái gì đây, Tuấn?

Tuấn đành phải kể hết mọi chuyện. Nghe xong Tuyết Ngân lặng người đi, đôi dòng lệ lăn dài... Nhưng bỗng cô chạy đến sát chỗ quan tài, cúi xuống nhìn vào ngực xác chết và kêu lớn:

- Tuyết Nhi. Trời ơi, chính là nó rồi!

Tuấn ngơ ngác:

- Em nói gì, Ngân?

Ngồi xuống ôm lấy quan tài, Tuyết Ngân khóc nức nở:

- Tuyết Nhi là em sinh đôi với em. Nó bị thất lạc từ nhỏ, nhưng mẹ em nói chỉ cần nhìn thấy ba nốt ruồi trên ngực nó là chắc chắn đó là nó, không sai! Nó cũng giống như em vậy, cũng có...

- Cũng có "ba giọt nước mắt thiên thần" như em. Bởi vậy anh mới lầm!

Tuyết Ngân không muốn rời quan tài, Tuấn phải kéo cô ra:

- Mọi việc như thế rồi, cũng may là có sự trùng hợp này nên mình sẽ mai táng cô ấy với chiếc quan tài thủy tinh này luôn.

Họ vừa ra đến ngoài sân, thì bỗng trong nhà vang lên những tiếng đổ vỡ mạnh, như có ai đập phá nhà. Tuấn hốt hoảng chạy trở vô và kêu lên:

- Trời ơi!

Trước mắt anh là chiếc quan tài thủy tinh đã bị đập vỡ tan tành, còn cái xác thì... không còn thấy đâu nữa!

Tuyết Ngân gào lên:

- Tuyết Nhi!

Tuấn còn đang ngẩn ngơ thì đã có người nói sau lưng:

- Linh hồn người chết đã siêu thoát rồi đó. Có lẽ cậu gặp may.

Tuấn nhìn sang Tuyết Ngân, giới thiệu:

- Đây là chị ruột của... xác chết!

Ông Tùng Linh kêu lên:

- Đúng rồi, y như trong sách!

Tuấn không biết mình đang buồn hay vui. Chỉ có cảm giác là người nhẹ nhõm...
 
***

Ba tháng sau, cả bệnh viện ngạc nhiên khi nhận được tin báo lễ đính hôn giữa bác sĩ Tuấn và y tá Liên!

Sáu tháng sau nữa thì lễ cưới diễn ra. Sau ngày cưới, trong bữa nấu ăn đầu tiên phục vụ chồng, Liên vô tư lo o bế các món ăn cho ngon lành, trong lúc đó Tuấn hồi hộp theo dõi, cho đến khi Liên hoàn thành các món ăn, dọn lên xong thì anh mới thở phào. Tuấn cứ bị ám ảnh bởi lần cả nhà bếp bị đập phá tan tành khi Liên mang thức ăn tới. Nhà nghiên cứu tâm linh đã quả quyết: Đó là hành động ghen tuông của hồn người chết. Chính cô gái trong quan tài đã phản ứng khi có người phụ nữ khác xuất hiện trong nhà?

Bây giờ thì hết rồi. Oan hồn đã rời đi. Từ nay Tuấn có thể sống hạnh phúc bên cô y tá ngoan hiền của mình. Trong ngày cưới anh có mời cả vợ chồng Tuyết Ngân đến dự...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-04-21 09:05:18Soccon>
Phần 4

Thuần thắc mắc mãi về một đoạn trong lá thư của bạn mình gửi từ Huế vào: "... Cô nàng rất hiền, ngoan và rất đẹp. Nhưng có điều là tính hơi khó gần. Tuy nhiên mình vẫn muốn cậu nên làm quen. Mình đã kể về cậu cho cô ấy nghe và hình như cô ấy rất muốn được tiếp cận cậu. Mình nói sơ qua về tính cách cô ấy cho cậu nghe: Đó là người chuộng sự thật thà, không ưa dối trá, không thích mẫu đàn ông sống lãng mạn... nhưng cô ấy lại sống bằng nội tâm nhiều, ưa đọc truyện Bồ Tùng Linh, Hồn Bướm Mơ Tiên v.v... Cô ấy mới vào sống ở cùng thành phố với cậu, không có bạn bè, nên sự lui tới của cậu sẽ giúp cho cô đỡ cô đơn nơi đất lạ. Cậu nhớ kỹ, chỉ mình cậu quen cô ta thôi, tuyệt đối không được giới thiệu với người khác...".

Từ lúc nhận được thư của bạn, đến nay đã qua một tuần rồi mà Thuần vẫn chưa có ý định liên lạc với người đẹp bạn định môi giới cho mình. Ngoài việc còn thắc mắc về cá tính của cô gái, Thuần còn chưa tìm được lý do để tiếp cận. Chẳng lẽ tìm tới và bảo: Bạn tôi tên là Phú, giục tôi tới gặp cô, xin được làm quen... Mà điều ấy Thuần không quen làm.

Mãi cho đến sáng nay, chủ nhật, một cơ hội ngàn vàng đã tới một cách thật bất ngờ: Thuần nhận được một lá thư của ai đó gửi tới địa chỉ: 18 A cư xá Hồng Hà, quận TĐ, nhưng bưu điện lại nhầm với địa chỉ 18 A cư xá Hoàng Hà, nơi ở của Thuần. Có lẽ người ta nhầm giữa quận TĐ với TB và Hồng Hà với Hoàng Hà! Thuần cầm lá thư tới nhầm địa chỉ kia xem qua và chợt reo lên:

- Cư xá Hồng Hà ở TĐ ư? Đúng là nơi đây rồi!

Lấy lá thư của bạn ra, lúc này Thuần càng kinh ngạc hơn khi địa chỉ mà Phú ghi cho và giục Thuần đi tìm cũng chính là cư xá Hồng Hà này. Và còn lạ lùng hơn, số nhà và đường trong cư xá cũng trùng y nguyên như nhà của Thuần: 18 A đường Hoa Hướng Dương!

Lúc này thay vì trách cứ đơn vị xây cư xá đã lấy trùng tên đường giữa hai nơi khác nhau, để gây ra sự nhầm lẫm này, Thuần lại thầm cám ơn họ, bởi nhờ có sự trùng hợp này nên sẽ có cớ cho Thuần tìm tới đây với lý do đầy thuyết phục: Trả lại bức thư bị phát nhầm!

Sau hơn nửa giờ đắn đo, cuối cùng Thuần đã cầm lá thư và quyết định đi tìm chủ nhân thật của nó.

Việc tìm ra cư xá Hồng Hà không khó. Nhưng khi hỏi đường Hoa Hướng Dương thì mọi người trong cư xá đều lắc đầu:

- Cư xá này chỉ có các con đường nội bộ từ số 1 đến số 18, chứ làm gì có tên Hoa Hướng Dương!

Thuần thất vọng vô cùng, vừa định trở ra thì chợt có một người đàn ông chạy ô tô ngang qua, chị chủ nhà đang trả lời Thuần chỉ và nói:

- Ông đó là phó giám đốc xây dựng cư xá này, đâu hỏi thử coi.

Bà ta vẫy tay gọi ông ta giúp Thuần, rồi lên tiếng hỏi:

- Cậu này tìm địa chỉ trong cư xá này mà hỏi đường Hoa Hướng Dương, cư xá mình làm gì có tên đó, phải không ông phó giám đốc!

Không ngờ người kia đáp ngay:

- Có chứ! Cư xá này lúc xây xong chúng tôi đã từng đặt cho những cái tên toàn các loài hoa. Tên Hoa Hướng Dương là con đường số 8, phía dãy sau của nhà này. Sau đó nghĩ lại, chúng tôi mới đổi thành chữ số, cho dễ nhớ hơn.

Thuần nghe nói mừng quýnh. Anh cám ơn họ rồi chạy vòng ra dãy nhà phía sau. Anh tìm được số nhà không khó. Bấm chuông và đứng đợi chỉ vài chục giây thì có một người phụ nữ trung niên bước ra. Bà ta nhìn qua Thuần và hỏi:

- Cậu tìm ai?

- Dạ, cho tôi hỏi, có phải đây là nhà của cô Yến Vĩ?

Chỉ tay vào trong, người phụ nữ đáp:

- Cô chủ có ở nhà, nhưng đang có tiệc. Cậu có phải là người được mời tới dự tiệc thì vào. Còn nếu không thì có lẽ... nên về, bữa khác tới.

Thuần hơi lúng túng:

- Tôi... tôi không phải tới dự tiệc. Số là...

Anh chợt nhớ lá thư nằm trong túi, nên lấy ra và mạnh dạn lên:

- Có một lá thư gửi cho cô Yến Vĩ ở nhà này, nhưng bưu điện lại phát nhầm địa chỉ của tôi ở tận trung tâm thành phố. Tôi đem đến trả. Đồng thời...

Anh chưa nói dứt lời thì từ trong nhà có tiếng vọng ra:

- Sao không mời khách vào nhà nói chuyện, dì Hai?

Người phụ nữ trung niên nói vọng vào trong:

- Thưa cô, đây là khách lạ, chỉ tới để trả lá thư thôi.

- Người ta là ân nhân của mình, sao gọi là khách lạ. Mời khách vào đi.

Thuần được mời vào trong. Vừa bước tới phòng khách, Thuần đã đứng sựng lại ngay. Bởi trước mặt anh là một cô gái tuổi khoảng mười tám đôi mươi, mà sắc đẹp thì làm lóa mắt bất cứ ai thoạt nhìn!

- Mời cậu vào.

Bà giúp việc phải nhắc lại khi thấy Thuần cứ ngẩn ngơ nhìn. Lúc này Thuần mới tỉnh lại, anh vụng về đưa phong thư tới trước, vừa nói:

- Tôi nhận một lá thư phát nhầm. Tôi có thể gửi trả lại qua đường bưu điện, nhưng lại sợ nó bị lạc, nên nhân tiện tôi tìm tới đưa trực tiếp cho người nhận. Chẳng hay có phải cô là... Yến Vĩ?

Cô gái đẹp như tiên nga cười rất tươi với Thuần:

- Đúng là em.

Bà người làm vội lên tiếng:

- Kìa, cô Hạnh. Cô đâu phải là...

Cô gái phá lên cười thành tiếng, trong trẻo:

- Dì Hai nói kiểu đó, không khéo con lại mang tiếng là mạo nhận thì khốn? Tên Yến Vĩ là tên lúc còn đi học bạn bè đặt cho, ở nhà ít người gọi.

Thuần buột miệng:

- Đúng rồi, bạn tôi cũng nói như vậy!

Cô gái ngạc nhiên:

- Bạn anh biết em?

Thuần kể lại một phần câu chuyện của Phú. Vừa nghe nhắc đến Phú, cô gái tên Hạnh đã reo lên:

- Em có quen anh Phú. Khi ở Huế tụi em nhiều lần tới ăn ở quán cơm Âm Phủ ngoài đó. Em và Phú khá thân, cho đến khi...

Cô nàng bỏ lửng câu nói, giúp Thuần dễ diễn đạt ý của mình hơn:

- Phú có giới thiệu tôi gặp cô. Tôi cũng sống xa nhà, nên cũng cần có những người bạn đồng hương...

Nàng phá lên cười hồn nhiên:

- Anh ấy thì lúc nào cũng thế. Luôn luôn muốn bạn bè mình hạnh phúc, còn bản thân mình thì muôn năm đi tìm sự cô đơn.

Câu chuyện giữa họ trở nên gần gũi và thân mật hơn, cho đến lúc Thuần chợt nhớ, anh đứng lên cáo từ:

- Tôi quên là nhà đang có tiệc, xin lỗi Hạnh, để dịp khác chúng ta có thời giờ ôn lại chuyện quê nhà hơn.

Bỗng từ nhà sau bước ra hai cô gái nữa, mà thoạt nhìn Thuần đã sững sờ! Cả ba người họ giống nhau đến đỗi Thuần không thể nào phân biệt được ai mới là cô Hạnh vừa nói chuyện với mình! Một cô lên tiếng:

- Đã là khách đồng hương sao lại khách sáo như vậy!

Cô còn lại cũng nói:

- Bọn em ở trong nhà nãy giờ đã nghe hết rồi. Đã là bạn của anh Phú thì cũng là bạn của tụi này. Bữa nay chỉ là tiệc gia đình giữa ba đứa tụi em với nhau thôi, tại sao anh Thuần không là khách riêng, để tụi này có dịp thử tửu lượng!

Cả ba cùng reo lên:

- Phải vậy thôi!

Họ rất tự nhiên kéo tay Thuần vào nhà trong. Lúc này Thuần mới biết là tiệc đang được bày ở sân sau ngôi nhà, nơi có một mảnh vườn nhỏ, xinh xắn.

Mải mê lo ngắm cảnh vật, đến khi quay lại thì Thuần không còn phân biệt được ai là Hạnh nữa. Anh hơi lúng túng thì cũng may, một cô gái đã nói:

- Em Tư, là khách của em, hãy mời một ly đi chớ!

Thuần cố để ý dấu vết riêng của từng người, nhất là Hạnh, nhưng trong nhất thời chưa thể tìm ra, mà cả ba người họ lại mặc cùng màu quần áo, một kiểu may, tóc lại chải cùng cách với nhau, nên càng trông càng hoa mắt. Có lẽ hiểu được sự lúng túng của Thuần nên cô Tư quay sang chỉ từng người giới thiệu:

- Đây là chị Hai, gọi là Hạnh nhất nương, còn đây là Hạnh nhị nương...

Nhất nương mau mắn:

- Người đang nói là cô Tư, tức Hạnh tứ nương. Tuy là út nhưng lanh nhất nhà, nên được bầu làm thủ lĩnh!

Thuần e dè hỏi:

- Thế còn... tam nương?

Giọng họ chùn xuống:

- Bữa tiệc hôm nay là giành cho Hạnh tam nương. Cô ấy đã ra đi trước chúng tôi rồi!

- Xin lỗi. Tôi vô tình...

Hạnh tứ nương lanh trí đúng như lời hai chị giới thiệu:

- Người không biết thì không có lỗi!

Họ nói chuyện giống như trong các phim võ hiệp Trung Hoa, khiến Thuần cũng thấy thích thú, anh pha trò:

- Tại hạ không đa lễ nữa, nào ta cụng ly!

- Trăm phần trăm đi huynh đài!

Họ uống ngọt đến không ngờ! Và sau khi cạn ly, chính tứ nương đã nói:

- Nếu huynh không chê đám gái quê này thì bữa tiệc này coi như lễ kết giao được không? Bọn này gọi là đại huynh nhé!

Đã vô một ly nên Thuần mạnh dạn hơn:

- Xin tuân lệnh.

Lại một ly nữa. Thuần mới hai ly đã hơi nóng mặt, còn họ có lẽ đã uống với nhau trước khá nhiều, vậy mà lúc này trông họ vẫn không chút gì biểu lộ sự chuếnh choáng. Hơi men khiến cho hai má của ba chị em hồng lên, đẹp đến mê mẫn tâm thần người nhìn. Thuần không đừng được, đã buột miệng:

- Khác nào Từ Thức lạc Thiên Thai!

Cô chị lớn cũng pha trò:

- Coi chừng nghen khi trở về dương thế Từ Thức râu tóc bạc phơ đó nghen!

Họ lại phá lên cười. Thuần hứng chí quá, tự động rót một ly đưa tới trước mặt nhất nương:

- Xin được uống với chị cả!

Cô nàng chỉ tay sang Hạnh tứ nương:

- Là khách thì phải uống riêng với người ấy, rồi mới tới bọn này!

Không hổ danh là thủ lĩnh, tứ nương cũng rót đầy một ly, hưởng ứng ngay:

- Tiếp đại huynh!

Sau ly đó, đến lượt hai cô chị, họ uống xong và tấm tắc khen Thuần:

- Quả xứng danh đại huynh của bọn này, bội phục, bội phục!

Trước sau Thuần uống đã chục ly, tuy chưa say, nhưng người đã bắt đầu lâng lâng. Uống thêm ly nữa, anh chàng hứng chí đứng lên, như muốn nói gì đó, nhưng vừa định nói thì lảo đảo và suýt nữa đã đổ nhào vào người bên cạnh, ba cô gái cũng trong tình trạng như vậy, họ đồng thanh nói:

- Đừng để huynh ấy té!

Tuy miệng nói vậy, nhưng cuối cùng cả ba người họ lại cùng ngã nhào lên người của Thuần lúc ấy đã nằm sóng soài trên bàn tiệc!
 
***

Trời tối dần...

Bà giúp việc lúc ban ngày hầu như không thấy bóng từ lâu. Cả bốn người họ vừa tỉnh giấc. Thuần bật dậy đầu tiên, anh chàng sửng sốt khi nhìn thấy ba cô nàng đều trong tình trạng trang phục xốc xếch như vừa bị ai đó cưỡng bức! Khi nhìn lại mình, Thuần hốt hoảng kêu lên:

- Sao thế này?

Anh thấy mình cũng trong tình trạng như vậy. Thậm chí còn lạc mất chiếc quần dài!

- Trời ơi! Chị...

Một cô kêu lên, rồi cả ba đều thảng thốt kêu và đều bật dậy, tay chụp lấy ngực và giương mắt nhìn Thuần đang ngơ ngác.

- Anh... anh đã...

Lúc này Thuần hoàn toàn không nhận ra ai là chị ai là em, nhưng nghe một cô lớn tiếng hỏi, anh đoán đó là cô chị lớn:

- Anh đã làm gì chị em chúng tôi?

- Tôi không... tôi cũng...

Cả ba cô gái đồng loạt khóc nức nở, khiến Thuần càng hoảng hốt hơn:

- Các cô hiểu lầm rồi, tôi cũng vừa mới tỉnh lại, tôi đâu có biết gì, tôi không hề...

Mặc cho lời biện bạch của Thuần, ba cô cứ khóc và quên hẳn việc phải xốc lại xiêm y. Cũng may lúc ấy chung quanh họ là màn đêm và không có một ai khác.

Thuần đưa mắt nhìn quanh và bất chợt nhìn thấy chiếc quần dài của mình máng trên cành cây gần đó. Anh rón rén đứng dậy, định lấy quần mặc vào thì đã nghe một tiếng quát:

- Anh tính chạy làng phải không!

Vừa kêu họ vừa đồng loạt kéo Thuần trở lại. Thuần bị té sấp lên họ và chẳng biết tại sao anh lại như mê đi... Bên tai Thuần nghe văng vẳng tiếng nói của họ. Một người bảo:

- Xử anh ta sao đây?

- Gây ra cái gì thì phải lấy cái đó mà trả!

- Anh ta đã làm nhục em chưa?

Không nghe câu trả lời. Lại giọng nói ấy lên tiếng:

- Mấy chị thế nào cũng được, chỉ sợ em tư thôi.

Một giọng nũng nịu:

- Sao cứ gọi là tư này tư nọ, người ta được gọi là tứ nương, quên rồi sao?

- Ờ thì Tứ Nương. Hạnh tứ nương!

- Như vậy có phải nghe hay hơn không!

- Thôi được rồi. Giờ nhường cho em xử lý hắn ta.

- Nhớ phải mạnh tay đấy nhé!

Một tràng cười khoái trá:

- Muội muội sẽ không làm các tỷ thất vọng đâu!

Dường như có hai bóng người đứng lên, rời nơi ấy. Chỉ còn Thuần và cô út. Tuy đầu óc vẫn còn nhận biết, nhưng hầu như cơ thể Thuần đã bất động. Anh cảm thấy nhột từ bàn chân trở lên và rồi như bị cù vào chỗ nhạy cảm, anh gồng mình lên để chịu đựng, nhưng càng lúc cảm giác nhột, khó chịu càng tăng thêm. Đến một lúc không còn chịu nổi nữa, Thuần cố thét thật to. Tuy nhiên mọi phản ứng lúc đó đều vô hiệu. Anh chàng mềm như bún, lã đi, nhưng vẫn còn cảm giác, đi từ chỗ nhột đến không thể chịu được, chuyển sang một cảm giác lạ lùng, khó tả...

Đến khi Thuần có cảm giác như có ai đó lay gọi mình. Anh từ từ mở mắt ra...

- Anh ta tỉnh lại rồi!

Ai đó reo lên, cùng lúc Thuần mở mắt và ngơ ngác khi thấy trước mặt mình có khá đông người!

- Sao... thế này?

Một người lớn tuổi đứng cạnh lên tiếng:

- Chú em chắc tối qua xỉn quá nên quên trời đất, hả!

Thuần ngước lên nhìn, khi thấy có nhiều người nhìn chăm chú vào mình, anh vội bật dậy và phát hiện chỗ mình nằm là một bãi cỏ ven đường!

- Sao tôi...

Ông lão bên cạnh lại lên tiếng:

- Vừa rồi chính tôi đi tập thể dục sớm ngang qua đây, phát hiện cậu nằm ngủ say chỗ này nên hoảng hốt, tưởng cậu bị tai nạn, đến khi lay cậu mới biết cậu còn sống. Sao cậu liều quá xe cộ cứ bỏ mặc đó, nằm ngủ ngon lành ở đây.

Lúc này Thuần mới nhớ lại chiếc xe gắn máy của mình, anh kêu lên:

- Xe của tôi!

Cụ già chỉ tay phía gần đó, bảo:

- Sợ kẻ xấu lấy, nên tôi cho dẫn tới để chỗ kia. Cậu xem lại coi có mất cái gì nữa không?

Thuần sờ vào túi quần, áo, thấy mọi thứ vẫn còn nguyên. Anh hỏi:

- Đây là đâu vậy bác?

Chỉ tay về phía trước mặt, ông cụ đáp:

- Đây là nghĩa địa là chỗ ban đêm không ai dám vào nên cậu mới may mắn không bị mất xe. Nhưng sao cậu lại vào chốn này?

Nhớ lại mọi việc, Thuần kêu lên:

- Chị em họ!

Ông cụ ngạc nhiên:

- Ngoài cậu ra còn có ai đi cùng nữa sao?

- Dạ không... Nhưng mà...

Anh nhìn quanh thấy toàn là mồ mả, hoảng hốt:

- Thế nhà họ đâu?

- Nhà ai?

- Họ có ba chị em. Họ...

Thấy mọi người không hiểu, Thuần sau một phút lưỡng lự, đã đột ngột hỏi:

- Cư xá Hồng Hà ở đâu?

Ai cũng ngơ ngác:

- Ở đây làm gì có cư xá đó.

Thuần nhớ như in mọi chuyện đêm qua, kể cả cái cảm giác lâng lâng vẫn còn trong người. Anh chẳng nói thêm lời nào, chạy thẳng tới chỗ chiếc xe của mình, rồ ga chạy một mạch. Mấy người đứng đó lắc đầu ngao ngán:

- Thằng này chắc là tâm thần rồi!

Thuần chạy quanh đó nhiều vòng, anh cố tìm lại cư xá và số nhà... Nhưng chẳng hề có nơi nào như anh đã gặp hôm qua. Hỏi thăm thì có người bảo:

- Ở đây gần nghĩa địa, coi chừng gặp ma đó!

Thuần thẫn thờ đứng ở góc đường như một kẻ tâm thần thật sự...
 
***

Rời khỏi sân bay Phú Bài trong tâm trạng nôn nóng, nên Thuần gọi ngay chiếc xe ôm đi về Gia Hội. Vừa tới trước cổng nhà Phú anh đã cất tiếng gọi to:

- Có nhà không Phú ơi!

Phải gọi lần thứ hai thì mới có người ra mở cổng. Đó là bà Lụa, mẹ Phú. Nhác trông thấy Thuần bà đã òa lên khóc! Thuần ngơ ngác:

- Kìa bác! Bác sao vậy?

Bà Lụa không trả lời càng khóc lớn hơn. Thuần phải tự đẩy cổng vào, anh cầm tay người mà xưa nay anh vẫn coi là mẹ thứ hai của mình:

- Có chuyện gì vậy bác Tư? Còn thằng Phú đâu?

Lúc này bà mới nói được mấy tiếng:

- Thằng Phú... bỏ đi rồi!

- Đi đâu? Thằng Phú...

Bỗng bà đấm mạnh vào vai của Thuần:

- Mày ác lắm! Mày ở lại mà không cho nó cùng ở, để nó bỏ đi mất, đi biệt rồi!

Thuần hoảng hốt:

- Mà nó đi đâu?

- Phải rồi, đến ngày đi chôn nó mà mày cũng không về, nên làm sao mày cứu nó ở lại được!

Như nghe một tiếng sét đánh mang tai, Thuần kêu to:

- Bác nói gì, ai chết?

Thuần tốc chạy thẳng vào nhà và khựng lại khi thấy trên bàn thờ mới là bức ảnh chân dung của Phú!

- Trời ơi!

Giọng bà Lụa lạc đi:

- Nó chết đã mấy tháng nay rồi, tại sao mày không hay?

Thuần hỏi lại:

- Bác nói sao? Phú chết bao giờ?

- Còn hai ngày nữa là đủ bốn mươi chín ngày.

Thuần lẩm nhẩm tính rồi kêu lên lần nữa:

- Không thể nào! Chính con mới vừa nhận thư của nó cách nay mấy ngày...

Anh móc cái thư trong túi nhìn lại cả dấu bưu điện đi và đến rồi đưa cho bà Lụa xem:

- Ngày gửi chỉ cách đây mười ngày, còn ngày nhận thì ba bữa trước. Như vậy sao bác nói Phú chết gần hai tháng?

Nghe Thuần nhắc, bà Lụa mới nín khóc, bà cầm lấy lá thư nhìn thật kỹ, có lẽ nhằm kiểm tra lại nét chữ, xem có nhầm lẫn gì không. Nhưng hoàn toàn đúng nét chữ của Phú khó mà lẫn lộn với ai, dẫu cho có viết tháo hay cách nào thì thoạt trông qua bà mẹ đã nhận ra ngay.

Khi cơn xúc động hạ bớt, bà Lụa kể cho Thuần nghe mọi chuyện, mà trong đó có một chi tiết vừa nghe qua Thuần đã kêu lên ngay:

- Bác nói Phú đi cùng với ba cô gái rồi bị nạn?

Bà Lụa gật đầu:

- Trước hôm mất, có một cô gái tên là Hạnh nói là từ Sài Gòn ra thăm nó, thằng Phú dẫn vô giới thiệu với bác và còn mời ở lại ăn cơm nữa. Nhưng cô gái ấy từ chối, nói là phải về nhà người quen ngay, bởi đang có hai người chị đang đợi cơm. Thế rồi thằng Phú lấy xe đưa cô ấy về, nghe nói là ở gần Lăng Cô. Và hôm sau bác hay tin nó chết ở chỗ đó!

- Lăng Cô?

Thuần lẩm nhẩm trong miệng hai từ đó vài lần, hình như anh đang cố nhớ ra điều gì đó... Rồi chợt Thuần reo lên:

- Đúng rồi!

Bà Lụa ngạc nhiên:

- Con nói cái gì đúng?

- Lúc con ra đây hồi năm rồi, chính Phú đã kể cho con nghe, nó có quen một cô gái ở Lăng Cô, nhưng cô ấy đã chết cách đó mấy năm.

Bà Lụa xác nhận:

- Đúng, đó là con Hoa Lê, người yêu của nó. Chính cái chết của con nhỏ này mà khiến cho thằng Phú mất ăn mất ngủ cả năm trời. Nhưng chuyện đó với chuyện cái chết của nó có gì liên quan nhau đâu?

Thuần thừ người ra một lúc, rồi chợt nói:

- Con ngờ ngợ chuyện này... Mà bác nói Phú chết khi đi chung xe với mấy cô gái rồi xe bị rơi xuống vực lúc qua đèo Hải Vân?

- Bác nghe dân quanh đó nói vậy. Nhưng khi tìm xác thì chỉ thấy mỗi mình thằng Phú, bác chẳng thấy dấu vết gì của bạn nó.

- Bác biết nhà của cô Hoa Lê ở đâu không?

Bà Lụa nhẹ lắc đầu:

- Bác có nghe nói là ở ngay cuối làng chài, nhưng do già cả rồi nên bác đâu có dịp tới đó.

- Hoa Lê... nhất định con sẽ tìm ra!

Thuần vừa nói vừa vụt đứng lên định đi. Bà Lụa ngạc nhiên:

- Con mới ra, sao không ở lại với nó, mà tính đi đâu?

- Dạ, con đi tìm nhà cô Hoa Lê!

- Để làm gì?

- Con ngờ ngợ thế nào ấy...

Muốn tìm cách ngăn, nhưng trước sự cương quyết của Thuần, bà Lụa chỉ lắc đầu nhìn theo bóng của anh ta khuất ở ngoài cổng.

Thuần gọi một chiếc xe ôm, bảo chở về hướng đèo Hải Vân. Khi đến khúc quanh nhìn xuống Lăng Cô, anh bảo:

- Nếu có thể được thì anh đợi tôi trên này, tôi ra thăm một người quen bên Lăng, chừng hơn tiếng đồng hồ. Lúc về tôi sẽ trả cả tiền đợi cho anh.

Người chạy xe ôm vui vẻ:

- Cậu cứ đi, tôi ngồi ở quán nước ven đường kia uống cà phê đợi. Chứ giờ này xách xe không chạy về Huế thì cũng phí mà lát nữa khi cậu về cũng khó mà đón xe ở đoạn này.

Thuần một mình qua làng chài Lăng Cô. Anh lần mò hỏi thăm nhà Hoa Lê thì thật bất ngờ, hầu như ai cũng biết. Một bà già chỉ hướng cho Thuần:

- Cậu đi theo lối này, qua hết hơn chục cột phơi lưới thì thấy căn nhà sơn màu xanh nằm cheo leo gần bờ biển, đó là nhà của con Hoa Lê. Nhưng cậu kiếm nó làm gì, khi con bé đã chết lâu rồi?

Thuần lúng túng:

- Dạ... cháu muốn... tìm người nhà cô ấy.

Bà cụ thở dài:

- Có còn ai đâu mà tìm!

Thuần trố mắt nhìn:

- Sao vậy bác? Thế cha mẹ, anh em cô ấy?

- Nhà đó chỉ có hai mẹ con. Sau khi Hoa Lê chết được một năm thì do đau buồn nên bà mẹ cũng ngã bệnh nặng, bỏ vào chân đèo ở một mình. Từ đó căn nhà này bỏ hoang, không ai ở. Mãi cho đến khi cách đây gần hai tháng thì bỗng có ba cô gái lạ, từ Sài Gòn ra, họ cũng tìm tới ngôi nhà của Hoa Lê, nói là bạn thân, do không biết tin Hoa Lê chết nên ra thăm. Họ cũng gặp tôi, nhờ tôi cho vào ở nhờ nhà không chủ đó, do lỡ độ đường. Tôi thấy không có gì trở ngại nên để cho họ vào ở. Không ngờ...

Ngừng lại một lúc, rồi bà tiếp lời, làm cho Thuần giật bắn người:

- Ngày hôm sau một trong ba cô gái đó đi đâu trở về, có dẫn theo một chàng trai. Họ vào nhà một lúc rồi cùng kéo nhau đi. Nghe nói họ cùng lên một chiếc xe hơi đậu chờ sẵn trên đèo. Thế rồi chỉ nửa tiếng sau, tôi nghe tin cả bọn họ đều tử nạn, do xe lạc tay lái, rơi xuống vực!

Bà cụ kể trong nước mắt, khiến Thuần cũng rưng rưng. Rồi bà tiếp lời:

- Hình như mấy người con gái lạ đó còn để nguyên hành lý trong nhà con Hoa Lê.

Không đợi nghe thêm, Thuần vội chạy tới chỗ ngôi nhà. Cổng chỉ chốt chớ không khóa, cửa bên trong cũng thế. Nên Thuần vô nhà khá dễ. Anh cũng tìm được ngay một chiếc xách tay khá lớn nằm ở góc nhà. Trong giỏ xách ngoài một số quần áo nữ, còn có một quyển sổ xinh xắn, ngoài bìa có ghi mấy chữ khá nắn nót: Hạnh tứ nương.

- Đúng là họ rồi!

Thuần lặng người đi một lúc rồi mới cầm quyển sổ đó bước ra ngoài. Bà cụ vẫn còn đứng đó, bà hỏi ngay:

- Cậu có tìm thấy gì không?

Thuần đưa quyển sổ và nói:

- Đây là kỷ vật của bạn cháu. Xin phép bác, cháu muốn được cầm về.

Bà cụ mau mắn:

- Còn quần áo, đồ đạc gì đó cậu cứ mang đi, bởi từ lúc tai nạn xảy ra tôi cứ chờ hoài mà chẳng thấy thân nhân họ ra đây tìm, nên những gì trong ngôi nhà đó vẫn còn nguyên.

- Dạ, cháu chỉ xin lấy quyển sổ này thôi.

Điều Thuần nôn nóng nhất muốn hiểu thêm là dòng địa chỉ ghi dưới trang đầu của quyển sổ. Địa chỉ khác của Hạnh Tứ Nương.
 
***

Dòng địa chỉ 128 đường Hoa Hướng Dương khiến cho Thuần mất toi hai ngày để tìm mà cuối cùng vẫn phải bó tay. Cư xá Hồng Hà đã là một nơi ảo, ngoài ra chẳng nơi nào có tên như vậy. Chạy xe lòng vòng mất bốn bình xăng mà vẫn tìm chưa ra, Thuần hơi nản, định ra về thì đến phiên chiếc xe trở chứng, chết máy khi chạy tới một đoạn vắng có nhiều xe container đậu nối đuôi nhau.

Vừa dẫn xe Thuần vừa càu nhàu, bỗng có ai đó gọi anh từ sau lưng:

- Cậu ơi!

Quay lại nhìn, Thuần quá bất ngờ khi gặp bà giúp việc nhà của chị em Hạnh hôm trước!

- Bà... bà là...

- Tôi là người làm của các cô Hạnh, cậu gọi tôi là Dì Tư. Cậu đi tìm các cô ấy phải không?

Không ngờ buồn ngủ lại gặp chiếu manh, Thuần mừng quá, quên cả cơn mệt trong người:

- Dạ, cháu tìm mấy ngày rồi, mà cái địa chỉ này...

Dì Tư lặng lẽ bước đi trước, bảo khẽ:

- Cậu theo tôi ắt gặp.

Dẫn xe đi không xa lắm, đến cuối hàng xe tải đậu, họ quẹo vào một con đường mòn nhỏ, lúc này Thuần mới lờ mờ nhận ra có cái gì đó quen quen trước mắt... Khi qua khỏi một hàng me tây tàng lá rậm rạp, Thuần chợt nhận ra, anh kêu lên:

- Chỗ này rồi!

Thì ra từ chỗ Thuần đang dừng xe, nhìn xuyên qua một hàng rào gỗ cao là khu vườn mà hôm trước anh đã cùng ba cô gái ngồi nhậu với nhau! Không thể lầm được, bởi bộ bàn ghế đá màu trắng bên cạnh giàn hoa hướng dương cao gần ngang ngực.

Thấy Thuần còn ngơ ngác đứng nhìn, bà Dì Tư giục:

- Cậu vào đi, tới nhà rồi đó.

- Cháu nhớ ra rồi. - Thuần nói.

Lúc mở cửa cho Thuần vào trong rồi, bà người làm mới bảo:

- Đây là cổng sau, bữa trước ngồi trong vườn chắc cậu nhìn ra đây rồi phải không? Còn cổng trước là cư xá, hôm cậu đi vô, nhưng ngay chiều hôm đó do người ta đào hệ thống cống nên đã chận ngang không cho vào lối đó.

- Nhưng sao cháu hỏi, không ai biết cư xá Hồng Hà?

- Cậu không biết, chứ ở đây người ta kỵ cái tên đó. Bởi trước kia khu đất này nguyên là nghĩa địa Hồng Hà, bây giờ thành khu dân cư rồi, không ai còn muốn nhắc tới cái tên cũ, nên hễ nghe ai hỏi tên Hồng Hà thì người ta không chỉ.

Hình như đã đoán biết việc Thuần trở lại đây nên bà Tư nhìn anh một lúc rồi ngập ngừng:

- Cậu đã biết chuyện về ba cô Hạnh?

Thuần nhìn quanh một lượt, rồi nhìn thẳng vào mắt bà:

- Có đúng là cả ba cô đều đã... chết?

Bà Tư thở dài:

- Tội nghiệp họ. Đúng là hồng nhan bạc phận!

- Nhưng họ chết ở đèo Hải Vân, sao lại hiện ra ở chỗ này?

Giọng bà thật buồn:

- Tôi đã đưa họ về đây và tôi đã nguyện là sẽ sống cùng họ suốt đời...

Bà nói xong thì khóc nức nở, khiến Thuần cũng xót xa trong lòng. Hồi lâu anh mới hỏi:

- Bác là thế nào với ba cô ấy?

Bà hỏi ngược lại:

- Cậu biết nhà Hoa Lê ở Lăng Cô chưa?

- Dạ biết. Cháu mới về chỗ ấy xong.

- Tôi là mẹ của Hoa Lê.

Nhớ lại lời kể của bà hàng xóm ở làng chài, Thuần hỏi:

- Có phải sau khi Hoa Lê mất, bác đã bỏ vào chân đèo ở và không trở về nhà nữa?

Lại một lần nữa bà thở dài:

- Không phải tôi tự vào đó ở, mà là con Hoa Lê cứ giục mãi. Nó muốn tôi vào đó, nơi căn lều kiểm lâm trước kia của cha nó. Lúc đầu tôi không biết để làm gì, cho đến khi vụ tai nạn xảy ra, cả chiếc xe rơi xuống vực, trong đó có ba cô con gái và một anh chàng, thì tôi hiểu, bởi trước đó đêm nào vong linh con Hoa Lê cũng về báo cho tôi biết, sắp có bạn nó đi tìm nó và dặn tôi là sau khi tiếp nhận họ thì tôi phải mang xác họ ra khỏi nơi đó, không để ai biết tung tích họ ở đâu!

Thuần buột miệng:

- Thảo nào chẳng ai tìm thấy xác họ đâu!

Lát sau bà Tư tuần tự kể lại câu chuyện mà Thuần đang muốn biết:

- Con Hoa Lê nhà tôi vốn cùng với ba cô gái tên Hạnh trong một buổi lễ cầu hồn đã kết bạn với nhau. Nó không liên hệ huyết thống gì với họ, nhưng lại nhận mình là chị em, mang tên là Hạnh Tam Nương...

Thuần chợt kêu lên:

- Hạnh tam nương! Nhân vật vắng mặt hôm bữa tiệc?

Lời giải thích của bà khiến Thuần lạnh cả người:

- Hồn con tôi bị một cái vong trong buổi cầu hồn ám nên dẫn dụ ba cô gái sinh ba tên Hạnh cùng chết theo mình và cùng kết bạn thành nhóm Tứ Nương. Nhưng từ khi về đây lập ra cái vườn Âm Hồn này thì con tôi bỏ đi, theo người yêu nó.

- Theo Phú?

Bà gật đầu:

- Đúng là Phú. Chính nó đã bắt Phú đi theo. Tôi buồn lắm vì chuyện đó. Bị nó làm cậu Phú chết oan. Nhưng biết làm sao, khi luật của cõi âm là như vậy, khi oan hồn yêu ai thì muốn người yêu ở dương thế đi theo...

Chợt quay sang Thuần, bà nói:

- Cậu may mắn nên giờ này còn ngồi đây.

- Bác nói vậy là sao? - Thuần ngạc nhiên.

- Khi cậu tìm tới đây hôm đó là do mấy cái oan hồn này muốn cậu tới. Có phải cậu tới sau khi nhận được tin của bạn cháu?

- Phải, cháu nhận được thư của bạn cháu.

- Trong lúc cậu Phú đã chết trước đó lâu rồi!

- Dạ...

Bà lại thở dài:

- Tôi đã can ngăn mãi mà chúng không nghe. Nhất là con Hạnh tứ nương, nó cứ nằng nặc đòi chiêu dụ cho bằng được một người con trai, để nó được siêu thoát khỏi kiếp oan hồn! Trong cõi âm, những cô gái chết oan nếu muốn thoát kiếp thì cần có một người con trai tới, để cùng đi với họ. Cậu đáng lẽ đã chết ngay sau bữa tiệc ở khu vườn này đêm hôm đó, nếu không có cuộc cãi nhau rồi sinh huyết chiến giữa con Hoa Lê nhà tôi với ba cô Hạnh đó... chính người bạn tên Phú của cậu, đã cùng với con Hoa Lê chống lại ba chị em họ, giải thoát cho cậu khỏi bị bắt hồn. Và cũng từ đó những oan hồn tụ họp ở đây cũng vĩnh viễn ra đi. Tôi cũng không muốn lưu lại đây làm gì, bởi nhiệm vụ không cưỡng lại được trước đây, nay đã được giải thoát. Nhưng nghĩ đến cậu, nên tôi nán lại, gặp cậu lần nữa, nói cho cậu hiểu mọi chuyện, để cậu đừng đi tìm chị em nhà ấy nữa, họ là hồn ma cả đó...

Nghe kể tới đâu Thuần lạnh người đến đó. Anh xót xa:

- Dẫu sao cũng tội nghiệp họ.

Bà Tư cũng đồng tình:

- Chính vì thương họ nên tôi mới chịu đựng sự khống chế của họ, để giúp họ sống yên trong khu vườn này thôi, không ra ngoài phá phách thiên hạ.

Bà ra dấu bảo Thuần đi theo. Dẫn anh vào trong nhà, bà chỉ bàn thờ có năm bát nhang:

- Tôi thờ hết bọn họ ở đây, kể cả bạn cậu. Cậu cũng nên thắp cho chúng nó một nén nhang. Cậu yên tâm, từ nay chúng đã siêu thoát cả rồi, không hiện về nữa đâu.

Đốt nén nhang, Thuần khấn rất thành khẩn và đứng rất lâu trước bàn thờ họ...

Khi ra về, đi ngang qua khu vườn "Âm Hồn", tự nhiên Thuần bắt rùng mình...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Phần 5

Gánh hát đến đây hơn bốn ngày rồi mà trời thì mưa suốt do có một cơn bão lớn ngoài biển Đông, trời đất ủ dột, mây đen che phủ bầu trời, gió giông tơi tả những cành cây còi cọc. Chung quanh là núi, núi hiện ra với màu sắc lạ lẫm, nhăn nhó trong các ánh chớp lòe. Anh em nghệ sĩ đói meo.

Ở trong ngôi chợ chật hẹp, mưa lại dột tứ bề nên Minh Kim tự ý dọn vào một ngôi nhà vô chủ cách đó vài trăm thước và ở đó một mình. Nhà hoang nhưng vẫn còn mái che tốt, vách bốn bên chưa rách lắm nên Minh Kim có thể an ổn tránh được những cơn mưa làm nản lòng người. Tuy ở một mình có buồn thật nhưng Minh Kim vẫn thích thú khi nghĩ mình mới là người khôn ngoan, trong khi chờ đợi ngày đẹp trời đoàn sẽ có một ngày khua chiêng gõ trống để có một chút lương còm thì thà nằm bẹp dí ở đây còn hơn là cứ ngồi ủ rũ ở giữa chợ huyện bốn bề mưa tạt.

Theo Minh Kim, anh đã đi lưu diễn khắp bốn phương trời rồi nhưng chưa đâu có cảnh mưa lại buồn như ở đây. Gió mưa cứ phủ mờ trời đất. Xa xa là những dãy núi đen thẫm, mịt mờ trong bóng mưa trắng xóa.

Ngay đêm đầu tiên Minh Kim dọn ra ngôi nhà này nhiều nghệ sĩ đã dọa: "Mày có biết cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận chưa? Coi chừng!". Xếp đồ đạc vào một góc xong. Minh Kim ôm mền gối leo lên chiếc chõng tre ngồi đốt thuốc nhìn cảnh mưa giông lạnh lẽo đang xao động bên ngoài. Thấy lạnh anh chàng lại nhảy xuống mò vào bếp ăn cũ, may sao còn một số củi than. Loay hoay một hồi Minh Kim cũng gầy được lò than cháy đỏ tỏa hơi ấm.

Minh Kim thích thú ca mấy câu "xàng xê" rồi nằm dài trên giường đợi chờ giấc ngủ.

Mưa vẫn xối xả bên ngoài. Minh Kim cứ nằm đó trằn trọc mãi. Tâm trí chàng ta thả trôi đâu đâu, có lúc thấy như mình vẫn thức. Có lúc lại thấy như đang mơ...

Nửa khuya hình như cơn bão hơi tan mưa chỉ còn những hạt nhẹ. Bỗng dưng trong lúc nửa thức, nửa ngủ Minh Kim nghe có tiếng giọng nói của một phụ nữ:

- Anh kia ở đâu sao dám ngủ ở giường ta?

- Tôi là nghệ sĩ lang thang, xin cho tôi ở tạm đôi ngày rồi đi. - Minh Kim nói trong vô thức.

- Phải đi ngay. - Tiếng cười xa xăm.

- Trời mưa gió làm sao đi được? Thôi xin cho tôi được ngủ qua đêm rồi mai tôi sẽ dọn đi. - Minh Kim năn nỉ.

Một giọng cười nhạt:

- Ai tin nổi bọn đàn ông các người.

Minh Kim muốn trở dậy nhưng hai mắt cứ ríu lại. Rồi đột nhiên trong cảnh mông lung nửa hư, nửa thật Minh Kim thấy một khuôn mặt một người con gái với hai mắt sâu thẳm, đôi chân mày lá liễu với chiếc mũi dài thanh tú hiện ra. Đôi môi con gái đỏ mấp máy:

- Lâu rồi ta chẳng có đàn ông, chắc chàng là duyên số. Ta ở dưới này đã năm mươi năm rồi, ta lạnh lắm. Ta mong có ai ôm ấp ta.

- Dưới này là đâu?

Minh Kim lắp bắp hỏi. Cái miệng với đôi môi đỏ như máu thổi một hơi dài vào lò than sắp tắt. Lửa lại lóe sáng lên, ánh lửa tí tách nổ và bóng tối hòa trộn thành một thứ ánh sáng chập chờn có màu huyền bí kỳ dị. Và giữa làn ánh sáng ma quái ấy toàn thân người con gái dần dần hiện ra giống như pho tượng khỏa thân mà Minh Kim đã có lần nhìn thấy bên một ngôi tháp cổ. Song tất cả tấm thân gợi cảm ấy hình như được quấn quanh bởi một làn sương trắng lay động mờ ảo.

Người Minh Kim nổi gai ốc, tóc dựng đứng. Đây là ma quái yêu tinh rồi! Minh Kim quấn chặt tấm chăn lùi vào sát vách. Con mắt màu xanh chợt chớp lóe giống mắt con rắn lục thôi miên. Cái miệng mở ra tối tăm một nụ cười.

- Chàng định chạy trốn ta ư? Chàng đã đến đây rồi, ta yêu chàng thì chàng chạy đâu cho thoát? Thế giới của loài ma đâu có không gian, dù chàng có chạy xa ngàn dặm chỉ chớp mắt là ta vẫn ở bên chàng. Không sao đâu người yêu dấu, ta đâu có làm hại người.

Minh Kim líu ríu van xin:

- Cô ơi hãy tha cho tôi, tôi chỉ vô tình mạo phạm vào đây. Xin cho tôi được đi ngay!

Khuôn mặt xanh mét từ từ di chuyển đến sát mặt Minh Kim:

- Đi đâu hỡi chàng kép đẹp. Ở đây đêm khuya thanh vắng chỉ có ta và chàng, sao lại nỡ bỏ khoảnh khắc ngàn vàng này?

Tự nhiên chiếc chăn quấn quanh người Minh Kim như có ai kéo ra khỏi người anh ta và bay là đà lên trần nhà. Rồi cả áo quần Minh Kim cũng tự nhiên bung ra và bay vút lên cao. Một thân người con gái trắng nà như sương khói từ từ quấn lấy Minh Kim.

Một bàn tay nhẹ như làn gió thoảng đẩy chàng ta ngã xuống tấm chõng tre nứa. Minh Kim nghe tiếng thở dồn dập nhưng anh không rõ đó là tiếng thở của mình hay của ai. Hình như trời đất đang đảo lộn, hình như giữa mây và mưa đang quấn vào nhau trong một cơn bão lặng yên ma quái.
 
***

Buổi sáng Minh Kim thức dậy thấy mình trần truồng trong tấm chăn mỏng. Anh nghe người bải hoải như thể suốt đêm qua mình không ngủ được. Câu chuyện đêm qua hiện về Minh Kim chẳng biết chuyện đó là chuyện thật hay chỉ là giấc mơ ma quái? Đầu Minh Kim nặng trĩu, hai mắt mở không muốn lên.

Thấy đói, Minh Kim định đi ra chợ với đoàn hát song hai chân anh nặng trịch, người lảo đảo. Bỗng dưng Minh Kim thấy trên chiếc bàn tre xiêu vẹo có một rá cơm và mấy miếng khô rừng. Không nghĩ ngợi, Minh Kim ngấu nghiến ăn, hạt cơm thơm giống như cơm lam, còn mấy miếng khô rừng thì béo ngậy, rất hợp khẩu vị.

Đang ăn Minh Kim thấy mấy người bạn trong gánh hát đang đi tìm mình chỉ cách nhau có vài mét nhưng hình như họ không thấy anh. Minh Kim lên tiếng gọi họ nhưng tiếng anh lạc đâu vào một chốn xa xôi nào đó khiến chẳng ai nghe thấy. Dường như giữa anh và họ có một bức tường vô hình ngăn cách. Minh Kim thất vọng nằm xuống. Bất chợt anh nghe đâu từ ở dưới lưng anh sâu dưới lòng đất có một tiếng cười giòn tan sảng khoái:

- Đừng gọi họ vô ích chàng ơi! Bây giờ chàng là của em rồi, như vậy hai ta đã là của nhau. Chàng sẽ mãi mãi ở đây cùng thiếp.

Tiếng cười, tiếng nói như mơ hồ, văng vẳng chợt xa, chợt gần mà chẳng biết xuất phát từ nơi đâu.

Cơn bão vẫn chưa tan. Mới nắng ráo được một chút thì mây đen lại bao phủ, sấm chớp đầy trời. Rồi chỉ mươi phút sau cả bầu trời trở thành biển nước ào ào đổ xuống. Chung quanh là một làn mưa trắng xóa. Căn nhà hoang chìm trong một thứ ánh sáng lờ mờ lạnh lẽo. Chợt dưới ánh sáng của một tia chớp Minh Kim lại thấy cô gái ban đêm xuất hiện. Cô gái ngồi trên chiếc ghế tre, đôi mắt buồn bã. Hình như từ hồi có cô gái xuất hiện đến giờ ngôi nhà không còn lắc lư dù mưa gió bên ngoài đang gào thét dữ dội.

Minh Kim lo lắng nhìn cô thiếu nữ ma:

- Em ơi, em tên gì và từ đâu đến? Hôm nay sao người tôi bải hoải như sắp đau.

- Tại anh đêm rồi quá ham mê tửu sắc. Không sao đâu em có sẵn cái này cho anh uống. Uống xong sẽ khỏe ngay thôi. - Thiếu nữ hơi mỉm cười.

Rồi cô nàng vẩy tay, một cái chén màu lục từ từ bay về phía Minh Kim, một mùi hương như mùi hoa lài tỏa ra thơm ngát, sẵn đang khát, Minh Kim bưng lấy uống một hơi. Chỉ nửa khắc, chàng nghệ sĩ tha hương nghe một hơi nóng từ vùng đan điền dâng lên ngùn ngụt, đồng thời chàng cũng thấy một sự thèm muốn bốc cháy. Đôi mắt xanh màu rắn lục cũng lao về phía Minh Kim và họ quấn lấy nhau giữa tiếng gió mưa sấm chớp...

Sau một giấc ngủ ngắn nhưng Minh Kim lại ngỡ như mình đã thiếp đi lâu lắm, trời bắt đầu ngớt tạnh. Người con gái vẫn còn ở trong chăn với anh, Minh Kim nghe hương hoa lài sực nức bao trùm giữa hai người. Minh Kim mân mê ôm hôn cô gái:

- Hôm qua đến giờ chúng mình đã chung chăn gối với nhau mà em vẫn chưa cho biết tên em?

Tiếng cười giòn tan:

- Hai ngày qua em thấy chàng hạnh phúc quá nên tạm chưa nói đó thôi. Em là Sami mới tròn hai mươi lăm tuổi.

- Sao em nói em đã ở dưới ba, bốn chục năm rồi?

- Vâng đúng thế. Lúc chết em mới vừa hai mươi lăm tuổi. Nhưng chết cách nay đã ba bốn mươi năm rồi.

- Anh không tin em là ma đâu. Anh đang ôm em trong vòng tay đây này. Da em mịn màng, tóc thơm mùi hoa lài. Em phải là một tiên nữ mới đúng. Tiên nữ Sami ơi, đừng có dối anh. - Minh Kim cười sặc.

Sami cục cựa trong vòng tay của Minh Kim:

- Không, ma đấy...

Bất chợt trong chăn có tiếng gì đó lục cục và Minh Kim thấy như thể mình đang ôm một bộ xương người lạnh cóng. Minh Kim kinh hoàng định tung chăn bỏ chạy, song tiếng Sami lại ở bên tai Minh Kim:

- Anh làm gì thế, em đây mà.

Minh Kim sờ lại, vẫn là Sami với da thịt căng tròn và mùi hương lài nồng nặc bên mũi.

Sami vuốt ve nhè nhẹ sống lưng Minh Kim vỗ về:

- Anh ơi, đừng sợ, em sẽ kể cho anh nghe về cuộc đời bất hạnh của em. Em không phải là tiên nữ như anh bảo đâu. Xưa kia em chỉ là một cô gái chăn bò thuê nhưng có chút nhan sắc thế thôi. Em với đàn bò có khi cả mấy tháng ròng rong ruổi trong các thung lũng bên rừng, trong núi. Bò của em luôn mập khỏe hơn bò của đám bạn đồng nghiệp bởi vì chỉ có em mới biết mùa nào, tháng nào cỏ ở đâu ngon nhất. Tuy là con gái song em như con trai, chẳng sợ gì cả, luôn một mình trong rừng sâu núi thẳm với bầy bò rất khôn ngoan. Anh chưa biết đâu, đi chăn bò như em thú vị lắm. Đêm một mình trong núi mới thấy cái đẹp của vầng trăng, mới thấy rõ từng vì sao di chuyển trên bầu trời trong vắt...

- Ôi em kể chuyện nghe hay quá!

Một bàn tay trong chăn đè lên miệng Minh Kim.

- Đừng ngắt lời em. Hồi đó em mới đôi mươi thôi, tuổi con gái dậy thì mà, như hoa đồng cỏ dại trong rừng. Có những đêm trăng em nằm thao thức mãi với những ước mơ cháy bỏng trong đầu, không ai biết đâu, em từng mơ có đêm nào đó có một chàng hoàng tử từ một tinh cầu nào đó đi lạc đến chỗ em, chàng ấy sẽ gọi em là cô công chúa của rừng xanh và rồi chàng sẽ cúi xuống ôm hôn em. Và em đã chuẩn bị sẵn trong đầu những tư thế để mời gọi chàng ban cho em những cơn mưa tình ái. Thật vậy, còn gì sung sướng và hạnh phúc bằng khi người ta được tự do yêu đương, ân ái với nhau giữa cảnh rừng sâu núi thẳm? Trên trời có trăng sao vằng vặc, dưới lưng là nệm cỏ khô êm ái, bốn bề chỉ nghe cây rừng xào xạc trong gió thì đời người có mấy ai có những cuộc yêu đương huy hoàng tráng lệ như thế?

- Rồi có lần nào em gặp một hoàng tử như thế không?

Bàn tay trong chăn vả nhẹ má Minh Kim:

- Em đã bảo là đừng ngắt lời em mà. Vâng, giữa núi rừng hoang sơ, một cô gái tuổi dậy thì căng tràn sức sống làm sao lại chẳng mơ có được một người yêu tràn đầy sinh lực như thế đến với mình? Chắc chắn em sẽ không e dè, e lệ mà sẽ sẵn sàng nồng nhiệt buông thả. Và hình như trời đất không phụ em, chẳng những chỉ một hoàng tử mà có đến cả chục hoàng tử như thế. Đó là bọn vô công rỗi nghề dắt nhau đi đào vàng, kể cả đào mả mồ lâu đời mà chúng nghi có vàng ở dưới.

Mưa lại càng to, sấm chớp liên hồi. Trong chiếc chăn trùm kín hai người, Minh Kim nghe Sami run lẩy bẩy song cô nàng ma quái này vẫn thủ thỉ kể:

- Bọn đào vàng phát hiện ra em nên hôm nào chúng cũng lượn lờ chung quanh chiếc lều của em nằm bên chân núi giữa đàn bò. Có một tên mặt mày bậm trợn đến tán tỉnh em. Hắn hứa hẹn nếu đào được nhiều vàng thì hắn sẽ cưới em làm vợ. Và em tin hắn, ai ngờ hắn lừa đưa em lên núi để cả bọn cưỡng hiếp em. Rồi sợ em tố cáo bọn chúng đã giết em giấu xác dưới kia. Từ đó em là con ma lạc lõng giữa nơi này.

Tuy giọng nói nghe như sầu như thảm nhưng chỉ một lúc sau Sami vẫn tìm cách rủ rê Minh Kim vào chuyện mây mưa.
 
***

Từ đó Minh Kim như một người tù bị giam lỏng, mỗi ngày khi sáng thức dậy đều có một mâm cơm để sẵn đó, Minh Kim ăn xong rồi chỉ có nằm, sức khỏe ngày một yếu, Minh Kim nghĩ mình sẽ chết nếu chẳng tìm cách trốn đi. Có một buổi sáng trời quang đãng khi thấy con ma Sami không xuất hiện, Minh Kim tìm cách bò ra ngoài. May sao có người đi qua anh năn nỉ người ta chở anh về đoàn hát.

Bạn bè đồng nghiệp thấy anh thân tàn ma dại vội đưa anh đến một trạm xá huyện nhờ cứu chữa. Ai cũng cho rằng Minh Kim do ham mê chơi bời nên vướng nhằm bệnh hiểm. "Vậy mà đêm ấy..." Minh Kim bồi hồi kể lại:

- Đêm ấy tôi nằm nơi trạm xá, trời trong trăng tỏ, giường tôi nằm ở kế bên cửa sổ nên có thể nhìn ra bên ngoài. Chỉ có mấy ngày đêm ân ái với Sami mà tôi thấy như tôi đã già thêm chục tuổi. Tay chân nhấc không lên, hai mắt trỏm lơ vô hồn mặc dù người ta có vô cho tôi mấy chai nước biển. Tôi nghĩ mình sắp chết đến nơi rồi, nước mắt chảy dài khi tự hỏi mình còn được mấy lần nhìn con trăng nơi đất khách quê người này nữa? Vào khoảng một giờ đêm tôi nghe tiếng cú rúc ở phía đầu hồi trạm xá. Vầng trăng đang tròn sáng bất chợt có một đám mây đen như tấm áo choàng của những tay phù thủy từ từ bay tới che khuất. Ngay lúc đó một giọng cười đanh như đang giận dữ nổi lên:
 
- Chàng định bỏ trốn thiếp phải chăng? Mà ai có thể trốn được bạch cốt Sami này chứ? Ta lại về tổ ấm thôi chàng ạ, ta cần chàng, ta đang thèm chàng.

Môi Minh Kim run run xúc động, khuôn mặt như tái đi khi anh hồi tưởng lại chuyện xưa:

- Rồi tự nhiên tôi thấy người tôi nhẹ hẫng như đang từ từ bay qua khung cửa sổ. Gió bên tai nhè nhẹ thổi, người tôi chông chênh như con thuyền trên sóng hay như một bóng mây bay bồng bềnh trên không. Thời gian có lẽ chưa uống cạn tuần trà tôi bỗng thấy người mình rơi mạnh xuống. Toàn thân đau nhức. Mở mắt ra tôi lại thấy mình nằm trên chiếc chõng tre của căn nhà hoang. Sami đã ngồi ở đó hồi nào, đầu đội chiếc khăn trắng, hai mắt xanh màu lục, chiếc mũi hếch lên cười lạnh lẽo:

- Thấy chưa, anh lại về đây rồi. Bây giờ hãy uống một chút thuốc tiên cho cường dương bổ thận nhé.

Tôi biết cô ta muốn gì nên cắn chặt hai hàm răng lại. Nhưng cánh tay cứng như thép của Sami đã bóp mạnh vào quai hàm tôi và tôi nghe có một thứ nước thơm mùi hoa lài chảy tọt vào mồm. Thôi chết rồi, lại cái thứ nước làm cho con người mê sảng trong thú vui nhục cảm. Quả vậy, chất nước đó mới tràn vào đến bụng của tôi chưa đến một phút đã thấy một làn hơi ấm nóng dâng lên, cả người tôi đột nhiên phấn chấn ham muốn. Tấm áo choàng màu đen của Sami chợt từ từ rơi xuống để lộ tấm thân nõn nà và trắng như sương tuyết. Và như bị ma ám, quỷ giục tôi lao vào cô ấy như thể mình chưa hề bệnh hoạn. Cả đêm như thế đã mấy lần Sami đổ thuốc và tôi đã mấy lần đắm đuối trong vòng tay siết chặt của Sami mặc dù trong thâm tâm của tôi vẫn hiểu rằng, càng ân ái với Sami bao nhiêu thì tôi sẽ đi gần đến cái chết bấy nhiêu.
 
***

Con ma Sami đã ba đêm liền hành hạ Minh Kim như thế, song đến ngày thứ tư chẳng biết vì sao nó lại không đến. Ráng chút sức tàn Minh Kim bò lết ra đường rồi nằm vật ra dưới bóng một góc cây.

Đang lúc thoi thóp chợt Minh Kim nghe có bàn tay ai đó đặt lên bụng mình và một giọng nói thảng thốt cất lên:

- Chú em này đã bị ma quỷ ám nặng rồi. Nếu không gặp ta thì chẳng còn ai cứu nổi.

Minh Kim mở mắt và trông thấy một cụ già quắc thước mình mặc áo chàm lưng mang một bầu rượu. Ông lấy chiếc bầu vạch miệng đổ cho Minh Kim một chất rượu màu hồng hồng thơm thơm mùi quế. Uống xong độ nửa khắc Minh Kim nghe người tỉnh táo lại, đầu óc có sáng hơn. Ông cụ hỏi nguyên do, Minh Kim thật tình kể lại đuôi đầu câu chuyện.

Ông cụ lấy bàn tay xoa xoa vào trán Minh Kim rồi bảo:

- Nếu không có ta, chỉ đêm mai là người phải chết. Hồn ma con Sami đã biến thành quỷ rồi. Nó chết không phải do ai cưỡng hiếp mà là do bị hổ vồ, loại ma này là ma trành, luôn dẫn dụ nạn nhân khác đến để cho hổ tinh vồ tiếp để thay cho hồn nó. Nhưng con ma trành này đã thành tinh rồi nên nó quyến dụ người để hút lấy tinh khí. Nếu hút đủ trăm người nó sẽ hóa thành yêu quái.

Minh Kim kể rằng sau đó ông cụ mang anh ta về ở trong cái am của mình bên chân núi và dặn anh không được bước chân ra ngoài. Mười ngày sau ông đeo cho Minh Kim một lá bùa rồi dẫn về ngôi nhà hoang cũ. Ông đóng từ trên chiếc chõng tre xuống sâu mặt đất một cây sắt nhọn và dài rồi bắt anh ngồi sau lưng, còn ông thì lâm râm đọc một bài kinh kệ gì đó rất lâu.

Minh Kim lơ mơ ngồi im nghe tiếng tụng niệm mơ màng của ông cụ già khi như gần lúc như xa.

Độ ba giờ mấy khắc, chợt thấy mây đen kéo tới chớp giật đầy trời. Rồi bất ngờ một luồng sét sáng xanh đánh xuống thanh sắt vang lên một tiếng nổ long trời lở đất. Sau đó mây tan gió ngừng. Ông cụ kéo chàng đứng dậy.

- Xong rồi, con ma đã bị thiên lôi đánh chết, con đã được an toàn rồi.

Minh Kim kể rằng, khi ông cụ đưa anh đến chỗ ngôi nhà hoang, căn nhà đã cháy, chỉ còn lại một đống tro than âm ỉ. Chung quanh ngôi nhà vung vãi những mảnh xương trắng hếu. Một chiếc đầu lâu nằm lăn lóc, hàm mở hoác ra như đang cười.

Ông cụ mặc áo chàm mắt lộ hào quang, khều một mảnh xương rồi nói với Minh Kim:

- Con xem đây, xương của nó nhờ hấp thu sinh khí của những người đàn ông mà có những vân máu đây. Nếu như xương nó mà hoàn toàn hấp thu đủ một trăm người đàn ông thì nó sẽ hóa màu hồng, chừng đó con ma trành này sẽ biến thành yêu tinh, khó ai trừ nổi.
 
***

Năm nay người nghệ sĩ già Minh Kim đã giải nghệ. Anh nói tuy không còn dám đi đâu ở những vùng rừng núi, tuy nhiên lâu lâu trong những giấc mơ anh vẫn còn trông thấy Sami với đôi mắt xanh màu rắn lục vẫn nhìn anh chằm chằm như hờn oán rồi chỉ phút giây sau là tan biến.

Nhắc lại chuyện xưa mà khuôn mặt Minh Kim vẫn còn tái xanh vì sợ, song anh lại thở dài sườn sượt:

- Sau mỗi giấc mơ dù sợ hãi vì những ám ảnh khó quên, song tôi vẫn còn những hoài niệm về cô gái ma tên Sami, hoài niệm về những đêm yêu đương ma quái của một thời trai trẻ lang bạt kỳ hồ đã qua...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-04-27 07:44:13Soccon>
Quyển XXXII:
TÌNH MA


Phần 1
 
Bà giáo Nhơn ngăn không cho cô con gái lớn gọi Thiện dậy:

- Hãy để cho nó ngủ nướng thêm chút nữa. Có mấy khi về nhà nghỉ hè mà bắt thức sớm như dân nhà quê tụi mình, tội nghiệp tụi nó.

Thoa, cô chị lớn chỉ mâm thức ăn đã dọn sẵn:

- Thức ăn nguội hết rồi kìa má. Thằng Thiện khoái ăn món trứng chiên với củ cải mặn, dặn con hễ sáng dậy là cho nó ăn liền. Má quên là tối qua tụi nó nhậu suốt, có ăn uống gì đâu.

- Ừ, thì để năm mười phút nữa.

Vừa chợt có tiếng của Thiện sau lưng:

- Nói xấu gì con đó!

Anh vươn vai sà lại chỗ mẹ, nhõng nhẽo:

- Phải cho con trai má ăn ngon à nghen, chị Hai!

Kim Thoa ganh tị:

- Má cưng con trai, cái gì cũng để cho thằng Thiện, dành cho thằng Thiện! Đúng là con trai rượu không bằng!

Thiện cười lớn:

- Người ta nói con gái rượu, chứ thuở đời làm gì có con trai rượu?

Thoa được dịp kể lể:

- Vậy mà bà già coi mày còn hơn là con trai rượu nữa! Bữa kia chính má nói với vợ chồng ông Cả Thì là má còn thằng con trai rượu, ai kêu gả con cách mấy cũng chưa nhận lời?

Thiện cười càng to hơn:

- Như vậy phen này thằng con trai má sẽ uống rượu mệt nghỉ, ai rắp ranh thì hãy nhào vô, rượu khui tràn bàn mới mong nói chuyện cưới xin nghe chưa!

Kim Thoa xỉ xỉ vào mặt em:

- Chưa gì đã lớn lối rồi, coi chừng ế dài ra đó nghe không cưng!

Cả nhà đúng là ai cũng cưng chiều, thương yêu Thiện, bởi anh là con trai độc nhất trong số năm người con của ông bà giáo Nhơn. Mà cũng phải thôi, bởi Thiện là người duy nhất của dòng họ, nếu không muốn nói là độc nhất của làng này có được bằng cấp tú tài, lại đang học tại Sài Gòn nữa. Khỏi phải nói cũng hiểu là Thiện được cả làng chú ý. Đã nhiều nhà ngắm nghía anh để nhằm gả con gái họ!

- Thằng Thiện chơi xấu bác ơi, hứa kêu tụi cháu dậy sớm ăn điểm tâm mà không kêu!

Hai người bạn của Thiện cùng về chơi kỳ hè này, họ là Bảo và Trung. Bảo còn nói:

- Bữa nay Thiện còn hứa dẫn tụi con đi chơi khắp vùng này nữa đó bác!

Bà giáo cười hiền hoà:

- Ở đây là vùng quê nghèo, sợ e tụi con mới đi một chút đã chán rồi!

Trung ra chiều thích thú:

- Ngoài ra, Thiện còn hứa là sẽ làm mai cho tụi con mấy cô nữa đó bác!

Kim Thoa nguýt yêu em trai mình:

- Thân nó còn chưa xong, làm tài lanh hứa hẹn với người khác!

Trung mau miệng:

- Nó đã có rồi, còn giấu đó chị Hai.

Thấy bạn tài lanh, Thiện lừ mắt:

- Ai mượn mày vậy, thằng khỉ gió!

Kim Thoa đâu chịu yên:

- Thật vậy hả Trung? Quá cỡ thằng này rồi má ơi, nó có bồ mà giấu!

Bà giáo cũng nhìn con, hỏi nghiêm túc:

- Phải không con?

Thiện xua tay lia lịa:

- Nó nói xàm mà má cũng tin! Cái thằng...

Thiện đuổi Trung chạy vòng vòng, cho đến khi Kim Thoa nhắc:

- Vào ăn đi kẻo thức ăn nguội hết kìa!

Món trứng chiên với củ cải mặn là đặc sản của nhà này, nó lạ miệng nên ba chàng trai ăn một hơi đã hết dĩa thức ăn lớn, mà còn đòi thêm:

- Còn không chị Hai, ngon quá!

Kim Thoa đã chuẩn bị sẵn một chảo nữa, nên đáp ứng được ngay cho ba cái tàu há mồm. Họ vừa ăn vừa hứng chí bàn chuyện bao đồng:

- Phải chi có mấy cô quen xứ này mình rủ cùng chơi cho vui há!

Trung bảo:

- Gái xứ này thì phải hỏi thằng Thiện.

Kim Thoa che miệng cười:

- Nó dám quen đứa nào tao cùi liền!

Bảo ngạc nhiên:

- Sao vậy chị Hai? Thằng Thiện nổi tiếng trong trường là đào hoa, cua gái bá phát bá trúng đó!

Bà giáo cười vui, thêm vào:

- Vậy mà về đây nó im re, không dám nói chuyện với đứa con gái nào hết!

- Tại vì nó có...

Bảo định nói, nhưng kịp ngừng lại với cái nhìn sắc như dao cạo của Thiện. Lần này chính bà giáo lên tiếng hỏi:

- Chuyện gì vậy con?

Thiện hơi ngập ngừng:

- Dạ... đâu có gì đâu má...

Chừng như để tránh lôi thôi, Thiện ngừng ngang bữa ăn, giục hai bạn:

- Mình đi cho sớm!

Cả ba chỉ mang theo mỗi người một chiếc nón rồi chạy bay ra ngoài. Kim Thoa phải gọi giật lại:

- Đem theo bình nước mà uống, ngoài đồng nước mặn, không uống được đâu!

Bảo nói với lại:

- Tụi con sẽ ghé nhà mấy cô gái uống nhờ!

- Không có nhà nào ngoài đó hết!

Thiện cũng biết vậy nên trở lại nhờ chị mình lấy cho bình nước mang theo. Kim Thoa dặn:

- Đi chơi nhớ trưa về ăn cơm.

Bà giáo cũng bảo:

- Ăn uống dọc đường nên coi chừng, bụng dạ con không tốt...

Thiện vừa chạy đi vừa nói với lại:

- Con má đã lớn rồi mà, có còn là thằng Thiện con nít nữa đâu.

Thoát ra khỏi nhà vừa hơn trăm bước thì Thiện đã nghe có người gọi tên mình:

- Thiện ơi, về hồi nào mà không báo cho anh em gì hết.

Quay lại, Thiện reo lên:

- Ô Tùng, Sanh, tụi bay lớn như người lớn rồi!

Hai người bạn quê của Thiện tuy bằng tuổi, nhưng do là nông dân nên tướng tá bặm trợn, to lớn. Họ nhìn mấy người bạn của Thiện có vẻ ngưỡng mộ. Thiện giới thiệu:

- Đây là Bảo và Trung, hai người bạn trên Sài Gòn của mình.

Sanh và Tùng hơi rụt rè khi bắt tay. Thiện phải phá tan sự e dè đó:

- Tụi bay có rảnh không, dẫn tụi này đi chơi xuồng với?

Sanh hào hứng ngay:

- Được liền! Tụi này cũng đang ra đồng, sẵn mình đi theo luôn!

Thích thú nhất là Bảo và Trung. Hai anh chàng lần đầu được về quê và đi xuồng len lỏi qua những rừng dừa nước, tha hồ nhìn ngắm những con cá lội tung tăng, những con chim dạn dĩ bay lượn ngay trước mũi xuồng.

Tùng đề nghị:

- Mình bơi xuồng qua bên cồn ông Hội đồng chơi. Bên đó có nhiều trứng rùa, mình đào trứng luộc ăn chơi!

Bảo nghe là khoái liền:

- Vụ này nghe đã à nghen!

Thiện hỏi:

- Bên đó vẫn còn cái nghĩa trang chớ?

Sanh nói:

- Thì cái cồn đó nằm trong đất của ông Hội Đồng nên ổng lấy nguyên cái cù lao rộng bằng chục cái sân banh làm nghĩa địa riêng cho dòng họ mình. Nghĩa trang nhà giàu nên cái mả nào cũng lát đá cẩm thạch láng bóng, ngôi mộ nào cũng khang trang, bề thế, chẳng khác nào nhà xây cho người sống ở!

Chỉ một lúc sau, họ đã có mặt ở cồn ông Hội đồng. Quả đúng như lời của bọn Sanh, Tùng kể, khung cảnh cồn thật thú vị, nó biệt lập và yên tĩnh một cách đáng ngạc nhiên. Khu nghĩa trang nhà ông Hội đồng đúng nghĩa trang của nhà giàu. Dù nhiều ngôi mộ đã chôn khá lâu, nhưng xem ra ngôi nào cũng mới và bóng như gương đến đỗi Trung phải buột miệng:

- Nghĩa trang này còn sạch hơn là khu nhà ở của tao nữa?

Sau khi đi một vòng giáp chung quanh cồn, chính Thiện đề nghị:

- Mình dọn sạch chỗ kia, ngồi nghỉ chân chơi!

Chỗ Thiện chọn là một khoảnh đất trống nằm dưới tàn một cây cổ thụ, mà vừa nhìn lên thấy có nhiều trái!

Bảo đã reo lên:

- Ồ, trái đầy hết, để tao leo lên hái xuống ăn!

Tùng nói:

- Đây là cây sabôchê lâu đời, trái ăn rất ngọt, nhưng có lẽ nằm hẻo lánh bên này nên hầu như chẳng ai hái trái. Nhưng...

Anh ta muốn ngăn không cho hái, tuy nhiên vừa lúc ấy Bảo đã nhanh chân phóng lên ôm chặt thân cây to.

Anh chàng còn khoe:

- Tôi là vô địch về leo cây mà!

Nhìn anh chàng thoăn thoắt leo lên, đến Sanh cũng phải khen:

- Anh bạn leo hay thật!

Nhưng lời khen chưa dứt thì đã thấy tự dưng Bảo buông tay rơi từ khoảng trên ba mét xuống! Thiện hốt hoảng, vừa nhảy tới đón ngay nơi Bảo rơi vừa la lớn:

- Trời ơi, Bảo!

Cũng may là Thiện lao tới kịp thời, cả thân người anh làm tấm đệm lót cho Bảo rơi xuống. Cả hai cùng ngã, nhưng xem ra Thiện bị đau hơn!

Cả bọn chạy ùa tới, lo lắng hỏi:

- Có sao không?

Bảo nhăn nhó bò dậy, trong lúc Thiện phải được đỡ lên. Anh càu nhàu:

- Thằng Bảo này nặng thấy cha luôn, chắc tao gãy mấy cái xương sườn rồi!

Nhưng cũng may, cả hai đều không hề hấn gì. Lúc ấy Bảo mới kể lại:

- Tôi đang leo ngon lành, bỗng như có ai dùng chân đạp mạnh vào mặt làm tôi đau điếng, phải buông tay ra ngay!

Sanh nói như vừa phát hiện ra điều gì:

- Phải rồi, giống y như năm ngoái thằng Tửng con chú Hía cũng bị như vậy, phải nằm nhà thương mấy tháng đó!

Thiện quan tâm, hỏi:

- Mày nói nghe coi, nó bị sao vậy?

- Thì nó cũng leo cây giống bạn này, lên tới nửa cây thì như bị ai xô, ngã nhào xuống, cắm đầu xuống đất bùn. Cũng may là đất mềm nên không chết, chứ độ cao đó thì khó mà sống được!

Thiện trách:

- Đã từng có chuyện như vậy sao lúc nãy mày không nói, để nó...

Tùng chêm vào:

- Thằng Tửng sau đó thuật lại rằng, nó đang leo thì có cảm giác như có ai đó dùng tay kéo nó. Mà bàn tay đó như tay con gái, vừa mềm vừa lạnh như băng!

Một dịp để cả bọn tán hươu tán vượn quanh chuyện đó. Trung là người luôn quan trọng hóa mọi chuyện, anh chàng bảo:

- Người ta nói những cây trồng trong nghĩa địa thường bị các hồn ma nhập, nên không dễ cho người ngoài leo lên!

Thiện đùa nhằm làm dịu đi câu chuyện đang đi vào huyền bí:

- Thay vì hái trái phá phách, bây giờ ta đem đồ ăn ra, trước khi ăn ta cúng vái thì chắc sẽ không ai quở trách gì...

Anh có mang theo mấy bịch bánh ngọt liền bày ra tờ giấy báo rồi bảo Sanh:

- Cậu coi có ngôi mộ nào còn sót lại nhang cúng không?

Thường thì người đi cúng mộ hay bỏ lại số nhang cúng thừa. Và quả Sanh tìm được hơn nửa ốp nhang, luôn cả cái hộp quẹt:

- Có sẵn đây!

Đích thân Thiện đốt nhang vái khá dài, nhưng không ai nghe được lời vái của anh. Bảo phải lên tiếng:

- Tao không biết vái, mày phải vái lớn lên để tao còn bắt chước nữa chứ!

Tùng chen vào:

- Một người đại diện cúng vái được rồi!

Một cách tự nhiên, sau cuộc cúng vái đó, không khí cuộc vui hơi chùng xuống. Bảo cứ thắc mắc mãi chuyện mình bị ngã, anh nói:

- Tôi leo cây từ lúc sáu tuổi, chưa bao giờ bị ngã, dẫu có nhiều cây còn cao và khó leo hơn cây này nhiều. Tôi có cảm giác như là...

Mặc dù không muốn nhắc lại hiện tượng huyền bí, nhưng đó là đề tài hấp dẫn, nên không hẹn mà mọi ý nghĩ đều tập trung vào một ý:

- Oan hồn thường bám trên cây lắm!

Đó là nhận xét của Tùng. Anh ta còn nói thêm:

- Sau vụ ngã của thằng Tửng năm ngoái, hầu như chẳng ai dám leo lên cây ở đây nữa. Mấy bồ không thấy người ta còn lập cái miếu thờ ở gốc cây bên kia sao?

Tùng đưa tay chỉ sang một gốc cây gần đó. Lúc này Bảo mới chợt rùng mình, anh nói khẽ với Thiện:

- Sao tao muốn nằm ngủ quá!

- Sao vậy?

- Chẳng sao hết, chỉ thấy buồn ngủ thôi có lẽ tại tối qua thằng Trung ngáy quá làm tao ngủ không được.

Rồi không đợi ai có ý kiến gì, Bảo đã xách một tờ báo chạy đi tìm một nơi mát mẻ, bằng phẳng, trải tờ báo và nằm ngủ một cách ngon lành! Thiện nói:

- Kệ nó, thằng ấy dễ ngủ như vậy đó. Cứ để mặc cho nó ngủ một lát. Còn tụi mình bỏ chuyện kia đi, ta hát hò cho không khí vui lên.
 
Sanh nảy ra một ý:

- Sao ta không kiếm chút gì cay cay cho vui?

Thiện lắc đầu:

- Tụi này không đem theo rượu. Vả lại...

Nhưng Sanh đã đứng lên nói:

- Mấy bồ ở đây, tôi bơi xuồng về bên nhà lấy chai rượu sang, có cả chùm khô sặt nữa, chơi hết ý nghen!

Dĩ nhiên không ai phản đối ý kiến đó, nên Sanh thực hiện ngay. Chỉ chưa đầy hai mươi phút sau, Sanh đã trở lại với chùm khô sặt rằn và chai rượu đế trên tay. Anh chàng còn khoe thêm:

- Có cả mấy trái xoài sống, tao lấy theo luôn!

Thế là đủ bộ ăn chi! Thiện phải nói:

- Lỡ rồi mình chơi luôn, chứ má tao mà biết mình uống rượu bả chửi chết!

Có rượu vào, không khí xôm tụ lên ngay. Tùng nhắc:

- Sao không kêu anh bạn kia dậy, chơi cho vui!

Chợt nhớ tới Bảo, Trung vừa định chạy đi kêu thì đã thấy Bảo vừa chạy về vừa hớt hải:

- Kỳ... kỳ quá tụi bay ơi! Tao... tao...

Mọi người ngạc nhiên:

- Gì nữa vậy?

Bảo lắp bắp:

- Tao đang ngủ thì... có... có ai đè lên tao!

Bọn họ cười rộ lên:

- Bị ma đè rồi!

Bảo nghiêm giọng:

- Tao bị đè thật. Người đè tao còn muốn bóp cổ tao nữa!

Tùng nhận xét:

- Đó là bị bóng đè thôi! Thường thì khi ngủ ở những nơi không bình thường hay chỗ lạ, người ta hay bị bóng đè, bóng có thể là ma hay cũng có thể là cái vía của mình yếu.

Mặc dù cách giải thích của Tùng không thuyết phục lắm, nhưng để cho Bảo bớt hoang mang, Thiện đã nói:

- Tại thằng Bảo hay mơ thấy người đẹp nên bây giờ người đẹp tìm nó đó!

Mọi người cùng phá lên cười, khiến Bảo đổ quạu:

- Tao nói thật mà tụi bay không tin, để chừng tụi bay bị thì biết!

Lít rượu đế chẳng mấy chốc đã cạn, hầu hết đều đã ngà say, ngoại trừ Bảo do bần thần trong người nên không uống và còn tỉnh, nhưng chỉ ngồi dựa gốc cây mà lim dim chớ không còn hoạt bát như lúc đầu. Riêng Thiện thì tuy có bừng bừng hơi men, nhưng anh vẫn còn tỉnh hơn các bạn, anh rủ Bảo:

- Mình đi một vòng quanh đây chơi đi.

Bảo xua tay:

- Tao chỉ muốn ngủ thôi.

Anh chàng lại như muốn ngủ, còn các bạn kia thì mạnh ai nấy nguẹo đầu vào nhau mà hát nhừa nhựa như dĩa hát bị rè. Thiện đứng dậy thả bộ về phía trước mặt.

Thật ra, anh đang đi sâu vào bên trong khu nghĩa địa không rộng lắm.

Dừng chân lại bên một ngôi mộ màu trắng toát, khác với những mộ chung quanh, Thiện đưa mắt nhìn lên mộ bia và giật mình, lẩm bẩm:

- Đẹp quá!

Anh đọc được dòng chữ ghi bên dưới bức chân dung cô gái thật đẹp: Lê Thị Anh Đào. Một lần nữa, Thiện lại buột miệng khen:

- Người đẹp mà cái tên cũng đẹp!

Có lẽ trong đời Thiện, đây là lần đầu anh nhìn thấy một cô gái có khuôn mặt vừa đẹp lại vừa phúc hậu như cô gái có ảnh chân dung trên ngôi mộ này! Nhìn ngắm có hơn mười phút, nhưng vừa định bỏ đi thì hai chân Thiện cứ như bị chôn chặt, anh lại tiếp tục nhìn. Đôi lúc Thiện có cảm giác như bức ảnh có sức hút gì kỳ lạ lắm!

- Thiện ơi, về thôi, trời sắp mưa rồi đó!

Tiếng kêu của Tùng khiến Thiện giật mình, anh phải đưa tay dụi mắt mấy lượt thì người mới tỉnh lại. Anh có cảm giác như mình vừa trong cơn mơ...

Quay bước đi mà Thiện không cưỡng được, cứ ngoắt lại nhìn...

- Về đi cha ơi, bộ khoái cảnh nghĩa địa sao chứ!

Sanh chạy tới chỉ vài ngôi mộ chung quanh nói:

- Mộ này ngôi nào cũng xây cách đây hơn chục năm. Chỉ có vài ngôi trong kia là mới.

Thiện hỏi đột ngột:

- Mộ đó là của ai vậy?

Sanh ngơ ngác:

- Mộ nào?

Chỉ tay vào trong, Thiện nói:

- Ngôi mộ trắng của cô gì đó.

Sanh tỏ ra rành rẽ:

- Đó là mộ cô con gái út ông Hội đồng, mới chết cách đây hơn ba năm.

- Có phải tên là Anh Đào không?

- Mày biết?

- Sao không biết. Hồi đó tao còn học chung với nó nữa. Con nhỏ đẹp hết ý luôn vậy mà yểu mạng.

Thiện lại càng tò mò thêm:

- Năm nay nếu còn sống thì cô ấy bao nhiêu tuổi?

Sanh không cần suy nghĩ, đáp liền:

- Thì cỡ tuổi tụi mình. Mày không nhớ, chứ hồi tao, mày, Anh Đào có chơi chung với nhau.

Thiện cố nhớ nhưng lắc đầu:

- Lâu quá rồi tao không nhớ...

Sanh reo lên:

- Tao nhớ rồi, hồi tụi mình học lớp Tư, có bữa đứa con gái chơi chuyền chuyền thảy trái banh lên, mày đi ngang chụp lấy rồi đem giấu làm con nhỏ mất banh khóc mù trời. Mày nhớ sau đó mày phải đem trái trả rồi còn phải xin lỗi nó, và còn phải đưa cái khăn của mày cho nó lau nước mắt...

Thiện cũng leo lên:

- Đúng rồi! Sau đó tao đi lên Sài Gòn học luôn không kịp lấy lại cái khăn tay!

- Rồi, mày nhớ ra rồi. Con nhỏ đó đó. Hồi nhỏ cũng bình thường, nhưng càng lớn càng đẹp. Đẹp não nùng luôn, làm cho bao nhiêu trai tráng xứ này phải hồn lạc phách xiêu vì nó! Vậy mà con nhỏ không thèm tới ai cả, thế mới lạ!

- Chắc tại cô ấy có người nào khác...

Sanh quả quyết:

- Chắc chắn là không! Tao dám nói chắc như vậy vì ngày nó chết không có ai tới đưa tiễn cả!

Thiện nhớ lại gương mặt như tiên nga trong bức ảnh, anh lẩm bẩm:

- Hồng nhan bạc phận!

Sanh nghe không rõ, hỏi lại:

- Mày nói ai?

- Cô Anh Đào! Một người đẹp như thế mà lại chết trẻ, có phải trời bất công lắm không?

Nghe giọng điệu hơi lạ của bạn, Sanh ngạc nhiên nhưng không hỏi lại, anh ta giục:

- Thôi, mau về đi, trời sắp mưa rồi!

Đi được vài bước, Sanh bỗng hỏi:

- Mày có vợ chưa Thiện?

Thiện cười, nhún vai:

- Học trò nghèo như tao thì làm sao lấy được vợ như ý trong thời buổi này!

Sanh kề tai bạn nói nhỏ:

- Phải mày còn ở xứ này mấy năm trước thì dám tụi bay là cặp đôi của nhau lắm à.

- Mày nói cặp đôi với ai?

- Thì con Anh Đào! Con nhỏ con nhà giàu mà lại không thích đám công tử con nhà quyền quý. Đã có biết bao nhiêu đám tới dạm hỏi mà đều bị nó khước từ. Thậm chí nó nói thẳng là chỉ ai học giỏi nó mới ưng! Mà học giỏi thì xứ này e rằng chỉ có mày thôi!

Suốt gần hai mươi phút ngồi xuồng trở về, hầu như lúc nào trong đầu Thiện cũng ẩn hiện gương mặt thanh tú ấy. Có lúc mải mê theo đuổi ý nghĩ riêng tư mà Thiện quên cả trả lời câu hỏi của mấy người bạn. Bảo phải lên tiếng:

- Mày sao vậy Thiện?

Thiện giật mình quay lại, đáp chẳng ăn nhập gì câu hỏi của bạn:

- Trời đêm nay mưa lớn phải biết!

Trung phải cảnh báo:

- Hết thằng Bảo rồi lại tới thằng Thiện tụi bay giống mấy đứa bị ma bắt hồn quá!

Sanh và Tùng đều cười và phụ họa:

- Coi chừng tụi nó ma nữ về nhập hồn cũng không chừng! Ai bảo tụi bay đẹp trai lại học giỏi làm chi!

Bảo nhún vai:

- Ma không dám bắt được hồn tao đâu, chỉ có tao đi tìm hồn chúng để bắt đấy!

Thiện lừ mắt nhìn bạn:

- Mày giỏi tài nói tào lao!

Cả bọn về tới nhà đã bị một trận rầy nên thân. Bà giáo nhìn thấy Thiện và hai người bạn đều ngà ngà say nên càng la dữ:

- Từ ngày mai tao cấm mấy đứa đi chơi mà uống rượu nghe chưa!

Thiện biết lỗi nên sau khi tắm rửa đã rút vô phòng nằm im re.

Nửa đêm hôm đó, bỗng nghe Kim Thoa la to:

- Thằng Thiện sao vậy má ơi!

Bà giáo chạy vào phòng thì thấy Thíện nằm im, người sốt thật cao! Tri hô lên, nhiều người chạy tới thì hầu như Thiện không còn biết gì nữa...
 
***

Một cô gái lạ vừa xuống xe đò ở ngã ba Thầy Cai thì đã gây chú ý tới mọi người. Bởi cách ăn mặc của cô nàng nổi bật giữa mọi người bình dị xứ này. Cô chưa lên tiếng hỏi thì một anh chàng đạp xe lôi đã lên tiếng hỏi ngay:

- Cô Hai về đâu vậy?

- Xóm nhà máy xay.

- Đi bộ thì hơi xa, còn nếu cô Hai lên xe tôi sẽ đạp chỉ hai hơi là tới liền! Mà cô Hai kiếm nhà ai ở đó?

Cô gái phải lật cuốn sổ tay ra thì mới hỏi đúng người cần tìm:

- Nhà bà giáo Nhơn, anh biết không?

Anh chàng đạp xe reo lên:

- Tưởng ai chứ nhà bà giáo thì tôi rành sáu câu! Nhà đó có cậu con trai đi học Sài Gòn mới về phải không?

Cô gái mừng vui ra mặt:

- Vậy là đúng rồi! Anh làm ơn đưa tới đó giùm.

Được đạp xe cho người đẹp nên anh chàng có vẻ hứng chí lắm, vừa đạp nhanh vừa huýt sáo vang đường. Vừa qua khỏi ngã ba thì có người đi ngược chiều hỏi lớn:

- Mày có đi vào xóm nhà máy xay thì lượt về chở người trong nhà bà giáo Nhơn ra bến xe, họ chờ nãy giờ mà chưa có xe đó.

Nghe tới tên bà giáo Nhơn, cô gái hỏi liền:

- Có phải bà giáo mà tôi vừa hỏi anh không?

Anh chàng đáp ngay:

- Đúng rồi, ở đây chỉ có mỗi bà giáo Nhơn đó chẳng hiểu sao nhà đó từ hôm qua đến nay có khách liên tục, giống như sắp đám cưới vậy!

Cô gái như bị điện giật:

- Đám cưới? Mà cưới ai vậy?

- Tôi cũng không rõ. Nhà đó chỉ có hai người con một là cô Thoa con gái lớn năm nay đã lỡ thời rồi, chắc là không phải cưới cô ấy. Chỉ còn cậu con trai, cậu Thiện học Sài Gòn, nghe nói được nhiều con gái xứ này mê lắm. Không chừng là đám cưới cậu ta cũng nên!

Cô gái thấp thỏm không yên:

- Anh đạp nhanh nhanh giùm!

Anh chàng đạp xe vốn nhiều chuyện, thích tò mò nên hỏi:

- Cô quen với nhà bà giáo sao vậy? Về việc đám cưới phải không?

Đang sốt ruột, lại bị hỏi lung tung, cô gái đâm quạu:

- Anh đạp nhanh giùm, hỏi hoài tôi mệt quá!

Bị cụt hứng, anh chàng chẳng những không giận mà trái lại còn muốn chọc quê:

- Nghĩ làm con trai học giỏi, đẹp trai cũng sướng, hết con gái quê thương lại tới con gái thành thị. Gặp tôi, tôi quơ hết.

Không nghe cô gái nói gì, anh chàng lại thêm:

- Mà coi bộ anh chàng Thiện đó không ngon lành gì đâu nghen, bữa mới về đi chơi với đám bạn bè rồi bị sao đó phải gọi thầy thuốc tới cấp cứu!

Quả anh ta đánh đúng sự quan tâm của cô gái:

- Anh ấy bây giờ sao rồi?

- Mà cô là gì của anh chàng Thiện đó mới được?

- Là... là gì... mà anh hỏi chi vậy. Tôi chỉ...

Cũng may, lúc đó đã tới nơi. Tấp vào lề trước ngôi nhà ngói xưa, anh chàng nói nịnh câu cuối cùng:

- Nghĩ cũng lạ, cùng tạng người, chắc là cùng cân lượng, nhưng chở người đẹp thì đạp xe nhẹ tênh. Mình cứ mong được đạp hoài thì lại mau tới!

Nở cho anh ta một nụ cười, cô gái đưa tờ giấy bạc chẵn mà không cần thối lại. Vừa bước vào cổng, cô ta lên tiếng ngay:

- Bác giáo ơi, cháu là Mỹ Lan, bạn anh Thiện từ Sài Gòn về...

Từ trong nhà, Kim Thoa bước ra, chào cô gái rồi quay vào trong gọi lớn:

- Có bạn thằng Thiện về nè má!

Rồi cô quay sang anh chàng đạp xe bảo:

- Sẵn cậu đạp xe đưa ông thầy thuốc ra bến xe giùm!

Ông thầy thuốc khá già, vừa leo lên xe vừa dặn lại:

- Nhớ cho cậu ấy uống đủ mấy thang thuốc tôi để lại nếu bớt thì cứ ra nhà thuốc mà hốt thêm, còn nếu...

Ông nói chưa hết lời thì anh chàng đạp xe đã ấn bàn đạp, vừa chen vào:

- Không hết thì lo hậu sự!

May là anh ta nói không để chủ nhà nghe. Trong khi ấy thì bà giáo Nhơn đang ra đón người khách mới. Bà ngỡ ngàng trước cô gái:

- Cháu đây là...

- Dạ cháu là Mỹ Lan, bạn gái của anh Thiện.

- Cháu từ Sài Gòn về ?

- Dạ!

Kim Thoa xen vào hỏi:

- Em nghe tin thằng Thiện nên về hay sao?

Mỹ Lan ngạc nhiên:

- Chuyện gì vậy chị? Chẳng lẽ ảnh... cưới vợ?

Bà giáo bỗng òa khóc khiến Mỹ Lan càng hốt hoảng:

- Kìa bác, anh Thiện sao vậy?

Cả Thoa cũng khóc. Trong nhà lúc ấy còn có vài người nữa xem chừng là bà con, một người nói:

- Bệnh nó càng lúc càng nặng hơn, có lẽ phải chở đi bệnh viện thôi.

Bà giáo nức nở:

- Gần chục ông thầy rồi mà có thấy bớt chút nào đâu!

Kim Thoa quay sang Mỹ Lan:

- Thằng Thiện bị sốt rồi mê man suốt ba ngày nay, thuốc thang đủ hết mà không thấy bớt.

Mỹ Lan nói liền:

- Em học trường y, em có mang theo dụng cụ khám, để em vào xem anh ấy bị gì.

Vừa trông thấy Thiện nằm thoi thóp, Mỹ Lan chạnh lòng, cô gọi khẽ:

- Thiện, em đây. Mỹ Lan đây?

Nhưng Thiện vẫn mê man không biết gì. Sờ tay lên trán, Mỹ Lan phải giật mình rụt tay về. Nhiệt độ trong người của Thiện khiến cho tay người sờ vào cảm giác như muốn phỏng! Mỹ Lan lo lắng:

- Nhiệt độ như thế này là nguy lắm! Chuyển đi bệnh viện lúc này e cũng không kịp.

Câu nói của cô nàng làm cho bà giáo càng khóc lớn. Bà nắm tay Mỹ Lan lắc mạnh:

- Làm cách nào cứu nó cháu ơi!

Mỹ Lan đo mạch xong thì lại càng ngạc nhiên:

- Sốt cao như vậy mà mạch lại bình thường, kỳ lạ thật!

Cô cầm lòng bàn tay của Thiện và thật bất ngờ, bàn tay Thiện siết chặt lại. Bàn tay lạnh như băng!

Mỹ Lan hốt hoảng:

- Kỳ lạ lắm bác ơi!

Sự nóng lạnh khác thường giữa trán và lòng bàn tay như trường hợp này là lần đầu tiên Mỹ Lan gặp được trong nghề y.

- Anh Đào!

Tiếng phát ra từ miệng của Thiện tuy nhỏ nhưng Mỹ Lan vẫn nghe rất rõ. Cô quá đỗi ngạc nhiên:

- Thiện, anh gọi ai?

Bà giáo thấy con mình lên tiếng được thì mừng lắm, bà nhào tới liền, chụp lấy con:

- Thiện, con tỉnh rồi phải không?

- Anh Đào! Anh Đào...

Giọng của Thiện lạc hẳn đi, nhưng hai tiếng Anh Đào anh gọi vẫn rõ...

Kim Thoa đứng bên cạnh chợt lên tiếng:

- Hai hôm trước nó cũng kêu mấy tiếng như vậy rồi mê luôn tới bữa nay!

Bà giáo cũng ngạc nhiên:

- Anh Đào là ai? Có phải cháu không?

Bà quay sang Mỹ Lan hỏi, cô nàng giãy nảy:

- Con là Mỹ Lan mà.

Trung và Bảo từ ngoài bước vào, Trung lên tiếng:

- Anh Đào là tên của...

Bảo đứng bên bạn vội thúc cùi chỏ vào hông Trung:

- Nói tầm phào!

Nhưng Mỹ Lan đâu để yên:

- Là ai anh Trung?

Giữa Mỹ Lan và hai người vốn đã quen nhau, nên Trung sau một lúc lúng túng, đã phải nói ra:

- Anh Đào là tên cô gái có hình trên mộ bia ngoài nghĩa địa!

Sự hoảng hốt của bà giáo lên tới tột độ:

- Thánh thần ơi, con trai tôi...

Bà lảo đảo suýt ngã, Kim Thoa phải đỡ mẹ mình lại, cô hỏi Trung:

- Sao thằng Thiện có liên quan gì tới cô Anh Đào đó?

Bảo đáp thay bạn:

- Bữa hôm trước tụi này đi chơi qua cồn ông Hội đồng, ngồi nhậu ở đó, rồi thằng Thiện tình cờ đi vào nghĩa địa và gặp.

Thoa la lên:

- Vậy mà mấy bữa nay không nói! Trời ơi, thằng Thiện gặp tà ma rồi má ơi!

Bà giáo Nhơn thất thần:

- Con ơi là con!

Mỹ Lan lay tay Thiện:

- Anh Thiện, em Mỹ Lan đây! Anh tỉnh lại đi, chỉ có Mỹ Lan thôi!

Bảo bước đến gần Kim Thoa, nói khẽ:

- Mỹ Lan là người yêu của thằng Thiện ở Sài Gòn. Bữa trước em giấu chị!

Bỗng Mỹ Lan kêu lên:

- Bây giờ bàn tay của anh ấy lại nóng!

Cô sờ lên trán thì một lần nữa hốt hoảng:

- Trán bây giờ lạnh như bàn tay lúc nãy!

Trong lúc miệng của Thiện vẫn mấp máy:

- Anh Đào! Anh....

Lúc ấy có một người bước vào, Trung leo lên:

- Anh này rành chuyện cô Anh Đào lắm!

Sanh và Tùng đâu lạ gì gia đình Thiện, nên vừa thấy mặt họ Kim Thoa đã lên tiếng:

- Tụi bay dẫn nó đi đâu mà ra nông nỗi như thế này hả Sanh, Tùng?

Bảo hỏi Sanh:

- Anh biết về cô Anh Đào thì nói cho mọi người biết đi chứ!

Sanh nhìn sang Mỹ Lan rồi nói:

- Cô ấy còn đẹp hơn cô này nữa!

Kim Thoa quá sốt ruột:

- Nhưng nó là đứa nào?

- Là con gái út ông Hội đồng, chị Thoa quên rồi sao?

- Con nhỏ chết năm kia hả?

- Đúng rồi. Chết trẻ nên linh lắm...

- Nhưng sao lại liên quan tới thằng Thiện? Lúc Thiện đi học Sài Gòn nhiều năm liền về đây đâu có gặp con ấy. Vả lại, có thời gian nhiều năm nó theo mẹ qua sống ở Cần Thơ, vậy sao Thiện biết nó?

- Thằng Thiện chỉ mới biết con Anh Đào cách đây hơn mấy ngày!

Bà giáo đang khóc cũng phải ngừng lại, ngẩng lên hỏi:

- Mày nói gặp là sao? Chẳng lẽ con ấy hiện hồn về.

Tùng phải nói chen vào:

- Dạ không phải. Chẳng là thằng Thiện cùng bọn cháu qua cồn Hội đồng chơi, Thiện vô tình nhìn thấy ảnh của con Anh Đào trên mộ bia, rồi chẳng hiểu sao nó lại như vậy.

Kim Thoa là người rất nhạy cảm với chuyện này, cô run giọng nói:

- Không xong rồi. Thằng Thiện nó bị...

Cô không dám nói tiếp, nhưng Mỹ Lan đã giục:

- Chị nói xem, anh Thiện bị sao?

Sanh là dân quê mùa, nên ăn nói đâu biết giữ ý:

- Chị nói nó bị ma nhập hả? Mà cũng lạ, nó với con Anh Đào đâu có quan hệ gì...?

Chợt Tùng kêu lên:

- Đúng rồi mày ơi, con Anh Đào vốn chỉ thích những người học giỏi như thằng Thiện thôi!

Mỹ Lan không nhịn được, phải lên tiếng:

- Thích gì khi người ta đã có... người yêu rồi!

Bà giáo Nhơn giục Thoa:

- Mày đi mua liền cho má nải chuối và một con gà, rồi ghé rước ông thầy Tám qua đây cúng cho nó.

Mỹ Lan nãy giờ đã rất khó chịu khi nghe chuyện Thiện để ý tới một cô gái khác, dù đó là người trong mộ, giờ nghe bà giáo và Thoa sắp cúng tà ma, cô lên tiếng:

- Theo con thì bác và chị không nên rước thầy bà cúng vái chi cho mất công. Chuyện này có lẽ anh Thiện bị ám ảnh, cộng với bị khí hậu ẩm thấp nơi nghĩa địa làm cho cảm gió thôi, để con cho toa ra chợ mua thuốc về uống ắt khỏi thôi!

Rồi cô quay sang mấy thanh niên đứng gần đó, nói như cố tình muốn cho họ nghe:

- Ma quỷ, oan hồn là chuyện xưa rồi, sao có người còn tin cũng lạ!

Bà giáo Nhơn nghe thì phật ý, nhưng do mới biết Mỹ Lan, nên bà im lặng không nói gì, bà ra dấu cho Bảo bước ra nhà sau, hỏi:

- Con nhỏ này là thế nào với thằng Thiện?

- Thì cô ta vừa xưng đó, là bạn gái của Thiện. Cô ta tấn công Thiện, muốn lấy Thiện từ mấy năm trước mà thằng Thiện còn lưỡng lự...

Bà giáo trề môi:

- Con tôi muốn cưới hỏi phải có ý kiến của tôi chứ! Đồ con gái...

Bà định nói nặng, nhưng kịp nghĩ nên dừng lại. Bà nói với Bảo:

- Cháu tìm cách rủ nó ra nhà bên chơi đi, chỉ cho nó căn phòng còn trống, bảo ở tạm đó, chờ coi bệnh tình thằng Thiện...

Bà lại ngừng nói vì Mỹ Lan đã bước ra, cô chủ động nói trước ý của mình:

- Cháu xin phép bác để đưa anh Thiện lên Sài Gòn. Cháu sẽ bao nguyên một chiếc xe vào tận đây.

Bà giáo phản đối liền:

- Không được! Bệnh tà ma này mà đi khác nào giết con tôi.

Mỹ Lan rất cực đoan:

- Cháu không thể chiều theo ý bác đâu. Cháu phải...

Bà giáo không còn nể nang nữa, bà gắt lên:

- Cô là mẹ nó hay là tôi?

Lúc này Mỹ Lan mới xuống giọng:

- Con năn nỉ bác, hãy vì tính mạng của Thiện, bác hãy để cháu đưa anh ấy đi, kẻo không còn kịp nữa.

Bà giáo vẫn cương quyết:

- Không bao giờ có chuyện đó! Cô là bạn nó, đã đến đây rồi thì cứ ở đó chơi, cầu mong cho nó mau bình phục là tốt rồi. Mọi việc để tôi lo.

Biết có nói cách mấy cũng không thuyết phục được bà già. Mỹ Lan tranh thủ nói với Trung ở nhà ngoài:

- Sao anh không giải thích với bà già, nếu cứ để tin bùa chú thì không sớm thì muộn cũng...

Vừa khi ấy, bỗng phía sau lưng họ có tiếng chân chạy rất nhanh và một tiếng quát khá quen thuộc:

- Anh Đào, chờ với!

Họ quay lại thì thấy Thiện với quần áo xốc xếch đang chạy bay tới! Mỹ Lan chưa kịp có phản ứng gì đã bị Thiện ôm chầm lấy:

- Anh Đào!

Mỹ Lan cảm nhận nhiệt độ cơ thể của Thiện lúc ấy bình thường như mọi người, chỉ có sắc mặt thì đờ ra, hai mắt long lên rất khác thường! Cô phải nhẹ giọng gí sát vào tai người yêu:

- Em là Mỹ Lan nè! Em về tìm anh...

Nhưng Thiện hầu như không nhận ra, vẫn luôn mồm gọi:

- Anh Đào, hãy đợi với!

Rồi anh vùng chạy nhanh ra cửa. Cũng may là Trung đứng gần đó đã chụp lại kịp. Có thêm Mỹ Lan và cả Bảo cũng chạy vào hợp sức mới giữ Thiện lại được. Lúc này Thiện gần như kiệt sức, anh ngả đầu vào vòng tay của Mỹ Lan, da mặt xanh ngắt khiến bà giáo nhìn thấy đã phát hoảng:

- Thiện ơi, con làm cho má sợ quá? Tỉnh lại đi con.

Bà giằng Thiện ra khỏi tay Mỹ Lan, vừa gọi liên hồi. Cũng may là sau đó thì Thiện có vẻ tỉnh lại, anh mở mắt nhìn mẹ, hình như nhận ra, nhưng không nói gì. Tuyệt nhiên anh không chút cảm nhận gì khi Mỹ Lan đến gần. Trái lại, mỗi khi Mỹ Lan lên tiếng thì anh lại nhắm nghiền đôi mắt lại, như cố tình ngủ thiếp đi...

Mỹ Lan nghe đau nhói trong lòng trước thái độ của bà mẹ và cả Thiện nữa. Là thầy thuốc nhưng trước bệnh trạng của Thiện cô cũng có chút gì đó ngờ ngợ...

- Chị Thoa rước thầy về kìa!

Mỹ Lan nhìn ra cửa, thấy Thoa đi vào với một ông thầy mà vừa thoạt trông điệu bộ cô đã phát sợ. Biết mình có lên tiếng can thiệp thì trong nhà cũng chẳng ai nghe, mà ở lại chứng kiến cảnh làm bùa phép thì Lan không thể, nên cô đứng lên ra dấu cho Bảo bước ra theo. Cô hỏi Bảo:

- Anh ngủ ở đâu?

Bảo chỉ tay vào căn phòng trống mà gia đình dành cho khách:

- Mẹ Thiện muốn Lan ngủ ở đây. Theo mình thì Lan cũng đừng can thiệp vào việc nhà của họ, tình hình này chắc là Thiện không sao, để mai rồi hẵng hay.

Mỹ Lan lẳng lặng đi theo Bảo vào phòng được dành cho khách. Tuy không hài lòng lắm, nhưng cũng tạm thư giãn đầu óc. Đến lúc này cô mới thấm mệt, thấy cần một giấc ngủ vô cùng.

Lúc đầu lắng tai nghe động tĩnh bên ngoài, nhưng chỉ một lát sau thì cơn buồn ngủ đã khiến Lan hầu như không còn nghe thấy gì nữa. Cô tiểu thư chốn thị thành đã đi vào giấc ngủ một cách ngon lành...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Phần 2

Có lẽ đã khá khuya thì Mỹ Lan choàng tỉnh dậy. Cô nhìn đồng hồ tay và giật mình:

- 12 giờ rồi sao?

Thì ra cô nàng đã ngủ một giấc đến hơn 6 giờ liền! Bên ngoài lúc ấy đã im lìm, hình như mọi người cũng đã đi ngủ.

Thấy một cây đèn dầu ai đó đốt và đặt ở đầu bàn, Mỹ Lan đoán là lúc mình ngủ chắc chị của Thiện đã vào đây. Lại có cả một mâm cơm dọn sẵn, đậy lồng bàn để cạnh ngọn đèn. Bước lại xem thấy cơm còn hơi nóng, sẵn bụng đói Mỹ Lan định ngồi xuống ăn đại, nhưng kịp nghĩ, cô bước ra cửa và đảo mắt tìm ai đó trong nhà, ít ra cũng nói với họ một tiếng về lý do ngủ quên của mình.

Nhưng đi thẳng lên nhà trên, trở xuống nhà dưới cũng chẳng thấy một ai. Trong phòng của Thiện đèn còn sáng, nhưng im phăng phắc. Sau khi lưỡng lự một vài giây, Mỹ Lan bước trở về phòng của mình. Và cô khựng lại!

Trước mặt cô mâm cơm còn nguyên lúc nãy giờ đã hết sạch, giống như ai đó vừa ăn!

- Ai vậy?

Vừa tự hỏi, Mỹ Lan vừa nhìn chung quanh, không thấy ai, cô nghĩ tới con chó hay mèo gì đó nhân lúc cô đi ra ngoài đã ăn vụng. Tuy nhiên, khi nhìn kỹ lại thì cách ăn là của con người chớ không phải con vật. Đũa, chén không hề xô lệch và phần thức ăn thừa đã được tém gọn gàng chớ không vung vãi như chó mèo ăn!

Dẫu chưa từng biết sợ chuyện ma quỷ, nhưng trước hiện tượng kỳ lạ này tự dưng Mỹ Lan bắt rùng mình! Cô ngồi thừ người ra một lúc rồi đành để bụng đói, trở lại giường tiếp tục ngủ. Vừa đặt mình nằm xuống, bàn tay trái của Mỹ Lan đã chạm vào một người nằm sẵn trên giường!

Trong bóng tối không nhìn thấy rõ, nhưng qua cảm nhận Lan biết chắc người nằm đó là một phụ nữ! Bởi làn da mát mịn và quần áo mặc của người ấy là loại lụa mỏng, láng.

Có muốn kêu lên thì lúc ấy Lan cũng không làm được. Mà người nọ cũng không nói gì, từ từ siết chặt lấy tay của Mỹ Lan và nhẹ người quay sang đưa tay còn lại đặt lên miệng Lan, như muốn ra lệnh không được kêu la!

Rồi chậm rãi hơn, người ấy bật ngồi dậy và nhẹ nhàng cởi bỏ y phục của Mỹ Lan!

Trong đời, có lẽ đây là giây phút mà Mỹ Lan kinh hoàng nhất, nhưng cô không làm sao phản ứng được gì bởi tay chân và miệng hầu như bị tê liệt.

Chỉ một lúc sau thì toàn thân Mỹ Lan không còn một mảnh vải, cô run rẩy chờ cơn ác mộng ập tới! Tuy nhiên xem ra người nọ không hề muốn xâm phạm tới Lan, mà lại nhẹ nhàng bước khỏi giường.

Khoảng hơn năm phút sau thì Mỹ Lan mới cử động được, cô thử kêu lên:

- Bớ...

Thì mới biết là mình đã hoàn toàn thoát khỏi trạng thái lúc nãy. Cô định kêu rõ hơn để cầu cứu, nhưng chợt nhớ là mình còn đang tênh hênh nên vội sờ bên cạnh để tìm y phục.

- Trời ơi!

Lan kêu khẽ với sự kinh ngạc. Bởi quần áo bị cởi ra của cô đã không còn ở đó.

Theo bản năng, Mỹ Lan cố sức tìm kiếm, nhưng đúng là con người lúc nãy đã cố tình lấy đi hết quần áo, mà lúc này dù cho Lan có muốn lấy quần áo khác để mặc cũng không có, bởi lúc chiều khi vào phòng vội, cô chưa kịp lấy giỏ quần áo để ở phòng khách!

Nhìn ra bên ngoài thấy trời bắt đầu rạng sáng, Mỹ Lan càng run hơn, cô quơ vội chiếc mền bên cạnh quấn vào người rồi thu hết can đảm la lên:

- Bảo ơi. Trung ơi, giúp mình với!

Phòng của hai người ở gần bên, nên chỉ gọi lần thứ hai là đã nghe tiếng chân chạy sang. Tiếng của Trung:

- Gì vậy Lan?

- Mình... mình...

Lại có tiếng của Bảo:

- Lan, sao lại…

Lúc ấy Mỹ Lan nghe rõ bên ngoài là cuộc đối thoại giữa Bảo và Trung:

- Mày cầm quần áo của ai vậy?

Câu hỏi của Trung và Bảo đáp khá lúng túng:

- Là... là của... Mỹ Lan.

- Sao mày giữ quần áo của cô ấy? Bộ đồ này tao thấy cô ấy mặc lúc tới đây mà?

Bảo lại càng lúng túng hơn:

- Tao... tao thấy nó... ở trong phòng.

Trung la lớn:

- Mày với Mỹ Lan! Thật vậy sao Bảo?

Bảo gần như líu lưỡi lại:

- Bậy... bậy nè! Tao... tao chỉ...

Vừa lúc ấy, có cả tiếng của Kim Thoa:

- Chuyện gì ồn ào vậy hai cậu?

Bảo nhanh trí hơn, anh chàng gọi nhanh vào phòng:

- Bị sao vậy Lan?

Mỹ Lan cũng ứng phó khá nhạy:

- Mình bị... trúng gió! Làm ơn lấy cái giỏ mình để ở ngoài phòng khách đưa vào đây giùm!

Trung chạy đi rất nhanh, vừa đưa mắt ra hiệu cho Bảo. Anh chàng bị hàm oan này hiểu ý nên vội ném bộ đồ trên tay vào phòng, vừa nói:

- Quần áo đó, còn cái giỏ thì chờ thằng Trung một chút!

Ngay lúc đó, có giọng hớt hải của Trung:

- Đâu có thấy giỏ nào đâu?

Bên trong Mỹ Lan đã mặc lại đồ, cô nói vọng ra:

- Em để ở góc phòng khách, chỗ gần cái bàn lớn đó!
 
- Không thấy!

Mỹ Lan bước ra nét mặt vẫn còn sợ hãi nhưng trước mặt Kim Thoa cô phải làm ra vẻ tỉnh táo:

- Để em đi lấy.

Đi ngang qua chỗ Kim Thoa đứng, Lan lễ phép nói:

- Em cám ơn chị về mâm cơm tối qua.

Kim Thoa ngạc nhiên:

- Mâm cơm gì? Chị thức chờ em dậy để dọn cơm cho ăn mà thấy em vẫn ngủ say rồi nên chị cũng ngủ quên luôn.

Mỹ Lan khựng lại trố mắt nhìn, vừa lẩm bẩm:

- Vậy thì ai đã...

Cô nghĩ có thể là bà mẹ của Thiện hoặc người làm trong nhà, nhưng vừa khi ấy Kim Thoa lại nói rõ:

- Má chị bị bệnh nằm liệt từ chiều qua, còn đứa em bà con thì đã về quê từ mấy hôm rồi, nên nhà không có ai cả...

Mỹ Lan muốn thuật lại chuyện đêm qua nhưng kịp nghĩ lại nên thôi, lẳng lặng đi tìm giỏ đồ của mình. Tuy nhiên, chỉ một lúc sau cô đã chạy trở lại, hốt hoảng:

- Cái giỏ đồ của tôi...

Kim Thoa lên tiếng ngay:

- Sao mất được? Nhà này không có ai khác ngoài chúng tôi nên không thể có chuyện mất đồ đạc trong nhà! Cô xem lại đi.

Thoa có vẻ giận dỗi, cô quay bước bỏ đi khiến cho Mỹ Lan không kịp đính chính lời nói không khéo của mình. Nhưng cô vẫn quay sang Bảo và Trung, hỏi:

- Hai anh có thấy giỏ đồ của em không?

Trung chỉ sang Bảo:

- Nó chỉ có giữ mỗi bộ đồ của em mặc hôm qua, có lẽ lúc em qua phòng nó...

Bảo lao tới bụm ngay miệng của Trung lại:

- Đừng có nói bậy? Tao với Mỹ Lan đâu có.

Mỹ Lan nhớ lại bộ đồ lúc nãy, liền hỏi:

- Sao anh có được bộ đồ này? Em bị mất nó bởi...

- Anh cũng không biết, lúc ngủ dậy đã thấy nó ở đầu giường. Anh tưởng em...

Mỹ Lan ngượng đỏ mặt:

- Em làm sao dám làm chuyện ấy! Vả lại, anh và anh Trung ngủ chung mà!

Trung nói nghiêm túc:

- Nãy giờ đùa vậy thôi, mình cũng đang tự hỏi sao bộ đồ của Lan lại ở bên phòng của bọn mình. Việc này ắt có điều gì đó.

Định giấu luôn chuyện xảy ra đêm qua, nhưng nghe Trung hỏi vậy, Mỹ Lan phải kể lại đầu đuôi. Kể xong, cô hỏi:

- Phải chăng đó là ma?

Bảo nhớ lại chuyện mình bị bóng đè hôm ngủ ngoài nghĩa địa, liền nói:

- Giống y như mình bữa đó! Cũng là con ma nữ...

Trung có tính hay bông đùa nên pha trò:

- Thằng Bảo là nam thì thấy bóng ma nữ dè, còn Mỹ Lan thì đáng lý ra phải là ma nam chứ!

- Em cảm nhận rất rõ, đó là một cô gái. Tuy không thấy mặt, nhưng em có thể tưởng tượng rằng đó là một người rất đẹp, ăn mặc sang trọng nữa...

Tự dưng Bảo buột miệng:

- Anh Đào!

Mỹ Lan nghe lạnh sống lưng:

- Cô ấy linh đến như vậy sao?

Bảo tiết lộ điều mà từ hôm đó tới nay chưa nói với ai:

- Đêm hôm đó, khi từ nghĩa địa về mình còn thấy cô ấy một lần nữa! Cô ta đòi mình phải làm rể phụ trong lễ cưới của cô ta!

Mỹ Lan nghe rung động tinh thần:

- Cưới ai?

Bảo lắc đầu:

- Cô ấy không nói lễ cưới ai, nhưng sao mình có cảm giác như là...

Bảo bỏ lửng câu nói càng làm cho Mỹ Lan tò mò thêm:

- Anh nói xem, ai vậy?

- Mình không dám chắc, nhưng người đó giống như Thiện!

Tiếng kêu của Mỹ Lan cũng vừa lúc từ phòng bên kia có một tiếng thét thật to:

- Anh Đào!

Tiếp theo là giọng thảng thốt của bà giáo Nhơn:

- Thiện, má đây con! Đừng làm má sợ.

Khi Mỹ Lan và mấy người bạn chạy sang thì ngạc nhiên vô cùng khi thấy Thiện đang ôm một bộ áo cưới trong lòng. Anh nói trong niềm hoan lạc:

- Tối nay là ngày con cưới vợ, sao má chưa sửa soạn nhà cửa cho đẹp? Phải kết hoa, giăng đèn chớ!

Mỹ Lan kêu lên:

- Thiện! Em đây mà...

Nhưng Thiện chừng như không nhận ra, anh nói theo ý của mình:

- Cô và anh bạn này là phụ dâu, phụ rể. Phải mặc quần áo đẹp nhé!

Rồi anh lại ôm bộ áo cưới và hát nghêu ngao bài tình ca mà trong các lễ cưới người ta hay hát. Bảo đưa mắt nhìn Mỹ Lan, ái ngại:

- Nó nói giống như trong giấc mơ mà mình thấy. Cũng chiếc áo cưới này.

Bà giáo ngạc nhiên hỏi:

- Con mơ thấy gì?

- Dạ, thấy Anh Đào!

Bà giáo thất thần:

- Lại con Anh Đào đó nữa! Vậy mà ông thầy Tám nói là đã trục được nó đi rồi!

Bà đang nói thì con Luyến, đứa bé thường bưng bánh bông lan đi bán dạo quanh xóm, nó từ ngoài cửa chạy vào và la lớn:

- Ông thầy Tám bị hộc máu chết rồi bà giáo ơi!

Mọí người sững sờ, riêng Kim Thoa thì chạy thẳng ra cửa. Lát sau cô về và thất thần nói:

- Ông thầy Tám chết chật rồi. Ông ấy từ nhà mình về thì bị sốt cao, có lúc lạnh toàn thân, nằm ngủ từ tối hôm qua không dậy, lúc đó người nhà vào coi thì thấy ông đã chết trong vũng máu. Hộc máu tươi ra một đống!

Bảo là người nhạy cảm với câu chuyện vừa nghe hơn ai hết, anh lẩm bẩm:

- Lại là Anh Đào...

Rồi như con thú bị thương, Bảo rút vào một góc ngồi im, vừa run rẩy...

Trong khi đó, Thiện vẫn nghêu ngao hát và hầu như chẳng chú ý đến ai chung quanh. Mỹ Lan gần muốn phát khóc trước cảnh đó. Cô mím chặt môi, đứng lặng người đi một lúc lâu, rồi thất thểu trở về phòng của mình.

Nhưng vừa bước vào phòng thì đã phải khựng lại và rụng rời tay chân. Trước mắt cô, ở giữa phòng là một người phụ nữ toàn thân nguyên vẹn, chỉ có cái mặt là trơ xương. Một chiếc đầu lâu trên thân người!

Như thân cây bị đốn ngã. Mỹ Lan ngã sấp ngay dưới chân bóng ma...
 
***

Rầu rĩ chuyện con trai lâm vào trạng thái nửa mê nửa tỉnh nên bà giáo Nhơn năng đi chùa. Ngoài mục đích cầu nguyện cho bệnh trạng của con, bà còn van vái vong hồn của Anh Đào, mong cô đừng quấy phá...

Ngôi chùa Thiện An có vị hòa thượng Chơn Tánh là người lâu nay bà giáo rất sùng bái. Nhân việc này, bà tới viếng và trình bày với ông mọi chuyện đang xảy ra trong nhà mình.

Nghe xong, ông chau mày một lúc rồi gọi chú tiểu vào trai phòng lấy ra một chiếc hộp gỗ nhỏ. Mở hộp ra, ông lấy đưa cho bà giáo xem một xâu chuỗi hạt huyền, vừa bảo:

- Đây là vật mà người đem ký gửi cho bần tăng đã nói rằng của chính con gái bà ấy. Tôi thấy xâu chuỗi đẹp nên hỏi bà ấy mua ở đâu, thì bà cho biết là không hề mua, mà chính con gái bà trước khi chết đã nhặt được nó trong một chuyến đi chơi. Xâu chuỗi đen tuyền, đúng là bằng hạt huyền nguyên chất, nhưng càng quý hơn là trên mỗi hạt đều nổi lên chữ Thiện rõ như cầm bút viết. Bần đạo đã nhìn thật kỹ, chữ Thiện này không phải do bàn tay con người tạo nên. Nó tự nhiên mà có!

Bà giáo nhìn kỹ và dù không biết chữ Hán, nhưng cũng thấy được trên mỗi hạt huyền đều hiện lên một chữ giống nhau, khi ẩn khi hiện. Bà giật mình nói:

- Sao nó giống với chỗ mỏ ác của thằng con nhà này, lúc nó vừa sinh ra thì ở mỏ ác cũng nổi lên một chữ giống như vậy. Ba nó thấy vậy nên đặt cho nó tên là Thiện, ổng nói tên ấy trùng với chữ trên mỏ ác!

Sư Chơn Tánh cũng ngạc nhiên:

- Sao lại có chuyện trùng hợp lạ kỳ như thế này? Người đem gửi xâu chuỗi này cũng kể chuyện gần giống như vậy. Bà ấy bảo rằng trên mỏ ác con gái bà lúc mới sinh ra cũng có một chữ Thiện như thế!

Bà giáo chưa thể tin có chuyện trùng hợp như thế, nên hỏi lại:

- Người đem gửi xâu chuỗi là ai vậy, thưa thầy?

Nhà sư không giấu:

- Là bà Hội đồng ở làng mình.

Bà giáo kinh hãi kêu lên:

- Con gái đã chết của bà là Anh Đào!

- Thì ra bà cũng biết mẹ con họ. Tội nghiệp, cô con gái còn trẻ quá mà đã yểu mạng. Nhưng có chuyện này.
 
Ông lấy ra một quyển sách cũ, lật vài trang rồi ngẩng lên bảo:

- Theo sách thì trên đời này nếu hai người có cùng đặc điểm giống nhau thì sẽ không cùng gần nhau được. Cũng may giữa con trai bà và cô gái cùng làng này không có quan hệ gì với nhau, nên...

Vừa nói tới đó, ông chợt nhớ ra, nên vội bảo:

- Mà không phải, giữa họ có dính tới nhau đấy chứ? Theo lời bà kể thì hiện cô Anh Đào và cậu con bà gặp nhau...

Ông suy nghĩ một lúc rồi nói tiếp:

- Theo sách thần toán thì nếu một cặp giống đặc điểm với nhau mà một trong họ chết thì mọi việc coi như đã được hóa giải. Ở đây người nữ đã thác rồi...

Bà giáo thở dài:

- Vậy mà vong hồn của con nhỏ đang ám thằng con nhà này. Thầy xem có cách nào chỉ giúp con với.

Sư Chơn Tánh bộc bạch:

- Người tu hành không tin tà ma, cũng không đối đầu với chúng. Nhưng trong chuyện này, do tình cờ bần tăng được ký thác xâu chuỗi có liên quan tới vong linh người nữ tên Anh Đào, cho nên bần tăng cứ tạm gửi cho bà xâu chuỗi. Bà thử đem xâu chuỗi này về, đưa cho cậu nhà giữ trong mình coi có tác dụng gì không?

Bà giáo phấn khởi hẳn lên:

- Xin tạ ơn thầy, ngàn lần tạ ơn thầy!

Bà lấy xâu chuỗi và bọc nó trong chiếc khăn đội đầu một cách cẩn thận, chẳng khác gì giữ một báu vật. Sư Chơn Tánh còn dặn:

- Thầy cũng không dám chắc có kết quả gì, nhưng sau khi thử để cậu nhà giữ trong ba hôm, thì đem lên đây trả lại cho ta.

- Dạ, con xin hứa!

Bà rời khỏi chùa một đoạn thì chợt có người gọi phía sau:

- Bác ơi!

Quay lại thì bà giáo vô cùng ngạc nhiên khi thấy Mỹ Lan với gương mặt tiều tụy, thất thểu bước một mình.

- Cháu đi đâu vậy?

Lan bỗng khóc oà:

- Con khổ quá bác ơi. Anh Thiện vừa rồi đuổi con đi, anh ấy nói con không thể ở trong nhà được, bởi tối nay anh ấy cưới vợ!

Vẫn không ưa cô gái này, tuy nhiên khi thấy tình cảnh Mỹ Lan như vậy, bà giáo cũng phải an ủi:

- Cháu cứ về với bác, mọi việc rồi để bác lo.

Mỹ Lan lắc đầu:

- Cảm ơn bác. Cháu muốn vào chùa một chút, bác cứ về trước.

Với xâu chuỗi hạt huyền trong tay, bà giáo cũng không không muốn giữ Lan lại, bà bước đi nhanh, bỏ lại cô gái ở đó. Mỹ Lan lững thững bước vào chùa.

Đang đi, bỗng có ai đó nắm tay Lan kéo lại. Bực mình, vừa định lên tiếng thì chợt một giọng nói vừa đủ cho cô nghe:

- Cô đang "dơ mình" thì làm sao vào chùa được!

Mỹ Lan giật mình khi bị nói đúng tình trạng cơ thể mình, cô quay lại nhìn thì suýt kêu thét lên, bởi đang đứng trước mặt cô lúc ấy là... cô gái với cái đầu lâu hôm trước!

- Cô... cô...

Hôm đó ở trong phòng khi vừa nhìn thấy con người này, Mỹ Lan đã ngất xỉu. Hôm nay có lẽ do đã gặp một lần, nên Lan chỉ run rẩy, định bước lùi lại, thì đã nghe một giọng nói tuy nhẹ nhàng, nhưng hàm ý như ra lệnh:

- Bước ra góc sân kia vắng vẻ, dễ nói chuyện hơn.

Như bị thôi miên, Mỹ Lan bước theo. Cô gái kia đi nhẹ nhàng, nhưng lại bước rất nhanh. Dẫu cố gắng, nhưng Lan không tài nào theo kịp. Khi bước tới cuối sân chùa phía sau, thì đã thấy cô nàng nọ ngồi sẵn trên một ghế đá, quay lưng lại như chờ đợi.

Bước tới sát bên, nhưng Mỹ Lan không dám ngồi xuống, phải đợi nhắc:

- Ngồi xuống đi!

Mỹ Lan vừa ngồi xuống thì bất thần người ấy quay lại. Lần này Mỹ Lan không sửng sốt nữa, mà đúng hơn là sững sờ trước gương mặt đẹp như tranh vẽ của cô ta!

- Cô... cô...

Cô gái cười rất tươi:

- Sao cô Mỹ Lan có vẻ ngạc nhiên vậy? Vẫn là tôi đây thôi. Cô có muốn biết tên tôi không? Tôi là...

Chẳng hiểu ai xúi giục mà Mỹ Lan đã buột miệng:

- Anh Đào!

Một tiếng cười trong trẻo phát ra từ đôi môi Anh Đào:

- Cô khá thông minh. Bởi vậy sự quan tâm của tôi với cô không phải là chuyện thừa.

Mỹ Lan muốn nhìn thẳng vào mặt người đối diện, nhưng mỗi khi liếc mắt nhìn thì cô có cảm giác như ánh mắt ấy đang muốn nuốt chửng mình, bởi vậy cô vừa cúi mặt vừa nói:

- Vừa rồi cô...

Ý Mỹ Lan muốn nhắc tới gương mặt ghê sợ lúc nãy, nhưng chưa kịp nói thì đã bị chặn ngang:

- Cô muốn tôi với gương mặt quỷ ấy lắm sao? Tôi vốn là người như thế này và bây giờ tôi vẫn như vậy, ngoại trừ...

Nàng vừa nói vừa đứng lên, và bất thần vung tay lên cao. Khi hạ tay xuống thì nàng ta vụt biến mất!

Mỹ Lan rung động thật sự, cô lắp bắp:

- Tôi... tôi...

Lần đầu tiên biết chắc mình đang gặp ma, nên phải mất mấy chục giây sau cô mới hoàn hồn. Tuy nhiên, phải một lúc lâu sau Mỹ Lan mới có thể đứng dậy và lảo đảo bước đi.

Chợt có ai đó nói một cách vô tình ngay phía sau:

- Mới rồi tôi nhìn thấy đứa con gái nào ngồi ở băng đá kia giống hệt như con Anh Đào con ông Hội đồng!

Một người khác nói thêm:

- Con nhỏ chết trẻ, lại bất đắc kỳ tử nên linh lắm, nghe nói nó cứ hiện hồn về hoài. Mày lạng quạng mà gặp phải nó thì có mà toi mạng!

Hai người nọ đi rồi mà Mỹ Lan vẫn còn bàng hoàng. Cô nhìn lại cánh tay mình, nơi cô vừa bị Anh Đào nắm, dường như cảm giác lạnh và tê rần đang lan ra... Nỗi sợ hãi càng lúc càng lớn, cuối cùng thay vì trở lại nhà của Thiện, Mỹ Lan quyết định đi luôn ra bến xe đò. Cách tốt nhất lúc này đối với Lan là phải rời khỏi chốn này. Mất Thiện dẫu đau lòng, nhưng mạng sống của mình, Mỹ Lan nghĩ, không thể để mất trong tay một hồn ma được!

Mỹ Lan bước lên xe đò lúc ấy là hai giờ chiều...
 
***

Chiếc xe nhà ngừng ngay cửa khiến cho bà giáo ngạc nhiên nhìn ra. Do mắc kém nên chưa nhận ra ai, bà bảo Kim Thoa:

- Con ra coi ai vậy?

Thoa vừa bước ra đã quay trở vào liền, giọng hớt hải:

- Bà Hội đồng má ơi!

Từ nào đến giờ tuy là ở chung làng, nhà cũng không cách nhau xa lắm, nhưng bà giáo Nhơn chưa một lần gặp gỡ với con người mang tiếng là giàu có và quyền uy nhất vùng này. Bởi vậy nghe bà ta ghé lại nhà mình thì bà giáo ngạc nhiên, chưa biết phải làm sao. Vừa khi Kim Thoa nhắc:

- Bà ấy là má con Anh Đào đó!

Chi tiết này làm bà giáo nhớ lại chuyện thực tại của con trai mình, bà vội đứng lên. Nhưng bà chưa kịp ra cửa đón khách, thì khách đã bước vào phòng ngoài rồi.

Chính cô con gái lớn bà Hội đồng là Vân Anh dìu mẹ mình đi. Thay vì thái độ hách dịch như xưa kia nhưng bây giờ bà Hội đồng rất dịu dàng, bà lên tiếng:

- Tôi muốn gặp bà giáo Nhơn.

Bà giáo mau mắn:

- Dạ, tôi là vợ giáo Nhơn đây.

Bà Hội đồng chụp ngay tay chủ nhà và siết chặt như người thân lâu năm mới gặp lại, bà ríu rít:

- May mắn cho tôi. Cứ tưởng không gặp được bà!

Rồi không đợi chủ nhà mời, bà đã ngồi ngay xuống ghế trường kỷ, dúi nhanh vào tay bà giáo một gói bọc nhung đỏ, vừa nói nhanh:

- Bà cứ giữ lấy, coi như đây là của hồi môn tôi cho tụi nó làm ăn!

Bà giáo ngơ ngác:

- Chuyện gì vậy bà Hội đồng?

Kim Thoa phải bước tới giúp mẹ mình mở bọc nhung ra, cả hai mẹ con đều sững sờ trước nhiều món nữ trang sáng lóa!

- Cái... cái này...

Trong lúc bà giáo lúng túng thì bà Hội đồng đã bình tĩnh nói:

- Con gái tôi nó bắt phải đem qua đây cho bằng được. Nó bảo rằng nhà chồng nó không có sẵn, mà đám cưới thì phải có nữ trang để mẹ chồng trao cho cô dâu trong lễ lạy xuất giá. Đây là chút thành ý của gia đình chúng tôi, cũng là ý nguyện của con gái tôi nữa, xin chị đừng từ chối. Bởi nếu không...

Vân Anh bây giờ mới lên tiếng:

- Suốt đêm qua, con Anh Đào hiện hồn về cứ đòi má tôi phải đi qua đây ngay, má tôi bảo để sáng tính lại thì nó quậy tưng bừng, làm cả nhà không ai ngủ nghê gì được! Con nhỏ này ngang bướng, nó mà muốn chuyện gì thì đố ai cản được. Bởi vậy, bác và chị đây nên làm theo ý nó.

Bà Hội đồng nói thêm:

- Vong của nó về bảo rằng nó có duyên với thằng Thiện nhà này, duyên tiền kiếp chứ không phải mới đây, nên bằng giá nào chúng cũng phải lấy nhau.

Bà giáo ngập ngừng:

- Nhưng mà... tụi nó làm sao ăn ở với nhau được?

Vân Anh quả quyết:

- Anh Đào đoan chắc là nếu chúng ta cử hành hôn lễ cho đúng với nghi thức thì nhất định hai đứa nó sẽ ăn đời ở kiếp với nhau được!

Kim Thoa nói nhỏ bên tai mẹ:

- Thì cũng giống như thằng Thiện, nó cũng nói vậy...

Bà giáo dịu giọng:

- Tôi cũng đâu biết làm sao khác...

Bà Hội đồng mừng rỡ:

- Như vậy được rồi! Chúng ta tiến hành hôn lễ cho chúng nó ngay đi. Chính con Anh Đào chọn ngày, tối hôm nay là lễ đưa dâu...

Kim Thoa buột miệng:

- Sao được! Ai lại rước dâu vào ban đêm?

Vân Anh giải thích:

- Nó là hồn ma thì làm sao đi ban ngày được. Vả lại hôm nay là ngày giờ tốt, con Anh Đào bảo ở cõi âm chuyện ngày giờ là quan trọng lắm, không thể làm khác được.

- Đón dâu ngay tối nay được chứ sao không, má.

Câu nói bất ngờ khiến mọi người quay lại. Thiện bước ra với chiếc áo cưới trong tay. Trông anh tỉnh táo hơn mấy ngày qua. Bà Hội đồng vừa trông thấy đã reo lên:

- Con ơi, giúp má với.

Thiện hầu như đã trở lại bình thường, anh nhìn mẹ và nói:

- Đây là duyên nợ của tụi con má à, má nên làm theo ý má vợ con. Đó cũng là ý của Anh Đào...

Thấy con mình đã bình thường, bà giáo mừng lắm, nhưng còn rất khó xử với chuyện cưới xin, bà nhìn sang con gái như nhờ sự góp ý thì Kim Thoa lại gật đầu:

- Cứ làm thế đi má.

Thiện đưa lại cho bà Hội đồng cái hộp gỗ đựng xâu chuỗi huyền:

- Con tạm giữ vật này, gởi trả lại cho má, để má đưa cho Anh Đào. Cũng chính nhờ nó mà con trở lại bình thường. Con cảm ơn má, cảm ơn Anh Đào.

Kim Thoa cũng mừng khôn xiết:

- Thằng Thiện đâu còn gì phải lo nữa má! Hay là...

Hiểu ý chị mình, chính Thiện nói liền:

- Với Anh Đào thì một là một, không cãi lời cô ấy được đâu. Mà tại sao lại làm khác, khi con và cô ấy có duyên nợ với nhau.

Hai mẹ con bà giáo im lặng. Trong lúc bà Hội đồng lại giục:

- Không còn thì giờ nữa đâu, bây giờ tôi phải trở về lo chuyện hôn lễ.

Bà giáo vẫn còn lúng túng:

- Nhưng... nhà cửa tôi như vậy, làm sao đây?

Thiện trấn an:

- Đâu phải đám cưới bình thường đâu mà má phải lo. Cứ để con.

Anh đứng lên đi về phía góc nhà, rồi xách tới một chiếc vali mà vừa nhìn thấy Kim Thoa đã reo lên:

- Vali quần áo của con Mỹ Lan, nó bị mất...

Thiện mở vali ra trước sự kinh ngạc của mọi người. Trong đó chứa một bộ áo dài khăn đóng của nam và một bộ áo gối thêu rồng phượng bằng lụa rất đẹp!

Vân Anh là người lên tiếng đầu tiên:

- Hôm qua mấy thứ này còn bên nhà, ai đem qua đây hồi nào vậy?

Rồi cô kể:

- Chính bởi những vật này mà ba năm trước con Anh Đào tự tử! Nó phản đối cuộc hôn nhân do ba má tôi ép nó. Khi nó chết rồi, tôi tiếc của nên xếp mấy thứ này vào tủ cất, hôm nay tự nhiên thấy nó xuất hiện trên giường Anh Đào, rồi bây giờ lại ở đây.

Thiện nói một cách tự nhiên:

- Mọi vật đều có chủ, mà phải đúng là chủ nó thì mới hưởng được lâu bền. Cái này là dành cho em.

Anh ướm thử bộ đồ và reo lên:

- Đồ này sắm là để cho con đây chứ!

Nhìn con mình trong bộ đồ lễ, bà giáo xúc động nói:

- Con tôi!

Bộ đồ vừa vặn đến kinh ngạc! Đến Vân Anh cũng phải kêu lên:

- Như đo cắt cho cậu Thiện vậy!

Kim Thoa thấy bên dưới bộ đồ cưới còn có vài thứ nữa, nhìn kỹ cô kêu lên mà quên sự có mặt của hai người khách:

- Quần áo của Mỹ Lan!

Quả đúng như vậy. Đây rõ ràng là vali của Mỹ Lan bị mất hôm qua.

- Chị Hai giúp em đem cất vali này vào phòng.

Nhớ chuyện mình giận Mỹ Lan về chuyện mất chiếc vali này, Kim Thoa hơi hối hận. Lúc này cô mới chợt nhớ ra là Mỹ Lan đã không có ở nhà từ trưa hôm qua đến giờ. Cô gọi Bảo và Trung hỏi:

- Mấy đứa có thấy Mỹ Lan đâu không?

Bảo đưa ra mảnh giấy nhỏ:

- Lan về Sài Gòn rồi. Giấy này em cũng không phải nhận trực tiếp từ cô ấy, mà do thằng Sanh bạn của Thiện đưa lại.

Thoa lẩm bẩm:

- Cũng tại chị...

Trong đầu Thoa đang hiện lên một hình ảnh rắc rối mới. Chuyện tình cảm của Thiện và Mỹ Lan sẽ ra sao đây khi Thiện làm đám cưới, mặc dù là đám cưới với... hồn ma. Xem ra Mỹ Lan yêu Thiện thật lòng và chắc bây giờ cô ta đau khổ lắm...

Trung chép miệng:

- Yêu đương làm gì cho rắc rối!

Bảo chống nạnh nhìn bạn:

- Để rồi coi.

Rồi anh ta hỏi khẽ Kim Thoa:

- Bộ để cho thằng Thiện lấy... hồn ma thật hả chị?

Thoa nhẹ thở dài:

- Chứ biết sao bây giờ. Hai đứa không thấy sao, nếu không cho nó cưới thì bệnh tình thằng Thiện biết chữa thế nào đây?

Bảo rùng mình:

- Chắc em không dám ở lại dự lễ cưới này quá!

Trung trừng mắt nhìn bạn:

- Bạn bè vậy đó hả?

- Ngoài ra còn Mỹ Lan nữa...

Ý Bảo muốn nói rằng dẫu sao giữa họ và Mỹ Lan là bạn lâu năm, giờ đây chẳng lẽ đứng nhìn bạn mình phản bội?

Hiểu ý, nên Kim Thoa nhẹ giọng bảo:

- Hai đứa cũng không nhất thiết phải ở lại...

Tuy nhiên Trung đã quyết định:

- Bọn này sẽ ở lại. Và cũng chính bọn này sẽ về giải thích lại cho Lan hiểu.

Lúc này đã xế chiều. Mẹ con bà Hội đồng cũng đã lên xe về. Còn lại toàn người nhà, bà giáo mới lo lắng hỏi Thiện:

- Con chấp nhận lấy con Anh Đào, con không nhớ nó là...?

Thiện hào hứng:

- Con không thấy có gì trở ngại cả! Mấy ngày qua trong cơn mê con đã biết thế nào là sống với một người cõi âm, nên con có cảm giác như giữa chúng con không có gì khác biệt. Vả lại, Anh Đào nói với con rằng cô ấy sẽ dành cho con một sự ngạc nhiên lớn. Con tin cô ấy.

Bà Hội đồng chỉ biết lắc đầu, thở dài...
 
***

Chiếc xe hơi quen thuộc của bà Hội đang đi trước, theo sau là hai chiếc nữa. Họ lặng lẽ ngừng ngay trước cổng nhà. Trong này, bà giáo Nhơn cũng đã chuẩn bị sẵn, nên giục Kim Thoa:

- Đưa má ra ngoài đón người ta!

Vừa bước ra tới cửa, mẹ con bà giáo đã sững sờ đứng khựng lại! Trước mặt họ là bà Hội đồng đi cùng cô con gái lớn và bốn năm người lớn tuổi nữa, có lẽ là trong thân tộc. Đặc biệt hơn là... có cả cô dâu đi kèm!

Kim Thoa bắt đầu run:

- Sao... sao hồn ma mà cũng... cũng hiện hình giữa ban ngày được?

Bà giáo cũng không hơn gì, giọng bà run còn hơn con gái:

- Vịn giùm má, má thấy chóng mặt...

Nhóm người nhà bà Hội đồng bước thẳng vào nhà một cách rất tự nhiên. Vân Anh là người đại diện cho nhà gái, lên tiếng:

- Thưa bác giáo, giữ đúng lời giao ước, nay giờ lành, ngày lành tháng tốt, má con và bà con họ nhà gái, xin đưa dâu về nhà chồng. Đúng ra lẽ này phải khác đi, nhưng bác giáo thông cảm cho, hoàn cảnh không cho phép, nên tạm cử hành như thế này. Mời chú rể ra đón cô dâu vào nhà để lạy gia tiên luôn!

Thiện từ trong bước ra, anh hơi khựng lại một chút khi nhìn thấy cô dâu đang trùm kín mặt. Rồi anh cũng tiến tới cúi chào nhà gái, xong đưa tay nắm lấy bàn tay cô dâu. Họ sóng đôi bước vào nhà trong. Tuy nhà không trang hoàng gì, nhưng do mới sơn phết hồi Tết, tường còn mới, lại được tăng cường đốt mấy ngọn đèn manchon nên cũng rực rỡ, sáng choang.

Trước khi bắt đầu lạy bàn thờ, một người trong thân tộc nhà gái nhắc:

- Cô dâu phải giở khăn trùm ra rồi hãy lạy!

Chiếc khăn được chính Thiện giở ra từ từ... Và anh sững sờ khi gương mặt cô dâu hiện ra! Đó là... Mỹ Lan?

- Hả!

Thiện hơi lùi lại nửa bước, nhưng liền lúc đó anh nghe một giọng nói thật khẽ, chỉ đủ cho mình anh nghe:

- Bình tĩnh. Cứ làm như những gì em đã dặn!

Giọng nói không phải là của Mỹ Lan! Giọng này Thiện đã nghe quen trong suốt mấy ngày hôn mê... Đó là giọng của Anh Đào!

Buổi lễ gia tiên diễn ra êm thấm trước con mắt kinh ngạc của mẹ con bà giáo và cả hai người bạn của Thiện đứng ngoài cửa! Bảo nói khẽ với Trung:

- Tao không thể hiểu nổi...

Trung cũng lắc đầu:

- Để lát nữa gặp Mỹ Lan tao hỏi xem.

Khi cuộc lễ chấm dứt thì Thiện xin phép hai bà mẹ được đưa vợ vào phòng riêng. Vừa vào tới trong, anh nhận được một câu nói rót vào tai:

- Ban ngày anh sẽ sống với em bằng gương mặt này, còn ban đêm thì em sẽ là Anh Đào trọn vẹn!

Trong lúc quyện chặt lấy nhau trên giường, giọng nàng tha thiết hơn:

- Em đã thương lượng với Mỹ Lan rồi, cô ấy cũng đồng tình với cuộc sống này. Bọn em phải hy sinh nhiều lắm đó. Chỉ có anh là sướng thôi, được một lúc đến... hai vợ!

Thiện có lẽ quá bất ngờ nên nhất thời anh không thốt được thành lời. Mà cần gì phải nói, khi trong tay anh đã có được một cuộc tình không thể có trường hợp thứ hai trong cõi đời này!
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
OAN HỒN NÀNG HẠNH

Người tài xế chỉ hướng và bảo:

- Cậu đi theo hướng này khoảng ba trăm mét thì nhìn thấy một ngôi nhà ngói xưa bên tay trái, cậu rẽ vào đó nếu gặp người thì hỏi nhà ông Trùm đạo Hoàng Bửu, nếu không gặp ai thì cứ đi thẳng vào trong ắt sẽ gặp người cần hỏi.

Thuận cám ơn bác tài rồi xách vali đi theo hướng được chỉ. Khi nhìn thấy ngôi nhà, Thuận khá bất ngờ bởi sự to lớn của nó. Trong hình dung của Thuận thì nhà sẽ nhỏ hơn, bình thường như những ngôi nhà ngói xưa đơn sơ của vùng quê. Nhưng ngôi nhà này thì đồ sộ chẳng khác một dinh thự của các mệnh quan triều đình xưa.

- Thì ra nhà của ông Trùm Bửu là thế!

Trùm Bửu là tên ông nội của một người bạn thân, mà việc anh ta giới thiệu Thuận về đây cũng đầy bí ẩn, anh ta nói trước ngày Thuận lên đường:

- Nếu cần tìm hiểu về nghệ thuật cổ thì không nơi đâu tốt bằng nhà ông nội mình. Ngoài những tác phẩm cổ còn lưu giữ, nơi đó còn có những tài liệu bằng giấy mà chính mình cũng chưa biết hết giá trị của chúng.

- Cậu là Thuận?

Việc người quản gia già bước ra và hỏi đúng tên của mình đã khiến Thuận ngạc nhiên. Anh đáp:

- Dạ, đúng. Nhưng sao bác biết tên cháu?

Ông già cười hiền hòa:

- Có gì lạ đâu, lúc sáng nay tôi nhận được cái điện tín, báo là có người tên là Thuận sẽ tới ở lại nhà một thời gian. Do chữ trong điện tín không có dấu, nên tôi đã đoán già đoán non cả buổi mới quyết định gọi cậu là Thuận thay vì là Thuần hay Thuẫn, không ngờ lại đúng!

Thấy ông ta vui vẻ, Thuận cũng mừng, anh nói luôn:

- Cháu được anh Châu giới thiệu. Mục đích của cháu là ở lại đây một thời gian ngắn...

Ông quản gia cũng tự giới thiệu mình:

- Tôi là ông già Hai, còn có tên là Hai Bình, làm quản gia nhà này đã hai mươi năm rồi, kể từ thời cụ Trùm còn sống. Mà vừa rồi cậu nói do cậu Châu giới thiệu, nhưng sao điện tín gởi ra lại ký tên cô Hạnh. Mà nhà này sao lại còn có Hạnh nào nữa?

Thuận cau mày:

- Cháu đâu quen ai là Hạnh?

Chợt ông già Hai kêu lên:

- Phải rồi, đó là cô ba nhà này? Mà cô ấy đã... đi cách đây cả chục năm rồi làm sao đánh điện được! À, hay là cậu Châu đùa với cậu rồi...

Thuận thoáng thắc mắc, nhưng do phải vào nhà chào hỏi, rồi đi xem chỗ mới, nên sau đó ít phút thì hầu như anh quên bẵng chuyện cái điện tín.

Ông già Hai sau khi dẫn Thuận đi một vòng, ông chỉ dãy phòng trên lầu và bảo:

- Nguyên dãy này, có sáu phòng, đều đang bỏ trống, từ lâu không ai ở, mặc dù lâu lâu tôi có đến quét dọn, nhưng chắc khi cậu chọn phòng nào ở thì phải dọn cả buổi mới tươm tất được. Theo tôi thì cậu nên chọn cái phòng gần cầu thang này để dễ lên xuống, mà trong phòng ấy còn có sẵn giường còn mới và bộ ghế sa lông nữa, cậu có thể tiếp khách ngay trong phòng.

Thuận cười:

- Cháu lên đây là để tránh phải tiếp bạn bè một thời gian, nên chuyện tiếp khách chắc là không có rồi.

- Biết đâu. Cậu còn ở đây lâu mà. Có cậu tôi thích lắm, bởi lâu nay muốn kiếm một người để nói chuyện cũng không có, nhiều khi tôi cứ sợ vài năm nữa mình quên tiếng người quá!

Thuận bật cười với ông. Cuối cùng nghe ông, anh chọn căn phòng sát lối cầu thang. Quả là đầy đủ tiện nghi, còn vượt quá mong đợi của Thuận nữa!

Ông già Hai đi xuống dưới nhà lúc sau trở lên dặn:

- Trong phòng có cái tủ áo quần ngủ, ngày xưa khi ông thân sinh cậu Châu còn sống thì căn phòng này dành để đón khách xa tới ở lại, nên có sẵn một tủ quần áo mát mặc trong nhà, từ lâu khóa tủ để đó, không có ai rớ tới, chắc là còn nguyên, nếu cần thì cậu cứ lấy mà mặc. Mặc xong cứ bỏ vào giỏ để ngoài hành lang, tôi sẽ nhờ người giặt cho. Cả quần áo của cậu cũng vậy.

Ông đưa cả chìa khóa tủ. Thuận không có ý định mặc những loại quần áo đó, tuy nhiên lát sau anh lại có nhu cầu mang mấy bộ quần áo, nên nghĩ tận dụng tủ ấy cũng tốt và anh mở ra xem.

Trong tủ không hề có bộ đồ mát nào như ông già nói, có lẽ ông ta lộn với cái tủ ở phòng khác. Mà trong tủ lại toàn là giấy tờ, sổ sách và khung hình chất cả chục cái.

Một trong đống khung ảnh đó có một cái khi Thuận vô tình chạm vào đã rơi ra, đè lên chân của anh. Sợ nó vỡ, Thuận nhẹ tay cầm lên và giật mình khi thấy chân dung một cô gái, mà Thuận phải buột miệng khen:

- Đẹp!

Cô gái trong ảnh còn rất trẻ, tuy ăn mặc theo phong cách xưa, nhưng gương mặt trái xoan, đôi mắt sáng ngời, đặc biệt là cặp môi chúm chím cực kỳ xinh xắn, mà bất cứ ai nhìn cũng phải tấm tắc!

Điều khiến cho Thuận càng kinh ngạc hơn là bên dưới cùng của bức hình có dòng chữ viết tay khá nắn nót:

- Ngọc Hạnh, năm mười tám tuổi.

- Hạnh? Đây là cô Hạnh?

Thuận kinh ngạc là bởi cái tên Hạnh trong bức điện tín mà ông già Hai vừa nói.

- Cô ta đã...

Không đợi đến chiều, sau đó vài phút Thuận đã cầm bức ảnh đi thẳng xuống nhà, tìm ông quản gia. Đưa cho ông xem bức ảnh, Thuận hỏi:

- Phải đây là cô Hạnh mà bác nói không?

Thấy bức ảnh, ông già Hai kêu lên:

- Cậu lấy đâu ra ảnh ấy?

- Dạ, cháu gặp trong phòng.

- Ủa, sao trong phòng đó lại có...

Rồi chợt nhớ ra, ông vỗ trán nói:

- Tôi lộn rồi, phòng cậu ở trước đây là của... cô Ba Hạnh. Lâu quá rồi nên tôi không nhớ.

- Bác nói cô ấy đã đi xa, mà đi đâu vậy?

- Lâu rồi. Năm đó cô ấy mới mười tám tuổi. Hình đó chụp trước lúc cô ấy đi vài tháng. Bây giờ đã ngót mười năm rồi!

Thuận trầm ngâm một lúc rồi quay lại phòng, ông già Hai nói với theo:

- Hay là cậu ngại thì đổi sang phòng khác.

Thuận xua tay:

- Dạ không cần.

Anh trở về phòng và đặt bức ảnh trở lại chỗ cũ. Như vậy là không có tủ để máng quần áo rồi. Đổi sang phòng khác thì Thuận lại không muốn. Cũng chẳng hiểu tại sao nữa...

Buổi cơm chiều chỉ có Thuận và ông già Hai ăn với nhau. Anh ái ngại nói:

- Để bác phải lo cơm nước cháu ngại quá. Hay là mai để cháu lo...

Ông già Hai chỉ mâm cơm:

- Cậu thấy tài nấu nướng của tôi chưa, chỉ có vài thứ mà tôi chế biến thành bốn món ăn, đâu thua gì mấy bà nội trợ giỏi!

Rồi ông nói thêm:

- Ngày trước khi ông Trùm còn sống tôi vốn là đầu bếp của ông, sau tới ông cụ bố cậu Châu thì tôi mới chuyển qua làm quản gia. Nghề cũ đâu dễ gì quên cậu!

Thuận phải tấm tắc khen:

- Bác nấu ăn ngon thật! Nhất là món sườn ram này, hương vị như nhà hàng Tàu!

Được dịp khoe, ông già gân cổ lên:

- Hồi trước anh em nhà cậu Châu người nào cũng khoái mấy món này! Có bữa cậu Châu ăn đến năm chén cơm chỉ với nửa dĩa sườn ram đó!

- Cô Hạnh gì đó có thích món này không?

Thuận cố tình nhắc tới người tên Hạnh, như chờ một sự tiết lộ thêm. Nhưng hình như ông già Hai có điều gì đó muốn tránh, ông vội nói lảng sang chuyện khác:

- Ngày mai tôi sẽ cho cậu ăn một món khác, ngon hơn!

Sau bữa cơm, Thuận tỏ ý muốn đi ra sau vườn thì ông già Hai khuyến khích một cách thật tình:

- Cậu nên đi lại để thư giãn. Đây là đất riêng của nhà mình bên ngoài không ai vào được. Tuy nhiên trời đêm xứ này khá lạnh, cậu không nên ở lâu bên ngoài nếu không mang theo áo ấm.

Thuận chỉ định đi một vòng ngắn rồi quay trở vào. Nhưng càng đi sâu vào khu vườn rộng, anh càng bị cuốn hút và cứ muốn đi nữa. Chung quanh anh có nhiều loại hoa rất lạ, có lẽ được trồng khá lâu và được cắt tỉa công phu, nên dù là ban đêm, Thuận cũng có thể thấy được cái đẹp của nó và phải buột miệng khen:

- Đẹp quá!

Qua hết con đường có nhiều luống hoa đẹp lại tới một khu chất những tảng đá lạ mắt, một cách rất mỹ thuật giống như những khu vườn Nhật mà Thuận đã từng thấy trên phim ảnh, sách báo. Anh thầm khen chủ nhân ngôi nhà, mà thì nghĩ có thể nó đã có từ thời ông nội của Châu.

Ngôi nhà đã rộng mà khu vườn còn rộng gấp nhiều lần, nên Thuận đã đi ngót nửa tiếng mà chỉ mới được một nửa. Anh vừa định đi tiếp nữa thì chợt nghe có một tiếng kêu rất lạ, cách đó không xa. Lắng nghe một lúc, Thuận nhận ra tiếng ấy là của một loài chim đêm.

Bước theo hướng có âm thanh ấy, bỗng Thuận giật mình khựng lại. Trước mặt anh là một con chó mực khá lớn đang hụt đầu xuống một ngôi mộ đá bị moi một lỗ to.

Thấy sự xuất hiện của Thuận, con chó mực quay lại nhìn, đôi mắt của nó tròn và sáng như hai ngọn đèn pha, khiến cho Thuận suýt kêu lên. Anh không dám lùi, bởi thường nghe nói gặp chó mà lùi thì nó sẽ tấn công!

Quả như vậy, con chó thấy Thuận nhìn chăm chú vào, nó không sủa, mà từ từ quay đi và bất thần bỏ chạy!

Nhìn kỹ chỗ nó vừa đào lên, Thuận kêu khẽ:

- Một cái sọ người!

Thì ra con chó đang đào mộ, lôi lên hài cốt của người chết! Chẳng Iẽ là người mới chôn?

Thuận liếc nhìn vào mộ bia, do trời tối nên nửa phần trên chỗ có tên người đã bị che khuất không thể đọc được, chỉ thấy dòng ghi ngày tháng tử: 14-4-1918

- Chết đã mười năm rồi!

Có nghĩa cái sọ kia đã là sọ khô lâu năm, chẳng hiểu sao con chó lại đào lên làm gì. Nó đâu có ăn được?

Tự dưng Thuận nghe bần thần, anh cứ đăm đăm nhìn cái sọ, trong lòng như muốn có một hành động gì đó như cầm nó lên hay chôn nó trở xuống huyệt!

Cảm giác đó chợt đến mà Thuận cũng chẳng hiểu sao mình lại bị cuốn hút vào đó như thế! Anh cảm thấy khó xử nên cứ đứng tần ngần ở đó hơn một phút. Chợt trời gầm to, sấm chớp liên hồi và có vài giọt mưa rơi xuống!

Lúc này Thuận như được ai đó tiếp thêm sức mạnh, anh cúi xuống nhặt cái sọ người lên, rồi chẳng cần suy nghĩ, đã nhẹ tay đặt nó xuống cái lỗ mà con chó vừa bươi lên lúc nãy. Anh lấp đất lại rất nhanh và còn cẩn thận lấy thêm hai tảng đá gần đó đè lên chỗ mới lấp!

Làm xong Thuận cảm thấy nhẹ nhõm, anh xoa tay đứng nhìn ra vẻ đắc ý. Trước khi bỏ đi anh còn chấp tay xá liền mấy cái.

Anh đi được chưa hơn chục bước thì con chó mực lúc nãy quay trở lại. Lần này nó không bươi đất nữa, mà chui tọt xuống mồ rồi mất dạng luôn!
 
***

Trong bóng tối như mực, Thuận quờ tay đụng một người nằm bên cạnh mình và chỉ cảm nhận được giới tính của người đó qua da thịt của họ, anh kêu lên thật khẽ:

- Một phụ nữ!

Bàn tay Thuận chạm vào cánh tay của nàng ta và giật mình bởi nó lạnh và quần áo hình như đang ướt đẫm.

Lần này Thuận lên tiếng rõ ràng:

- Ai đây?

Một ngón tay của nàng ta đưa lên đúng vào miệng của Thuận:

- Đừng nói lớn, em đang trốn!

- Cô là...

- Gấp lắm, xin cho em nương náu đỡ một lúc, em đang bị người ta đuổi bắt. Họ mà tóm được thì chắc là em chết mất! Em lạy người...

Giọng nàng ta tha thiết khiến Thuận cũng không nỡ, anh hỏi khẽ:

- Cô làm gì trong nhà này?

- Em... em ở xa lắm. Em tới đây do tình cờ và em bị người ta đuổi. Họ cho em là trộm, mà nào em có làm được chuyện đó đâu.

Thuận định ngồi dậy mở đèn thì nàng hoảng hốt ngăn lại:

- Đừng! Đừng! Nếu mở đèn lên thì thà giao em cho họ còn hơn!

- Nhưng... có ai trong nhà này ngoài ông quản gia và tôi? Cô bị ông quản gia truy đuổi hả, để tôi nói giúp cho.

Nàng ta tỏ ra sợ hãi hơn:

- Đừng! Ông ấy... à mà không, tôi bị... con chó mực!

Nghĩ tới con chó mực ở đầu mộ lúc đầu hôm, Thuận ngạc nhiên hỏi:

- Cô làm gì ở ngoài mộ mà bị con chó...

Anh ngừng ngang câu hỏi vì nguyên bàn tay cô nàng đã che kín miệng, giọng nàng như van lơn:

- Xin anh đừng hỏi nữa, em sợ lắm!

Bấy giờ Thuận mới cảm nhận được cái ướt từ thân thể nàng ta lan sang mình, anh hỏi:

- Sao người cô ướt hết thế này?

- Tại vì...

Nàng ta đáp chưa hết câu thì từ bên ngoài ông già Hai lên tiếng:

- Ngủ chưa cậu Thuận?

- Dạ...

Anh lại bị chận tay ngang miệng, nên tiếng vừa rồi chỉ đủ hai người trong phòng nghe. Bên ngoài ông già Hai không nghe đáp nên đã bỏ đi.

- Cám ơn anh.

Rất nhanh, cô nàng phóng khỏi giường, hình như tới ngồi ở ghế. Thuận muốn bước xuống theo thì nàng ngăn lại:

- Anh không nên lại đây. Tốt nhất là có bộ quần áo nào còn sạch thì làm ơn cho tôi mượn mặc đỡ. Tôi đang bị lạnh.

Đúng là nàng ta lạnh lắm, Thuận nghĩ vậy nên bước lần qua chỗ chiếc rương còn nguyên chưa mở từ khi tới đây. Anh bảo:

- Cô phải bật đèn lên giùm thì tôi mới lấy quần áo cho được chứ, tối quá.

Nhưng nàng cương quyết:

- Anh mò và lấy đại, quần áo gì cũng được, miễn là...

Nửa phút sau Thuận cũng lấy ra được một bộ pyjama, định bước tới đưa thì như đoán được ý của anh, cô nàng lại lên tiếng:

- Anh cứ ném nó sang đây, tôi đang ngồi ở bàn viết.

- Rồi anh ở yên đó, để tôi thay đồ!

Lâm vào hoàn cảnh toàn để phụ nữ sai bảo như thế này là lần đầu Thuận gặp phải, tuy nhiên anh lại cảm thấy thích thú, nên răm rắp nghe theo. Chỉ nghe tiếng xột xoạt của quần áo ướt bị cởi ra, vài phút sau nàng lên tiếng:

- Xong rồi đó, anh có thể mở đèn lên. Nhưng em nói trước, đã giúp em thì phải giúp cho trót, có ai hỏi thì anh không được nói có em trong này!

- Rồi, yên tâm.

Thuận bước tới bật công tắc điện lên, đèn sáng choang và...

- Ủa, cô ta đâu?

Ở bàn viết không có ai ngồi, chỉ trên đáy ghế có bộ đồ ướt vất ở đó thôi...

- Cô ơi!

Thuận kêu lên khẽ và bước khắp phòng tìm. Chốt cửa vẫn còn cài bên trong, như vậy chắc chắn nàng ta không ra bằng cửa ấy được. Mà cửa sổ thì vẫn đóng kín. Nghĩ là cô ta muốn đùa với mình, anh nhẹ bước tới gần tủ áo và bất thần kéo mạnh nó ra! Tủ trống không. Đứng thừ người một lúc Thuận mới có phản ứng. Anh chạy ra cửa gọi lớn:

- Bác Hai ơi!

Ông già quản gia ở nhà dưới, nghe gọi lên tiếng ngay:

- Gì đó cậu Thuận?

Thuận đã chạy bay xuống nhà, trên tay còn cầm bộ quần áo ướt, anh hớt hải nói:

- Cháu đang ngủ thì có ai đó vào phòng, cháu không thấy mặt, chỉ nghe tiếng nói, cô ấy mượn cháu bộ đồ thay rồi... biến mất, bỏ lại bộ đồ ướt này!

Vừa cầm bộ quần áo xem, ông già Hai đã kêu lên:

- Bộ đồ này hình như là của... của...

Ông định nói nhưng kịp dừng lại. Thuận hỏi dồn:

- Của ai vậy?

Ông già nhẹ lắc đầu bảo:

- Thôi, không sao đâu, chắc là ai chạy trốn...

Thuận nói liền:

- Đúng là cô ta đang chạy trốn ai đó. Hình như trốn con chó mực!

Ông già Hai lại một lần nữa giật mình:

- Cậu thấy con chó?

Thuận lắc đầu:

- Chỉ nghe cô ta nói.

Ông già lặp lại rất khẽ:

- Con chó Mi Nô, con mực ngày xưa...

- Bác biết con chó mực?

Không đáp thẳng, ông quay đi, giọng buồn bã:

- Nó vẫn còn bên cô ấy...

Thuận quá tò mò, anh hỏi:

- Bác biết cô ấy?

- Biết... Nhưng mà...

Ông đáp chưa dứt lời đã vội bước ra ngoài. Thuận định đuổi theo thì ông già xua tay ngăn lại:

- Cậu chờ tôi một lát.

Ông ta đi khoảng mười lăm phút thì trở lại, vẻ mặt bớt căng thẳng:

- Đêm qua cậu ngủ không được?

- Dạ không, cháu ngủ rất say, ngoại trừ lúc cô ấy vào giường cháu nằm và cháu giật mình!

Ông già chỉ thở dài, không nói. Từ phút đó dù Thuận có hỏi mấy ông ta cũng không nói lại chuyện liên quan đến cô gái có bộ đồ ướt. Trong suốt bữa ăn sáng ông toàn nói chuyện bâng quơ.

- Hôm nay cậu có cần đi đâu không, tôi thuê cho một người dẫn đường.

Thuận bật cười:

- Ở đây có chút xíu, cháu tự đi được rồi, đâu phải đi rừng đi suối gì mà cần hướng dẫn bác. Chỉ xin bác cho cháu mượn cây roi da mà cháu thấy treo ở phòng khách.

Ông già cười:

- Roi đó là của ông Trùm, ngày xưa nhiều người sợ chết khiếp mỗi khi thấy cây roi ấy. Bộ cậu cũng muốn làm... trùm sao?

Thuận vô tình nói:

- Cháu mượn cầm đi trong vườn thôi, phòng khi con chó mực.

Bỗng ông già sa sầm ngay nét mặt:

- Không được phép!

Thuận ngạc nhiên:

- Bác nói cháu không được phép mà phép gì ạ?

- Không được chạm đến con chó!

Ông vừa đáp xong đã bật đứng dậy ngay, nét mặt giận dữ! Thuận ngơ ngác chẳng hiểu tại sao. Cho mãi đến chiều tối hôm đó ông quản gia hầu như tránh mặt Thuận. Đến bữa cơm ông chỉ dọn để đó chứ không cùng ăn như hai bữa trước. Thuận áy náy lắm, nhưng cũng không chủ động tìm ông già để hỏi cho ra lẽ. Tối đó buồn tình nên anh đi ngủ sớm. Nhưng vừa đặt lưng xuống anh đã nghe tiếng ông già Hai ngoài cửa phòng:

- Tôi gặp cậu một chút, cậu Thuận!

Thuận ra mở cửa thì bắt gặp một ông già Hai say khước, đứng không muốn vững, anh phải dìu vào trong, vừa hỏi:

- Bác uống ở đâu mà say quá vậy, bác Hai?

- Ừ, tôi say... mà không say thì làm sao nói chuyện được với cậu! Cậu cho tôi nói không cậu Thuận?

Thuận đỡ ông nằm xuống giường, nhưng ông ta lại bật ngay dậy, bất ngờ ôm chầm lấy Thuận và oà lên khóc!

Quá bất ngờ trước hành động của ông, Thuận hơi lúng túng:

- Bác... bác sao vậy?

Ông già Hai cố trấn tỉnh, nhưng giọng ông cứ bị nghẹn lại. Phải mất hơn nửa phút sau thì ông mới nói được trọn vẹn ý của mình:

- Cậu có muốn nghe tôi nói không?

- Bác cứ nói, cháu sẵn sàng nghe. Nhưng trước khi kể bác để cháu lấy viên thuốc cho bác uống, nó sẽ giã rượu.

Ông già Hai kéo ghì Thuận lại:

- Khỏi, tôi đâu có say. Tôi chỉ buồn thôi...

Ông chỉ vào trong tủ áo:

- Cậu hãy lấy hết những khung ảnh trong đó ra đây, tôi sẽ chỉ cho cậu thấy...

Thuận ôm khệ nệ cả chục khung ảnh, có cái có ảnh cái không. Dĩ nhiên trong đó có ảnh chân dung của người mà ông già Hai nói là cô Ba Hạnh. Vẫn cầm riêng bức ảnh đó, ông già đưa trước mặt Thuận:

- Cậu gặp nó rồi phải không?

Thuận lắc đầu:

- Dạ chưa.

- Gặp rồi! Cậu gặp ngoài nghĩa địa và gặp cả ở đây. Bộ đồ ướt hôm qua là của cô ấy!

Thuận thảng thốt:

- Bác nói đó là cô Hạnh?

Giọng ông trầm hẳn xuống:

- Chính là cô ấy. Và cả con chó nữa, nó chính là...

Ông nói tới đó thì đột nhiên đôi mắt trợn trừng và ngã xuống sàn trước sự kinh ngạc của Thuận!

- Kìa bác!

Anh đỡ ông lên thì thấy hai dòng máu ứa ra ở hai khóe miệng. Đầu ông ta ngoẹo sang một bên. Thuận kêu lên:

- Bác Hai!

Nhưng ông ta đã không còn thở nữa.

Thuận không biết phải làm gì trước sự việc quá đỗi bất ngờ này, nên cứ ngây người ra. Phải một lúc sau anh mới chạy qua nhà lân cận cách đó hơn trăm mét. Những người này cùng chạy qua xem và lắc đầu nói:

- Ổng tuổi già, trước đây có tiền sử bệnh tim, từng mấy lần đi bệnh viện. Lâu nay bỏ rượu nên đỡ, sao bây giờ lại uống rượu lại. Tội nghiệp thân già không con cái, không gia đình riêng...

Họ làm chứng cho Thuận nên sau đó anh không gặp rắc rối gì về cái chết lạ lùng này. Thuận đứng ra lo ma chay cho ông và buộc lòng phải lưu lại ngôi nhà, bởi ngoài anh thì giờ đây không có ai khác.

Thuận dự trù ngày mai sẽ đánh điện tín cho Châu báo mọi việc rồi chờ Châu lên, lúc ấy anh mới về Sài Gòn.
 
***

Châu lên và chỉ ở lại đúng một ngày và anh ta đã năn nỉ Thuận hết lời, xin anh hãy tiếp tục ở lại. Châu nói:

- Ngôi nhà này là kỷ niệm cuối cùng của dòng họ tôi. Nghe nói trong các phòng trên lầu còn lưu giữ nhiều cổ vật quý giá, đáng lý tôi phải trực tiếp lên đây canh giữ hoặc tính toán cách bảo quản nó, tuy nhiên công việc kinh doanh của tôi dưới đó hiện đang rối rắm, tôi mà bỏ đi là loạn ngay. Cậu là bạn thân của tớ, vậy hãy giúp tớ trong lúc nguy ngập này. Nếu cần, mình sẽ tìm thuê cho cậu một người giúp việc. Cậu ráng ở chừng một tháng, được không?

Thuận đành phải chìu theo ý bạn. Anh cũng không hỏi gì về những điều kỳ lạ đã chứng kiến, bởi theo Thuận thì Châu chẳng hề biết gì chuyện ở ngôi nhà này, có hỏi cũng vô ích.

Châu về được nửa buổi thì Thuận khám phá một điều mà anh tiếc là nếu còn bạn mình ở lại chắc là phải ngạc nhiên! Số là trong số khung ảnh và tập vở cũ kia, Thuận tình cờ nhặt được một bức ảnh của Châu chụp chung với một cô gái nhỏ hơn anh chỉ vài tuổi, mặt cô gái này giống hệch như cô Hạnh trong ảnh kia.

- Chắc là anh em họ.

Nhưng khi lật phía sau ảnh thì Thuận giật mình! Có dòng chữ ghi: Không phải anh em mà sống như anh em, liệu rồi đây hai đứa sẽ ra sao khi phải chia lìa nhau.

Chữ viết là của một người có vẻ lớn tuổi. Hơi giống nét của một phụ nữ, phải chăng là của thân sinh ra Châu hoặc Hạnh? Mà tại sao họ không là anh em ruột? ảnh cô gái này có đúng là Hạnh hay là của một người khác? Biết hỏi ai bây giờ, khi mà ông già Hai và cả Châu đều không có mặt ở đây.

Khi xem tới một tập giấy bìa cứng, dạng nhật ký thì Thuận phải bàng hoàng kêu lên:

- Có chuyện này sao?

Trong quyển vở đó ghi vắn tắt mấy dòng: Tội nghiệp con Hạnh! Làm sao con nhỏ yếu đuối như thế mà chịu nổi trận đòn chí tử của lão Trùm. Lão ta sau khi hay biết việc Hai Bình cố tình gán ghép con gái mình cho thằng Châu thì đã nổi điên, nhốt thằng Châu vô hầm kín, còn con Hạnh thì bị trói vào cột dừa chịu liên tiếp nhiều trận đòn. Cây roi da ngày trước lão trùm dùng tra tấn nô lệ thì nay lại đùng để hành hạ đứa con gái liễu yếu, hỏi làm sao nó chịu cho nổi! Nếu không có con mực thì chắc con nhỏ đã chết ngay từ trận đòn đầu tiên!

Những dòng chữ chấm dứt ở đó. Nhưng cũng đủ cho Thuận bắt đầu hiểu sự việc. Anh lẩm bẩm:

- Thảo nào ông ấy cấm mình không được động tới con chó!

Thuận dọn dẹp hết những vật dụng vào tủ, chỉ chừa lại mấy bức ảnh của Hạnh và ảnh chụp Hạnh và Châu.

Đêm đó anh ngủ một giấc khá ngon. Cho mãi đến lúc gần sáng... lúc ấy bỗng Thuận nghe có tiếng động bất thường từ dưới dãy phòng mà ông già Hai ở. Tò mò, Thuận cầm đèn soi đi xuống. Tới gần anh mới giật mình vì có tiếng khóc phát ra từ đó.

- Trong phòng của ông già Hai!

Từ hôm ông ta chết thì căn phòng riêng của ông được đích thân Thuận khóa lại. Vậy mà lúc này cửa phòng mở và bên trong có ánh sáng và tiếng khóc của ai đó!

- Bà là...

Thuận cất tiếng hỏi khi nhìn thấy một người phụ nữ tuổi trung niên đang ngồi xếp bằng dưới sàn, trước di ảnh của ông già Hai. Nghe hỏi, người đàn bà không nhìn lại, mà cất tiếng hỏi:

- Cậu là Thuận phải không?

- Sao bà biết tôi?

- Tôi biết cậu nên mới ngồi đây chờ cậu tới. Biết cậu nên mới để lão già này chết thay cho cậu!

Câu nói làm cho Thuận tròn mắt kinh ngạc:

- Bà vừa nói gì? Tại sao ông già Hai chết thay tôi?

Lúc này người phụ nữ mới quay hẳn lại, nhìn thẳng vào Thuận. Anh ngạc nhiên bởi nhan sắc khác thường của bà ta! Tuổi tác thì rõ ràng không còn trẻ nữa, nhưng sắc đẹp thì vẫn quyến rũ, chẳng khác những cô gái mười tám đôi mươi.

Thấy Thuận bàng hoàng khi nhìn thấy mình, người phụ nữ vội lên tiếng:

- Chỉ có cậu mới dám nhìn tôi lâu như vậy. Và cậu cũng là người đầu tiên nhìn thấy tôi mà không ngã ra hộc máu!

- Vậy bà là...

Bà ta nhắc:

- Cậu chưa quên cái chết của lão quản gia. Hôm đó cậu có mặt lúc lão ta chết, phải không?

- Đúng, tôi có chứng kiến...

- Vậy cậu có biết tại sao ông ta chết không?

Thuận ngập ngừng:

- Điều đó thì...

Bất ngờ, bà ta vung mạnh tay một cái, có một vật thể màu đen lao vút từ ngoài cửa sổ vào và đứng trụ ngay trước mặt.

- Con chó mực!

Thì ra vật vừa lao vào ấy là con chó mực to có đôi mắt sáng như hai ngọn đèn pha. Nó chiếu thẳng ánh hung quang vào Thuận như chực ăn tươi nuốt sống, khiến anh hơi nao núng.

- Cậu đừng sợ. Nếu hại cậu thì nó đã làm ngay từ hôm đầu tiên khi cậu nhìn thấy nó với chiếc đầu lâu ở sau vườn rồi! Chính vì hành động của cậu hôm đó, nên nó mới để cậu yên. Cậu nhớ khi cậu chôn chiếc đầu lâu không, đó là cậu đã cứu mạng con Hạnh lần thứ hai đó!

Thuận ngơ ngác:

- Chuyện ấy... là sao ạ?

Người phụ nữ trở nên dịu dàng hơn:

- Hôm ấy nếu không có cậu tới kịp thì lão đã thực hiện được ý đồ rồi và như vậy thì oan hồn con gái tôi đã vĩnh viễn bị bơ vơ, không nơi nương tựa, phải sống kiếp lưu đày trong cõi âm ty!

Thuận càng nghe càng không hiểu, phải đợi bà ta giải thích rõ:

- Cậu đã đọc những trang viết về thân thế của Hạnh rồi phải không? Cậu hiểu nó là con của lão già quản gia chứ gì?

Thuận gật đầu:

- Dạ, hình như là vậy, theo những gì trong nhật ký viết. Có phải bà là người viết những dòng ấy?

Bà ta gật đầu:

- Không sai. Nhưng là viết theo lệnh của lão ta.

- Ai ạ?

Bà ta rít lên.

- Lão quản gia chứ còn ai nữa!

Thuận thì ngơ ngác chuyển thành sửng sốt.

- Sao lại có chuyện đó?

- Vậy mà có đó cậu! Tôi là mẹ đẻ của Hạnh, là nàng hầu của ông Trùm nhà này. Cậu từng nghe nói về ông Trùm?

- Dạ, có nghe. Nhưng sao...

Thuận muốn hỏi về tuổi tác, bà ta tiếp liền:

- Cậu thắc mắc cũng phải, bởi khi làm hầu thiếp cho ông Trùm thì tuổi tôi chỉ mới có mười tám, mà ông ấy đã trên tám mươi! Bởi vậy mới xảy ra điều tệ hại...

Thuận bạo gan hỏi:

- Với người con trai ông trùm, tức cha của Châu...?

Bà ta lắc đầu:

- Anh ấy không hề để ý đến tôi, vả lại ba của Châu không ở chung. Người gây rắc rối cho tôi lại là... lão quản gia!

- Lão già Hai?

Bà ta gật đầu, ngừng một lát rồi kể tiếp:

- Cũng có nguyên nhân thế này, thuở mới tám tuổi tôi đã được cha mẹ vì nghèo nên đem ký thác cho nhà ông Trùm. Lúc ấy lão quản gia Hai Bình đã mười sáu tuổi, lão ta làm đầu bếp trong ngôi nhà này. Lão bắt đầu để ý tôi mà tôi không hề hay biết, cho đến một hôm khi tôi mười sáu tuổi, trong một buổi tối nằm ngủ trong phòng một mình tôi đã bị lão ấy cưỡng bức! Khi tỉnh lại tôi định la lên thì bị lão ta đe dọa, nếu la lão ta sẽ giết chết! Tôi bị làm nhục, đang có ý định tự tử thì may nhờ ông Trùm ra tay giúp đỡ cứu sống. Ông ấy ban đầu chỉ đơn thuần là cứu tôi thôi, nhưng chính tôi đã chủ động hiến dâng cho ông ta, chỉ nhằm mục đích trả thù kẻ đã lấy mất tiết trinh của mình! Lão Hai Bình sau khi biết ý định của tôi đã tìm cách hăm dọa rằng nếu tôi tố cáo thì lão sẽ giết cả nhà tôi chứ không riêng gì tôi! Tôi đành ngậm miệng trong uất hận, chờ ngày sinh đứa con đầu. Đứa con ấy chính là Hạnh. Dòng máu của...

Thuận không dừng được, phải hỏi liền:

- Giọt máu của lão quản gia?

Người phụ nữ nhẹ lắc đầu:

- Không. Nó là của... ông Trùm!

- Sao lại...?

- Chính lão Hai Bình cũng nghĩ đó là giọt máu của mình, bởi lão ta chiếm đoạt tôi trước. Nhưng chính tôi mới hiểu rõ, khi lão ta cưỡng hiếp tôi thì đúng vào chu kỳ thường lệ của người phụ nữ, làm sao mang thai được? Tôi có học làm y tá do ông Trùm buột phải học để chăm sóc sức khỏe trong nhà, nên tôi hiểu về chu kỳ thụ thai, sinh nở. Tôi có thai với ông Trùm, sau khi sinh con tôi đã một lần nói rõ với Hai Bình, để lão không còn vọng tưởng nữa, nhưng lão ta cứ quả quyết đó là con mình và một hôm lão ta viết một lá thư nặc danh gửi cho ông Trùm tố cáo rằng tôi đã ngoại tình với ai đó! Tính của ông Trùm thì cả nhà ai cũng biết, nóng như lửa, không thể chấp nhận bất cứ ai phản bội mình, bởi vậy khi hay tin ấy đã ra lệnh trói tôi vào gốc cây trong vườn, bỏ đói khát trong hai ngày liền, cấm không cho ai tới gần để cứu giúp. Tôi bị chết trong lần đó, trong khi con Hạnh mới có năm tuổi!

Bà quá xúc động lúc kể tới đó, phải ngừng lại để lấy bình tĩnh rồi mới tiếp:

- Con Hạnh lớn lên trong nỗi khổ tâm vì bị ông Trùm ghét bỏ bởi sự gieo rắc nghi kỵ của Hai Bình. Khi nó được mười sáu tuổi thì lộ rõ ý đồ của lão ta, khi lão ta dùng thủ đoạn đê tiện, giả chữ viết của tôi, ghi vào sau bức ảnh chụp chung của Hạnh và cậu Châu, khiến ai đọc vào cũng nghĩ đó là người không phải cùng huyết thống.

- Mục đích là gì cậu biết không?

- Là để... hai người sau này lấy nhau và... Lão ta nhắm vào cái tài sản khổng lồ này sau khi ông Trùm và cả bố của Châu mất đi! Lão ta nghĩ rằng khi để Hạnh lấy Châu thì lão sẽ danh chánh ngôn thuận làm chủ cơ ngơi này, vì lúc ấy lão là cha vợ của Châu rồi.

Thuận buột miệng kêu lên:

- Nếu đúng lời bà kể thì làm sao để xảy ra chuyện ấy được!

Bà ta thở dài, chép miệng:

- Đúng là như vậy! Về huyết thống thì chính thức Hạnh vai cô của Châu, làm sao để chúng phạm tội tày trời được. Bởi vậy lúc ấy tôi mới nhờ đến con mực Mi Nô giúp ngăn chặn lão ta!

- Con chó mực.

- Đúng. Khi ấy do hồn phách tôi chưa thể hiện về để hành động, nên chỉ còn cách mượn con chó mà lúc sinh thời tôi nuôi và Hạnh cũng cưng yêu nó. Con chó rất khôn, nó có được linh cảm giữa hồn người chết và kẻ dương gian, nên ngày đêm nó theo sát con Hạnh, không để lão Hai ấy ra tay. Nó luôn gầm gừ và xua đuổi mỗi khi lão ta tạo cơ hội cho Châu tiếp cận với con Hạnh. Và nó đã thành công. Một lần kia, chính lão Hai Bình đã dàn cảnh để Châu vào phòng của Hạnh trên tầng lầu thượng, trong khi nhà đi vắng hết. Lão còn cho Châu uống rượu có hạ thuốc kích dục, quyết để Châu chiếm đoạt Hạnh cho bằng được, Hạnh bị Châu tấn công, suýt mất đời con gái thì bất thần con chó mực xuất hiện, nó lao vào cắn Châu để lôi ra. Trong lúc dằn co thì Châu trượt chân, sắp ngã ra ngoài lan can của lầu thượng, Hạnh cũng chới với ngã theo! Lão Hai nhào tới chụp lại, nhưng chỉ chụp được Châu, còn Hạnh thì rơi từ trên cao đó xuống đất, chết liền tại chỗ!

Bà ngừng kể, khóc sướt mướt như chuyện ấy vừa mới xảy ra. Hồi lâu sau mới tiếp lời được:

- Tội nghiệp con chó mực, thấy chủ bị như vậy nó lao từ trên cao xuống theo, và cũng mạng vong theo Hạnh. Hai Bình không ngờ sự thể tồi tệ như vậy nên chỉ biết ôm đầu rên rỉ. Trong lúc Châu thì hoảng sợ, tỉnh cả rượu. Cậu ta bỏ trốn khỏi nhà ngay sau đó. Và đó cũng là nguyên do khiến về sau này Châu không bao giờ dám ở trong nhà này lâu. Việc Châu khiến cậu về đây hình như là có ý muốn nhờ cậu khám phá chuyện bí ẩn trong dòng họ nhà mình. Và cậu đã làm được điều ấy.

Thuận vẫn chưa hiểu:

- Cháu đâu làm gì?

- Có! Chuyện cậu chôn cái sọ trở xuống huyệt và việc cậu khám phá những trang viết, những bức ảnh trong phòng đã giúp giảm nỗi nghi ngờ từ lâu. Chính hành động đó của cậu đã khiến vong hồn tôi bấy lâu bị giam kín ở đáy mộ, được trở về đây hôm nay và có dịp nói lên hết sự thật!

Thuận ngỡ ngàng:

- Thì ra là như vậy...

Anh hơi ái ngại đưa mắt nhìn người đàn bà. Hiểu ý, bà ta nhẹ giọng nói:

- Có những oan hồn chỉ hiện ra để làm việc minh oan như tôi. Chứ không phải hồn ma nào cũng dữ, cũng ác. Mẹ con tôi xin cám ơn cậu nhiều và từ nay mong cậu hãy ở lại đây cùng chúng tôi.

Thuận hơi yên tâm, anh nói thật lòng:

- Xin phép bà, tôi chỉ ở lại một thời gian ngắn giúp cho Châu thôi. Nơi này không thuộc về tôi.

- Không, bây giờ nó đã thuộc về cậu rồi. Tôi và Hạnh nguyện sẽ ủng hộ cậu, giúp cậu định cư an lành chốn này. Không phải cậu cần một nơi để làm chỗ đón tiếp bạn bè, các nhà khoa học chuyên về khảo cổ sao? Nhất là cậu sắp phải đón cô người yêu thích phong cảnh thiên nhiên trở về từ nước ngoài sao? Cô ấy đang muốn cậu cưới ngay và tìm một chỗ ở yên tĩnh như thế này, đúng không?

Thuận quá đỗi ngạc nhiên:

- Sao bà biết?

Bà ta cười hiền hòa:

- Người cõi âm biết được nhiều chuyện trước người sống mà. Cậu tin lời tôi đi, nội nhật ngày hôm nay cô Ái Vân đó sẽ tìm tới tận đây cho coi!

Nói tới đó đột nhiên bà ta biến mất. Cả con chó cũng không còn...
 
***

Việc ngoài dự kiến của Thuận. Quả đúng như lời người đàn bà nói, chiều hôm đó Ái Vân xuất hiện khiến Thuận kinh ngạc! Cô giải thích chuyện mình tới được chốn này:

- Liên tiếp mấy đêm qua em đều mơ thấy một người con gái trẻ, rồi một phụ nữ lớn tuổi báo cho biết em phải tới ngay ngôi nhà này, kẻo chậm chân thì có nguy cơ sẽ mất anh! Lúc đầu em không tin, cho rằng chỉ là mộng mị, nhưng sáng qua, lúc em đang ngủ thì có người gõ cửa phòng, em ra mở cửa thì chẳng thấy ai, chỉ nhận được một mảnh giấy ghi rõ địa chỉ ngôi nhà này cùng lời ghi vắn tắt: Hồn ma không biết nói dối. Nếu cô không tới thì người con gái tên Hạnh sẽ về sống với Thuận như cuộc tình âm dương! Nghe và hoảng quá nên em lên máy bay về nước liền. Từ phi trường em đi thẳng lên đây!

Thuận ngồi thừ người ra, khiến Ái Vân phải sốt ruột:

- Có chuyện anh sẽ... lấy cô Hạnh nào đó không? Cô ta là ai vậy?

Thuận phải kể lại đầu đuôi câu chuyện dài cho Vân nghe và cuối cùng đề nghị:

- Anh với em ra mộ cô ấy thắp nén hương. Cô ta là một oan hồn tốt, một con người đáng kính trọng.

Tuy ngại, nhưng nghe theo Thuận, Ái Vân theo ra sau vườn. Chính Thuận phải ngạc nhiên khi thấy con chó mực đang nằm phục trước mộ, nó đưa mắt nhìn hai người khách. Thuận sợ, nên đứng áng ngang trước Ái Vân, vừa chấp tay vái:

- Xin bác và cô Hạnh chứng giám cho chúng tôi. Ái Vân tới đây theo sự cho phép của bác và chúng cháu...

Con chó mực đột nhiên phóng về phía sau ngôi mộ và biến mất trước sự ngạc nhiên của hai người. Thuận giải thích:

- Nó là con vật trung thành với chủ, nó chết theo và bây giờ là vật bảo vệ họ.

Chỉ một lúc sau bỗng con chó trở lại. Nó ngậm một chùm hoa thật đẹp, đặt ngay trước mặt Thuận và Ái Vân.

Trong lúc Ái Vân chưa hiểu gì thì Thuận reo lên:

- Nó tặng hoa cưới cho chúng ta!

Lời của Thuận vừa dứt thì con chó cũng nhảy vụt đi và biến mất bóng! Thuận nói một mình:

- Cám ơn cô Hạnh.

Ái Vân cũng nói theo:

- Mong cô giúp chúng tôi. Chúng tôi nguyện sẽ là những người nhang khói mãi mãi cho các vị.

Thuận và Ái Vân chia hai bó hoa, đặt trước hai ngôi mộ và khấn:

- Đây là lòng thành của chúng cháu. Xin bác và cô Hạnh hãy nhận.

Nắng chiều sắp tắt, đột nhiên mặt trời nhô ra từ đám mây và le lói ánh thái dương chiếu xuống. Ái Vân buột miệng khen:

- Trời hoàng hôn đẹp quá!

Họ vái thêm mấy lạy nữa rồi nắm tay nhau song bước vào nhà...
 
***

Họ sống trong ngôi nhà mà tưởng chừng như là cơn ác mộng, nay trở nên yên ắng, bình an. Thuận dọn khỏi căn phòng đang ở, chuyển xuống bên dưới nhà. Còn căn phòng đó anh cho đặt một tủ thờ, lấy ảnh của Hạnh cùng một bức ảnh khá cũ anh tìm được trong đống khung ảnh cũ mà anh cho là ảnh của mẹ Hạnh. Đặt hai ảnh lên tủ thờ và ngày ngày nhang khói.

Không hề có bất cứ hiện tượng ma quái nào xảy ra kể từ sau đó...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-04-27 08:53:38Soccon>
THỦY TÁNG

Trận mưa dữ dội kéo sang ngày thứ ba mà vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt. Nước trên cánh đồng cỏ năng đã tràn như mặt biển mênh mông. Từ chỗ neo xuồng, Tứ đưa mắt nhìn ra chẳng khác nào đang lênh đênh giữa đại dương ngàn trùng...

Ôm xác người vợ trẻ chết từ nửa đêm hôm qua mà lòng Tứ nát như tương. Anh đã khóc cạn nước mắt và van vái cho trời ngừng mưa, để anh còn có thể kéo chiếc xuồng bể nát, không còn khả năng chèo chống, hầu đưa xác vợ vào nơi nào đó khô ráo để an táng. Vậy mà ước nguyện đó tới giờ này Tứ vẫn chưa thể thực hiện được. Mà xem ra khó mà làm theo ý, bởi nước càng lúc càng dâng cao, từng cơn sóng cao hơn nửa thước cứ đánh ập tới theo cơn gió rít từng hồi.

Tứ đâu lạ gì mùa nước lũ vùng Đồng Tháp Mười này, nhưng đây là lần đầu tiên anh kẹt giữa muôn trùng biển nước, mà lại trong hoàn cảnh ngặt nghèo này. Kim Lệ, cô vợ vừa cưới chưa được một năm của anh nhè giữa trời mưa lũ lại lâm bạo bệnh và chết chỉ sau nửa giờ vật lộn với cơn đau lạ. Kẹt giữa biển nước, trong lúc chiếc xuồng ba lá của anh lại vướng phải cọc bể mũi, không thể chèo chống được, và Tứ chỉ còn biết neo lại gốc cây gáo nằm trơ trọi giữa đồng mà chịu trận.

Lạy trời cho mưa ngừng lại, cho có ai đó đi qua đây. Tứ đã van vái cả trăm lần mà vẫn chưa có hiệu quả gì. Mưa vẫn nặng hạt, bóng dáng các xuồng ghe khác thì hầu như không thể có, bởi chẳng ai dám đi giữa biển nước như thế này, nếu không muốn vong mạng.

- Đành thôi!

Tuy nhiên, khi nhìn lại xác vợ đã bắt đầu tái nhợt, lòng Tứ lại nhói đau. Nàng đã vong mạng rồi mà còn phải chịu đựng nằm trơ ra như thế này đến bao giờ nữa? Đã nghĩ tới cách táng bằng cột xác treo lên cháng ba cây, đợi khi nước rút thì đem xuống mai táng lại. Nhưng ngặt nỗi chung quanh Tứ bây giờ một sợi dây cũng không có, chỉ có chiếc mền duy nhất thì làm sao thực hiện được việc treo xác vợ lên cây.

Nghĩ nát óc, cuối cùng Tứ đành phải ôm chặt vợ vào lòng, khóc rống lên cho nỗi thống khổ vơi bớt và cũng để có sức mà chống chọi lại với cái lạnh đã bắt đầu thấm vào thịt da chàng trai cường tráng như Tứ. Lần đầu tiên sau ba ngày đêm chịu trận, Tứ mới cảm thấy lạnh và kiệt sức. Trong một thoáng bi quan, Tứ lẩm bẩm:

- Thôi thì đành chết theo cô ấy cho xong.

Anh dụi đầu vào xác vợ, lịm đi...
 
***
- Nè, cậu kia, người đã bớt sốt rồi, tỉnh chưa?

Tứ nghe văng vẳng ai gọi mình mà không tài nào mở mắt ra được. Tiếng gọi kia lặp lại:

- Cậu kia...!

Lần này thì Tứ choàng tỉnh. Anh vừa mở mắt ra đã thảng thốt kêu lên:

- Kim Lệ!

Tứ không thấy xác vợ bên cạnh nên hốt hoảng. Chợt nhìn thấy người đàn ông lạ đang chăm chú nhìn mình, Tứ hỏi liền:

- Vợ tôi đâu?

Người đàn ông lớn tuổi, mình trần, đầu tóc dài, da sạm nắng, nhẹ lắc đầu:

- Tôi tới đây chỉ còn kịp nhìn thấy cậu đang chới với giữa sóng nước, còn chiếc xuồng thì lật úp, tôi kéo cậu được thì một cơn gió lớn ập tới, mọi thứ chẳng còn lại gì!

Tứ gào lên:

- Trời ơi, vợ tôi!

Anh bất kể sức mình đang yếu, đã nhào đại xuống nước, quơ tay mò tìm xác vợ. Ông lão quát lớn:

- Cậu muốn chết phải không!

Vừa nói, ông vừa phóng theo và bằng một động tác thành thạo, đã chụp được tay Tứ, xốc anh từ phía sau, kéo trở lại cây gáo to, nơi mà mấy ngày rồi Tứ đã bám víu. Tứ vẫn vùng vẫy và gào to hơn:

- Mình ơi! Lệ ơi!

Ông già trấn an:

- Dẫu sao thì cô ấy cũng đã mất tích rồi. Nước lũ mênh mông như thế này thì làm sao mà kiếm tìm cho được lúc này. Chỉ cầu trời cho cô ấy bám víu được vật gì đó để sống sót...

Tứ gào lên thê lương hơn:

- Cô ấy đã chết rồi, còn bám víu nơi đâu nữa mà bám, trời ơi!

Ông già im bặt, đưa mắt nhìn Tứ, rồi nhẹ lắc đầu:

- Thì ra là vậy...

Một lúc nữa, khi thấy Tứ im lặng, ông lại tiếp:

- Mùa lũ này mà gặp cảnh như cậu thì ai cũng chịu bó tay thôi. Cầu trời cho xác cô ấy trôi tấp vào đâu đó, rồi một là có người chôn giúp, còn không thì đợi trời êm một chút, tôi sẽ giúp cậu đi tìm. Tôi rành vùng này lắm, phía dưới gió kia là cánh đồng tràm dày đặc, mọi thứ đều có thể bị vướng lại khi trôi dạt vào đó.

Tứ reo lên:

- Đúng vậy phải không? Nơi đó có xa không chú?

Ông già gật đầu:

- Chừng năm cây số thôi, nhưng do nước tràn đồng nên giờ đây ta không nhìn thấy gì. Đợi mưa tạnh bớt đã...

Lúc này ông già mới hỏi kỹ và Tứ thuật lại mọi chuyện. Nghe xong ông nói:

- Cư dân sống trong vùng này vẫn thường gặp cảnh như cậu, và người ta có một cách để mai táng người chứ không chỉ riêng treo xác trên cây đâu. Cậu đã nghe nói cách đào huyệt ngay khi nước ngập quá đầu chưa?

Tứ lắc đầu:

- Dạ chưa.

- Đó gọi là thủy táng. Tức chôn trong nước, chôn giữa khi nước còn tràn đồng.

Rồi ông giải thích cặn kẽ hơn:

- Cách không táng, tức treo xác trên cành cây chờ nước rút sẽ chôn lại thì tuy có khô ráo, tiện lợi, nhưng đâu phải người nào cũng có điều kiện để làm, vì nó đòi hỏi phải có ván làm quan tài cho kỹ, rồi phải biết cách và có dây cột chặt, để treo, để giữ cho quan tài không rớt, không bốc mùi hôi. Đó là chưa nói lũ quạ diều quái quỷ xứ này, chúng hung hăng, dữ dằn, có thể cả ngàn con bâu tới mổ thủng ván quan tài để moi xác chết! Cho nên người ta nghĩ tới và chọn cách thủy táng nhiều hơn.

- Nhưng nước ngập quá đầu thế này làm sao đào huyệt mà chôn?

- Vậy mà có cách!

Ông già còn kể vài cách nữa, như bó xác trong lá chuối, bẹ chuối ràng buộc thật chặt, giống như người gói bánh tét rồi thả trôi theo xuồng, kéo về chỗ đất liền...

Nghe đến đâu Tứ đau lòng đến đó, bởi nếu biết trước thì anh có thể làm theo và chắc chắn là không để mất xác vợ như thế này.

Trời tối dần. Lúc này ông già mới kể chuyện mình:

- Tôi đi lấy củi bên Mộc Hóa rồi gặp mưa bão, chiếc ghe chở củi hơn 5 tấn đã bị gió thổi bạt vào rừng vỡ ra từng mảnh. Tôi bơi lội giỏi, nhưng cũng chịu được có nửa ngày rồi may bám được một cây chuối, và mặc cho nó trôi. Hơn một ngày đêm như vậy, cho đến khi vô tình tấp vô đây, vừa lúc tôi thấy cậu đang chới với sắp chìm, tôi kéo được cậu và cây chuối cũng vướng lại, và... tôi chịu chung số phận với cậu như giờ đây.

Nhờ có kinh nghiệm nên ông ta bày cho Tứ cách bám thân cây, mỗi người một cháng ba, đu ngang như cách mấy con khỉ, vượn ngủ trên cành. Ông dặn:

- Mình không thể thức mãi khi còn kẹt lại đây, nhưng phải biết cách quàng tay thế nào để lỡ có ngủ quên thì không bị ngã xuống nước. Cậu biết rồi đó, với nước chảy cuồn cuộn thế này, chỉ cần rơi xuống thì vài chục giây sau mình đã bị đẩy đi cả trăm, cả ngàn thước rồi!

Tứ đâu còn thiết gì sự sống lúc này, nhưng sợ nói ra sẽ bị ông già chê trách, nên anh chỉ im lặng và ứa nước mắt khi nhớ tới cô vợ trẻ mình giờ đây thân xác đang bập bềnh trên sóng nước, chẳng biết trôi về đâu?

- Cậu lại khóc đó sao? Chuyện đã lỡ rồi, phải bình tĩnh để còn nghĩ cách đi tìm xác vợ nữa chứ! Nhắm mắt lại ngủ một giấc đi, để tôi thức canh cho. Ngoài ra tôi còn đang nghĩ cách để bắt con chuột, con rắn gì đó ăn cầm hơi. Cậu biết làm sao mình bắt mấy con đó không.

Dẫu đang nẫu ruột, nhưng nghe ông ta hỏi vậy, Tứ cũng tò mò:

- Không còn chỗ nào thì làm sao bắt được chúng?

- Vậy mà có đó. Cậu đừng động đậy, tôi sẽ bắt con rắn đang ở ngay sau lưng cậu cho coi!

Ông ta vừa dứt lời thì cánh tay đã vươn nhanh về phía cành cây sau đầu của Tứ, vừa reo lên:

- Có thứ để cầm hơi rồi!

Ông ta nắm trong tay một con rắn to bằng ngón chân cái nó đang ra sức vùng vẫy để thoát thân, nhưng do bị chộp ngang cổ nên sau một lúc cựa quậy đã phải nằm yên. Ông già bảo:

- Đây là rắn hổ đất, để nó cắn thì chỉ vài phút sau là vong mạng liền! Cũng may, con này nó lên cây trước ta và cũng đang mất cảnh giác, chứ nếu không thì lúc nãy cậu đã bị nó mổ rồi! Bây giờ cậu há miệng ra, hút ít máu của nó, rồi sau đó tôi lấy mật, đầu lòng của nó ra chia nhau mà ăn. Còn thịt thì ăn sau. Nó sẽ giúp ta qua cơn đói đêm nay. Chắc là cậu đói lắm rồi!

Đúng là Tứ đã đói quá, bởi mấy hôm rồi anh có ăn uống gì đâu, nhưng nghe ông ta nói cách ăn thịt rắn như thế tự dưng Tứ muốn lợm giọng, anh lắc đầu:

- Cháu không ăn được.

Ông già cười ngất:

- Không được cũng ráng mà ăn! Lúc này có bất cứ cái gì bỏ vào bụng đều tốt cả. Nào, há miệng ra!

Bằng động tác thuần thục. Ông ta dùng móng tay bấm ngang đuôi con rắn, phần đuôi gần đứt lìa ra, máu từ trong đó vọt ra. Và nhanh ngoài sức tưởng tượng của Tứ, ông cho ngay tia máu đó vào miệng đang há to ra vì ngạc nhiên của Tứ, anh chàng bị tia máu bắn vào và nuốt ực một cái!

Hớp đầu tiên Tứ muốn nôn ra ngay, nhưng liền đó thì như có ai bơm vào, anh nuốt gần không kịp!

- Xong rồi đó, phần tim gan, mật của nó để tôi!

Ông ta dùng tay moi mấy thứ đó ra và cho vào miệng nuốt một cách ngon lành mà không cần nhai!

Tứ cảm giác như huyết quản mình cuộn lên bởi có thêm máu rắn, trong vài giây, anh suýt nôn ra, nhưng ngay lập tức cảm giác ấy chấm dứt, cùng lúc anh thiếp đi...
 
***

Cũng không biết là bao lâu...

Khi Tứ bừng tỉnh lại thì thấy ở chân trời phía xa một màu hồng lóe lên. Cùng lúc là tiếng kêu của ông già:

- Hết mưa rồi!

Tuy là hết mưa, nhưng nước vẫn còn chảy cuồn cuộn, gió vẫn mạnh, tạo ra những đợt sóng cao vỗ vào gốc cây chỗ Tứ và ông già đang bám, khiến thân cây rung lên từng hồi. Tứ chống tay vừa định ngồi dậy trên cháng ba cây thì ông già đưa tay lên miệng, ra dấu cho anh không được cử động. Đoán là có một con rắn nữa, nên Tứ trân người không dám nhúc nhích. Ông già lại một lần nữa vươn tay ra, và... có tiếng kêu chí chóe. Ông ta cười khoái chí:

- Lão tý này nộp mạng hơi muộn đây!

Một con chuột cống nhum thật to, có lẽ đã bò lên cây trong lúc hai người ngủ say. Ông già thích thú:

- Con rắn mình phơi khô chưa ăn tới thì lại có thêm lương thực dự trữ nữa, lo gì đói!

Có lẽ do mải nói nên ông ta hơi lơi tay, con chuột thật nhanh, nó vùng thoát và nhảy ngay xuống nước! Tứ kêu lên:

- Nó chạy mất rồi!

Cũng vừa khi ấy, bỗng mắt Tứ dán chặt vào một vật gì đó khá lớn đang nổi lềnh bềnh trên mặt nước, bị vướng vào gốc cây gáo.

- Xác người!

Ông già cũng đã nhìn thấy, ông bảo:

- Một phụ nữ!

Tứ như mũi tên, lao ngược từ trên xuống, nhanh đến nỗi ông già không kịp có phản ứng gì. Tiếng reo như bắt được vàng của Tứ:

- Vợ tôi!

Bất kể hiểm nguy, Tứ nhảy ngay xuống nước và ôm chặt lấy cái xác đang lềnh bềnh kia. Đúng là Kim Lệ!

- Trời còn thương con mà!

Từ trên cây, ông già nhanh nhảu tuột xuống và bảo:

- Cậu giữ một tay, còn tay kia thì bám vào thân cây kẻo sóng vỗ bung ra ngoài bây giờ!

Nhờ được nhắc nên Tứ giữ được xác vợ, đồng thời cũng không bị dòng nước cuốn đi. Nhưng anh vẫn lo:

- Làm sao đem xác vợ cháu lên cây hả chú?

- Cậu cố giữ lấy đi, để tôi bẻ mấy cành cây dài, mình cắm xuống đất để giữ xác lại.

Ông già rất nhanh, leo lên ngọn cây và kéo mạnh mấy cái, lần lượt bốn cành cây dài trên hai thước được bẻ gãy.

Nhờ trời tạnh mưa, nên ông già thực hiện cắm bốn nhánh cây xuống nước, rào một vòng quanh gốc cây gáo được dễ dàng. Rồi ông giục Tứ:

- Cậu phải dứt khoát không được chần chừ, phải nghĩ việc giữ được xác cô ấy ở lại đây là chính, chớ đừng ngại việc cô ấy có bị ngâm nước hay không. Cậu chấp nhận thủy  táng?

Tìm lại được xác vợ là niềm vui mừng lớn đối với Tứ, nên anh chịu liền:

- Sao cũng được!

Ông già hình như đã quen với việc chôn người trong hoàn cảnh như vậy, nên ông vừa lặn xuống cắm cọc vừa luôn miệng nói:

- Tấm lòng của cậu đã đánh động cõi âm phủ, nên mới khiến xác cô nhà quay trở lại đây. Một việc mà hầu như là không tưởng!

Sau khi cắm được bốn cành cây tạm thời giữ cái xác không để sóng cuốn đi, ông già vừa đeo vào gốc cây vừa khấn:

- Linh hồn cô... Kim Lệ sống khôn thác thiêng, phù hộ cho tôi và anh bạn này đây mai táng cho cô tại gốc cây này. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo này, thì xin cô hãy vui lòng chấp nhận ở tạm dưới nước. Đợi đến khi nước rút thì cậu ấy sẽ đưa cô lên, cải táng đến một nơi đàng hoàng hơn.

Tứ cũng khấn:

- Nếu thương anh thì em hãy ráng chịu lạnh, Lệ ơi! Nếu cần thì anh cũng ở lại đây mãi mãi với em...

Ông già nghiêm giọng:

- Giờ phút này cậu không được bi quan, nói càn. Cứ chôn xác cho cô ấy đã.

Cuộc thủy táng diễn ra suôn sẻ. Nhờ có kinh nghiệm, nên chỉ sau một giờ, ông già đã giúp Tứ đào được ngay dưới gốc cây gáo một hố huyệt khá sâu, ước chừng đã vừa cái xác ông bảo Tứ:

- Cậu vái lần nữa, xin cô ấy giúp cho mình chôn được dễ dàng đi!

Tứ với hai hàng nước mắt ôm xác vợ mếu máo:

- Xin em cho anh được gửi em lại đây! Mong em hãy...

Lời Tứ nói chưa dứt thì thật bất ngờ, cái xác như bị ai kéo ghì xuống, nó chìm từ từ... Tứ hốt hoảng:

- Chú Hai ơi!

Ông già giục:

- Cậu giữ cái đầu cô ấy, tôi giữ hai chân!

Cái xác chìm nhẹ nhàng xuống và thật kỳ diệu, nhắm đúng cái lỗ huyệt mới đào dưới nước và... nằm gọn trong đó! Ông già làm các động tác thật nhanh, chỉ một lúc sau thì những đất bùn được đào lên đã lấp trở lại. Đồng thời, ông dùng bốn cành cây to kia, hợp với Tứ cắm chéo góc, gài trên phần mộ, không cho xác trôi lên. Công việc không dễ, nhưng cuối cùng họ cũng làm được. Công việc vừa xong thì mặt trời đã lên ngay đỉnh đầu. Ông già bảo:

- Bây giờ cậu có thể nghỉ ngơi, và đợi xem nếu có vật gì trôi ngang đây mình có thể bám vào và rời đi được rồi. Tôi đã làm dấu thân cây gáo này, đợi khi nước rút mình trở lại tìm cũng không khó.

Tứ cương quyết:

- Cháu sẽ ở lại đây.

Ông già biết có nói thêm gì thì cũng khó lòng thuyết phục được anh ta, nên chỉ khẽ lắc đầu rồi im lặng. Trên khóe mắt ông, hai hàng lệ lần đầu tiên tuôn chảy...

Phải hơn một tháng sau thì nước mới rút hết. Hai tuần trước khi nước rút thì Tứ lại ngã bệnh, sốt cao, suýt chết ngay trên cháng ba cây gáo, nếu không có ông già Hai thì Tứ đã không còn. Số là trước đó hơn một tuần, vào một đêm tối trời, chẳng hiểu sao khi đang cùng nằm ngủ với Tứ trên cây, lão già Hai bỗng bị rơi xuống nước và mất tích! Điều này cũng hơi lạ, bởi ông già là dân thiện nghệ, đâu dễ bị một tai nạn như thế.

Sau cú sốc đó, nếu là người khác thì Tứ đã bỏ cuộc, không còn bám lại thân cây để chịu trận nữa, tuy nhiên chẳng hiểu nhờ sức mạnh vô hình nào thúc đẩy, anh chàng vẫn tiếp tục tồn tại, với chỉ hai thức ăn lặp đi lặp lại khá quen thuộc đó là những con rắn và chuột. Nhờ bắt chước được ông già Hai nên chuyện bắt rắn độc đối với Tứ trở nên quá dễ dàng. Mà những con vật này cũng lạ, cứ cách một đêm thì một con lại bò lên cây và... chờ được Tứ hóa kiếp! Có thể nói, việc ăn thịt sống của Tứ đã thành bình thường, mà nếu không có nó thì anh đã theo vợ từ mấy tuần qua rồi!

Tuy nhiên, sức chịu đựng của con người cũng có giới hạn, mà với Tứ thì bấy nhiêu thời gian ấy đã là quá nhiều. Hai tuần sau khi nước bắt đầu rút thì vào một đêm, Tứ hôn mê do cơn sốt dữ.

Khi tỉnh lại thì Tứ thấy mình nằm ở một trạm xá, chung quanh toàn những người lạ. Hỏi ra thì một người nằm gần giường cho Tứ biết rằng anh được một cô gái đưa vào đây trong tình trạng hầu như không còn sự sống. Cơ thể suy nhược, người nóng sốt cao độ và hôn mê sâu. Người ta đã tính chuyển anh lên bệnh viện tuyến trên, nhưng chẳng hiểu sao, khi cô gái kia cho anh uống một thứ nước nấu từ củ mài thì bỗng nhiên Tứ tỉnh lại.

Tứ quá đỗi ngạc nhiên, hỏi thăm cô gái:

- Cô ấy đâu rồi?

Người nằm cạnh giường Tứ bảo:

- Sáng sớm nay còn thấy cô ấy ở đây. Nhưng hồi nãy, trước khi cậu tỉnh lại thì cô ấy ôm mấy bộ quần áo rồi bước ra ngoài, mất biệt luôn. Chắc là về nhà rồi. Đó là vợ cậu hay ai mà tận tình quá, ở đây suốt. Nếu không có cô ta thì cậu khó lòng qua khỏi!

Tứ bận tâm tìm hiểu xem cô gái ấy là ai thì ít, mà đầu óc mãi quay cuồng nhớ lại coi cây gáo giữa đồng mà anh đã bám suốt tháng trời kia là ở đâu?

- Đồng Tháp Mười có bao nhiêu cây gáo?

Tứ hỏi một bệnh nhân gần bên thì được anh ta cười, lắc đầu:

- Ông nội tôi nhớ cũng không hết nữa! Tháp Mười là rừng tràm, nhưng chen lẫn là các loại cây khác như gáo, dừa cũng không phải ít. Biết đâu mà nói!

Tứ lẩm bẩm:

- Ông già Hai có làm dấu, chắc là kiếm được...

- Nhưng lỡ cây bị trốc gốc, nước cuốn đi mất thì sao?

Câu nói bất ngờ của ai đó khiến Tứ giật mình quay lại, và anh mừng rú lên:

- Kìa, chú Hai!

Ông già Hai xuất hiện thật đột ngột, và còn lạ hơn khi đi theo sau ông là một cô gái, mà vừa nhìn thấy cô, anh chàng bệnh nhân giường bên cạnh đã reo lên:

- Cô này đó!

Cô gái không lộ chút gì là quen biết những người trong phòng bệnh, mà trái lại, cô còn đứng nép sau lưng ông già với sự e ấp... Ông già Hai phải lên tiếng giải thích:

- Đây là đứa cháu tôi, chính nó đã đưa tôi tới đây và gặp cậu.

Anh bệnh nhân bên cạnh ngạc nhiên hỏi:

- Ủa, cô này ở đây mấy hôm nay mà?

Ông già Hai nhìn đứa cháu gái của mình rồi nói:

- Có thể quý vị đã nhìn lầm. Người ở đây mấy hôm nay là đứa em song sinh của nó. Chúng là cháu gọi tôi bằng ông ngoại.

Rồi ông quay sang Tứ, kể:

- Tôi phải bỏ đi trong khi nước chưa rút là để định hướng chính xác cây gáo đó. Bởi khi nước rút rồi thì từ bờ kinh vào đó rất xa, lại khó lòng tìm được. Chị em Mai Linh, Mai Lý này là người đi tìm chỗ của cậu, bởi khi ấy tôi bị trọng bệnh không đi được. Chính nhờ nó mà cậu mới được cứu thoát. Nó ở đây nuôi cậu theo ý của tôi đó. Bây giờ tới phiên con em. Mai Lý, nó sẽ ở lại đây cho đến lúc cậu khỏe, có thể đi được thì sẽ cùng với nó trở lại chỗ chôn xác vợ cậu. Cứ yên tâm mà dưỡng bệnh đi, sắp gặp lại vợ rồi!

Lời nói của ông già Hai khiến Tứ mừng khôn xiết, anh hỏi dồn:

- Ngay chiều nay đi được không chú Hai?

Ông già lắc đầu:

- Nước mới rút, đồng ruộng còn bùn sình nhiều, xuồng ghe đi không được, mà lội bộ thì cũng không xong. Phải đợi vài tuần nữa. Vả lại, lúc này cậu còn quá yếu mà đi cái nỗi gì!

Ông dặn cô cháu gái:

- Mỗi ngày ba lần, con mang cơm vào cho cậu Tứ đây. Hỏi không được thì ra dấu, hỏi coi cậu ấy thích món gì, cần dặn điều gì, nhớ làm theo cho đúng nghe chưa!

Rồi ông giải thích:

- Con nhỏ bị câm điếc bẩm sinh, nhưng được cái là rất nhạy, chỉ cần ra dấu là nó hiểu mình muốn nói gì. Nó tên là Mai Lý.

Ông già còn bày ra vô số thức ăn và vài món đồ dùng cá nhân dành cho Tứ, ông bảo:

- Biết cậu thiếu thốn mấy thứ này, nên tôi đem vào. Cậu nhớ cái này không?

Ông đưa cho Tứ cây lược sừng mà vừa nhìn là Tứ đã kêu lên:

- Của vợ cháu!

- Tôi đoán là vậy, bởi hôm rồi trên đường trở lại tìm cậu, tình cờ tôi gặp một chiếc xuồng ba lá vỡ đôi nằm trên một gò đất cao, trong xuồng không có vật gì quý, chỉ có cây lược này nằm kẹt dưới khoang xuồng, bên cạnh còn có một cái quần xà lỏn màu nâu, có vá một miếng vải sọc mà vừa nhìn cách vá và màu vải, tôi nghĩ ngay tới cậu. Bởi cậu cũng có một cái quần vá y kiểu đó. Đúng không?

Tứ gật đầu:

- Dạ, chính vợ cháu đã vá hai cái quần đó bằng vải vạt áo của cô ấy. Vừa vá xong lúc trên xuồng, trước lúc cô ấy chết chỉ nửa buổi!

- Tội nghiệp...

Ông già buông tiếng thở dài rồi quay đi chỗ khác như tránh không cho Tứ thấy hai giọt nước mắt của mình.

Những người bệnh cùng phòng sau khi biết chuyện đã không ngớt lời ca ngợi lòng tốt của ông già Hai. Họ bảo rằng giữa thời buổi này khó mà kiếm được một người có lương tâm như ông ta.

Tuy nhiên, cũng có người xầm xì:

- Biết đâu được. Lão ta có đến hai cô cháu gái chưa chồng, một cô lại tật nguyền, nay thấy chàng trai chết vợ như Tứ thì chắc là có ý muốn kiếm cháu rể đây!

Tuy nói vậy, nhưng trong mấy ngày sau đó, ai cũng phải công nhận rằng cô gái câm cháu ngoại ông già Hai là một người siêng năng, tính tình ôn hòa và rất tử tế. Cô nàng làm đúng những gì ông dặn, ngày ba lần đưa cơm vào bệnh viện rồi thì đi về, ai hỏi gì cũng không quan tâm. Chính Tứ cũng ngạc nhiên và áy náy. Anh ngỏ ý qua ra dấu rằng muốn gặp ông già Hai, thì cô ta chỉ xua tay từ chối.

Cho đến một buổi sáng, khi ấy có một người lạ xách cặp lồng cơm đưa vào cho Tứ và nói:

- Cô Mai Lý đưa cơm thường ngày vừa bị nạn, cô ấy bước từ dưới xuồng lên chẳng may hụt chân, ngã xuống và va đầu vào cọc nhọn, máu chảy ra nhiều và chìm lỉm luôn, mọi người ra sức mò tìm mà chưa được! Tôi là người đi chung xuồng với cô ấy từ trong kinh ra, nên biết cô đưa cơm vào cho bệnh nhân, tôi đem tới giùm.

Nói xong người ấy đi mất, khiến cho Tứ hốt hoảng, nhảy đại xuống giường và chạy bay đi ra bến chợ. Tuy nhiên, gần nửa buổi sau đó, Tứ đã hỏi khắp khu vực đó về tai nạn như người nọ đã nói thì chẳng một ai biết. Họ còn ngạc nhiên hỏi lại:

- Sao anh không bảo người báo tin dẫn ra đây chỉ coi tai nạn ở chỗ nào?

Vừa lo lắng, vừa thất vọng, Tứ đành thất thểu quay về bệnh viện. Tới nơi, anh càng ngạc nhiên hơn khi nghe mấy người chung phòng kể lại:

- Cô gái câm mới vừa ở đây đi ra, có chết chóc gì đâu.

Tứ định chạy theo tìm, thì một người đưa cho anh gói giấy nhỏ và bảo:

- Cô ấy không nói được, nhưng qua cử chỉ tụi tôi biết cô ta muốn nhờ đưa cho anh cái này.

Tứ mở ra xem thì kinh ngạc:

- Bộ quần áo của vợ tôi!

Anh nhớ hôm xảy ra cái chết cho Kim Lệ thì cô đang mặc bộ đồ này, vậy sao bây giờ nó lại ở đây? Không hỏi thêm gì nữa, cầm bộ quần áo đó Tứ chạy bừa ra cửa. Vừa chạy anh vừa gọi to:

- Cô Mai Lý! Cô ở đâu?

Trở ra bến đò, còn đang ngơ ngác tìm thì chợt Tứ thấy một chiếc xuồng nhỏ đậu ở bên, trên xuồng có một người ngồi như chờ khách. Anh hỏi lớn:

- Xuồng này là xuồng chở khách phải không?

Người đội nón lá che kín khuôn mặt đáp vừa đủ cho Tứ nghe:

- Phải.

Tứ nhảy xuống xuồng và bảo:

- Làm ơn đưa tôi dọc theo sông này, đi mấy vòng bến chợ để tôi tìm người quen. Tôi sẽ trả tiền như một chuyến đi xa!

Người nọ lẳng lặng đẩy xuồng ra giữa dòng, lúc ấy mới cất tiếng nói:

- Không có tiền trong túi mà dám bao đò, kể cũng gan thật!

Tứ hơi giật mình. Đúng là trong túi anh lúc ấy chẳng có đồng xu dính túi. Mấy tháng bị nạn, rồi nằm bệnh viện đều nhờ người khác, Tứ làm gì có tiền!

- Tôi...

Người chèo đò bỗng cất tiếng cười giòn:

- Tôi sẽ chở anh đi miễn phí, miễn là anh trả lời tôi câu hỏi này. Bằng không tôi cho anh lội sông mà trở vô bờ.

Giọng cô ta không phải đùa. Tứ cũng nghiêm giọng:

- Tôi không quịt, chỉ vì không sẵn tiền thôi. Nhưng rồi tôi sẽ trả công đàng hoàng. Chị hỏi gì?

- Anh đi kiếm con gái hay tìm vợ?

Câu hỏi bất ngờ, nhưng trong lòng của Tứ đã định sẵn ý tứ rồi, anh đáp không do dự:

- Tìm vợ, nhưng âm dương cách trở biết làm sao tìm? Nhưng tìm người lấy cắp mấy thứ của vợ thì đúng là tôi đang đi tìm họ!

Câu trả lời của Tứ quả là khó hiểu với người lạ, nhưng chẳng ngờ người chèo đò lại hiểu:

- Nói đúng, không dối trá. Vậy tôi tặng luôn cho chiếc xuồng, cứ đi thẳng phía trước mặt, thế nào cũng gặp!

Vừa dứt lời thì chợt như một làn khói vút lên, phút chốc Tứ không còn nhìn thấy nàng ta đâu...!

- Kìa, chị!

Chiếc xuồng không có người bơi nên quay tròn theo dòng nước. Tứ phải bước ra sau cầm cây dầm và điều khiển cho nó xuôi dòng. Vô tình anh đi đúng theo hướng người ấy chỉ. Nước xuôi nên chẳng mấy chốc, xuồng của Tứ đi khá xa xuống phía hạ lưu.

Nhìn thấy cái cồn lớn phía trước và con sông chia làm hai ngả, Tứ chưa biết phải rẽ về ngả nào, thì chợt có người từ bên kia cồn đưa tay ngoắt và gọi ơi ới. Ngỡ gọi ai, nhưng sau đó thấy họ cứ nhằm vào mình mà vẫy tay nên Tứ hỏi lớn:

- Hỏi tôi phải không?

Đúng là họ gọi anh, nên sau vài giây lưỡng lự, Tứ chèo xuồng hướng qua đó. Đến gần, anh mới nghe người phụ nữ lớn tuổi lên tiếng hỏi:

- Cậu đi tìm cô gái câm phải không?

Tứ giật mình:

- Tôi... đúng là tôi...

- Người ta đang đợi anh tới.

Nói xong, bà ta quay bước và mất hút sau đám lau sậy. Dẫu không muốn, nhưng chẳng hiểu sao Tứ vẫn cột xuồng lại rồi nhảy lên bờ, men theo con đường có lát đá thẳng tắp, đi lên một ngôi nhà ngói xưa khá lớn. Không thấy bóng người nào, Tứ khựng lại, nhưng từ trong đã có tiếng nói vọng ra:

- Muốn gặp vợ mà không vào đây thì làm sao gặp?

Tứ như đang mơ, anh không chút suy nghĩ, đã chạy rất nhanh vào nhà. Nhưng khi vừa bước lên bậc thềm anh đã phải khựng lại. Bởi trước mặt anh là một cỗ quan tài nằm án ngữ giữ nhà, nhưng có ai chung quanh!

Căng mắt nhìn khắp nơi, vẫn chẳng có bóng người, Tứ cất tiếng hỏi:

- Ai trong nhà vậy?

Không ai đáp, Tứ không dám bước tới, thì vừa lúc anh thấy một bóng người xuất hiện phía sau cỗ quan tài.

- Cô Mai Lý!

Đúng là cô gái câm Mai Lý. Cô ta chỉ nhìn thoáng qua rồi đi thẳng tới bên quan tài, và thật bất ngờ, đưa tay đẩy nắp quan tài sang một bên, Tứ nhìn vào và không khỏi rùng mình khi thấy trong đó hai bộ xương người nằm sóng đôi.

Tứ bước lùi một bước, chưa kịp hỏi thì đã nghe một giọng thật quen vang lên:

- Nếu còn thương vợ thì chọn đúng hài cốt của cô ấy. Chọn sai tức là cậu không còn duyên nợ với người ta nữa, mà điều đó cũng có nghĩa là bao nhiêu công sức của tôi cũng bỏ sông bỏ biển cả.

Tứ quay lại và kêu lên:

- Chú Hai!

Người vừa tới chính là ông già Hai. Ông ta bước tránh khỏi chỗ đó vừa giục:

- Cậu cứ chạm tay vào hài cốt nào thì số phận cậu nằm ở đó. Trong số hai hài cốt có một cái là vợ cậu.

Tứ ngơ ngác:

- Sao vợ tôi lại ở đây?

Ông già kéo ghế ngồi xuống gần đó, lạnh lùng nói tiếp:

- Lúc này cậu cần làm hơn là hỏi. Nhanh lên, kẻo không còn kịp nữa!

Tứ còn chần chừ thì đột nhiên như có ai đó xô từ sau, và... hai tay anh ngẫu nhiên chụp lên bộ xương người nằm bên trái.

- Trời ơi!

Tiếng kêu đó là của ông già Hai. Tứ linh tính như có điều gì đó, anh bật dậy thật nhanh, nhưng cũng không còn kịp nữa, khi anh quay lại nhìn thì ông già đã bật ngửa ra sau và... hộc máu, nằm bất động!

- Chú Hai!

Trước sự kinh ngạc của Tứ, thân xác ông già Hai từ từ tan biến và chỉ trong phút chốc, chỉ còn lại bộ xương.

Tứ còn chưa kịp phản ứng gì thì đã nghe có tiếng động từ sau lưng. Vừa quay lại thì cỗ quan tài chẳng còn thấy nữa, thay vào đó là chiếc xuồng ba lá bể làm đôi.

- Xuồng của mình...?

Nhìn kỹ lại thì đó chính là chiếc xuồng mà vợ chồng Tứ đã đi và gặp bão lũ. Trên xuồng vẫn còn nguyên cái túi mà trong đó có mấy bộ quần áo của Kim Lệ. Và dĩ nhiên, có cả bộ xương khô lúc nãy nữa!

- Chuyện gì thế này?

Mặc dù không tin đây là sự thật, nhưng trước những bằng chứng đó, Tứ cũng không thể nào bỏ qua, anh ngồi xuống vịn vào chiếc xuồng và mắt thì cứ nhìn chằm chằm vào bộ xương. Không còn ông già Hai thì lấy ai để anh hỏi rõ ngọn nguồn? Phải chăng chính ông đã đào hài cốt Kim Lệ đem về đây?

Bao nhiêu câu hỏi mà Tứ không làm sao giải được. Anh đành ngồi giữa ngôi nhà hoang đó với nỗi hoang mang...

Trời tối dần..

Chợt nhớ tới cô gái câm, Tứ tức tốc chạy ra nhà sau tìm và lại một phen ngẩn người ra khi nhìn thấy cỗ quan tài thứ hai đang nằm ở gian nhà sau!

Nãy giờ Tứ bình tĩnh bao nhiêu thì giờ đây anh cảm thấy run bấy nhiêu. Anh không sợ ma, nhưng lại nghĩ mình đang lọt vào một mưu đồ gì đó mà với sức mình Tứ không thể nào đương cự lại nổi. Anh nói như cố ý nói với ai đó chung quanh:

- Tôi chỉ có cái tội duy nhất là mất vợ, tôi thương vợ tôi nên đi tìm. Vậy nếu ai đó thương thì để cho tôi tìm được vợ, bằng không thì tôi xin chết tại đây cũng được, tôi xin chấp nhận!

Anh nói xong thì ngồi bệt xuống đất, nhắm nghiền mắt lại, chờ...
 
***

- Oan nghiệt! Đúng là oan nghiệt mà!

Giọng nói đó khiến cho Tứ giật mình mở mắt ra, và anh há hốc mồm:

- Bà ngoại!

Tứ tưởng mình còn trong mơ, anh lúng túng:

- Ngoại, sao ngoại...

Bà ngoại anh ôm chầm lấy cháu, mắt vẫn không rời khung cảnh trước mắt. Bà lặp lại lời nói:

- Đúng là oan nghiệt mà!

Tứ ngạc nhiên:

- Ngoại nói gì?

- Con biết đây là đâu không?

Rồi không đợi cháu trả lời, bà nói luôn:

- Đây chính là nhà chồng của má con, tức là nhà ông nội con đó!

Tứ ngơ ngác:

- Sao kỳ vậy ngoại? Từ nào đến giờ con nghe ngoại nói nhà nội con ở xa lắm mà...?

Bà Tám Trầu thở dài:

- Ngoại giấu con. Chỉ vì bên nội con đâu có nhận mẹ con và con đâu mà con cần biết.

Tứ chỉ những cỗ quan tài:

- Tại sao nhà này toàn là áo quan không vậy ngoại?

Bà không đáp, mà lên tiếng thay bà là một người lạ khác, chính là người phụ nữ đứng vẫy tay ra dấu cho Tứ lúc ở ngoài bờ sông. Bà ta bước ra từ nhà bếp, lại gần bên bà Tám Trầu, nhẹ giọng:

- Chị để tôi kể cho nó nghe.

Rồi bà quay sang Tứ:

- Ta là cô út của con. Chính ta mà ra cớ sự như thế này!

Bà nhìn bà Tám như chờ sự cảm thông, và bà được lời động viên:

- Cô cứ nói hết cho nó nghe đi.

Út Chanh vốn người xưa nay lắm mồm mép vậy mà giờ đây cô ta cũng tỏ ra ấp úng:

- Nhà này kể cả má con là năm. Ngày xưa đông vui nhất trong làng này. Nhưng chỉ có một đêm thôi thì mọi thứ ra nông nỗi này và chấm dứt hết!

Bà ta nói tới đó thì oà lên khóc ngất, khiến cho Tứ càng thêm khó hiểu:

- Con không hiểu gì hết!

Giọng bà ta trở nên thê lương khôn tả:

- Chỉ có những người nằm trong các quan tài này mới có thể hiểu thôi. Nhưng khi họ thành xác chết thì họ lại không nói gì, mặc dù ta đã van lơn họ, yêu cầu họ về nói cho ta biết ta phải làm sao...

Biết là cứ để bà ta tiếp tục nói kiểu đó thì Tứ thêm rối trí mà thôi, nên bà Tám Trầu chặn lời:

- Để ngoại nói. Đúng ra chuyện này ngoại hoàn toàn không biết. Cho mãi tới ngày hôm kia, má con về báo mộng, nói rõ đầu đuôi thì ngoại mới bàng hoàng! Thì ra từ gần mười năm nay, ngoại cứ ngỡ là má con đi buôn xa rồi chết mất tích khi băng xuồng qua sông cái, ngờ đâu lại chết ngay trong nhà này. Mà người gây ra những cái chết đó lại là người này, cô út của con!

Bà cô già của Tứ ngừng khóc, nhưng giọng thì vẫn còn run:

- Đầu tiên là ông bà nội con. Họ chết đột ngột sau khi ăn bữa cơm do má con nấu, với mấy món ăn má con mua được và muốn đãi cha mẹ chồng. Ta vốn ganh ghét má con kể từ ngày bà về làm dâu nhà này, không muốn chị ấy càng ngày càng được lòng cha mẹ ta, nên ta đã lén bỏ thêm vào thức ăn một thứ thuốc mà ông thầy bán cho ta bảo rằng chỉ có tác dụng làm cho đi tiêu chảy. Mục đích của ta là chỉ làm cho cha mẹ ta chửi chị dâu một trận cho bõ ghét! Nào ngờ do ta bỏ quá liều nên thuốc tiêu chảy trở thành thuốc độc. Cho nên sau một đêm, cả cha mẹ ta đều chết hết!

Bà ngừng lại một lúc rồi tiếp:

- Mặc cảm tội lỗi càng khiến cho ta thêm thù ghét má con, ta cho rằng má con vào nhà này chỉ toàn đem đến điều rủi, vận xui, nên thay vì hối hận, ta lại quay sang quyết tâm phải loại trừ luôn má con ra khỏi nhà này. Và rồi ngay sáng hôm đó, trong lúc cả nhà đang bận lo tang lễ, ta đã âm thầm bảo cặp rằn Hai chèo ghe đưa má con đi xuống kinh Thầy Cai ở Đồng Tháp Mười với nhiệm vụ thu lúa ruộng. Thật ra chuyện ấy có thể để sau đám tang làm cũng được, nhưng ta có ý đồ, nên giục thằng Hai cặp rằn đi gấp. Con có biết tại sao không? Bởi ta biết Hai cặp rằng vốn đem lòng thương má con mà không dám thổ lộ, nên dịp đó là lửa gần rơm, giữa cảnh đồng vắng người thưa, chắc chắn sẽ xảy ra chuyện. Và chuyện đã xảy ra thật... Nhưng lại không chỉ xảy ra cho mình má con...

Bà ta lại ôm mặt khóc. Lần này sự xúc động đã không cho bà ta tiếp tục nói được nữa. Bà ngoại của Tứ phải chen vào:

- Kể từ khi má con lấy chồng nhà giàu thì ít khi về nhà. Do nhà chồng khó, mà ngoại cũng không đi thăm được, bởi không lần nào ngoại xách giỏ tới thăm mà được gặp má con. Bởi con người này. Cô út con đây là người nắm quyền trong nhà, muốn quyết cái gì thì mọi người phải nghe theo, kể cả việc cho chị dâu mình được quyền tiếp thân nhân hay không! Bởi vậy, lâu ngày rồi ngoại cũng chán, nghĩ thôi, miễn con gái mình có chỗ nương thân, còn sống khỏe là được rồi... Cho đến một đêm, khi ngoại đang ngủ thì nghe có tiếng ai kêu lên dưới bến sông, ngoại giật mình chạy xuống thì thấy có một chiếc xuồng nhỏ tấp vào bờ, trên xuồng có một đứa trẻ chừng vài tháng tuổi đang nằm khóc oe oe! Ngoại chưa biết là con ai thì chợt nhìn thấy trên chiếc khăn quấn ngang mình của đứa bé có viết dòng chữ: "Nó là cháu ngoại của má, hãy giữ và nuôi nó lớn khôn. Đừng nói cho nó biết gì về bên nội nó cả. Nếu má không làm được như vậy thì con chết không nhắm mắt!"

Bà Tám lại phải ngừng kể do nước mắt ràn rụa, mãi một lúc bà mới tiếp:

- Con đã về với ngoại như vậy đó. Rồi từ đó, bà cháu mình không hề biết thêm gì về tin tức của má con nữa. Chỉ nghe nói má con chết trong một chuyến đi buôn xa, thế thôi...

Tứ đưa mắt nhìn sang bà cô già. Út Chanh bằng một động tác bất ngờ, đã quỳ sụp xuống dưới chân hai bà cháu Tứ:

- Cho tôi tạ tội!

Bà Tám đỡ chị ta dậy:

- Mười năm nay tôi chưa nghe má thằng Tứ nói cụ thể về cái chết của nó. Tôi nghĩ có lẽ do nó chết dưới sông nước nên ắt đường về. Bỗng mới đây, nó về trong đêm và báo cho tôi biết là phải tìm tới đây để cứu vợ chồng thằng Tứ! Nó bảo người cô già ích kỷ của thằng Tứ lại tiếp tục muốn diệt tận gốc rễ giọt máu cuối cùng là thằng Tứ và vợ nó. Tôi già cả nên chậm chân, mãi tới bữa nay mới mò tới được đây. Chỉ may còn gặp cháu ngoại mình, chứ con vợ nó...

Bà nói tới đó thì hốt hoảng nhìn quanh:

- Vợ con đâu, Tứ?

Tứ đau buồn:

- Không kịp rồi ngoại ơi, vợ con đã chết trong mưa bão rồi! Đến trời cũng không thương dòng họ nhà mình nữa mà...

Bất chợt, bà cô già của Tứ nói:

- Không phải do trời đâu, mà là do người đó.

Tứ nhíu mày:

- Bà nói vậy là sao?

Chỉ mấy cỗ quan tài, bà ta nói:

- Tôi mù quáng, nghe theo lời một tay thầy số, hắn ta xúi tôi gom hết xác chết của dòng họ, kể cả dâu rể, sau đó đem phân tán mỗi người một nơi để chôn, chứ không được chôn trong đất nhà. Bởi vậy mới có chuyện mả ba má tôi thì chôn trên đất giồng cách đây mấy chục cây số, còn mả anh Hai tôi thì lại chôn ở đất chùa bên Trà Vinh. Còn mả của...

Bà ta ngừng lại, đưa mắt nhìn Tứ và bà Tám, một lúc lâu mới nói tiếp:

- Mộ của má thằng Tứ thì chôn ở... cây gáo trong đồng. Tứ vừa nghe tới đó thì hốt hoảng:

- Cây gáo trong đồng nào?

Út Chanh nói mà như khóc:

- Tôi cũng không nhớ rõ là ở đồng hào. Chỉ biết là thằng Hai cặp rằn nó giết rồi vùi xác ở đó.

Tứ hỏi lại:

- Hai cặp rằn là ai?

Út Chanh chỉ lên nhà trên:

- Già Hai mới vừa hộc máu chết đó.

Tứ kêu lên:

- Chính ông ta sao.

Anh đứng bật dậy định chạy đi, nhưng bà ngoại anh đã kêu lại, nói:

- Má mày đã về nói hết với ngoại rồi. Nó bảo ngày trước Hai cặp rằn nghe theo lời xúi của Út Chanh đây, còn dọc đường đã cưỡng bức má con, dĩ nhiên là nó không chịu, chống cự quyết liệt và cuối cùng đã cắn lưỡi tự tử chết. Xác nó được Hai cặp rằn chôn dưới gốc cây gáo.

Tứ bàng hoàng:

- Gốc cây gáo, phải chăng đúng là cây gáo đó? Như vậy thì...

Út Chanh lại chỉ tay về phía một trong hai cỗ quan tài:

- Một cái là của má cậu, còn cái kia chính là... của vợ cậu đó!

Tưởng mình nghe lầm nên Tứ hỏi lại:

- Bà nói thật chứ?

- Người sắp chết không dám nói dối!

Bà ta nói xong đứng dậy liền. Lúc này Tứ mới để ý thấy dáng đi của bà ta không được vững vàng lắm. Và thay vì đi trở lên nhà trên, bà ta lại thẳng ra phía sau, nơi có một khoảng vườn rộng, cây cối um tùm. Vừa đi bà ta vừa nói to, cốt cho bà cháu của Tứ nghe:

- Trước đây tôi không cho chôn ai cùng dòng họ trong đất nhà, chỉ sợ họ làm chủ vĩnh viễn mảnh đất này. Nhưng tôi đã lầm, đâu cần phải bám giữ nó thì nó mới thuộc về mình. Như má cậu, dẫu chôn tận ngoài đồng hoang, vậy mà cuối cùng cũng lại về đây. Tôi xin thua và xin vĩnh biệt!

Bà ta đi nhanh và biến mất trong vòm cây...

Tứ muốn chạy theo để hỏi thêm, nhưng vừa khi ấy thì cô gái câm xuất hiện, khiến cho Tứ lại một lần nữa kinh ngạc. Anh kinh ngạc bởi lúc này cô ta không ra dấu, mà lại lên tiếng:

- Bà ấy đáng lẽ phải có ngày này từ lâu rồi mới phải! Nhưng chậm cũng không phải là không tới.

Thấy Tứ nhìn mình, cô gái nói thêm:

- Em là đứa con gái câm, mồ côi cha mẹ, bà Út Chanh tiếng là nuôi làm con, nhưng thật ra em ở đợ trong nhà này để trừ nợ lúa cho ba má em từ mấy chục năm trước. Em không nghĩ mình sẽ có ngày nói được nhưng chẳng hiểu sao kể từ khi em theo ông già Hai vào chỗ cây gáo để đào hai bó hài cốt đem về đây thì bỗng hết câm!

Tứ quá đỗi ngạc nhiên:

- Cô đào hài cốt của ai?

- Thì của hai người thân mà anh đang trông đợi! Mẹ và vợ anh đó!

Trong lúc Tứ và bà ngoại anh đang ngơ ngác thì cô gái nói thêm:

- Em tin người chết đã giúp em có được điều kỳ diệu này! Mà cụ thể là vợ anh. Hôm đào xuống gốc cây gáo, chính em đã gặp được chiếc lược của chị ấy, vừa khi cầm chiếc lược ấy lên thì tự nhiên em bật thành tiếng reo, là tiếng đầu tiên trong đời! Em cám ơn chị ấy...

Cô ta lại nói ra điều mà ai nấy đều sửng sốt:

- Mụ Út Chanh nghe theo lời ông thầy tướng số, bảo phải gom hết hài cốt những người từng bị mụ ta hại về, để lão ta làm phép trừ hậu họa. Nhưng lạ lùng làm sao, kể từ khi hai bộ hài cốt mà em lấy lên từ gốc cây gáo đem về thì không đêm nào mụ ta ngủ được yên. Đêm nào cũng nghe mụ ấy khóc van và có lúc kêu thét lên vì sợ! Em đã rình coi và thấy mụ ấy quỳ lạy hai người đàn bà mà em đoán đó là mẹ và vợ anh! Mụ ta đi đến kết cuộc như lúc này có lẽ do ý của hai người ấy. Em tin là oan hồn đã báo được thù rồi.
 
***

Vậy là vụ tai nạn ở gốc cây gáo giữa Đồng Tháp Mười đã có hồi kết. Mà cũng không phải vô tình mà Tứ bị mất vợ và kẹt hơn nửa tháng ở giữa vùng nước lũ đó. Tất cả là định mệnh. Tứ đã tìm lại được hài cốt của mẹ mình sau ngót mười năm thất lạc, và cái xác trôi sông của Kim Lệ lại là cánh cửa mở toang màn bí ẩn chung quanh một nghi án, mà nếu không có sự huyền bí đó thì xem như vĩnh viễn chìm vào quên lãng...

Bà Tám Trầu nói với Tứ:

- Ngoại không biết gì chuyện tâm linh, nhưng qua vụ này, ngoại có thể quả quyết với con rằng đời sống con người ta không chỉ có kiếp sống hiện thời. Nó còn có một kiếp nữa. Bởi vậy, ngoại muốn con hãy lấy đó mà tự răn mình. Có luân hồi hay không ngoại không biết, nhưng quả báo thì có. Nhất định có...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Quyển XXXIII:
TRĂNG LẠNH NHÀ MỒ

Chuyến xe đò rời bến Sài Gòn vào 5 giờ sáng. Vậy mà mãi tới hơn 3 giờ chiều mới tới bên này Bắc Bassac (Bắc Cần Thơ sau này - TG). Tất cả hành khách đều mệt lả người sau hơn mười tiếng đồng hồ ngồi nêm cứng trên xe. Mà người mệt nhất có lẽ là cô gái ngồi cạnh Đức, bởi suốt lộ trình cô nàng ói liên tục và hầu như không ăn uống gì dọc đường, dẫu Đức đã rất lịch sự mua thức ăn mang lên mời.

Một bà ngồi băng trước quay lại bảo Đức:

- Cậu nên xuống mua ly sữa đem lên cho vợ cậu uống, chứ nhịn đói mà lại ói suốt như vậy chịu sao nổi.

Đức hốt hoảng lên tiếng liền:

- Dạ, không phải đâu! Tôi... tôi chỉ...

Anh muốn đính chính về cách ghép đôi như vậy của bà nọ, nhưng anh chưa kịp nói hết lời thì lơ xe đã la lớn, cắt ngang lời anh:

- Tất cả xuống xe qua phà! Không được ai ở lại!

Đức chưa kịp đứng dậy thì cô gái lại ói lần nữa. Đã biết ý rồi, lần này Đức dùng ngay chiếc khăn mà lúc nãy anh lấy ra sẵn, hứng nước ói của cô gái và dùng một đầu lau cho cô nàng. Cô gái hầu như không còn tự chủ được, cô ói xong thì cứ dựa đại vào vai Đức mà chịu trận.

Bà ngồi trước nói với lơ xe:

- Để cho vợ chồng cậu này ở đây. Cậu ấy phải săn sóc cho vợ, cô ấy ói quá trời xuống sao được!

Rồi bà vừa rời xe vừa nói:

- Cậu cứ ngồi đó đi, để tôi mua giùm sữa cho.

Đức chẳng còn hơi sức đâu mà đính chính, anh móc tiền ra đưa cho bà ta, nhưng bà này xua tay:

- Tiền bạc gì cậu ơi!

Rồi bà ta đi thẳng vào một quán nước phía bên trong lề. Lát sau trở ra với một lon sữa đầy còn nóng hổi bảo Đức:

- Cậu ngồi lại đó cố đút cho cô ấy uống được muỗng nào hay muỗng nấy. Có ít muỗng sữa sẽ đỡ hơn.

Rồi bà vừa lắc đầu vừa cười vui với Đức:

- Thấy cậu chăm sóc cho vợ mà phát chán với ông chồng tôi ở nhà, đời nào ông ấy đút cho tôi được muỗng sữa nào dù đã sống với nhau đã hơn hai chục năm rồi!

- Tôi không phải...

Nhưng bà ta đã bỏ đi, đâu cần nghe lời trần tình của Đức. Hành khách trên xe đã xuống hết, trên xe chỉ còn lại Đức và cô nàng. Lúc này anh có ý muốn đẩy cô ta ra khỏi vai mình, nhưng vô vọng, bởi nàng ta hầu như chẳng biết gì nữa. Nhìn cảnh đó ai mà không nghĩ như bà hành khách nọ. Trông Đức khác nào một anh chồng trẻ với cô vợ mới ốm đau đang cần sự che chở!

Lâm vào cảnh dở khóc dở cười này, Đức đành phải chấp nhận và càng lúc anh càng tỏ ra có trách nhiệm thật, chứ không phải là người đóng vai bất đắc dĩ. Thậm chí người tài xế cũng phải lên tiếng:

- Cậu đóng cửa lại để cô đỡ phải gió và cứ ngồi yên đó để lát nữa tôi cho xe xuống phà. Chà, vợ trẻ mà yếu dữ a!

Đức muốn đính chính, nhưng nhìn cô nàng hầu như chẳng nghe thấy gì, nên anh cũng lờ luôn. Thấy lon sữa trên tay đã bắt đầu nguội, Đức múc từng muỗng nhỏ rồi nhẹ nhàng đưa vào miệng cô nàng, chỉ hy vọng cô nàng không gạt tay ra làm đổ văng tung tóe, chứ không mong gì đút được muỗng nào. Vậy mà lại có kết quả ngoài mong đợi. Cô nàng chép chép mấy cái rồi ngoan ngoãn nuốt từng hớp nhỏ như một đứa trẻ!

Đức vốn khéo tay trong việc chăm sóc trẻ con và đã từng được mấy đứa cháu con của anh chị mình thích thú mỗi lần được anh chăm sóc, nên bây giờ anh có làm cho cô nàng hài lòng cũng không phải lạ. Một lúc sau, sau khi uống được hơn chục muỗng sữa thì cô nàng đã có vẻ tỉnh táo nhưng khi vừa mở mắt ra thì lại hốt hoảng kêu lên:

- Anh... anh... sao anh?

Đức bước hẳn xuống xe, chợt cô ta kêu lên:

- Anh đi đâu vậy?

- Cô hết bệnh rồi thì tôi phải xuống xe, kẻo bị người ta đuổi xuống!

- Vậy tôi còn bệnh thì sao?

- Thì...

Đức chưa kịp trả lời thì lúc ấy người tài xế từ xa đang chạy ngược lại, la lên:

- Anh lên xe ngồi với chị đi, xe xuống phà ngay đây!

Đức lại phải miễn cưỡng leo trở lên xe và anh nhận được một nụ cười khó hiểu của cô nàng. Và rõ ràng là nàng ta cố ý lại ngả đầu vào vai Đức như lúc nãy kèm câu nói:

- Dẫu sao được dựa đầu thế này cũng đỡ chóng mặt hơn, như vậy chắc là sẽ hết ói!

Rõ ràng là cô ta biết những việc mình gây ra từ sáng đến giờ, vậy mà nói tỉnh như không! Đức hỏi gặng lại:

- Cô không ói nữa thật chứ?

- Cũng còn tùy... tùy anh có cho mượn vai nữa không!

Đức nhổm người dậy, định đẩy cô nàng ra, nhưng cô ta đã nói khẽ vào tai:

- Ông tài xế nhìn thấy đuổi cả hai xuống bây giờ!

Đức đưa lon sữa cho cô ta:

- Cô uống cho hết đi, để chắc ăn không ói nữa.

Nàng lại cười cười:

- Nuôi bệnh dở ẹt vậy mà cũng được khen!

Dù nói vậy nhưng nàng ta vẫn cầm lấy lon sữa và uống một hơi cạn! Bây giờ Đức mới đùa:

- Giống thuốc tiên quá!

- Thuốc tiên cũng không bằng tay tiên! Nếu không nhờ bàn tay đút sữa điệu nghệ của anh thì chắc em không thể nuốt trôi giọt nào!

Nàng ta đổi sang gọi Đức bằng anh xưng em ngọt xớt khiến anh phải dịu giọng:

- Cô khỏe hẳn rồi phải không?

Bỗng cô nàng nói nhanh:

- Chúng ta phải biết tên nhau và xưng hô cho đúng cách, kẻo lát nữa mọi người lên xe biết chúng ta đóng kịch thì họ cười cho!

- Cười cô chứ đâu phải cười tôi!

Tuy nói vậy chứ Đức cũng tự giới thiệu:

- Tôi tên Đức, nhà ở Ô Môn.

Nàng reo lên:

- Em cũng ở gần đó, ở Thốt Nốt! Em là Oanh, Kiều Oanh đây.

Phà cập bến, xe di chuyển lên bờ, thấy hành khách sắp sửa leo trở lên xe, nàng tranh thủ nói nhanh:

- Hồi nãy họ nói chúng ta là... vợ chồng, anh chưa kịp đính chính phải không? Vậy thì... đừng đính chính nữa, người ta không tin đâu!

- Nhưng mà...

Nàng lại cười:

- Người mắc cỡ, đính chính phải là em kia! Nhưng thôi kệ... chỉ chút nữa là xuống xe rồi mà!

Nghe nàng ta nói có lý, nên Đức im lặng cho đến lúc hành khách lên xe đầy đủ. Lúc ấy bà khách ngồi băng trên quay lại nhìn Oanh và reo lên:

- Cô tươi tỉnh lại rồi kìa, may quá!

Rồi bà ta nói tiếp đủ cho hai người nghe:

- Có hơi vợ chồng nó kỳ diệu vậy đó!

Đức ngượng chín người, anh lại định lên tiếng thì Oanh đã kịp nói thay:

- Dạ, con cám ơn dì. Nhờ có dì nên con mới...

- Có gì đâu, đi đường xa giúp nhau khi qua khi lại mà.

Chỉ mười phút sau thì đã tới bến xe. Lúc này cô nàng mới hỏi Đức:

- Anh về luôn nhà hay có cần ở lại đây sáng mai về sớm? Em có nhà quen, có thể ngụ lại được.

Đức vội xua tay nói:

- Không được, tôi phải về ngay, ngày mai...

Đức định nói ngày mai là lễ hỏi của mình, mọi người đang chờ ở nhà nhưng kịp dừng lại.

Kiều Oanh cũng nói:

- Ngày mai em cũng có việc ở nhà, nhưng sáng về sớm có sao đâu!

Đức định gọi chiếc xe lôi thì cô nàng chỉ tay về phía bên trái:

- Về Ô Môn thì phải đi xe đó, chứ xe lôi chạy sao nổi?

Đức lại chỉ tay về hướng bến đò sông:

- Ra bến đò đi về, chứ quê ở tận trong xa, xe đâu chạy tới mà đi!

Nàng tỏ ra giật mình:

- Anh ở tận đâu lận?

- Kênh Ô Môn, gần ngọn cùn.

- Vậy ra...

Nàng định hỏi gì đó nhưng kịp ngừng lại, cho đến lúc Đức đã leo lên xe lôi rồi, cô mới nói với theo:

- Em biết chỗ đó!

Nhưng hình như Đức không nghe...
 
***

Vợ chồng ông Phán Hòa vẫn chưa thông chuyện bà mai nói. Bà ấm ức nói:

- Hồi họ hứa với mình thì ngon ngọt lắm, sao bây giờ lại đổi ý, gây khó khăn vậy?

Ông Phán cũng nói chen vào:

- Tôi nhớ chính bà ấy nói với tôi lúc lễ coi mắt là bỏ hết mọi nghi lễ rườm rà, chế luôn cho chuyện phải có đôi bông hột xoàn 6 li như đòi hỏi ban đầu, vậy mà nay lại bắt phải có đủ. Gấp gáp quá làm sao xoay cho ra!

Bà mai Lệ là người luôn linh hoạt trong mọi chuyện:

- Họ làm khó vì chuyện xảy ra ngay hôm nay, mới hồi trưa này thôi.

Bà Phán chau mày:

- Chuyện gì?

- Bà Cả có người quen bắt gặp cậu Đức cặp kè với gái ở trên xe đò!

Bà Phán Hòa như giẫm phải lửa:

- Thánh thần ơi, có chuyện đó sao? Đức, con vào đây xem sao?

Đang ở ngoài sân sửa sang lại bàn ghế, Đức vội bước vào lễ phép hỏi:

- Má cho kêu con?

Ông Phán mau miệng:

- Bữa nay mày đi với con nào?

Bà cũng hỏi dồn:

- Người ta nói con cặp kè với con nào đó trên xe đò, có hông?

Đức cười xòa:

- Tưởng chuyện gì. Có một cô...

Bà Phán gần muốn líu cả lưỡi:

- Mày...mày... vậy hả Đức?

Đức vẫn bình tĩnh:

- Có gì đâu má. Cô ấy là khách đi chung, cô ấy bị ói, mệt lả người, nên con giúp, chứ cặp kè gì đâu!

Bà mai Lệ nói rành rẽ:

- Có người thấy rõ ràng cậu với cô gái đó vai kề vai, mà còn tình tứ lắm trên xe đò, họ về mách lại với...

Bà Phan Hòa nhanh trí:

- Chắc là nói lại với chị phải không, rồi chị đi học lại cho bên kia họ biết chứ gì?

Bị bắt đúng thóp, bà ta lúng túng:

- Thì... thì tôi sợ cậu Đức đây bậy bạ làm hư việc nên có nói chút đỉnh... nhưng nói vậy thôi chứ bên kia người ta cũng đâu có bắt bẻ gì.

Ông Phán nổi giận:

- Không bắt bẻ mà thay đổi đòi hỏi. Bữa trước nói không cần đôi bông, nay lại đòi! Mà đòi gấp như vậy thì lấy đâu sáng mai có để đem qua? Có phải là chị hại nhà này không!

Bà mai cứng họng. Cũng may là Đức đã lên tiếng:

- Không hề gì, con có sẵn đôi bông tai sắm hồi năm ngoái, tính để dành...

Ông Phán Hòa nói nhỏ bên tai bà:

- Hồi đó nó yêu con Lan Ngọc ở Sài Gòn, đáng lẽ hai đứa lấy nhau, kế con nhỏ nghe lời cha mẹ đi lấy mối khác. Tưởng nó đã chán đời đem bán đôi bông rồi, ai ngờ còn...

Bà Phán bấy giờ mới cười:

- Dữ hóa lành, nhờ ơn trời đó con! Thôi, đi nghỉ sớm để mai còn đi. Phải đi thật sớm thì tới mười giờ mới tới được bên Thốt Nốt.

Nghe nhắc Thốt Nốt làm Đức chợt nhớ tới cô gái trên xe đò, cô ta nói nhà cũng ở bên đó... và trong suốt giấc ngủ, hầu như Đức cứ bị ám ảnh mãi hình ảnh cô nàng dựa đầu trên vai mình ngủ ngon lành.
 
***
Có lẽ ảnh hưởng của chuyến đi mười mấy tiếng đồng hồ nên vừa nằm xuống là Đức ngủ say. Ngoài những hình ảnh về cô gái ám ảnh, Đức hầu như không nhớ gì khác, mãi cho đến lúc anh choàng tỉnh dậy do có tiếng ai đó gọi bên ngoài cửa sổ!

- Lạnh quá... giúp tôi với!

Ban đầu Đức cứ tưởng là mình chiêm bao, nhưng sau khi nhìn kỹ anh giật mình, bởi bên ngoài kia có một người đang ôm bụng, đứng không vững. Lại là một cô gái!

- Kìa, cô...

Đức quên hết mọi cảnh giác, anh bước tới bên cửa sổ và nhìn rõ hơn, đó là một cô gái còn rất trẻ, toàn thân ướt đẫm.

- Em lạnh... em chết...

Cô ta vừa nói tới đó thì ngã lăn ra và bất động. Đức hốt hoảng, anh tung cửa chạy ra. Đến nơi, anh cúi xuống nhìn và giật mình kêu khẽ:

- Quế Anh!

Quế Anh là người vợ chưa cưới của Đức, người mà ngày mai anh sẽ đưa sính lễ sang để làm lễ hỏi!

- Tại sao như thế này?

Đức đưa tay định đỡ cô lên thì bỗng anh như bị điện giật, người bị bắn ra đến hơn một thước!

Đến khi bò dậy được thì chẳng còn thấy cô nàng đâu? Ở chỗ nàng nằm vừa rồi còn lại một cái khăn quàng cổ mà vừa cầm lên, Đức đã nhận ra ngay đó chính là khăn mà trước đây mấy tháng chính anh đã mua tặng.

- Quế Anh!

Đức gọi quá lớn làm cho ba má anh đều giật mình tỉnh giấc. Ông Phán hỏi vọng ra:

- Gì vậy con?

Giọng Đức vẫn còn run:

- Dạ... con... con thấy...

Anh kịp ngừng lại, không tiện nói ra. Lát sau nói lảng ra chuyện khác:

- Dạ, con nghe có tiếng động gì lạ ngoài này nên ra. Nhưng không thấy gì...

Bà phán hỏi thêm:

- Má nghe con kêu tên Quế Anh?

- Dạ, con đâu có...

Đức chạy nhanh về phía sau khu vườn cam của cha mình, trăng lúc này đang sáng nên có thể nhìn rõ mọi vật. Chẳng hề thấy bóng dáng của nàng đâu!

- Kỳ lạ!

Anh tìm kiếm một lúc thì chán nản quay vào. Nghĩ có lẽ mình còn chưa tỉnh, ảo giác cũng nên...

Nhìn đồng hồ tay thấy mới một giờ sáng, Đức vội lên giường ngủ tiếp. Nhưng chưa kịp chợp mắt thì anh chợt nghe có tiếng của một ai đó ngay trong phòng mình!

- Ai vậy? Ba hả?

Anh bật dậy định tìm xem ai thì bỗng cảm giác một bên tay của mình tê rần và lạnh buốt! Một giọng nói sát mang tai:

- Hãy rời xa nàng ta ngay, nếu không muốn chết!

Trong bóng tối, nhưng Đức cũng nhìn thấy, thấy đôi mắt của người ấy sáng như hai đốm lửa màu xanh! Và hơi lạnh từ bàn tay anh ta truyền sang Đức càng lúc càng lạnh buốt, khiến anh suýt phải kêu lên đau đớn! Cũng may vừa lúc đó có tiếng của ông Phán Hòa bên ngoài:

- Ngủ chưa con?

Người đó buông tay ra. Đức ngã nhào trở lại giường cũng vừa lúc ông Phán đẩy cửa vào.

- Có chuyện gì phải không con?

Đức hoàn hồn, đáp:

- Dạ, có... có người ở trong này...

Ông Phán đưa cây đèn dầu lớn vào phòng, căn phòng sáng lên vừa hỏi:

- Ai đâu?

Đức nhìn khắp nơi, anh vẫn chưa hết run:

- Một người đàn ông. Anh ta nắm tay con...

Lúc này bà Phán cũng đã chạy sang. Bà đích thân cúi xuống tìm dưới gầm giường, trong kẹt tủ, không nơi nào là không lục tung lên. Bà ngạc nhiên hỏi:

- Có thấy gì đâu con?

Đức nhìn ra cửa sổ, anh cảm giác như còn có hơi thở của ai đó rất gần bên... Anh đột ngột nói lớn:

- Ai đã dám tới thì có gan ra mặt đi!

Không có ai trả lời, bà Phán giờ mới hơi run:

- Bộ có người vào phòng con thật hả? Coi chừng ăn trộm đó...

Bà đi xem lại đồ đạc, nhưng Đức đã nói:

- Không phải ăn trộm đâu má. Đây là... người cõi âm hay sao đó, tay chân của họ lạnh ngắt, họ chụp con chỗ này này...

Anh đưa tay lên xem và hốt hoảng kêu lên:

- Má coi nè!

Trên cổ tay của Đức hằn lên những vết bầm tím khác thường. Ông Phán Hòa lo lắng:

- Con coi có đau đớn gì không?

Đức sờ thử thì chẳng có cảm giác đau, anh lắc đầu:

- Không đau.

Anh thuật lại đầu đuôi chuyện vừa rồi, nhưng không nói ra chuyện mình gặp Quế Anh. Anh chỉ hỏi:

- Mấy hôm nay bên nhà Quế Anh có ai qua nhà mình không?

- Họ không ai qua, nhưng bà mai ngày nào không tới lui. Nghe nói con Quế Anh cũng mới từ Cần Thơ về hôm qua. Con nhỏ năm nay thi đậu bằng thành chung, giỏi thật!

Bà còn nói thêm:

- Nhà bên đó má không ưa ai, chỉ mình con Quế Anh là được! Mà con nhỏ cũng kỳ, nó nhắn với bà mai là nếu nó không làm dâu được nhà này thì nó... thà chết còn hơn!

Đức sửng sốt:

- Cô ấy nhắn lúc nào?

- Thì mới mấy bữa trước. Má nghe nói gở như thế nên tính bữa nào gặp, má sẽ rầy nó. Hay là tại nó nghi kỵ con điều gì đó?

Đức lắc đầu:

- Con có làm gì đâu mà nghi với kỵ.

- Thì chuyện con với đứa nào trên xe đó!

- Đó là chuyện mới xảy ra hồi trưa hôm qua.

Chợt Đức nhớ lại lời nói của con người kỳ dị lúc nãy, anh kêu khẽ:

- Phải chăng...

Bà Phán ngạc nhiên:

- Con nói phải cái gì?

- Dạ... à mà không có gì!

Ông Phán nhận xét:

- Ba coi mòi con nhỏ thương con lắm, tuy có phần kín đáo giữ ý. Như cách đây mấy tuần, nó có gửi về cho con vật này mà ba quên chưa đưa lại cho con.

Ông trở về phòng lấy ra một cái hộp giấy nhỏ:

- Ba chưa coi nên không biết cái gì trong này. Con mở ra xem.

Đức mở ra và hết sức ngạc nhiên khi thấy đó là một chiếc khăn quàng cổ giống y chiếc khăn anh vừa nhặt được ngoài vườn. Bà Phán nói liền:

- Hôm rồi nó đi Đà Lạt, chắc là mua trên đó rồi gửi tặng con, vậy mà ba con lại không đưa.

Đức nói làm cho cha mẹ anh đều ngạc nhiên:

- Đây là chiếc khăn chính con tặng cho cô ấy! Chẳng hiểu sao...

Anh chạy vào phòng tìm chiếc khăn lượm được lúc nãy, nhưng quá đỗi ngạc nhiên khi không còn thấy trong phòng nữa!

- Ủa ba lấy khăn này ở đâu vậy?

- Thì ba giữ từ bữa đó đến giờ.

- Nhưng... mới hồi nãy...

Anh đành phải kể lại chuyện gặp Quế Anh lúc nãy cho cha mẹ nghe. Vừa nghe xong, họ đều hốt hoảng:

- Không xong rồi!

Họ lặng người đi rất lâu với bao nỗi hoang mang trong lòng...
 
***

Khi đoàn nhà trai tới thì Quế Anh đã mất tích hơn nửa ngày rồi. Lúc đầu, trong nhà cứ ngỡ cô nàng bỏ đi đâu đó rồi về, nhưng khi có người báo tin thì mọi người mới tá hỏa:

- Đôi hài cô Quế Anh mang còn nằm trên xuồng, mà chẳng thấy cô ấy đâu.

Chuyện Quế Anh tuy là người ở vùng sông nước mà chỉ biết bơi lõm bõm là điều ai trong nhà cũng hiểu, bởi vậy bà Cả lo sốt vó:

- Tụi bay chia nhau đi tìm kiếm nó coi! Trời ơi, tôi đã nói rồi, phải để mắt tới nó trong mấy bữa này mà...

Bà định nói gì đó nhưng thấy nhiều người quá nên thôi, đợi một lúc khi đã kéo ông chồng ra ngoài rồi, bà mới nói:

- Hay là ông rầy la gì nó nữa?

Ông Cả trợn mắt nhìn bà:

- Có bà ép nó vụ con trai chủ nhà máy xay lúa thì có! Tôi đã nói rồi, hôm nay thì bên cánh Phán Hòa qua tới và lễ hỏi cử hành rồi, còn nói tới lui nỗi gì nữa, bà cứ không nghe...

Bà lừ mắt nhìn ông:

- Chưa nhận sính lễ thì đâu có gì phải lo! Vả lại tôi cũng phân tích lợi hại cho nó nghe thôi, chứ có ép uổng gì đâu!

- Cái giọng điệu chì chiết của bà thì còn hơn là ép uổng. Mà hỏi thật, con trai thằng chệt Tỷ thì có gì hay ho đâu mà bà ham vậy chứ? Bà cũng thừa biết là con Quế Anh nhà mình nó ghét cay ghét đắng loại người đó nên mỗi lần bà nhắc tới là nó tìm cách bỏ đi, vậy mà chiều hôm qua bà vẫn còn oang oang cái miệng! Bây giờ bà có khóc thì cũng trễ rồi, xuống hà bá mà tìm nó!

Ông nói xong bỏ đi thẳng xuống bến rồi mất dạng luôn. Bà Cả vừa lo lắng vừa rối trong lòng. Khi vợ chồng Phán Hòa và Đức bước vào nhà thì bà mai Lệ mới thay mặt giải thích:

- Chẳng biết cô Quế Anh đi đâu mà từ đầu hôm qua tới giờ chưa về?

Bà Phán Hòa nói liền:

- Hay là nó bị như mình thấy?

Nghe bà nói vậy bà Cả hỏi dồn:

- Chị thấy nó ở đâu?

Đức phải đỡ lời cho mẹ:

- Dạ... tối qua má con chiêm bao thấy Quế Anh, chứ đâu phải...

Nãy giờ không để ý, giờ nghe Đức lên tiếng, bà Cả quay sang anh:

- Hôm qua nó một hai nói đi tìm con, đúng vậy không?

Đức ngơ ngác:

- Đâu có bác! Nhưng mà...

Nhớ lại chuyện đêm rồi, Đức kêu lên:

- Đúng rồi, người của Quế Anh đẫm nước, cô ấy ngã xuống sông rồi!

Bà Cả càng quýnh hơn:

- Sao nãy giờ con không nói!

Hầu như mọi người dự lễ hỏi đều chia nhau đi tìm Quế Anh. Đức ngồi riêng một xuồng nhỏ, anh vừa bơi dọc con sông vừa khấn:

- Xin cho tôi tìm được cô ấy, rồi muốn chuyện gì tôi cũng chịu!

Lời anh vừa dứt thì bất chợt ngay phía sau lưng anh có người lên tiếng:

- Người chung tình như vậy, thảo nào người ta không chết mê chết mệt!

Quay nhanh lại, Đức sửng sốt kêu lên:

- Kìa, cô!

Đang ngồi chung xuồng với Đức lúc ấy là... Kiều Oanh, cô gái bị ói trên xe đò! Cô nàng cười rất tự nhiên và giải thích sự có mặt của mình:

- Người ta xuống xuồng mà không hay biết gì hết! Đúng là lúc lòng dạ đang nghĩ và lo lắng cho ai đó thì đâu còn chú ý gì nữa chung quanh!

Đức chống chế:

- Lúc lui xuồng ra đâu thấy cô?

- Cái đầu anh bận nghĩ tới cô Quế Anh thì đâu cần gì thấy ai khác! Mà sao mọi người mãi đi tìm ở dọc con sông này, lỡ cô ấy không ở đây thì sao?

Đức nhìn sững cô nàng:

- Sao cô biết Quế Anh?

Cô nàng vẫn giữ nụ cười bí hiểm trên môi:

- Xứ Thốt Nốt này nhỏ xíu, mà vợ chưa cưới của anh lại đẹp và nổi tiếng khắp vùng, ai mà chẳng biết! Với lại anh quên là tôi cũng là người xứ này sao?

- Tôi quên...

Anh chưa kịp hỏi thêm là tại sao cô nàng leo lên xuồng mình, thì Kiều Oanh đã chỉ tay về bên trái và nói:

- Anh rẽ về phía này đi.

- Chi vậy?

Nàng ta nghiêm giọng:

- Anh có muốn tìm vợ chưa cưới của mình không?

Đức còn đang ngơ ngác thì cô nàng đã giằng cây dầm, tự bơi vừa nói:

- Anh cứ ngồi đó rồi sẽ biết.

Thái độ của cô nàng khiến Đức quá đỗi ngạc nhiên. Hình như Kiều Oanh biết hết chuyện của anh, thậm chí chuyện Quế Anh mất tích?

- Sao cô biết tôi và Quế Anh...?

Nàng cười thành tiếng:

- Nhà em ở đối diện nhà Quế Anh, chỉ cách con sông nhỏ. Hôm qua về tới đây em đã nghe nói chuyện Quế Anh sắp đám hỏi mà chưa biết lấy ai, cho đến khi thấy anh đi ghe có mâm quả tới thì em đã giật mình, không ngờ chú rể lại là anh! Đúng là suýt nữa em đã...

Nàng nói tới đó thì ngừng ngang, không phải ngại mà chừng như sợ điều gì đó, mặt tự dưng biến sắc! Đức ngạc nhiên:

- Cô sao vậy?

Kiều Oanh càng cố bơi nhanh, cuối cùng đến một khúc cua của con sông, mà phía bên tay phải có một cái miếu lớn, cô chỉ lên và nói:

- Anh mau lên đó thì rõ!

Đức còn đang lừng khừng thì tự dưng có ai đó xô mạnh một cái khiến anh chúi nhủi suýt ngã. Quay lại tính cự, nhưng thấy cô nàng vẫn ngồi ở lái xuồng, tay đang giữ dầm, không có vẻ gì là vừa mới xô anh.

- Sao cô xô mạnh vậy?

Kiều Oanh gắt lên:

- Không ai xô anh cả. Anh mau lên trên đó đi kẻo không kịp!

Đức đành phải bước lên chỗ cái miếu. Từ xa nhìn thì nghĩ đây là một miếu hoang, khi lên tới gần mới thấy là nhang khói tỏa hương thơm lừng. Chứng tỏ miếu đang có người thờ cúng. Tuy nhiên khi nhìn kỹ thì ngoài mấy bát hương đang cháy và hai mâm trái cây tươi thì không có ai ở đó.

Nhìn lên bệ thờ, bỗng Đức kêu lên:

- Quế Anh!

Rõ ràng là Quế Anh đang ngồi xếp bằng trên bệ thờ, mắt nhắm nghiền, vẻ mặt đờ đẫn khác thường...

- Quế Anh!

Đức kêu một tiếng lớn, Quế Anh mở mắt ra, rồi như thân cây đổ, cô nàng ngã ngang qua, nằm dài trên bệ thờ!

- Quế Anh!

Đức phải nhảy bổ vào đỡ lấy cô nàng, bởi lúc ngã thì thân người nàng nằm trên bát nhang đang cháy! Bế xốc Quế Anh lên, Đức chạy ngay xuống xuồng vừa định gọi Kiều Oanh tiếp một tay, nhưng nhìn chẳng thấy cô nàng đâu?

- Cô Kiều Oanh ơi!

Kêu mãi chẳng nghe trả lời, mà nhìn Quế Anh trong tình trạng đó Đức không thể chần chừ được, anh vội đẩy xuồng lui ra và bơi nhanh về nhà ông bà Cả.

Vừa nhìn thấy anh chở con gái về, bà Cả gào lên:

- Con ơi là con!

Bà ôm chầm lấy con gái, thấy lạnh ngắt thì càng gào to hơn:

- Con ơi, con có mệnh hệ nào thì má...

Ông Cả nạt ngang:

- Để yên cho người ta cứu nó coi!

Đức giải thích sơ qua cho mọi người nghe rồi giục:

- Mau thoa dầu làm ấm cho cô ấy đi!

Mẹ anh hỏi nhỏ con:

- Con gặp nó ở miếu mà mình mẩy có ướt không?

Đức lắc đầu:

- Không! Con thấy quần áo vẫn bình thường mà, chỉ có điều...

Bà Phán nói bằng giọng lo lắng:

- Mấy chiếc xuồng chài quả quyết là họ nhìn thấy Quế Anh lao mình xuống sông rồi mất tích luôn! Chuyện ấy xảy ra tối hôm qua lận, giống với thời điểm mà con nói gặp nó lạnh run trong vườn nhà mình đó!

Đức ngẩn ngơ một lúc rồi nhẹ lắc đầu:

- Không tin được những chuyện lạ lùng như vậy! Có thể là một điềm báo thì đúng hơn...

Họ không có thì giờ để bàn thêm, vì lúc đó Quế Anh khi được thoa dầu thì có dấu hiệu hồi tỉnh. Cô nói ú ớ gì đó trong miệng không nghe rõ, nhưng mấy tiếng cuối cùng thì hình như có tên của Đức!

Bà Cả gọi Đức:

- Con hỏi nó coi, nói gì?

Đức ghé sát vào Quế Anh hỏi đủ cho nàng nghe:

- Em có nghe được anh nói gì không? Có phải em muốn nói gì với anh không, Quế Anh? Anh là Đức đây.

Quế Anh chớp mắt mấy cái, nhưng vẫn im lặng...

Nửa giờ sau vẫn như vậy. Quá sốt ruột nên bà Cả phải nhờ Đức:

- Nó chưa tỉnh, nhưng xem ra chỉ có con là có thể giúp cho nó thôi. Má nhờ con ở lại đây đêm nay.

Trong lúc nguy cấp này bà mới chịu dịu ngọt với Đức. Thật ra trong lòng Đức cũng không đành lòng nhìn Quế Anh như vậy, nên anh nhận lời ngay:

- Con sẽ ở lại. Xin phép má để cho con ngồi đây một mình với em nó. Hình như Quế Anh không thích có đông người.

Tối đó chỉ mình Đức ngồi bên cạnh canh cho Quế Anh ngủ. Thỉnh thoảng anh nghe cô ấy gọi khe khẽ tên mình và hai dòng lệ chảy dài hai khóe mắt. Không thấy ai bên cạnh nên Đức đưa tay nắm lấy nàng như một cách truyền hơi ấm. Đột nhiên Đức phát hiện trong lòng bàn tay của Quế Anh có một vật gì đó giống như đạo bùa chú bằng vải màu vàng.

- Cái gì vậy?

Đức hỏi khẽ và tất nhiên là không ai trả lời. Anh tiện tay lấy vật ấy đưa xem và giật mình! Bởi đó thật sự là một loại bùa chú gì đó rất lạ. Anh không suy nghĩ gì thêm, vội cầm vật lạ ấy thuận tay ném thẳng nó vào đĩa đèn dầu đang cháy. Một ánh lửa xanh bùng lên, cùng lúc với một tiếng thét thật to của Quế Anh!

Vợ chồng ông Cả đang ở nhà trong vội chạy ra hỏi:

- Chuyện gì vậy?

Dĩa đèn dầu sau khi bùng cháy đã tắt tối đen, ông Cả giục gia nhân:

- Tụi bay đốt đèn lên coi!

Bà Cả thì hỏi lần nữa:

- Chuyện gì vậy Đức?

Chẳng nghe Đức lên tiếng, bà hoảng hốt:

- Có chuyện rồi ông ơi!

Khi đèn đốt sáng trở lại thì cả hai Quế Anh và Đức không còn đó nữa!

- Trời ơi!

Bà Cả chỉ kêu được mấy tiếng rồi ngất xỉu...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Phần 2

Kiều Oanh lúc mê lúc tỉnh suốt cả đêm khiến cả nhà lo lắng, sợ hãi. Vào nửa đêm khi vừa tỉnh lại, cô đã chỉ tay qua bên kia sông mà la lên:

- Đừng hại người ta, họ có làm gì đâu mà ác với họ quá lắm vậy!

Ông bà Hai Tâm chẳng hiểu chuyện gì nên vội hỏi:

- Con nói ai, Kiều Oanh?

Nhưng cô nàng không trả lời, mà lại nằm xuống và rơi vào hôn mê như trước đó. Khoảng nửa giờ sau Kiều Oanh lại tỉnh lần nữa. Nhưng lần này thì giọng điệu khác hẳn:

- Họ đã chết chưa? Sao không ai qua bên đó xem hai đứa nó ra sao rồi?

Ông Hai Tâm hỏi:

- Con nói họ là ai?

Kiều Oanh chỉ tay qua chỗ ngôi nhà có đèn sáng bên kia sông:

- Nhà đó đó!

Bà Hai giật mình nói:

- Đó là nhà ông Cả Sử, sao con lại...

Kiều Oanh nghiến răng:

- Phải để họ chết hết đi!

Nói xong cô ta lại ngã ra và hầu như không biết gì nữa! Vợ chồng Hai Tâm lo lắng quá đỗi, bà nhớ lại chuyện tối qua, mà càng sợ thêm:

- Chiều qua đang ăn cơm bỗng nó bỏ đi xuống bến rồi đi đâu chẳng hiểu, đến đêm mới về mình mẩy ướt đẫm, người lạnh cóng rồi sau đó thì mê man luôn! Đây là lần đầu tiên nó bị như vậy.

Ông Hai thêm:

- Ngay bữa ở Sài Gòn về nó đã có biểu hiện kỳ kỳ rồi... Cứ hỏi là có thấy thằng Hiếu tới thăm không? Mà thằng Hiếu thì đã chết mấy năm rồi...

Bà Hai cũng nhớ lại:

- Nó hầu như không nhớ gì chuyện thằng Hiếu đã chết, mà cứ sợ thằng ấy tới nhà tìm! Hình như nó bị cái gì đó ám hay sao mà tính tình thay đổi, chứ từ nào nó có như vậy đâu?

Vừa khi ấy từ ngoài sân có người bước vào nhanh và hỏi oang oang:

- Có chuyện gì vậy anh chị?

Nhìn ra thì bà Hai reo lên:

- Cô Tiên! Trời ơi, sao lại bất ngờ vậy?

Ông Tâm cũng ngạc nhiên không kém:

- Nghe nói cô ở bên Tây, về hồi nào vậy?

- Mới về hôm qua. Sáng nay phải hỏi thăm mãi mới nhớ đường qua đây thăm anh chị. Bây giờ xứ mình thay đổi nhiều quá!

Rồi bà ôm chầm lấy bà Tâm, ràn rụa nước mắt:

- Sui gia hụt của em đây mà! Phải chi năm đó bên Pháp em không bị bệnh liệt giường và kịp về để lo đám cưới cho thằng Hiếu thì nó đâu có chết oan uổng như vậy!

Bà Tâm chỉ tay lên bộ ván gỗ nơi Kiều Oanh đang nằm thiêm thiếp, nói:

- Cũng từ khi thằng Hiếu chết đột ngột thì con nhỏ tôi cũng như người mất hồn, bỏ đi và ở biệt trên Sài Gòn, ít khi về đây.

Người đàn bà mẹ của chàng trai tên Hiếu nhìn sang, chị thấy Oanh nằm quay mặt vào vách nên nói:

- Từ ngày thằng Hiếu báo tin là ba nó tìm được cô gái nó ưng ý thì tôi chưa một lần gặp mặt con dâu tương lai, nghe nói con gái chị dễ thương và hiền hậu lắm phải không?

Bà Tâm chép miệng:

- Phải chi nó dậy được thì cô sẽ thấy...

- Cháu nó bệnh gì vậy?

- Có bệnh hoạn gì đâu. Tối hôm qua...

Bà do dự một chút rồi kể lại mọi chuyện cho vị khách nghe. Nghe xong, bà ta tắc lưỡi:

- Tội nghiệp không! Dẫu nó không trở thành con dâu của tôi, nhưng vẫn là người mà con trai tôi thương, nên tôi tính chuyến này về qua gặp anh chị để xin cho nó đi theo tôi qua Pháp. Tôi ở bên đó với đứa con gái đầu, bây giờ nó lấy chồng xa nên tôi ở một mình buồn quá. Con Kiều Oanh này mà chịu theo tôi thì qua bên đó sẽ có nhà giàu cưới nó ngay!

Bà ta vừa dứt lời thì thật bất ngờ. Kiều Oanh bật dậy la lớn:

- Đừng nói chuyện đó!

Vị khách chợt nhìn thấy Oanh, bà ta kinh ngạc:

- Thì ra là... là cô sao? Là... là...

Vợ chồng Hai Tâm ngạc nhiên:

- Cô Sáu biết con Oanh?

Kiều Oanh cũng vùa nhận ra vị khách:

- Bà... bà là người trên xe đò?

Bà khách kêu lên:

- Hôm qua tôi về cùng chuyến xe với nó mà đâu có biết! Trời ơi, mẹ chồng gặp nàng dâu mà nhìn như người lạ, tức cười chưa!

Nhưng chợt bà khựng lại, lắp bắp hỏi:

- Con... con lấy chồng hồi nào?

Trong lúc Kiều Oanh còn ngơ ngác thì mẹ cô hỏi liền:

- Cô nói gì vậy cô Sáu? Con gái tôi kể từ khi thằng Hiếu của cô chết, nó có ai đâu!

- Có... Tôi mới gặp...

Lời bà chưa dứt thì một lần nữa, Kiều Oanh lại ngã vật ra rồi trở lại trạng thái trước đó. Bà Tâm hốt hoảng:

- Con! Con!

Rồi bà quay sang trách:

- Cô Sáu nói gì để nó mới tỉnh đã lại như vậy rồi!

Bà mẹ của Hiếu ngập ngừng một lúc mới nói thẳng:

- Hôm qua tôi về cùng chuyến xe với nó, nó ngồi băng sau kế tôi với... thằng chồng nó nữa. Giữa đường nó ói tới mật xanh mật vàng, cũng may là có thằng ấy nó lo. Thằng coi bộ được à, hiền hậu, đẹp trai và biết thương vợ nữa!

Ông Tâm nãy giờ không nói, giờ phải chen vào:

- Nhà tôi đã nói rồi cô Sáu, con Kiều Oanh chưa có gia đình!

- Nhưng...

Bà định nói tiếp thì bỗng ôm lấy đầu rồi phải ngồi xuống ghế mới không bị ngã. Bà ngạc nhiên:

- Sao khi không tôi lại bị...

Phải một lúc khá lâu, bà ta mới trở lại bình thường, nhưng lại tỏ ra sợ sệt điều gì đó. Bà kiếu từ:

- Thôi, để bữa nào tôi trở qua thăm. Bữa nay tôi... tôi...

Bà vừa nói vừa bước nhanh ra ngoài trước sự ngạc nhiên của vợ chồng Hai Tâm, bà hỏi chồng:

- Bà ta nói gì hồi nãy vậy? Nói con Kiều Oanh nhà mình đi với ai trên xe?

Ông Tâm nhìn lại chỗ con gái nằm và thở dài:

- Ai mà biết...

Lời ông chưa dứt thì bỗng Kiều Oanh thét to lên:

- Anh Hiếu, đừng làm vậy!

Rồi cô từ trên bộ ngựa gỗ nhảy gọn xuống và chẳng nói thêm gì, cắm đầu chạy một mạch ra ngoài! Bà Tâm gào lên:

- Oanh! Con đi đâu vậy?

Bà quay sang giục chồng:

- Ông làm ơn chạy theo bắt nó lại coi, con nhỏ đang bị bệnh mà!

Hai Tâm chạy khá nhanh, nhưng cũng không kịp, bởi Kiều Oanh đã nhảy xuống xuồng và bơi rất mau hướng qua sông. Chính ông Tâm nhìn theo thấy rõ ràng, con gái ông ngồi yên không hề chèo xuồng, vậy mà chiếc xuồng vẫn băng băng lướt tới như có ai đó đẩy hay kéo!

- Oanh ơi, đừng đi, con mới biết lội, nguy hiểm lắm!

Ông cũng nhảy xuống một chiếc xuồng khác bơi theo. Nhưng khi qua tới bờ bên kia thì không còn nhìn thấy xuồng của con gái nữa. Mà sông nước vùng này mênh mông, nhiều rạch, kênh chia nhiều hướng, biết đi theo đường nào? Cuối cùng ông cũng bơi đại theo con kênh phía tay phải.

Trong khi đó thì chiếc xuồng chở Kiều Oanh đang phăng phăng tiến về gần cuối con sông nhỏ, nơi có ngôi miếu thổ thần bữa trước. Lần trước chính Kiều Oanh đã đưa Đức tới đây, nhưng cũng giống như lần này, cô không hề chủ động, cho nên khi nhìn lại cảnh cũ mà cô vẫn tỉnh như không. Cho đến khi cô chậm bước lên nhìn vào trong miếu lúc ấy chợt cô như hoàn hồn, kêu lên:

- Trời ơi, đừng hại người ta!

Trước mắt cô là hai người đang nằm dài trong miếu. Đó là Đức và Quế Anh! Cả hai trong tình trạng như say ngủ.

- Đừng! Em nói đừng mà. Họ vô tội mà!

Lúc ấy Kiều Oanh như đang giằng co với ai đó. Mặc dù cô đứng đó một mình. Phải đến khi cô lên tiếng rõ hơn:

- Em lạy anh Hiếu ơi, người con trai này chỉ giúp em lúc em bị ói trên xe đò thôi, chứ anh ta nào phải là bồ hay chồng của em đâu! Anh hiểu lầm rồi...

Cô nói chưa dứt lời thì đã nghe một cái tát mạnh vào má, Kiều Oanh lảo đảo rồi ngã sấp vào chỗ bày nhang đèn cúng trước miếu. Cô gào lên:

- Anh quá đáng, chết rồi mà vẫn còn ghen tuông vô lý như vậy, bảo người ta chung tình với anh sao được!

Lời nói này có tác dụng ngay, bởi liền lúc đó bỗng có tiếng rú lên của một người đàn ông và tiếp theo là tất cả những vật dụng, cây cối chung quanh đó đều bị ném tung lên, ngã đổ ngổn ngang. Nhưng tuyệt nhiên không thấy người gây ra chuyện ấy!

Giữa lúc Kiều Oanh còn chưa kịp ngồi dậy thì có một bóng đen lao vút tới như một cơn giông bão! Chẳng kịp suy nghĩ, thuận tay Oanh chụp ngay chiếc bình bằng sành dùng cắm hoa quơ lên thật mạnh.

Bốp!

Một tiếng va đập thật mạnh vang lên, cùng lúc đó một tiếng rú kéo dài... Tiếng rú hình như là của một người đàn ông! Cùng lúc có một vật thật to ngã xuống. Đó là... một người toàn thân đầy máu!

Kiều Oanh bật dậy và cô cũng kịp kêu lên:

- Hiếu!

Người đầy máu kia sau tiếng gọi tên của Kiều Oanh đã từ từ tan biến giống như một khối nước đá để giữa trời nắng! Chỉ nửa phút sau thì nơi đó chỉ còn lại một vũng nước sền sệt, đen ngòm...

- Hiếu!

Oanh lại gọi tên Hiếu một lần nữa với nỗi ân hận dữ dội, cô chỉ muốn chạy theo hướng mà cô đoán là Hiếu vừa rời khỏi. Nhưng vừa kịp lúc, nhìn lại, thấy hai người vẫn đang nằm im đó thì Oanh lại la lớn:

- Hai người hãy đi ngay đi, anh ta có thể trở lại bất cứ lúc nào! Hãy xuống xuồng về ngay nhà đi, mọi việc ở đây để tôi lo!

Lời cô vừa dứt thì Đức và Quế Anh cũng vừa tỉnh lại. Họ ngơ ngác nhìn quanh, đến khi thấy Kiều Oanh thì Đức hốt hoảng:

- Cô là... người hay ma? Hôm trước cô đã...

Kiều Oanh nói nhanh:

- Đừng hỏi lôi thôi nữa, hay dẫn cô ấy trốn đi. Đúng là hôm trước tôi đã bị Hiếu sai khiến để dẫn dụ anh tới đây và hôm nay cũng thế, chính người yêu tôi vì ghen nên đã khiến tôi cùng tới đây để ra tay sát hại hai người, nhưng tôi không đành như vậy nên vừa rồi tôi đã làm tổn thương anh ấy, để anh ấy đi mà không biết đi đâu. Tuy nhiên, lúc này hai anh chị hãy đi đi, về nhà và lập tức cử hành ngay hôn lễ, động phòng hoa chúc ngay tối nay, như vậy mới có cơ may sống sót! Chứ người yêu tôi, anh Hiếu là một hồn ma ghen dữ dội, sẵn sàng giết cả hai người nếu còn cho anh chị chưa là vợ chồng với nhau. Mau đi đi, anh ta sẽ trở lại đây ngay bây giờ!

Đức nhìn Quế Anh rồi không chần chừ, anh bế thốc người yêu lên, chạy nhanh xuống chiếc xuồng mà Kiều Oanh vừa mang tới. Ra sức bơi rất nhanh ra giữa dòng...

Ở trong miếu một mình. Kiều Oanh bất thần chụp lấy mảnh sành bị vỡ lúc nãy và đâm thẳng vào hai mắt của mình, trước khi gục ngã xuống...

***

Việc Đức và Quế Anh trở về đột ngột trong đêm đã là một bất ngờ của đôi bên cha mẹ hai người. Nhưng họ chưa bất ngờ bằng lời yêu cầu của chính Quế Anh:

- Ba má cho tụi con làm lễ cưới ngay trong đêm nay đi, nếu không cả hai đứa con đều phải chết!

Bà Cả trợn tròn mắt:

- Con nói gì vậy Quế Anh? Lễ hỏi còn chưa cử hành, làm sao có thể...

Đức vội giải thích:

- Tụi con vừa bị nhốt ở miếu thổ địa, suýt chết bởi hồn ma, nếu không nhờ cô gái ấy cứu thì không toàn mạng về đây. Tụi con bị một hồn ma ghen dữ dằn, sẵn sàng giết chết nếu con và Quế Anh không thành vợ chồng trong đêm nay!

Bà Phán Hòa nghe cũng không xuôi tai, bà hỏi lại:

- Sao có chuyện kỳ lạ vậy? Mình đâu thể chiều theo...

Bỗng Quế Anh sụp xuống, cô lạy cả hai bên cha mẹ:

- Con xin cha mẹ hai bên, hãy cứu tụi con kẻo không kịp! Con lạy ba má...

Đức cũng sụp xuống lạy y như vậy làm cho bốn ông bà già sững sờ đưa mắt nhìn nhau. Trong lúc họ còn đang lưỡng lự thì Quế Anh sắp sửa trở lại trạng thái cũ, cô co rúm người như sắp hôn mê.

Ông Cả hốt hoảng:

- Không xong rồi bà ơi! Mau... mau cho tụi nó...

Sau khi hội ý chớp nhoáng, hai bên cha mẹ đồng ý cho làm lễ lạy gia tiên ngay trong đêm và âm thầm khấn vái:

- Ở thế chẳng đặng đừng nên buộc lòng chúng con phải chấp nhận cho tụi nó làm chuyện này... Kể từ bây giờ tụi nó được là vợ chồng của nhau, xin ơn trên độ trì cho mọi điều tốt đẹp...

Sau khi lễ lạy gia tiên xong, chính Quế Anh giục Đức rất khẽ:

- Mau đi...

Nửa đêm hôm đó, có lẽ lúc ấy chuyện động phòng của hai người đã qua, bất chợt ở phía sau vườn có một tiếng gầm rú chẳng khác con mãnh thú bị thương nặng!

Quế Anh là người run sợ hơn ai hết, cô rúc vào lòng Đức vừa thều thào:

- Lại nữa rồi!

Đức cũng hiểu đó là oan hồn, giống như anh và vợ đã gặp lúc ở miếu thổ thần. Nhưng chẳng còn cách nào hơn, anh cố trấn an:

- Không sao, nếu chết thì cùng chết!

Nhưng họ chờ rất lâu mà chẳng có việc gì xảy ra... Tiếng hú cũng không vang lên nữa. Cho đến gần sáng, trong lúc mọi người đang ngủ say thì chỉ mình Đức nghe được một tiếng khóc bên ngoài cửa sổ vọng vào.

- Ai?

Đức sợ làm cho Quế Anh tỉnh giấc nên anh nhẹ bước một mình, bước đến gần cửa sổ nhìn ra.

- Kiều Oanh!

Rõ ràng Kiều Oanh đang ôm ngang đôi mắt đầy máu, nói vọng vào vừa đủ cho Đức nghe:

- Anh cầm lấy vật này và cùng với quần áo hai người mặc ban chiều hãy đốt ngay, bởi tất cả đã bị ma nhập, mặc vào lại sẽ vong mạng ngay!

Đức đón lấy vật mà cô gái vừa ném vào, anh nhận ra đó là chiếc lược cài tóc của Quế Anh. Anh chưa kịp hỏi thì nàng ta đã tiếp lời:

- Trước đây cô Quế Anh làm rơi chiếc khăn quàng và lọt vào tay Hiếu, anh ấy đã dùng vật ấy để khống chế, sai khiến cô Quế Anh, suýt nữa cô ấy đã thành ma rồi! Bây giờ phải giữ kỹ mọi thứ, chờ đến khi nào tôi tới nơi đã, lúc đó mới yên...

Nàng ta nói dứt lời thì cắm đầu chạy rất nhanh về phía bờ sông, Đức hiểu là cô nàng còn sống, nên quên cả hiểm nguy, vội đuổi theo.
 
***

Đức rất bất ngờ khi nhìn thấy trước mặt mình là một ngôi nhà khá lớn, nơi mà Kiều Oanh đã chạy vào mấy giây trước đó. Nhà của ai? Đó là câu hỏi mà Đức đang hoang mang và chưa có câu trả lời, bởi với anh thì nơi này hoàn toàn xa lạ...

Anh không định đột nhập vào trong, nhưng nhìn thấy Kiều Oanh ôm mặt đầy máu chạy vào đó trong trạng thái gần như không thấy đường đi, Đức tức tốc đuổi theo nhanh hơn. Anh lọt vào phía sau ngôi nhà lớn như cái dinh thự mà không gặp bất cứ trở ngại nào. Cho đến khi...

- Thưa bà, những gì bà dặn lâu nay con luôn làm đúng. Ngôi nhà này dẫu không ai ở, nhưng con vẫn hằng ngày quét dọn tươm tất, các phòng ngủ của bà, của các cô cậu ngày trước con vẫn chăm sóc như trước đây. Đặc biệt là phòng cậu Hiếu, mỗi ngày con đều thay bình hoa mới, thay áo gối, thay drap nệm hai ngày một lần. Nhưng lạ quá bà ơi...

Đó là những lời của Ba Tiền, người quản gia lâu năm của gia đình Phủ Xuân, chủ nhân ngôi nhà đồ sộ này, anh ta nói với một người phụ nữ mà vừa thoạt nhìn thấy Đức đã suýt kêu lên, bởi đó chính là người đàn bà đã mua cho Kiều Oanh lon sữa lúc ở trên xe đò! Nhờ đứng trong bóng tối, nên Đức không bị phát hiện và nhờ vậy anh tiếp tục nghe được câu chuyện giữa hai người.

Ba Tiền hạ thấp giọng như sợ người ngoài nghe:

- Từ ngày cậu Hiếu chết, đêm nào con cũng nghe có tiếng hát và thổi kèn Tây từ phòng cậu vọng ra! Rồi áo gối, hay drap trải giường, cứ hai ngày con thay theo lời bà dặn thì đều thấy gối bị dơ, drap nhăn nheo và... có mùi mồ hôi! Riêng cơm nước bà dặn con dọn cho cậu mỗi ngày ở ngoài nhà mồ, con đã làm y như vậy và... hầu như bữa nào cậu ấy cũng ăn sạch!

Lúc này bà Sáu Anna, tên người phụ nữ, kinh ngạc:

- Có phải chú quá sợ nên không dám vào nhà mồ rồi để cho chó mèo gì lẻn vào ăn hết chứ gì?

Ba Tiền cãi liền:

- Dạ không phải đâu bà? Nhà mồ kín như bưng, một khi đóng cửa lại thì con gián, con ruồi vào cũng không được, làm gì có mèo chó! Chính cậu Hiếu ăn đó bà!

Tuy Hiếu là con của bà, nhưng bà Sáu Anna nghe nói vậy cũng bắt rùng mình! Bà nhìn sững Ba Tiền rồi run run giọng hỏi lại:

- Ngoài ra nó có phá phách gì không?

- Dạ có! Nhất là cách đây mấy ngày, đúng vào lúc bà về đây thì ngày nào cậu ấy cũng... nhậu nhẹt say khướt rồi đập phá nhà mồ lung tung! Con muốn báo cho bà hay nhưng e bà sợ nên chưa dám nói...

Rồi anh ta lại hạ thấp giọng hơn:

- Mà hình như cậu ấy ghen hay sao đó! Con nghe cậu cứ kêu tên người con gái nào đó là Kiều Oanh rồi gầm thét dữ dội! Tối nay, lúc con bưng mâm cơm xuống thì cũng vừa lúc cậu ấy tung cửa chạy ra, suýt nữa đã xô con ngã! Không biết giờ này đã về chưa nữa...

Bà Sáu Anna hơi chùn bước, vừa nói:

- Lâu ngày tao không về thăm nó, chẳng biết nó còn nhớ không? Lỡ nó lên cơn điên như vậy có sao không?

Ba Tiền trấn an bà:

- Bà là mẹ cậu ấy mà, làm sao cậu ấy dám làm gì!

Nhờ được khích lệ nên bà Anna mới dám theo Ba Tiền bước vào nhà mồ. Anh ta giải thích thêm cho bà nghe về ngôi nhà mồ này:

- Bà biết không, lúc cậu Hiếu chết thì ông nhà cũng còn khỏe, nên ông quyết định đứng ra tự trông coi việc xây ngôi nhà mồ này! Mà chẳng hiểu sao ông lại cho xây đến hai cái huyệt trong này? Một cái thì đã dành chôn cậu ấy rồi, cái còn lại con có mạo muội hỏi thì ông đã nói một câu rất khó hiểu là "để chôn con vợ nó!", mà làm gì cậu Hiếu có vợ?

Bà Anna bỗng kêu lên:

- Con Kiều Oanh!

Ba Tiền ngơ ngác:

- Bà nói Kiều Oanh là ai? Sao trùng với cái tên mà cậu Hiếu cứ gọi hoài mấy hôm nay?

- Con nhỏ đó... thật tội nghiệp!

- Bà nói ai?

Bà Anna gạt ngang:

- Mày không hiểu đâu, đừng hỏi!

Lúc này hai người đã mở cửa nhà mồ bước hẳn vào trong. Tối đen như mực, cho đến khi Ba Tiền bật đèn pin lên, anh ta nói khẽ:

- Có cây đèn măng-sông ở chỗ kia, để con đốt lên.

Đây là lần đầu tiên bà Anna bước vào đây, và mặc dù biết đây là nơi chôn con trai mình nhưng bà cũng nghe lạnh người, đứng yên một chỗ không dám bước tới. Khi đèn măng-sông cháy sáng lên thì Ba Tiền giục:

- Bà bước vào đây, mộ của cậu Hiếu kia!

Anh ta vừa dứt lời thì bỗng thét lên một tiếng, suýt nữa đã làm rơi cây đèn đang cầm trên tay! Trước mắt anh, có một người con gái đang ngồi trong cái huyệt trống.

- Bà... bà...

Bà Anna cũng đã thấy, bà chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi ngã người trên sàn! Lúc ấy cô gái tuy không thấy được người chung quanh, nhưng cô vẫn còn tỉnh táo để lên tiếng:

- Con là Kiều Oanh đây! Con tới với anh Hiếu để cho anh ấy thấy là con không phản bội anh ấy, con vẫn mãi mãi ở bên anh ấy! Con là vợ của anh ấy mà...

Bà Anna bừng tỉnh, bà kêu lên:

- Kiều Oanh! Sao... sao cháu như vậy?

Lúc ấy, bà đã nhìn rõ hai hốc mắt đầy máu của Oanh!

- Con phải lấy đi đôi mắt của mình trước khi chết theo anh Hiếu, để anh ấy thấy rằng ngoài anh ấy ra con chẳng muốn nhìn một ai nữa! Hãy nói với Hiếu, Kiều Oanh này không bao giờ một dạ hai lòng...

Lời vừa dứt thì nắp huyệt cũng vừa đóng sập xuống, nhốt trong đó một cô gái tuổi thanh xuân! Cũng đồng thời lúc ấy, bà Anna và Ba Tiền như bị ai đó nhấc bổng lên và ném nhanh ra ngoài. Khi họ chưa kịp bò dậy thì đã nghe rầm một tiếng, nhìn lại đã thấy cánh cửa nặng nề của ngôi nhà mồ bị đóng chặt lại!

- Trời ơi, Hiếu!

Bà Anna gào lên, cố gắng dậy và chạy tới nắm chốt cửa kéo ra, nhưng vô vọng, cửa đã bị khóa chặt bên trong!

Lúc đó đêm đã dần khuya. Vầng trăng trên đỉnh đầu bắt đầu ngả về hướng tây, lạnh lùng soi ánh sáng mê ảo xuống khu nhà mồ, tạo thành một khung cảnh nửa hư nửa thực, khiến cho Ba Tiền vốn lâu nay đã quá quen thuộc với hình ảnh này cũng phải bắt rùng mình! Anh run run giọng hỏi bà chủ:

- Rồi mình phải làm sao với cô Kiều Oanh đây bà?

Bà Anna chỉ biết buông một tiếng thở dài và im lặng...
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
YÊU NGƯỜI CÕI CHẾT

Lần thứ hai, khi sợi dây câu chùng xuống thì Phi đã rút kinh nghiệm không giật lên ngay như lần trước, mà để cho đầu cần câu nặng hơn rồi mới giật mạnh! Sức trì rất mạnh, Phi phải lấy lại tư thế để không bị mất thăng bằng, anh buột miệng:

- Con này to hơn!

Lúc nãy anh đã bị sẩy một con khi đã giật lên khỏi mặt nước, nên lúc này Phi quyết không để bị hụt lần nữa, anh cố ghì chặt tay một chỗ để cho lưỡi câu bám sâu vào mép con cá.

Mặc dù vậy, hình như con cá bị mắc câu cũng đáo để lắm, nó kéo sợi dây câu chạy vòng vòng dưới mặt nước. Sức mạnh của nó khiến Phi đôi lần tưởng chừng không giữ nổi con cá. Anh ghì mạnh thêm một chút, và lúc ấy con cá từ dưới mặt nước vọt thẳng lên cao làm cho Phi phải kêu lên:

- Trời ơi, lớn quá!

Con cá dính câu lớn đến ngoài sức tưởng tượng của Phi và cả những người đậu ghe gần đó. Họ la lên:

- Quấn cần câu vào gốc cây chịu nó lại!

Phi chưa kịp làm thì một lần nữa con cá lại vọt lên như chọc tức anh và rồi... dây câu nhẹ tênh!

- Sẩy rồi!

Phi kéo vội sợi dây câu lên và chán nản lầm bầm:

- Đứt dây rồi!

Sợi dây câu bị đứt ngang, mất luôn lưỡi câu! Phi vứt luôn cần câu, đứng ngay dậy trước sự tiếc rẻ của mấy người chung quanh, họ bảo:

- Cậu sát cá lắm, nối lưỡi câu câu tiếp đi! Nói thật, tụi tôi ở xứ này mà câu cả chục năm nay chưa từng có được con cá cắn câu nào lớn đến như vậy! Chỉ tại dây câu nhỏ quá thôi. Hay là cậu đổi dây câu lớn của tôi đây mà câu...

Nhưng Phi vẫn lắc đầu:

- Không đến quá tam ba bận đâu, thôi tôi về đây!

Anh lên xe đạp đi thẳng. Tiếc thì có tiếc hai con cá câu hụt, nhưng đã xác định đi câu chỉ để giết thì giờ, nên vài phút sau thì Phi đã quên chuyện câu cá và ghé vào quán nước ven sông mà từ hôm về đây tới nay ngày nào anh cũng ghé qua. Không phải bởi thức uống ngon hay khung cảnh nên thơ, mà chỉ vì cô chủ quán...

Sống ở thành phố lâu năm, quen nhiều cô gái đẹp, nhưng phải công nhận là chưa bao giờ Phi nhìn thấy một cô gái nào xinh xắn và quyến rũ đến lạ thường như cô gái này!

Vừa dừng xe lại thì Phi đã nghe từ trong quán có tiếng nói vọng ra:

- Cậu làm cho người đẹp giận rồi!

Phi bước vào quán và hỏi ngay:

- Mỹ Lan đâu?

Chị chủ quán nghiêm giọng:

- Nó giận cậu nên từ sáng tới giờ không ra bán. Giận thật đó!

Phi ngạc nhiên:

- Em đâu có làm gì mà giận?

- Chuyện cậu đi câu cá! Hôm qua cậu nói sáng nay đi câu cá là nó giận liền, bỏ bán luôn cả buổi tối!

Phi phân trần:

- Đi câu là thú vui của em mà, cô ấy cũng biết, sao lại giận...

- Nhưng tôi nghe cậu hứa với nó là bỏ câu, nên hôm qua nghe cậu quyết đi câu bữa nay, nó đùng đùng bỏ về luôn, cho tới giờ này vẫn không ra! Con nhỏ này tính khí nó vậy đó, hễ ai làm không vừa lòng là bỏ luôn không nói chuyện nữa. Đặc biệt là cậu...

Bà chủ quán biết giữa vị khách trẻ này và cô gái phụ bán với mình có cảm tình đặc biệt với nhau, mà ý bà cũng tán đồng chuyện đó, nên ngầm vun vén cho họ. Mỹ Lan là cô gái hiền lành, đẹp người, đẹp nết nên hầu như khách khứa tới quán đều mến mộ cô nàng, trong số đó có không ít những tay chơi, những tay hiếu sắc, nên khi thấy Lan và Phi thích nhau thì bà ngầm hài lòng. Bà thương Mỹ Lan như con nên muốn được một người như anh chàng Phi này để gọi là cháu rể!

Đã thất vọng vụ con cá, giờ lại thêm nỗi thất vọng lớn hơn, nên Phi không buồn ngồi lâu, anh vừa sửa soạn đứng lên thì bà chủ quán ghé tai nói nhỏ:

- Cậu đi vòng ra cửa sau, con Mỹ Lan nằm dưỡng bệnh trong đó!

Phi giật mình:

- Cô ấy bị sao vậy?

- Nó bảo giấu, nhưng với cậu thì tôi nói, nó bị ngã dập cái môi hơi nặng!

Không đợi bà ta nói thêm, Phi đã bỏ xe đạp đó, chạy một mạch vòng ra cửa sau cách đó không xa. Đây là nhà riêng của bà chủ quán nên ngoài bà thì không còn ai, ngoại trừ một người mà bà cho biết đang nằm trong đó.

- Mỹ Lan ơi!

Một tiếng thảng thốt từ bên trong:

- Đừng vào!

Nhưng Phi đã bước nhanh vào nhà, vừa kịp nhìn thấy Mỹ Lan mới quay mặt vào trong, tay còn che miệng:

- Em bị sao vậy?

- Đừng... đừng nhìn!

Cô nói xong thì bước hẳn vào trong, nói với ra:

- Anh về đi, để em nghỉ ngơi!

- Nhưng mà...

Giọng nàng gắt lên:

- Anh về đi kiếm mấy con cá của anh đi!

Cửa phòng bên trong đóng sầm lại. Phi không còn cách nào khác, anh lững thững bước ra. Anh gặp bà chủ quán ở bên ngoài, bà nói khẽ với Phi:

- Cậu yên tâm về đi, để rồi chị tìm cách nói cho. Con nhỏ coi bộ "kết" cậu lắm rồi đó, vậy liệu mà tính tới đi... Đồng ý không, chị ủng hộ!

Phi cười nửa muốn gật đầu, nhưng nửa còn ngượng... Hiểu ý, bà chủ quán bảo:

- Cậu về đi rồi nếu tối nay có rảnh thì mua mấy hộp sữa tới cho con nhỏ bồi dưỡng, nó bỏ ăn từ sáng đến giờ!

Phi đạp xe về chỗ trọ mà lòng cứ lo lo... Chẳng hiểu Mỹ Lan bị thương tích thế nào mà cô nàng có vẻ khó chịu bẳn gắt?

Khi về tới nhà rồi, anh nghe người chủ nhà trọ bảo:

- Lúc nãy có một cô gái trẻ lắm tới đây, cô ấy bảo tôi đưa cậu cái này rồi đi liền.

Phi tiếp nhận gói giấy và mở ra xem ngay. Anh giật mình kêu lên:

- Trời ơi!

Ông chủ nhà ngạc nhiên:

- Gì vậy cậu?

- Dạ... dạ không. Mà cô gái đó đi lâu chưa?

- Lâu rồi. Tôi có để ý xem cô ta đi hướng nào, nhưng bước ra thì cô ta đã biến đâu mất!

Phi nắm chặt vật trên tay, anh sững sờ. Bởi đó là chiếc lưỡi câu anh vừa bị đứt lúc giật con cá lên! Sao nó lại ở đây?

Không để lão chủ nhà nhìn thấy, Phi bước hẳn vào phòng mình rồi mới lấy chiếc lưỡi câu còn dính một khúc dây câu ra xem lại. Không thể lầm được, chiếc lưỡi câu do chính Phi giũa lại lưỡi cho nhọn hơn, đúng là chiếc này!

- Kỳ lạ...

Phi cứ lầm bầm mãi, cho đến khi trời vừa chập choạng tối thì anh lại đạp xe ra ngoài. Mua năm hộp sữa, một chục trứng gà, Phi mang tới quán ven sông. Nhưng chưa kịp vòng ra sau nhà thì bà chủ quán đã chặn anh lại và bảo:

- Không biết đi đâu mà nó ra ngoài từ khi trời còn nắng. Đi về hướng chỗ cậu câu cá hồi sáng...

Phi gửi trứng và sữa ở đó, rồi đạp nhanh theo hướng bà ta chỉ. Chỗ bờ sông mà buổi sáng dân câu cá hay ngồi câu bây giờ vắng lặng, không một bóng người, không một tàu ghe nào neo đậu. Phi vừa muốn trở về thì bất chợt anh nhìn thấy mộc bóng người từ dưới sông bước lên, cái bóng quen quen...

- Ai mà giờ này...

Phi có chủ ý nên bám theo mà không gây tiếng động. Người kia sau khi bước từ mé nước lên đã đi thẳng lên bờ và dừng lại giũ quần áo cho khô, trước khi bước đi rất nhanh. Phi bám sát theo và anh thảng thốt kêu lên:

- Mỹ Lan!

Tiếng kêu của Phi không lớn lắm, nhưng hình như cô nàng nghe được, bởi vậy rất nhanh, cô ta đi như chạy và chỉ phút chốc là đã biến mất ở phía cuối đường.

Phi tức tốc đuổi theo và mặc dù anh cố đạp xe khá nhanh, nhưng vẫn không làm sao thấy được nàng ta đi hướng nào? Anh phải quay trở lại quán. Nghe kể lại thì bà chủ quán sau một lúc suy nghĩ đã bảo:

- Hay là cậu thử đi tìm nhà ba mẹ của nó coi.

- Ở đâu vậy chị?

Bà chủ quán lắc đầu:

- Từ lúc tới quán làm nó chỉ nói là trú ngụ ở làng chài ven biển phía Gò Công, biển Tân Thành thì phải, còn cụ thể thế nào tôi cũng không rõ. Cậu chờ đến mai xem sao rồi hãy đi.

Không thể chờ qua một đêm, nên ngay tối hôm đó Phi đã ra bến xe đò mua vé đi Gò Công. Xứ này có lần anh đã tới, nên dù trời mới mờ sáng Phi cũng đi ngay ra phía biển...

Dò hỏi mãi, cuối cùng Phi cũng tới được làng chài ven biển Tân Thành. Chỉ vài trăm nóc nhà, nhưng việc đi hỏi tên một cô gái mà mình mới quen, đã rời xứ đi tha hương là một việc vô cùng khó khăn. Phi đã hỏi trên một chục nơi, nhưng ai cũng lắc đầu bảo:

- Ở đây đâu có ai tên Mỹ Lan mà cỡ tuổi đó!

Phi vẫn kiên nhẫn lần dò hỏi thêm, và trời cũng còn thương anh khi một bà lớn tuổi xác nhận:

- Ở xóm trên có một đứa con gái tuổi đôi mươi tên đó, nhưng hình như không có ở nhà.

Phi mừng quá hỏi tới:

- Nhà chỗ nào bác? Ba má cô ấy tên gì?

Bà lão tốt bụng, sốt sắng chỉ:

- Cậu đi lên xóm chài phía trên, hỏi nhà Tám Ri làm nghề cào nghêu, đó là nhà cha mẹ con nhỏ tên Mỹ Lan.

Mừng quýnh, Phi đi nhanh tới đó và gặp ngay một người đàn ông có gương mặt khắc khổ đang đứng trước nhà, anh hỏi:

- Bác cho cháu hỏi, đây có phải nhà bác Tám Ri không?

- Tôi là Tám Ri đây. Cậu là ai mà biết tôi?

- Dạ, may quá, cháu đã đi tìm nhà bác từ sáng tới giờ! Bác cho cháu hỏi thăm, chẳng hay cô Mỹ Lan có về đây không?

Người đàn ông nhìn sững Phi, môi ông ta mấp máy:

- Cậu... cậu kiếm... Mỹ Lan?

- Dạ, cháu là bạn của cô ấy, cháu...

- Cậu biết nó lâu chưa?

- Dạ mới đây...

Ông chụp lấy vai Phi lắc mạnh:

- Cậu gặp nó ở đâu? Nó còn sống phải không?

Thấy ông hỏi dồn dập, Phi phải nói rõ ràng hơn:

- Dạ, chỉ mới hôm qua thôi, cô ấy còn gặp cháu.

Ông già reo lên:

- Trời Phật còn thương tôi rồi! Mỹ Lan ơi, ba cứ tưởng...

Ông chợt kéo tay Phi lôi tuột vào nhà, chỉ tay lên bàn thờ giữa nhà:

- Tôi thờ nó đó!

Phi sửng sốt:

- Sao lại thế này?

Kéo ghế mời Phi ngồi, giọng ông chủ nhà đầy xúc động:

- Cách đây gần hai năm, trong lần ngồi xuồng đi cào nghêu với tôi, con Mỹ Lan bị sóng vỗ làm lật xuồng, nó rớt xuống sông rồi mất tích luôn! Sau bao ngày tìm kiếm mà không thấy xác con, tôi cứ nghĩ là nó đã chết chìm và xác đã giạt ra biển, nên về nhà làm lễ cầu siêu cho nó và thờ cho đến nay. Trời ơi, đúng là cậu mang tin lành đến cho gia đình chúng tôi! Vậy cậu hãy nói cho tôi biết, nó đang ở đâu?

Phi cũng vui lây với ông già, anh bảo:

- Ở bên Hàm Luông.

- Bến Tre hả? Đúng rồi, nó rớt xuống nước rồi trôi giạt qua bên đó mà tôi không nghĩ ra, cứ tưởng nó trôi ra biển mất xác!

Rồi ông chỉ lên tấm ảnh thờ lần nữa và nói:

- Sinh nó ra được có nửa tháng thì má nó bệnh sản hậu mà chết. Tôi đã ẵm đi cho bú nhờ mà nuôi nó tới khôn lớn. Không ngờ con nhà nghèo mà con nhỏ càng lớn càng đẹp ra, đẹp đến nỗi tôi phải lo... Cậu có nghe người ta nói hồng nhan bạc phận không? Thấy nó đẹp bất thường nên nhiều người trong làng này đã đôi lần quở, sợ e nó khó sống thọ! Tôi thương con nên rất ghét ai nói như vậy, tuy nhiên cũng cứ phập phồng lo sợ hoài. Cho đến khi xảy ra vụ chìm xuồng đó thì tôi lại càng nghĩ thiên hạ nói đúng, tôi khóc hết nước mắt luôn!

Nhìn ảnh chân dung trên bàn thờ Phi bất giác nói:

- Chưa chết mà đã được lên đó ngồi rồi, Mỹ Lan sẽ bất tử cho bác coi!

Ông già cũng vui lây:

- Chết hụt thì khó mà chết nữa lắm! Cám ơn trời Phật.

Ông mau mắn bước ra cửa vừa bảo Phi:

- Cậu ngồi chơi đợi tôi một lát, tôi chạy đi bắt con gà làm thịt mình ăn mừng!

Tính cản, nhưng trước niềm vui lớn của ông già, Phi phải chấp nhận. Lát sau, khi đã ngồi vào bàn ăn rồi anh mới nói thật:

- Tuy cháu mới gặp Mỹ Lan hôm trước, nhưng do cô ấy giận cháu nên bỏ nhà trọ đi đâu chưa rõ...

Ông già vẫn lạc quan:

- Cũng chẳng đi đâu mà lo. Con gái mà, giận đi quanh quẩn đâu đó rồi sẽ quay về thôi!

Sẵn đang vui trong lòng, ông buông đũa và bước vào nhà trong lấy ra một cuốn sổ bìa dày, đưa cho Phi xem:

- Cậu coi, con nhà nghèo, học chỉ mới đệ thất rồi nghỉ, vậy mà nó viết chữ đẹp còn hơn là mấy đứa học tú tài nữa!

Phi giở từng trang sổ ra, anh thấy tiêu đề là lưu bút thì khá thích thú, bởi ít ra anh cũng hiểu được đôi chút về cô gái này. Anh lật tiếp trang kế và lần này kêu lên:

- Sao kỳ vậy bác?

- Chuyện gì vậy cậu?

Phi ngỡ mắt mình đọc lầm, nên đọc lại lần nữa dòng chữ viết nắn nót: "Nếu người đó có duyên ắt sẽ biết đường mà tới nhà mình! Hãy tới đi Phi ơi!".

Phi đưa cho ông già xem và hỏi nhanh:

- Lúc còn đi học cô ấy có quen ai tên Phi không?

Ông già Tám lắc đầu đáp ngay:

- Không bao giờ! Con gái tôi từ nhỏ tới lớn, đến chết, chưa bao giờ quen với đứa con trai nào cả!

- Vậy tại sao...

Anh đưa cuốn lưu bút cho ông già xem và nói:

- Cháu cũng tên Phi. Nhưng quyển lưu bút này viết cách đây mấy năm. Lúc đó cháu và Mỹ Lan nào có quen biết nhau?

Ông Tám vừa nhìn thấy dòng chữ cũng kêu lên kinh ngạc:

- Sao kỳ lạ vậy?

Ông lại nhìn Phi và hỏi gặng:

- Đúng là cậu mới quen với con Mỹ Lan gần đây hả?

- Dạ đúng, chính xác là chỉ mới gần một tháng nay thôi. Vậy tại sao có chuyện trùng hợp lạ lùng thế này? Bác nhớ kỹ lại coi, trong đám bạn của Mỹ Lan ngày xưa có ai tên Phi không?

Ông Tám vẫn quả quyết:

- Hoàn toàn không!

Phi đánh bạo đề nghị:

- Bây giờ biết chắc là Mỹ Lan còn sống, vậy có thể nào bác cho con mượn tấm ảnh thờ này được không? Con chỉ mượn thôi, rồi sẽ đem trả lại bác sau này...

Tám Ri cũng có cảm tình với chàng trai này, nên ông gật đầu ngay:

- Được, cháu cứ lấy đi. Bây giờ ăn xong mình đi qua Hàm Luông liền. Tôi sẽ lấy ghe đi cho tiện.

Phi ôm bức ảnh trong lòng mà lâng lâng nhiều cảm xúc...
 
***

Bà chủ quán lắc đầu nói:

- Từ hôm cậu đi tới nay tôi không thấy con Mỹ Lan trở về.

Phi chỉ sang ông Tám, giới thiệu:

- Đây là bác Tám, cha ruột của Mỹ Lan.

Bà chủ quán chỉ vào phòng phía trong vừa nói:

- Mỹ Lan ở đây, được tôi coi như con, nên mặc dù là làm công, nhưng nó muốn làm lúc nào thì làm, nghỉ lúc nào cũng được. Mà con nhỏ dễ thương lắm, được khách hàng thương mến, nên hai bữa nay vắng mặt nó làm cho tôi điên đầu vì khách đòi bỏ đi quán khác.

Bà đích thân đưa ông Tám vào phòng, coi nơi ăn ngủ của con gái, Phi cũng bước theo. Khi vào trong phòng, vừa nhìn qua mấy món để trên bàn, anh chợt kêu lên:

- Cuốn sổ y như cuốn ở nhà bác đây, bác Tám!

Ông Tám Ri cũng vô cùng ngạc nhiên khi thấy đúng quyển sổ lưu bút đang nằm ở đây! Ông cầm lên và xác nhận:

- Quyển sổ này đây rồi!

Phi lật ra xem và càng kinh ngạc hơn:

- Quyển sổ đó, không sai bác Tám ơi!

Anh lật ra trang có dòng chữ: "Nếu người đó có duyên ắt biết đường mà tới nhà mình. Hãy tới đi Phi ơi!" Phi đưa cho ông già xem:

- Bác coi, đúng dòng chữ này!

Họ thuật cho bà chủ quán nghe, bà ta lắc đầu:

- Từ hôm qua đến giờ nó không trở về đây. Không có Mỹ Lan ở nhà thì tôi luôn khóa cửa sau này lại. Như vậy...

Ông Tám thừ người ra một lúc rồi bảo Phi:

- Làm gì thì bác cũng ở lại đây chờ nó...

Được sự đồng ý của bà chủ quán, tối đó ông Tám và Phi đều ngủ lại đúng trong phòng của Mỹ Lan. Phi trằn trọc mãi không ngủ được, vì mỗi lần nhắm mắt lại thì anh lại thấy hình ảnh của Mỹ Lan từ dưới sông leo lên...

Bất chợt vào lúc nửa đêm, Phi bật dậy và nói như trong cơn mơ:

- Đúng rồi! Đúng là Mỹ Lan bị thương ở miệng, cô ấy...

Bất kể sự có mặt của ông Tám và bà chủ quán đang ở nhà trong, Phi tốc chạy ra ngoài, vừa chạy vừa kêu to:

- Mỹ Lan!

Phi chạy một mạch ra bờ sông, chỗ anh câu cá, cũng là nơi anh đã nhìn thấy Mỹ Lan đi từ dưới nước lên, ngồi thấp xuống chỗ bờ kè, ẩn mình trong bóng tối, Phi chờ và hy vọng những gì mình nghĩ trong đầu là đúng...

Có hơn nửa giờ trôi qua... và cuối cùng điều chờ đợi của Phi không hề hoài công. Anh reo lên khẽ khi người đó từ dưới sông vừa ngoi lên:

- Mỹ Lan!

Không sai. Người đi lên bờ trong bộ quần áo ướt đẫm kia chính là Mỹ Lan! Cô không biết là có người theo dõi mình, nên sau khi giũ quần áo cho bớt ướt, cô bước thẳng về phía trước. Phi bám theo và chưa vội ra tay.

Đợi cho cô nàng bước tới một chỗ tối và vắng thì bất ngờ Phi xuất hiện. Anh chụp ngay cánh tay của nàng, nói đủ nghe:

- Anh sẽ không để mọi người thấy, nhưng em phải ở lại đây để nghe anh hỏi.

Mỹ Lan hốt hoảng thấy rõ, nhưng quá bất ngờ, nên cô chỉ quay mặt đi chỗ khác để giấu vết thương trên môi.

Phi đột ngột hỏi:

- Có phải miệng em vướng phải lưỡi câu không?

Câu hỏi đó khiến cho cô co rúm người lại, may mà có tay kéo lại của Phi, chứ nếu không thì cô nàng đã ngã quỵ xuống.

- Anh đã về nhà em, gặp ba em và đã đọc trang lưu bút do em viết. Như vậy em cần gì phải giấu anh nữa. Chỉ có điều...

Phi nhìn thẳng vào mắt Mỹ Lan và anh chợt sững sờ, bởi đôi mắt ấy đang đẫm đầy nước mắt và như đang lạc thần, đờ dại như mắt loài cá bị bắt lên khỏi nước!

- Kìa, em không nên...

Trong lúc lo nói, anh đã lơi tay ra và chỉ chờ có thế, Mỹ Lan rút tay ra và biến rất nhanh vào trong bóng tối! Phi gọi theo:

- Ba đang ở quán chờ em! Em phải về thăm ba, anh sẽ không nói gì chuyện của em cả!

Trong bóng tối vang lên giọng của Mỹ Lan:

- Em sẽ về đó, nhưng anh phải tới nơi mà em lưu địa chỉ lại trên bàn tay anh đó, nếu còn muốn gặp em!

Phi bật diêm lên và đọc được mấy chữ nổi rõ trong lòng bàn tay: Gần nhà máy xay lúa An Hòa, Bình Đại.

Những chữ này có lẽ nàng đã để lại lúc Phi nắm tay nàng siết chặt. Nó không phải viết bằng mực, nhưng hằn rõ và sắc nét.

Nhưng khi Phi đọc vừa xong thì nhìn lại tất cả chữ đã biến mất! Anh bất chợt rùng mình...
 
***

Nhà máy An Hòa...

Vừa bước vào nhà bên cạnh nhà máy xay lúa, Phi phải khựng lại, bởi ở giữa nhà có một bàn thờ khói hương nghi ngút và có hai ông bà già đang ngồi khóc. Chưa biết phải chào hỏi ra sao thì bỗng bà già đã reo lên:

- Nó tới kìa! Con là Phi phải không?

Ngạc nhiên quá đỗi, Phi ngập ngừng hỏi lại:

- Cháu là Phi... nhưng sao bác lại biết cháu?

Bà mừng rú lên:

- Vậy là nó nói đúng ông ơi! Con Ngọc Liên nhà mình đã có chồng rồi. Có chồng rồi!

Phi nghe bà la hoảng như vậy thì giật mình, nhìn quanh cố tìm xem có ai đứng sau lưng mình không. Nhưng tuyệt nhiên không, chỉ có mỗi mình anh đứng đó. Như vậy có nghĩa là bà ấy đang nói... mình! Phi lúng túng:

- Dạ... dạ cháu...

Bấy giờ ông già mới lên tiếng:

- Bà nhà tôi đang mừng cậu đó! Nói để cậu bớt thắc mắc, vợ chồng tôi đang đứng đây để đợi cậu tới. Bởi đêm qua con Ngọc Liên về báo là bữa nay cậu thế nào cũng tới đây! Ngọc Liên là con gái tôi, nó chết đã hơn tuần nay rồi mà đêm nào cũng về kêu khóc, bảo tụi tôi đi tìm xác nó! Nhưng tôi đã tìm khắp vùng này rồi mà chẳng thấy đâu...

Bà già nói chen vào:

- Tối qua nó nói rõ, muốn kiếm được xác nó thì chỉ có cậu thôi. Phải tìm cho ra cậu...

Nhìn lên bàn thờ, Phi giật mình, bởi ảnh thờ đúng là ảnh của... Mỹ Lan!

- Sao lại...

Biết ý của Phi, ông già giải thích:

- Chính vì cái hình này mà vợ chồng tôi khóc hết nước mắt từ nửa khuya đến giờ! Hình của con gái tôi đâu phải hình này, vậy mà tự nhiên khi thức dậy tôi đã thấy sự thể như vậy rồi! Nhà tôi lấy hình này xuống, để ảnh con gái tôi lên, thì chẳng hiểu sao lần nào ảnh con tôi cũng bị giật văng ra, thay ảnh này vào! Đó, cậu nhìn xem, ảnh con gái tôi đằng kia...

Ông bước tới lấy tấm ảnh rộng khung kính đàng hoàng, chân dung một cô gái tuy cũng đẹp, nhưng không sắc sảo bằng Mỹ Lan. Phi lẩm bẩm:

- Ảnh kia là Mỹ Lan mà!

- Cậu biết cô gái đó?

Phi thật lòng:

- Dạ biết. Cô ấy chính là bạn gái của cháu! Chính cô ấy xui cháu tới đây tìm...

Thật ra thì Mỹ Lan chỉ cho anh địa chỉ và bảo tới tìm mà không biết tìm ai và để làm gì... Bởi vậy Phi còn ngập ngừng.

Bà già lại reo lên:

- Đúng rồi! Con Ngọc Liên có nói, nó và cô Mỹ Lan nào đó đang yêu một người tên Phi. Đúng là cậu rồi!

- Dạ... nhưng mà cháu đâu biết gì về con gái hai bác. Tại sao cô ấy lại như thế này?

Câu hỏi chạm tới nỗi đau của họ, nên bà già khóc nức nở vừa nghẹn ngào:

- Con gái tôi nó bơi xuồng qua bên Hàm Luông thăm thân nhân, nửa đường bị gió bão chìm xuồng và mất tích cả tuần nay.

Phi chợt buột miệng:

- Lại cũng chết chìm!

- Cậu nói gì?

Ông già thấy Phi lẩm bẩm thì hỏi. Phi nhẹ lắc đầu:

- Dạ, không có gì...

Phi bước tới gần bàn thờ, nhìn bức ảnh anh chợt kêu lên:

- Tấm ảnh này ở nhà cháu mà?

Ở góc tấm ảnh của Mỹ Lan mà Phi mượn từ nhà của cô ấy, lúc cầm về khi ngồi trên ghe chính Phi đã dùng bút ký tên lên đó như biểu tỏ quyền sở hữu. Mà bức ảnh đang thờ này lại y như vậy!

Phi lặp lại lần nữa:

- Ảnh này của cháu.

Anh tiện tay lấy bức ảnh xuống và ôm trong lòng. Bà già thấy vậy liền cầm ảnh con gái mình đặt thay vào chỗ trống và hai vợ chồng mừng quá đỗi:

- Nó ở yên rồi!

Phi ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:

- Chuyện này có nhiều uẩn khúc, mà theo cháu nghĩ thì hồn con gái bác và người bạn của cháu đây đang gặp nhau. Cô bạn cháu cũng chết dưới sông...

Bà già chợt nhắc lại chuyện hồi nãy:

- Tôi không hiểu tại sao nó hoàn toàn xa lạ với cậu mà lại nói cậu sẽ là... chồng nó?

Phi kinh ngạc:

- Bác nói ai?

- Con Ngọc Liên, con gái tôi!

Phi xua tay:

- Không đâu bác! Cháu làm sao có thể.

Anh định nói thẳng ý mình là từ chối, nhưng lúc ấy bỗng mắt anh chạm vào ánh mắt từ bức ảnh chân dung của cô gái trên bàn thờ, Phi chợt rùng mình! Đôi mắt của cô nàng hình như là đang long lên, như muốn nói thành lời!

- Dạ thưa hai bác...

Phi định nói lời kiếu từ nhưng bỗng bụng anh nhói đau dữ dội! Người lảo đảo như muốn ngã, khiến ông già hốt hoảng:

- Cậu làm sao vậy?

Phi tối tăm mặt mũi, vịn vào thành ghế rồi hầu như không còn sức nữa, anh ngã khuỵu xuống đất. Trong mơ hồ, anh nghe như có tiếng kêu thảng thốt của chủ nhà, rồi hình như mọi người dìu anh lên...
 
***

Có lẽ khá lâu Phi mới tỉnh lại. Trời tối đen chung quanh và qua khung cửa sổ, anh có thể nhìn ra bên ngoài và nhận biết trời đang mưa rất lớn.

- Mình đang ở đâu?

Nhớ lại dần mọi việc. Phi sửng sốt kêu khẽ:

- Nhà cô gái ấy!

Quơ tay sang bên thì chạm vào cái khung ảnh, Phi cầm lên xem, trong bóng tối lờ mờ nhưng anh vẫn nhận ra trong ảnh là Mỹ Lan. Yên tâm phần nào. Phi định bước xuống giường, nhưng người anh như bị đóng đinh xuống giường, không tài nào xoay sở được.

Vừa khi ấy, ở tay bên này của Phi như có ai vừa đặt vào đó một khung hình thứ hai. Hai tay hai khung ảnh và Phi chợt hiểu, anh thầm kêu lên:

- Ảnh hai người!

Khi nhảy được xuống giường, Phi đốt đèn lên thì rõ ràng hai khung hình của Mỹ Lan và Ngọc Liên đều nằm trên giường anh! Lúc anh còn đang ngơ ngác thì ba má Ngọc Liên đã bước vào, họ hỏi bằng giọng ngạc nhiên:

- Cậu có hẹn với người nào tới đây không?

Phi lắc đầu:

- Dạ đâu có.

- Cậu ra ngoài coi, có người đang đợi cậu từ nãy giờ.

Phi hấp tấp bước theo họ ra nhà ngoài thì phải kêu lên:

- Mỹ Lan!

Cô gái tên Mỹ Lan đã ngồi ở phòng khách từ lúc nào rồi. Khi thấy Phi bước ra, cô vẫn bình thản đưa tay chỉ về phía bàn thờ:

- Trên bàn thờ phải thờ đủ hai người chứ sao chỉ có một người?

Phi nhìn lên thì không còn ảnh của Ngọc Liên, anh nhớ tới hai tấm ảnh đều trong phòng mình thì muốn nói, nhưng đã chậm hơn so với cô nàng. Cô quay sang ông bà già:

- Ba má cứ để cho anh ấy thờ cả hai ảnh trên bàn thờ, như vậy anh ấy mới yên lòng mà nghe lời ba má.

Bà già kêu lên:

- Kìa, sao cô lại kêu tụi tôi bằng ba má? Tôi đâu có...

Mỹ Lan bỗng sụp xuống lạy dài hai người:

- Con lạy ba má, hãy để cho anh ấy làm rể nhà này, thì cả hai đứa con mới được cùng nhau. Bằng không thì...

Cô quay sang Phi, nói với anh:

- Sao không lạy ba má đi!

Phi còn đang chưa biết phải làm sao thì tự dưng đôi chân anh tự động khuỵu xuống trong tư thế quỳ! Chẳng hẹn mà anh và Mỹ Lan cùng quỳ trước ông bà già Ngọc Liên, mà cũng là trước bàn thờ còn khói hương nghi ngút!

Ba má Ngọc Liên cũng chẳng biết sao, họ đành phải nói:

- Hai đứa đứng lên đi.

Đó như một lời công nhận, lúc đó Mỹ Lan mới kéo Phi đứng lên và nói:

- Con là Ngọc Liên đây, ba má làm như vậy là giải khó cho tụi con rồi! Con xin nói để ba má rõ, con đã chết chìm, hồn con sắp lạc vào mê cung địa phủ thì gặp được người con gái cùng cảnh ngộ với con cũng đang vật vờ sau khi trôi giạt từ xa đến. Cái số ở cõi âm của tụi con là như vậy, kẻ mất xác, người mất hồn, cuối cùng chỉ còn lại một mà thôi. Hồn con đây, trong xác của chị Mỹ Lan và hai chúng con đều có duyên với chỉ một người... này!

Nói xong, cô chỉ tay về phía Phi. Anh giật mình:

- Là tôi?

Mỹ Lan không trả lời, cô rất tự nhiên đi vào phòng nơi Phi vừa ngủ, khi trở ra trên tay cầm hai khung ảnh. Trịnh trọng đặt cả hai khung ảnh lên bàn thờ, vừa nói:

- Coi như ba má có hai đứa con gái. Cả hai tuy đã chết, nhưng thực tế thì ngày ngày vẫn sống với ba má tại đây. Còn bây giờ để tụi con, còn phải về thăm cha con bên kia nữa!

Cô kéo tay Phi:

- Đi anh, ba đang đợi ở quán bên Hàm Luông!

Họ đi ra trước sự thảng thốt của hai ông bà:

- Kìa, rồi ba má làm sao đây?

Họ vẫn đi thẳng như không có chuyện gì xảy ra. Khi ra tới ngoài rồi Phi mới hỏi:

- Có phải em là...

Mỹ Lan đáp tỉnh queo:

- Là hồn ma!

Khi đã xuống chiếc xuồng đậu sẵn ở bờ sông rồi, nàng mới nói tiếp:

- Một hồn ma không biết hại người. Mà trái lại còn bị người hại, suýt chết!

Nàng đưa tay lên sờ vết thương trên môi vẫn còn chưa lành:

- Cái lưỡi câu đó nếu em không thoát ra được, không chết vì đau thì cũng chết vì lên bờ không có nước thở!

Nhớ lại bữa câu cá đó, Phi hỏi:

- Em là hồn ma sao dính câu được?

Bấy giờ nàng mới cười:

- Cái nợ tình nó buộc em phải dính đó thôi. Em nói thật tại cái số của em phải trở thành vợ anh, cho nên anh câu hai lần em đều dính câu và phải đến kết cuộc này...

Đẩy xuồng ra giữa dòng, chợt Mỹ Lan nói tiếp:

- Anh về nhanh đi, để ông già đợi ở quán. Còn em...

Cô vừa dứt lời thì lao nhanh xuống nước.

- Kìa, Mỹ Lan!

Phi muốn phóng theo, nhưng chợt khựng lại. Anh lẩm bẩm:

- Cô ấy trở về với thế giới của mình!
 
***

Ông Tám Ri đã sốt ruột chờ đợi suốt ba ngày rồi mà vẫn chưa thấy con gái mình trở về. Ông cũng thắc mắc về sự vắng mặt của Phi. Phi chỉ nói với ông là đi có việc riêng và sẽ trở về ngay, vậy mà anh ta vẫn bặt vô âm tín.

Chiều hôm đó, chị chủ quán trấn an ông Tám:

- Chú Tám cứ ở đây nghỉ ngơi, thế nào rồi Mỹ Lan cũng trở về thôi. Mấy tháng làm ở đây chưa bao giờ nó đi lâu. Lần này có lẽ có chút chuyện gì đó...

Ông Tám không an tâm:

- Tối qua tôi cứ nhắm mắt lại là thấy nó ngồi khóc trên xuồng, miệng nó đầy máu. Tôi lo quá.

Thật ra chị chủ quán Tư Quắn cũng lo không kém. Chính chị cũng chiêm bao thấy giống như vậy. Chị còn nhìn thấy Mỹ Lan hụp lặn dưới nước mà mỗi khi trồi lên thì mặt cô cũng đầy máu? Chị không dám nói ra điều này sợ làm ông Tám lo thêm...

Đến bữa cơm chiều, mời đến lần thứ ba thì ông Tám Ri mới chịu ngồi vào bàn ăn, ông chưa kịp gắp thức ăn thì đã thấy trong chén mình có nửa miếng cá rô kho nằm sẵn. Ông ngạc nhiên hỏi:

- Cô Tư gắp cho tôi hả?

Tư Quắn lúc đó mới ngồi xuống ghế, cô trả lời:

- Dạ, đâu có. Con mới vào ngồi mà.

- Vậy sao...

Ông Tám nhìn nửa con cá toàn nạc, không lẫn miếng xương, vừa ngạc nhiên vừa thích thú:

- Tôi vốn rất sợ mắc xương, mà miếng cá này thì rất giống với những miếng cá mà thường ngày con Mỹ Lan vẫn thường hay gắp cho tôi mỗi khi ăn món cá!

Tuy ngạc nhiên, thắc mắc, nhưng ông Tám vẫn ăn. Ông còn nói:

- Con Mỹ Lan thích nhất là đọt lang chấm nước cá kho. Bữa nào dẫu trời mưa gió tầm tã nó vẫn đi hái đem về luộc để cha con ăn. Mà đọt lang luộc chấm nước cá kho ăn ngon miệng lắm, cô Tư đã ăn thử chưa?

Tư Quắn giở chiếc lồng bàn để cạnh bàn ra và nói:

- Không có đọt lang, cháu luộc đọt bí đây, chú dùng đỡ.

Nhưng khi chiếc lồng bàn giở ra thì Tư Quắn quá đỗi ngạc nhiên:

- Ủa, sao như thế này?

Thay vì dĩa đọt bí, trong đó lại là dĩa... đọt lang! Tư Quắn không tin vào mắt mình, chị cầm lên xem kỹ rồi lẩm bẩm:

- Chính tôi hái và luộc mà. Sao lại...

Ông Tám có ngạc nhiên, nhưng lại thích thú:

- Đúng là hai thứ mà con gái tôi thích.

Dẫu vẫn ăn, nhưng Tư Quắn vẫn không hết thắc mắc:

- Bữa nay lạ quá, chẳng khác nào như Mỹ Lan trực tiếp làm bữa cơm hôm nay.

Ông Tám cũng có cảm giác ấy nhưng ông vốn không nghĩ gì khác mà vẫn cứ ăn ngon lành. Lúc bữa ăn gần chấm dứt thì bỗng ở sau nhà bếp có tiếng va chạm mạnh, khiến Tư Quắn phải buông đũa và chạy xuống xem. Chị quá đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy hai chén chè đậu xanh ai đó đã múc sẵn còn bốc khói để trên chiếc mâm.

Lúc này Tư Quắn không còn bình tĩnh nữa, chị hỏi:

- Ai trong này vậy?

Chị quay tìm khắp nơi mà không thấy ai. Lúc ấy ông Tám cũng bước xuống, ông reo lên khi thấy mấy chén chè:

- Chè đậu xanh là món cha con tôi ưa thích đây mà.

Tư Quắn nghe tim mình đập liên hồi, chị đang nghĩ tới Mỹ Lan. Linh tính hình như cho chị biết có điều gì đó. Tuy nhiên nhất thời chị chưa dám nói thẳng ý mình ra...

Ăn xong bữa cơm, ông Tám có vẻ hài lòng:

- Lâu lắm rồi tôi mới được ăn một bữa giống như nhà mình. Đúng hơn là giống như cách nấu của con Mỹ Lan. Cô Tư nấu ăn khéo thật!

Tối đó thì Phi về tới. Vừa thấy anh, ông Tám đã hỏi:

- Con Mỹ Lan đâu?

Phi đã suy tính kỹ trên đường về, nên không giấu giếm:

- Dạ thưa bác, Mỹ Lan chẳng may...

Anh chưa kịp nói hết lời thì từ trong nhà bếp, một giọng nói quen thuộc đã vang lên:

- Dạ, con đây ba!

Mỹ Lan xuất hiện giữa sự ngạc nhiên chẳng riêng gì ông Tám và chủ quán, mà cả Phi cũng tròn mắt:

- Em... em...

Từ lúc Mỹ Lan nhào xuống sông thì Phi không nghĩ cô sẽ trở về gặp cha. Nhưng bây giờ cô đã có mặt, khiến Phi lúng túng. Cũng may là anh chỉ mới nói còn chưa rõ ràng và ông Tám cũng không kịp thắc mắc, mà chỉ vui mừng khôn xiết:

- Ba đã đợi con từ mấy bữa rồi! Mỹ Lan, con nói cho ba nghe coi, hôm con bị chìm xuồng rồi làm sao sống sót và trôi giạt qua tận đây?

- Dạ... con nhờ người ta cứu.

Cô hình như muốn né tránh kể lại sự việc, nhưng lúc này ông Tám bị niềm vui trong lòng lấn át cả mọi sự hoài nghi, ông phấn khởi nên nói huyên thuyên:

- Con đi ăn cơm đi, có cá rô kho tiêu, có cả chè đậu xanh nữa. Cô Tư đây nấu giống y như con vậy, ngon lắm!

Bất ngờ Mỹ Lan nhăn mặt:

- Cá rô hả? Con sợ món cá này, ăn dễ mắc xương! Còn chè đậu hả, đó là món con ghét nhất!

Câu nói làm cho ông Tám quá đỗi ngạc nhiên. Ông không ngờ chỉ một thời gian ngắn xa nhà mà cô con gái cưng của ông đã thay đổi tính tình quá nhiều như vậy.

Ông trách:

- Con mới đi có mấy tháng mà sao không còn giống con chút nào hết vậy Lan?

Chỉ có Phi là hiểu nguyên nhân. Anh không còn muốn nói ra sự thật nữa, nên tìm cách khỏa lấp:

- Con nghĩ có lẽ xa nhà lâu nên Mỹ Lan có nhiều thay đổi. Hơn nữa, cô ấy mới vừa trải qua một cơn bệnh, cho nên...

Anh tìm cách kéo Lan vào nhà sau, dặn khẽ:

- Em bây giờ chỉ có cái xác là của Mỹ Lan, còn phần hồn là Ngọc Liên, do vậy mọi thứ đều sẽ không hợp với ông già. Tốt hơn hết là hãy tìm cách tránh tiếp xúc với ông ấy.

Phi chủ động bàn với ông Tám:

- Bác Tám đã gặp được Mỹ Lan rồi, nhưng hiện nay cô ấy đang có giao ước làm việc với người ta dài hạn. Vậy bác ở chơi đây ít hôm rồi về bên nhà. Lâu lâu, khi nào rảnh Lan sẽ về thăm bác. Con sẽ...

Ông Tám bất ngờ nói:

- Ta có ý này... hay là ta gả con Mỹ Lan cho cậu! Có như vậy thì việc nó xa nhà ta mới yên tâm. Cậu chịu không?

Phi tuy đã có ý đó, nhưng anh vẫn làm ra vẻ:

- Dạ... chỉ sợ e...

Ông Tám gọi Mỹ Lan ra:

- Đây, có trước mặt cả cô Tư, ba quyết định gả con cho cậu Phi này, con ưng không?

Mỹ Lan cúi đầu e thẹn. Tư Quắn nói thêm vào:

- Ông Tám quyết định như vậy là hợp ý tụi nó rồi. Cậu Phi đây tuy nhà ở xa tới đây trọ, nhưng tôi biết chắc cậu ấy chưa vợ con gì. Mà lâu nay lui tới đây cậu ấy với Mỹ Lan cũng đã vừa ý nhau, hai đứa lại xứng lứa vừa đôi nữa, còn gì hơn!

Ông Tám lại có một quyết định gây ngạc nhiên hơn:

- Không cần lễ tiệc chi cho rườm rà. Ngay sáng mai nhờ cô Tư nấu cho ít món, mời một ít khách quen với cô, quen với con Mỹ Lan và bạn bè cậu Phi đây tới dự, tôi sẽ cho tổ chức một lễ cưới cho hai đứa nó!

Phi liếc mắt nhìn Mỹ Lan, anh muốn nói gì đó nhưng kịp dừng lại...

Sáng hôm sau, lễ cưới theo đúng ý ông Tám đã diễn ra.

Qua ngày hôm sau thì ông Tám được Phi mướn người ngồi cùng ghe đưa về tận nhà.

Chị chủ quán không hiểu sự tình, nên đề nghị:

- Hay là tôi nhường phần sau nhà này cho cô cậu ở, tôi dọn ra phần trước ở coi quán luôn?

Phi tế nhị từ chối:

- Cám ơn dì Tư, có lẽ để tụi này mướn một chỗ ở riêng cho yên tĩnh. Bởi... cô ấy đã có thai, cần nghỉ ngơi!

Tư Quắn trố mắt kinh ngạc:

- Thật vậy sao?

Trong khi đó thì Mỹ Lan lánh vào trong rất nhanh. Chờ cho Phi bước vào, cô trách:

- Sao anh ẩu vậy, em có thai hồi nào?

Phi cười:

- Phải nói như vậy bà ấy mới cho em nghỉ làm chứ. Bằng không thì làm sao giải thích...

Mỹ Lan hiểu thực trạng của mình nên nín thinh. Nhờ vậy mọi việc được giữ kín...
 
***

Chuyện của Mỹ Lan và Phi được giấu kín, không một ai nghi ngờ gì. Bởi họ mướn một căn nhà ở rất xa, nên cũng chẳng mấy ai lui tới thăm viếng. Thực tế thì Phi sống một mình suốt ngày. Chỉ vào ban đêm thì Mỹ Lan mới xuất hiện.

Một hôm nàng nói:

- Anh phải về bên nhà ba má em gấp, ông bà sắp hết số rồi. Về đứng ra làm đám cho đúng lễ.

Phi tưởng mình phải về Gò Công, anh đang chuẩn bị đi thì nàng nhắc:

- Em nói ba má tức ba má em ở Bình Đại, anh quên rồi sao!

Lúc này Phi mới nhớ là mình đang làm rể đến hai nhà. Anh ngượng nghịu nói:

- Ờ, anh biết rồi...

Từ đó về sau, cứ lâu lâu Phi lại về nhà, khi thì Gò Công, lúc thì Bình Đại. Anh đóng vai chàng rể... ảo một cách đáng khen.

Một năm sau...

Bỗng một đêm Mỹ Lan về, cô ẵm về một đứa bé còn trong tháng và nói:

- Anh hãy nuôi cho kỹ, con chúng ta đó!

Phi tưởng mình đang mơ:

- Thật... hả?

- Sao lại không thật, đã sống với nhau, dẫu là với hồn ma, cũng có con như thường chứ!

Phi một mình nuôi con rất chu đáo. Nếu có ai cắc cớ hỏi mẹ đứa bé đâu, nó sẽ vô tư trả lời:

- Hai mẹ của con đi làm ăn xa!
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
«« « 5 6 7 8 9 » »»